Đặc San TINH TẤN - Mừng Xuân NHÂM DẦN - Năm 2022

02 Tháng Hai 20222:02 SA(Xem: 818)
Đặc San TINH TẤN - Mừng Xuân NHÂM DẦN - Năm 2022

Đặc san TINH TẤN - Xuân NHÂM DẦN - Năm 2022
Screenshot 2022-01-31 124446

ĐẦU NĂM NHÂM DẦN (2022) ĐỌC LẠI MỘT VÀI BÀI THI XUÂN

CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

---oOo---

Bài Hai Mươi Chín Tháng Chạp

(Trích đoạn)

Năm tàn tháng cuối cảnh buồn teo,

Đón rước bạn xuân lễ quá nghèo.

Thượng cổ gần hồi nên sửa lối,

Theo nhà Phật-Giáo phải như keo.

 *

*   *

Dân-chúng chớ nên đốt giấy tiền,

Bời vì Diêm-chúa chẳng tình riêng.

Phán-quan tả hữu không dùng hối,

Nên phải dạy dân bỏ giấy tiền.

 *

*   *

Vàng bạc bởi tay khách trú làm,

Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.

Giấy quần giấy áo không nên đốt,

Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm. 

          Hòa-Hảo, ngày 29 tháng chạp Kỷ-Mão

(Chép theo bản chánh do Ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

  

ĐÊM BA MƯƠI    

Đêm nay mới cũ hiệp hai đàng,

Xuân nhựt lễ nầy tại thế-gian.

Mèo rồng cao thấp chơi cùng giỡn,

Đông hạ xuân sang khắp địa hoàng.

 *

*   *

Bóng trăng vắng mặt, tối tối hoài,

Hai giờ hiệp mặt, hai giờ hai.

Một đêm mới cũ cùng nhau gặp,

Tức cảnh thi văn nhả một bài.

 *

*   *

Một bài từ cũ mới ngày mai,

Tiếng pháo xa xa vẫn đốt hoài.

Dân ta nghèo túng về Đạo-đức,

Chơi giỡn đua-bơi mãi tối ngày.

 *

*   *

Một lúc lâu lâu một tiếng đùng,

Đúng giờ cũng rước ông bà chung.

Từ-bi hai chữ ta ngồi tưởng,

Không có xu mua đốt miệng hùn.

           Hòa-Hảo, đêm 30 tháng chạp Kỷ-Mão

 

ĐỐT PHÁO XUÂN 

Lẹt-đẹt rồi đây lẹt-đẹt bùng,

Đùng-đùng lẹt-đẹt nổ lùng-tung.

Lùng-tung lúng-túng dân ta túng,

Ngao-ngán cho xuân Lão bắt khùng.

 *

*   *

Đoái thấy xa xa một cái đèn,

Ngoài đường trời tối thiệt len-nhen.

Tiết xuân buồn-bã vì ngập lúa,

Nên phải ăn chơi cách quá hèn.

Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940)

(Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

 

"NGÀY TẾT"

Tháng lụn ngày qua năm đã tàn,

Trẻ già nô-nức đón xuân sang.

Chờ coi năm mới hên hay chẳng?

Chóng đạt công-danh kẻo muộn-màng.

 *

*   *

Ngày Tết đến rồi các bạn ơi,

Tổ-Tiên truyền lại mấy ngàn đời;

Ước ao xuân mới bằng xuân cũ,

Thanh-bạch tâm hồn cuộc thảnh-thơi.

 *

*   *

Nầy hỡi chúa xuân ta rán chờ,

Khỏi ngày thảm lệ buổi nguy cơ.

Pháo tan xác pháo rền rang nhỉ,

Khói bốc đường mây áng mịt-mờ.

 *

*   *

Thời giờ kinh hãi sẽ đi qua,

Thế-giới trì xong cuộc thái hòa.

Chừng ấy chúa Xuân thêm tráng lệ,

Huy-hoàng tục cổ của ông cha.

 *

*   *

Thiên hạ đua nhau rằng mới mới,

Lòng ta nào thấy mới chi đâu.

Lao xao phố chợ hoành đôi tấm,

Rộn-rịp cửa nhà liễn mấy câu.

Lũ trẻ cười reo pha tiếng pháo,

Cụ già đùa chuyện lẫn năm châu.

Nào dè xuân ấy là xuân gượng,

Của buổi loạn-ly gợi thảm sầu.

 *

*   *

Lốp-bốp pháo chi nổ quá ồn,

Khắp cùng thành-thị khắp hương-thôn.

Người dư của-cải tiêu xa-xí,

Kẻ thiếu tiền-nong nợ mắc dồn.

Ba bữa cờ trương còn hớn-hở,

Bảy ngày nêu hạ hết lo nôn.

Thì ra năm mới như năm cũ,

Cảnh khó dân đen vẫn tự tồn.

Năm Tân Tỵ (1941)

(Chép theo bản chánh do Đức Ông giữ)

  

TẾT Ở CHIẾN-KHU

(Trích đoạn)

Tặng bạn ngày xuân chén rượu nồng,

Uống rồi vùng-vẫy khắp Tây-Đông.

Đem nguồn sống mới cho nhơn loại,

Để tiến, tiến lên cõi đại-đồng.

 *

*   *

Rượu xuân càng nhắp càng say,

Gió xuân càng thổi thì tài càng tăng.

 *

*   *

Ngày tết năm nay ở chiến-khu,

Bưng-biền gió lốc tiếng vi-vu.

Xa xa súng nổ thay trừ-tịch,

Dân Việt còn mang nặng mối thù.

Bình-Hòa (Chợ lớn) ngày 2-1 Đinh-Hợi (1947)

 ------------------------------------------------------------------------------------------------------

Thư Chúc Xuân Năm Nhâm Dần – 2022 Của Tăng Đoàn GHPGVNTN

Thích Không Tánh

19-01-2022

TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH

http://www.ghpgvntn.net

                                Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long, Phường 7, Q. Bình Thạnh, TP Sài Gòn

Phật lịch 2565

Số: 01/HĐĐH/TB/VT

               NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính bạch Chư Tôn Giáo Phẩm, Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni, cùng Đồng bào Phật tử các giới, trong và ngoài nước.

Kính thưa Liệt quí vị,

Nhân dịp xuân về, thay mặt Hội Đồng Điều Hành, Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, xin gửi đến Chư tôn đức, Quý Phật tử và Liệt quý vị lời cầu chúc năm mới thân tâm an lạc, vạn sự cát tường.

Cầu chúc Việt nam và thế giới sớm vượt qua đại dịch, ổn định tình thế để gìn giữ hòa bình, bảo vệ tính mạng và phẩm giá con người cùng nền văn minh nhân loại.

Năm 2021 vừa qua là một năm vô cùng khó khăn mà Việt nam và thế giới phải đối mặt khi đại dịch hoành hành gây tổn thất nhân mạng lớn và làm nền kinh tế toàn cầu đình trệ.

Riêng với Việt nam, vì nhà cầm quyền thiếu trách nhiệm và trí tuệ, thiếu lòng trắc ẩn và lương tâm nên đã đưa ra những quyết sách, chỉ thị sai lầm nghiêm trọng, đặt đất nước vào tình trạng khẩn cấp, phong tỏa cách ly làm đất nước bị chia cắt, người dân bị cô lập ngay trong nhà của mình, khiến xã hội rối loạn, kinh tế trì trệ, nhân dân khốn đốn vì nhà máy, công ty, hãng xưởng  bị đóng cửa, tạo nên khủng hoảng toàn xã hội một cách đáng tiếc.

Vì tình trang kinh tế bị đóng băng nên các nhà đầu tư bỏ chạy khỏi Việt nam dẫn đến tình trạng công nhân thất nghiệp. Trong hoàn cảnh như vậy mà nhà cầm quyền lại không có chính sách hỗ trợ hiệu quả và kịp thời nên hàng triệu công nhân phải lũ lượt tháo chạy về quê gây nên những thảm cảnh thương tâm chưa từng thấy trong thời bình.

Nhưng qua cuộc khủng hoảng này chúng ta cũng chứng kiến rất nhiều cá nhân, hội đoàn độc lập, những con người tử tế đã đứng ra giúp đỡ cho đồng bào gặp nạn trên đường về quê, trong bệnh viện, trong những khu nhà ổ chuột .

Những tấm lòng vị tha nhân ái này tạo niềm tin rằng dân tộc này không vô vọng.

Năm 2021 nhân loại không chỉ đối mặt với hiểm họa dịch bệnh mà còn đối diện với nguy cơ chiến tranh khi các siêu cường như Nga – Trung đang chạy đua vũ trang đe dọa hòa bình thế giới.

Tại châu Âu Nga đang âm mưu thôn tính Ukraina, tại đông Á Trung quốc đang toan tính xâm lược Đài Loan, những ý đồ đầy tham vọng bất chính này có thể đẩy nhân loại vào cuộc chiến diệt vong. Thế giới chúng ta chưa bao giờ phải đối mặt với một tương lai đầy bất trắc như hiện nay.

Tại Việt nam, bất chấp tình trạng dịch bệnh hoành hành, kinh tế đình đốn, đời sống người dân cơ cực và đất nước đang đứng trước nguy cơ bị Trung quốc thôn tính để mở đường thực hiện giấc mộng Trung hoa, Nhà cầm quyền vẫn không lắng nghe tâm nguyện của người dân, của giới nhân sĩ trí thức yêu nước đối lập mà tiếp tục đàn áp một cách dã man. Vừa qua hàng loạt những nhân sĩ trí thức trẻ bị truy tố bỏ tù như Huỳnh Thục Vy, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thúy Hạnh, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Đỗ Nam Trung, Lê Thanh Tùng v.v…

Hành động của nhà cầm quyền không những đi ngược lại những giá trị dân chủ nhân quyền mà họ đã cam kết với quốc tế khi tham gia Công ước về các quyền Dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc mà còn làm phân hóa lòng dân, mất thiện cảm và sự ủng hộ của quốc tế, những điều đất nước đang rất cần để đoàn kết dân tộc, tìm kiếm hậu thuẫn quốc tế để phòng vệ trước hành động bá quyền nước lớn, hầu bảo vệ quốc gia.

Năm 2021 vừa qua cũng là một năm mà người dân Việt nam phải khốn đốn với thiên tai lũ lụt, hạn hán, ngập mặn vì hậu quả của hành động tàn phá môi trường  thiên nhiên từ hàng chục năm về trước của Nhà cầm quyền hiện nay.

Năm 2021 cũng là năm tiếp tục ghi dấu sự suy đồi của giá trị dân chủ tại Việt nam khi Nhà cầm quyền vẫn bất dung với những tổ chức chính trị đối lập và các tôn giáo không nằm trong hệ thống chính trị của họ, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, một giáo hội truyền thừa chân chính của Phật giáo Việt nam hơn hai ngàn năm qua. Nhà cầm quyền hiện nay vẫn không chịu nhìn nhận một sự thật rằng đất nước này là của dân tộc Việt nam chứ không phải của đảng Cộng sản, và không ai, không đảng phái chính trị nào có thể thay thế cho trí tuệ của hơn 90 triệu dân Việt nam trong việc xây dựng và bảo vệ quốc gia. Chính vì lẽ đó mà việc hòa giải với dân tộc, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các vị lãnh đạo tôn giáo là việc vô cùng cần thiết để tìm lối thoát và giải pháp cho quốc gia trong tình hình hiện nay.

Trước thềm năm mới, Tăng Đoàn GHPGVNTN thiết tha kêu gọi toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước lo lắng, ưu tư về hiện tình đất nước và dân tộc, có những cống hiến về việc phục hồi văn hóa, đạo đức để thăng tiến xã hội.

Riêng với Tăng ni và Phật tử, Tăng Đoàn kêu gọi quý vị hãy sống cuộc đời đạo hạnh từ bi mà Đức Phật đã dạy, làm tấm gương sáng cho xã hội, hầu tạo phúc cho bá tánh, giúp nước nhà vượt qua hoạn nạn.

Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất thành tâm khẩn cầu lãnh đạo các siêu cường hãy vì sự tồn tại và thịnh vượng chung của nhân loại mà kiềm chế bớt tham vọng có thể làm nảy sinh sự phân hóa và chiến tranh hủy diệt, kêu gọi các quốc gia dân chủ văn minh hãy lấy các giá trị dân chủ nhân quyền và tự do làm nền tảng trong chính sách của mình, chỉ có như vậy thế giới mới hòa bình, nhân loại mới văn minh thịnh vượng lâu dài.

Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam phải có trách nhiệm với hiện tình dân tộc và tương lai của đất nước, sớm thức tỉnh, noi gương các nước văn minh tiến bộ, từ bỏ chế độ độc tài, độc đảng, chuyển sang thể chế Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, và nhanh chóng thả các tù nhân lương tâm, các nhà báo độc lập, các nhà hoạt động vì môi trường… để đoàn kết toàn dân cùng nhau bảo vệ và phát triển đất nước.

Cầu nguyện dịch bệnh sớm tiêu trừ, người dân được ấm no hạnh phúc.

Nguyện cầu đất nước thanh bình, lãnh thổ lãnh hải vẹn toàn, dân tộc được tự do, dân chủ, nhân quyền như các quốc gia văn minh khác trên thế giới.

Cầu nguyện thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.

Tổ Đình Thập Tháp, Bình Định, Xuân Nhâm Dần – 2022

Thay mặt Hội Đồng Điều Hành Tăng Đoàn GHPGVNTN

Viện trưởng

(ấn ký)

Tỳ kheo Thích Viên Định

 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TẢN MẠN GIAO THỪA

Nhớ những đêm giao thừa cũ - Đỗ Vu Gia

Van Chien Do -Tản Văn Hay

15-01-2022

Ngày xưa.
Thời còn nhỏ dại, mỗi lần tết sắp đến là lòng tôi háo hức, rạo rực, chờ đợi từng ngày. Chờ xem mẹ chuẩn bị gì cho tết. Chờ lúc được mặc bộ đồ mới đón xuân. Chờ ngày 29 quây quần bên bộ ván ngựa giữa nhà phụ mẹ gói bánh tét để được thức đêm canh nồi bánh giữa cái se lạnh cuối năm. Chờ giao thừa để tiễn đưa năm cũ đón chào năm mới với mong ước cuộc sống tốt đẹp hơn… Chờ nhiều thứ lắm, không thể nào nhớ hết.
Những chờ đợi náo nức ấy hòa lẫn vào công việc hàng ngày. Vẫn là mỗi sáng sớm đón gói cơm nắm với muối mè hoặc muối đậu phộng của mẹ hay chị đưa cho, rồi lùa mấy con bò ra cổng nhập bầy với đàn bò trong xóm đang kêu rống chạy nhảy loạn xạ trên con đường làng dẫn ra cánh đồng. Gói cơm ấy được nắm chặt bằng lá chuối hoặc lá sen lúc cơm còn nóng hổi, buổi trưa chấm với muối mè mà cảm giác như đang ăn một món bánh bùi ngọt dẻo thơm vừa quen vừa lạ thật tuyệt vời không thể nào diễn tả hết. Đó là bữa trưa chắc dạ no lòng của lũ chăn trâu chăn bò chúng tôi giữa cánh đồng mênh mông trời đất.
Háo hức chờ đợi mãi rồi cũng đến ngày.
Ngày ấy, chúng tôi không mè nheo đòi hỏi. Quần áo được sắm cho gì thì mặc nấy, miễn có đồ tết là vui rồi. Nếu không có, mẹ bảo năm nay nhà mình khó khăn lắm, các con đừng buồn thì chúng tôi cũng chẳng buồn nhiều, cũng vẫn cố vui dù cho “vui là vui gượng kẻo là…”
Nhưng có lẽ đêm giao thừa thiêng liêng ít nhiều đã góp phần xua đi cái buồn chính đáng đó.
Ngày xưa, thời khắc giao thừa được đón nhận linh hoạt cởi mở và đầy cảm thông vì chẳng mấy ai có đồng hồ để canh cho đúng giờ. Thường căn cứ vào tiếng chuông chùa hoặc nhà ai có cái radio thì đón nghe đài báo, mà trường hợp này hiếm lắm. Cha tôi mất lúc tôi chín tuổi, nên những đêm giao thừa sau đó tôi luôn thức cùng mẹ để nhận một nhiệm vụ mà lúc ấy tôi thấy quan trọng và thiêng liêng vô cùng. Độ chừng gần đến giao thừa, giữa đêm tối vắng lặng, tôi xách gàu ra cái giếng giữa xóm đứng chờ sẵn trong cảm giác rờn rợn mà đầy nôn nao, khi nghe tiếng chuông chùa văng vẳng trong không gian thì thả chiếc gàu xuống giếng, múc một gàu nước đem về để mẹ nấu ấm nước chè cúng giao thừa. Mâm cúng của mẹ tôi đơn giản lắm, chỉ là hương đèn, một dĩa bánh đủ loại và bát nước chè nóng hổi nấu bằng nước giếng giao thừa.
Trong tâm trí tôi bấy giờ, cái gàu nước ấy chứa đựng tất cả những gì là thanh khiết, là thiêng liêng trong giờ khắc chuyển giao của đất trời năm tháng mà tôi không hiểu hết, cho nên thái độ và hành động vô cùng cẩn trọng. Thả chiếc gàu xuống giếng múc nước cũng nhẹ nhàng kính cẩn hơn ngày thường. Kéo sợi dây thừng buộc gàu nước lên cũng từ tốn đầy trân trọng. Mang gàu nước về nhà với những bước đi vội vàng nhưng cố gắng để nước không sánh ra ngoài. Nói chung, đó là một gàu nước chứa đựng đầy ắp sự thiêng liêng thành kính.
Tất nhiên sau này lớn lên tôi thấu hiểu được ý nghĩa của nét đẹp văn hóa chứa đựng trong gàu nước thiêng liêng vào những đêm giao thừa ngày xa xưa ấy.
Bên cạnh cung cách nấu ấm nước chè giản dị nhưng đầy trang trọng để cúng giao thừa, mẹ tôi còn hay lắng nghe những âm thanh trời đất vào giờ khắc giao thừa để tiên đoán vận mệnh thời cuộc của năm mới. Âm thanh ấy có thể là tiếng một con gà nào đó đang ngủ gặp ác mộng nên giật mình kêu lên mấy tiếng ngẫu nhiên đúng lúc giao thừa. Cũng có thể là tiếng con tắc kè cất bản hòa ca trong bọng cây me. Hay là tiếng mèo kêu, chó sủa, tiếng vạc ăn đêm, tiếng con cò mẹ thất thanh kêu cứu vì đêm tối đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…Cũng may là ở quê nghèo của tôi thời ấy hầu như không có tiếng pháo giao thừa, nếu không, tiếng pháo chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho mẹ tôi trong việc lắng nghe âm thanh trời đất.
 Mẹ tôi theo cách nghĩ dân gian, lắng nghe những âm thanh có khi rất hỗn độn ấy để lọc ra âm thanh xuất hiện đầu tiên, rồi bảo năm nay con vật đó, vật nọ, vật kia ra đời, từ đó đưa ra lời dự đoán năm mới sẽ thuận lợi hanh thông hay gian nan trắc trở. Không chỉ dự đoán chuyện làm ăn sinh sống chung trong xã hội mà mẹ còn đoán cả mùa nước năm ấy lớn hay nhỏ, chỉ là mùa nước nổi bình thường thân thiện hiền hòa hay trở thành mùa lũ dâng tràn nhấn chìm những cánh đồng lúa sạ, biến ruộng đồng thành biển nước trắng xóa chân trời …Phải chăng khi cuộc sống còn nhiều khó khăn, con người còn lệ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, khách quan, người ta hay vin vào những yếu tố tâm linh làm niềm an ủi và lý giải những đắng cay ngọt bùi trong cuộc sống hàng ngày ?
Những đêm giao thừa ngày xưa đơn giản, mộc mạc, bình dị mà lại chứa đầy khắc khoải thiêng liêng, vẫn in đậm trong lòng tôi dẫu một khoảng thời gian dài lắm đã trôi qua…  
Ngày nay.
Cuộc sống đã có nhiều thay đổi. Cũng đúng thôi, bởi vì nó đã cách cái thời xưa của tôi đến hơn nửa thế kỷ rồi. Chuyện đón giao thừa cũng đã có nhiều thay đổi. Ai cũng có đồng hồ nên giờ giấc giao thừa được xác định một cách chính xác, ngoài ra còn có chương trình văn nghệ của radio, của ti vi, có lời chúc tết đầu năm của Chủ tịch nước…Nói cách khác, ngày nay người ta đón giao thừa rất chuẩn giờ. Hình thức, tổ chức đón giao thừa cũng rầm rộ, hoành tráng hơn, vì cuộc sống đã sung túc đầy đủ hơn xưa…
Mẹ tôi mất đã hơn mười năm. Tôi không còn là đứa trẻ mươi tuổi của hơn năm mươi năm trước mà đã nhiều năm đóng vai người chủ gia đình đứng trước mâm lễ cúng giao thừa. Ở quê tôi bây giờ đang đô thị hóa, dẫu có đốt cái bóng đèn điện triệu oát soi vào hang cùng ngõ hẻm cũng chẳng kiếm đâu ra cái giếng làng giếng xóm của ngày xưa. Chính vì vậy, chuyện gàu nước thanh khiết ngày xưa được múc lên từ giếng nước giao thừa đã không còn hiện hữu. Phần tôi, tôi đang sống nơi phố thị, càng chẳng thể nào lưu giữ một tập quán đẹp đã trở thành quá khứ, nên trong đêm giao thừa, tôi bắt chước người ta dùng một trái dừa dâng cúng để ít ra còn giữ được chút thanh khiết của đất trời. Tất cả những gì thuộc về hình thức của ngày xưa hầu như không còn nữa. Có còn chăng là tâm hồn con người ít nhiều vẫn đọng lại những dấu ấn văn hóa ngày xưa, đó là cái cảm giác thiêng liêng trong giờ khắc giao thừa. Dấu ấn đó là bản sắc, là truyền thống, là tình tự dân tộc đã hòa trong dòng máu, trong màu da, trong nếp nghĩ của mỗi con người.
Ngày nay người ta đón giao thừa trang trọng hơn, không chỉ là ở những lễ vật bày biện trên mâm cúng mà còn là không gian hoành tráng muôn màu của hoa kiểng ngày tết, của bầu trời rực rỡ pháo hoa, của đèn hoa giăng mắc sáng rực và nhấp nháy ở các ngôi chùa, ở các giáo đường để đón tín đồ đi hành lễ hay khách thập phương viếng cảnh đêm xuân…Nhưng sao tôi không thể nào quên được cái hồn khiết thiêng liêng bình dị mà sâu thẳm trong lòng của những đêm giao thừa ngày trước.
Hay nhớ và hay nhắc những chuyện ngày xưa có phải là lẩn thẩn lắm chăng?

TPHCM, mùa tết Nhâm Dần 2022

 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TÂM SỰ ĐẦU NĂM

Huỳnh Minh Quang

31-01-2022

TẾT!  Là những gì thiêng liêng cao quý để hy vọng tống cựu nghinh tân, là thời khắc quan trọng của sự giao thoa âm dương củ mới. Là thời gian quý báo để những cánh chim lưu lạc từ khắp bốn phương trời trở về nơi tổ ấm sau một thời gian mỏi cánh mưu tìm sự sống, mà hình như hầu hết người Việt Nam luôn trông chờ, rộn ràng mừng vui cũng như có pha lẫn một chút gì đó mừng mừng tủi tủi, và cũng là dịp trở về cội nguồn để bày tỏ chút lòng thành kính đối với công ơn dưỡng dục sanh thành của tổ tiên cha mẹ.
    Ôi thật cao quý thay! Bởi câu “Uống nước nhớ nguồn”.
     Cây có gốc, nẩy trồi sanh ngọn,
    Nước có nguồn, biển rộng sông sâu.
             Người ta nguồn gốc ở đâu,
        Tổ tiên có trước rồi sau có mình.
     Riêng trong lòng tôi, cứ mỗi dịp Xuân về Tết đến, như cứ trĩu nặng, nghẹn ngào. Niềm vui thì chẳng có bao nhiêu, mà sao nỗi sầu cứ thê lương sâu thẩm.
    Mỗi lần TẾT đến, trong linh tính của tôi hình như cảm nhận được, sắp bị mất mát một thứ gì đó thiêng liêng cao quý nhất ở trên đời khi thời gian mỗi năm cứ dần dần ngắn lại.
    Một thứ thiêng liêng mà không có gì có thể mua hay bù đắp cho được, đó là tình yêu thương vô bờ bến của Ông Bả, Cha Mẹ, của anh chị em và người thân mà ta đã kết duyên trong kiếp sống này đây.
         Cha Mẹ còn, là nơi con trở lại,
     Mất Cha Mẹ rồi, con biết phải về đâu?.
    Thấm thía quá, nước mắt như muốn tuôn trào, cố đè nén tim đau mất mát mà đôi dòng lệ vẫn nghẹn ngào lắng đọng trên khoé mắt.
    Thật sự! tôi đã mất Cha Mẹ của tôi rồi! Tôi đã mất hết tất cả rồi, công danh sự nghiệp hoá ra chỉ là phù du sớm còn tối mất, mà trong cuộc đời này tôi cứ mãi mê đi tìm kiếm.
    “Chẳng chịu tu mãi còn lụt thụt,
    Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
    Ham công danh quên chữ sanh thành,
    Mến phú quí quên câu dưỡng dục.”
    Quả thật lời dạy của Đức Thầy chính xác quá đi chớ.
    Bây giờ nhớ lại, có lần ăn cơm trong gia đình, trên mâm cơm chỉ có một con cá cỡ bàn tay, Má chia đều thịt cho anh em tôi, còn riêng phần Má chỉ biết xương và đầu cá.
    Có ai đó trong anh chị hỏi, Má trả lời: “Chỉ thích ăn xương mà thôi”.
   Lúc Cha tôi còn bị đọa đày nơi lao tù cộng sản, tù mà không biết là tội gì??? Có họa chăng, Cha tôi chỉ là một sĩ quan của Việt Nam Cộng Hoà??? Vậy mà lâu lâu Cha gởi về cho anh em tôi một mớ bánh mì khơi khô, để ăn thay cơm vào trận lũ lụt năm 1978.
    Có lẽ có người thắc mắc là tại sao ở tù mà có bánh mì khô gởi về cho gia đình??? Xin thưa: Đó là phần ăn sáng của Cha tôi trước mỗi khi đi “Lao động là vinh quang” mà Cha đã nhịn đói khi ở trại tù Mỹ Phước Tây-Vườn Đào dành dụm gởi về cho chúng tôi.
    Hai câu chuyện nhỏ mà tôi nhớ trên đây, cũng đủ nói lên tình yêu thương của Cha Mẹ như thế nào, tình thương yêu đó không có một nho gia thi sĩ hay giấy mực nào diễn tả hết cho được, mà mỗi người con trong chúng ta chỉ biết cảm nhận được sự thiêng liêng ấy bằng trái tim rung cảm, mặc dù chỉ là một viên kẹo, cái bánh hay một lời nói yêu thương hoặc một cử chỉ vuốt ve của Mẹ Cha mà thôi.
    Tết năm nay, nhìn lên bàn thờ, Ông Nội- Bác Bày- Bác Tám-Cha Má đã lần lượt ra đi, anh Hai thì bước vào tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, mọi người ai cũng bị chi phối bởi định luật Sanh-Lão-Bệnh-Tử mà không ai thoát khỏi được, ngoại trừ ai biết tu hành chơn chánh.
    Không biết rồi khi nào sẽ đến lượt chúng ta ra đi đây??? Thôi thì nghe lời Ông Phật dạy là hay nhất. Như lời Đức Thầy chỉ dạy:
      “Rán tu đặng mà chết- Đừng để đến chết mà chẳng có tu”.  Hay là: “Làm tất cả các việc từ thiện, tránh tất cả các điều độc ác, quyết rửa tấm lòng cho trong sạch”….
    Hôm nay là lễ rước Ông Bà chúng con là hậu sinh khả ố, hiện đang sinh sống tại vùng đất xa xôi Hoa Kỳ, muôn ngàn đắt tội, xin kính dâng lên Cửu Huyền Thất Tổ và Cha Mẹ chút ít thực phẩm chay trong Hương vị Xuân về, gọi là chút lòng thành của con cháu ở nơi đất khách quê người, luôn vọng về cố quốc.
    Nguyện cầu cho linh hồn của Cửu Huyền Thất Tổ và Cha Mẹ được siêu sanh nơi cõi thọ.
   Cầu chúc cho những ai đang còn Cha Mẹ hay đã được làm Cha Mẹ rồi, hãy dành những tình cảm sâu đậm nhất đối với các đấng sanh thành trong dịp Xuân về Tết đến.
    Kính chúc mọi người thân tâm thường an lạc, Đạo quả sớm Viên thành.
     “Cháu con báo hiếu theo nhà Phật,
      Cha Mẹ qua đời thủ lễ chay.
      Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng,
      Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay”.
     Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ - Phật Giáo Hoà Hảo. 

 -----------------------------------------------------------------------------------------------

LẤY LÁ CÂY THAY TIỀN - CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA...!

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

Đinh Trực · 16-01-2022
Chợ O tiền

Chuyện mua và bán rất kỳ lạ này đã tồn tại hàng chục năm qua nhưng không có nhiều người ở Tây Ninh biết đến, bởi mỗi năm phiên chợ chỉ họp chóng vánh vỏn vẹn trong hai buổi sáng 14 và 15 tháng Giêng âm lịch.

Phiên chợ này thuộc xã Trường Tây, Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Lạ ở chỗ, phiên chợ này người ta không dùng tiền mà thay bằng lá cây để giao dịch, nên người ta còn thường gọi là “Chợ Tiên” hay “Chợ Lá”....!

Theo người dân ở đây, đi chợ chủ yếu là lấy lộc mang về nhà, để cầu mong năm nay làm ăn phát tài tiền nhiều như lá cây.

Mỗi người tham gia phiên chợ có những cảm nhận khác về ý nghĩa khác nhau. Bởi đây là phiên chợ đặt biệt này diễn ra trong rộn rã tiếng cười và người bán cho đi cái mình có và nhận về là lộc lá cây của người đi mua.

Theo người dân địa phương, do ngày xưa đói khổ, người xưa nhờ ăn lá cây mà sống. Do đó, họ quan niệm lá cây như là nguồn sống, lá ý chí vươn lên của con người và khi mua bán ở phiên chợ này, ý nghĩa nhất là việc mọi người cùng cầu chúc cho nhau mọi điều suông sẻ, ăn nên làm ra trong cuộc sống của năm mới...!

Đúng là một nét văn hoá độc đáo, đáng yêu biết bao...! Phiên chợ nầy thể hiện sự chia sẻ niềm vui, thông qua món hàng đem bán và người nhận lộc như nhận sự ấm áp mến thương từ người cho...!

Ước gì được một lần đi chợ Tiên...!

(Đinh Trực sưu tầm)

 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TẾT XƯA, THUỞ CÒN MẸ CHA

Sài Gòn Xưa

Uyen-Vy Nguyen · 17-01-2022

Tết thường là vui, ai cũng tíu ta tíu tít chuẩn bị cho Tết. Quá nửa đời người, tôi ngẫm lại, Tết vui nhất là lúc còn Mẹ Cha.
Năm 1972, gia đình tôi chạy loạn từ Miền Trung về Sài gòn. Trải qua vài đận ở trọ thì dọn về một căn nhà nhỏ xíu ở đường Trương Minh Giảng, Quận 3. Con hẻm 491 là ranh giới giữa Quận 3 và Quận Phú Nhuận. Dân trong hẻm 491 và các ngõ lân cận hầu hết là người làng Nấp, quê quán Ý Yên, Nam Định, di cư vào Nam từ năm 1954. Vì ở cùng người làng nên khi đi học về, tôi thường cúi chào từ đầu đến cuối hẻm.
Thưở Cha Mẹ chúng tôi còn đầy đủ, mỗi người phân chia nhau một nhiệm vụ khi Tết đến. Người Bắc có tập tục "đi Tết" các bậc trưởng thượng. Má tôi sẽ ngồi tính toán xem sẽ biếu các Ông Bà, Cậu Dì của hai bên những gì. Nhà nghèo, việc biếu xén này sẽ là vấn đề nan giải. Phần đi biếu là của đám con. Khi đến nhà các vị trưởng bối, chúnng tôi sẽ nói: "Năm mới sắp đến, Ba Má cháu gửi biếu Ông Bà...." Hồi còn đi xe đạp, chạy giáp vòng bà con ở Sài gòn bở hơi tai.
Sáng Mùng 1, sau khi đi lễ nhà thờ về, con cái chúc tuổi Ba Má xong thì Cha Mẹ tôi tách ra, mỗi người một phận sự. Ba tôi sẽ đi chúc Tết từng nhà bà con và chòm xóm. Còn Má tôi sẽ ngồi nhà để tiếp các....ông họ hàng hoặc hàng xóm trong khi Ba tôi sẽ đi chúc tuổi vợ mấy ổng 🙂 Đùa thôi, khi còn đủ cặp thì sẽ phân chia như vầy: đàn ông đi chúc Tết, đàn bà ở nhà tiếp khách. Hầu như nhà lúc nào cũng mở cửa để tiếp khách đến chơi ngày Tết.
Mấy anh chị em tôi sẽ cùng nhau đi bộ sang hẻm 491 chúc Tết bà con. Họ hàng ở liền liền nhau, thế nên vừa rời nhà này là sang tới nhà kia. Đi ngoài hẻm sẽ gặp những gia đình bà con khác cũng đi chúc Tết, mọi người í ới, tay bắt mặt mừng chào hỏi nhau năm mới dù vẫn gặp nhau hàng ngày. Tết đến, khoác tấm áo mới, ai cũng mang tâm trạng mới để chào người cũ. Vui đáo để.
Chúc Tết xong bà con ở hẻm 491, chúng tôi lên xe thăm Cậu và Dì bên khu Ông Tạ. Anh chị em tôi đi chúc Tết nhưng bao giờ cũng cắt cử một người ở nhà để phụ Má tiếp khách. Phụ là rót trà, tiếp bánh mứt, xếp bao lì xì cho Má. Sang Mùng 2 thì mấy chị em gái xúm vào phụ Má làm cơm đãi khách.
Mọi chuyện bắt đầu thay đổi khi Ba yếu đi rồi mất. Má đóng luôn cả vai của chồng nên cũng có phần chệch choạc. Má kêu con cái chở qua nhà vài người bà con chứ không đi đủ qua cả Xóm Mới (Gò Vấp), Bà Quẹo (Tân Bình) đến Bình An (Quận 8 ).
Rồi Má mất, căn nhà không còn là chỗ nhất định phải tạt qua mỗi ngày nữa. Mùi Tết cũng chẳng còn nơi ấy. Nhớ hoài những ngày Ba đi chúc Tết, Má ở nhà tiếp khách thuở xưa!

 ----------------------------------------------------------------------------------------------

TẾT QUÊ

Phạm Hào is with Điền Nguyễn

21-01-2021

        Trời đông se lạnh. Gió bất thổi mang về cơn giá buốt. Chợt xem lịch, thì chỉ còn vài tờ nữa là thay lịch mới. Tháng chạp đã cận kề, vì thế hèn chi hôm rày nghe đất trời không khí đường như mang hương tết về đã tràn ngập trên nẻo đường quê hương. Xuân về mang bao nỗi niềm trầm tư. Là dịp để chúng ta cùng nhau suy gẫm lại những thành công hay thất bại mà năm qua ta đã đạt được hoặc hay nhìn lại sự thất bại để rút kinh nghiệm cho năm sau được tốt hơn.
         Xuân còn là dịp cho những cánh chim đơn đang bay ở phương trời nào đó nhớ mà quay về bên gia đình để cùng nhau xum vầy mà đón giao thừa hay cùng chung vui những ngày tư ngày tết.
        Mùa xuân còn là dịp để con cháu tỏ lòng tri ơn với ông bà những người đã đi trước, đã dày công sáng tạo để cho ta một cuộc sống tươi đẹp hạnh phúc như hôm nay.
Bây giờ tết hồ như nhợt nhạt đi. Phần lớn là do thời đại tân tiến hơn xưa quá nhiều. Quà bánh thì đa dạng làm chúng ta quên mất những thứ bánh quê mộc mạc giản đơn mà chứa chan đông đầy một vùng trời tuổi thơ. " Bánh tét, bánh kẹp... Mức .... Ngày nay đã đầy rẫy các chợ, thậm chí còn ngon mà thú vị hơn nhiều so với bánh ngày xưa, dù vậy nhưng những thứ ấy vẫn chưa đủ với hương vị của quê hương. Nó không đáp ứng được cái gọi là hồn quê, cái ngọt ngào mà mẹ quê hương đã gói trọn ân tình qua lớp lá chuối đơn sơ để gởi gấm trọn vẹn hai chữ " Tình Quê" vào trong ấy. Để trao cho những đứa con xa sứ làm hành trang mà nhớ về quê hương và tìm về những cái Tết thời xưa cũ.
          Ngày nay, văn minh vượt bậc đôi khi những ngày chạp mã, họ chỉ đem tiền ra mướn người ngoài làm cho có lệ. Nhưng họ không hiểu rằng tảo mộ hay chạp mã là những món quà hiếu kính tinh thần mà chính con cháu chúng ta thực hiện mới trọn vẹn. Đành rằng ông bà không chấp nhứt hay quở phạt, hay là cần chúng ta phải trang hoàn cái nơi chôn kín cái thân xác tứ đại cho huy hoàng rực rỡ.              
           Nhưng cái đạo lý: "Uống Nước Nhớ Nguồn" không cho phép ta bỏ phế hay dùng vài đồng tiền tạm mướn những người xa lạ để làm thay mà quên mất cái bổn phận ấy chính là của chúng ta.
Dần rồi, những truyền thống ấy mai một dần. Những ngày tết các bạn chỉ biết cùng bạn bè du lịch xa hoa ăn chơi nhậu nhẹt. Tìm những thú vui đắc tiền từ xã hội để thoả mãn nhu cầu tư lợi cá nhân hay những sự vui say bên bè bạn mà quên trở về nhà đón "Giao Thừa". Thời khắc ấy quý báu vô cùng. Thành khẩn thắp một nén hương cung nghinh ông bà những bật tiền nhân. Hay cầu nguyện "Phật Trời" những điều tốt đẹp. Thì hay biết mấy !.
           Hôm nay, còn chỉ vỏn vẹn không mấy ngày nữa thì chúng ta đã cùng nhau đón mùa xuân mới "Tân Sửu 2021". Tôi có vài lời kính viết. Nhằm mục đích "Ôn Cố Truy Tân" để chúng ta cùng nhau gìn giữ những di sản tin thần cao quý của dân tộc ông cha. Để xứng đáng là người con của giống nòi "Hồng Lạc Rồng Tiên" lưu truyền cho hậu thế.
           Xin cuối lời cầu chúc cho các bạn các giới. Sang thềm xuân mới được dồi dào sức khỏe thành công trên mọi lĩnh vực kinh tế đời sống luôn hạnh phúc vui tươi và kính chú quý vị hưởng một mùa xuân an lành vui vẻ bên gia đình và những người thân yêu.
         "CUNG CHÚC TÂN XUÂN
         TẾT ĐẾN TƯNG BỪNG
         VẠN ĐIỀU NHƯ Ý
         PHÚ QUÝ CÁT TƯỜNG
         GIA ĐẠO AN KHƯƠNG
         CHÚC MỪNG NĂM MỚI !!!"
Phạm Hào
Kính viết!

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 

BÁNH TÉT VÀ NGƯỜI MỸ!

Thiên Hạ Chuyện

Viết Châu Nguyễn · 23-01-2022
Bánh TétBánh Tét

Hoa, cô em gái của Hoàng quen và lấy chồng Mỹ! Đám cưới được tổ chức theo phong tục Việt Nam họ nhà trai cũng bưng mâm quả tới nhà gái để làm lễ rước dâu. Vì nhà trai toàn là người Mỹ nên mâm quả do họ đàng gái chuẩn bị giùm. Cũng bao nhiêu lễ vật tương tự như các đám cưới khác gồm rượu trà, bánh trái, trầu cau, nhưng chỉ khác là thay vì xôi thì có một mâm quả đựng…hai đòn bánh tét được cột vào nhau bằng một sợi chỉ hồng!
Mark, chú rể Mỹ giới thiệu mâm quả lễ vật cho họ hàng hai bên một cách rành rọt. Nghe nói Mark phải học bài trước cả tuần. Đến phần giới thiệu mâm bánh tét, bà con người Mỹ của chú rể tỏ vẻ ngạc nhiên tò mò không hiểu thứ này là cái quái gì vì Mark chỉ giới thiệu khơi khơi cái tên “bánh Tét” và nói món này không có tên tiếng Mỹ.
Hoàng giúp em rể giải thích rõ ràng:
- Vì đám cưới gần với ngày Tết của Việt Nam nên mâm quả hôm nay đặc biệt có món bánh Tét. Món bánh Tét này là một trong những món ăn quốc hồn quốc túy không thể thiếu của người miền Nam và miền Trung Việt Nam trong những ngày lễ Tết. Có truyền thuyết kể là ngày xưa cách nay hơn 230 năm khi vua Quang Trung thống lĩnh quân lính đánh đuổi giặc Thanh ra khỏi bờ cõi, ngài cho quân lính nghỉ ngơi ăn mừng và ăn Tết. Một người lính được vợ gởi cho loại bánh này nên đem dâng vua ăn thử. Vua ăn bánh thấy thơm ngon nên hỏi thăm và anh lính kể lại sự tình. Mỗi khi ăn bánh anh cảm được cái tình nồng ấm và bền chặt của vợ qua lớp nếp quyện chặt với nhau. Anh nghĩ đến cái công của vợ anh ngồi bên bếp lửa hồng nấu bánh trong một thời gian rất dài để bánh giữ được lâu mà càng thêm thương và trân quí người bạn đời. Đặc biệt là nếp của bánh còn giúp anh bớt được chứng đau bao tử. Vua nghe câu chuyện thấy hay và bánh lại thơm ngon, vừa no bụng vừa giữ được lâu hư nên ra lệnh mọi người làm bánh này để ăn trong những ngày Tết và đặt tên bánh là bánh Tết. Có thể cái tên bánh Tét là từ tên bánh Tết đọc trại ra chăng?
Bàn tiệc đãi bà con hai họ để tiễn cô dâu về nhà chồng toàn món ăn Việt Nam dĩ nhiên có đủ cả gỏi cuốn, chả giò, soup và bánh tét dưa món. Mark ra vẻ sành sõi giới thiệu cho bà con Mỹ của mình từng món ăn và đặc biệt là món bánh tét:
- Món bánh tét thường chỉ được ăn vào ngày Tết thôi. Ăn bánh tét với dưa món ngon lắm.
David là anh của Mark nhìn khay bánh tét được cắt sẵn rồi nhìn hai đòn bánh tét trong mâm quả không giấu vẻ ngạc nhiên hỏi:
- Bánh tét được làm bằng nguyên liệu gì vậy? Nhìn hai cái khối xanh xanh kia tôi không nghĩ cắt ra từng khoanh bên trong lại đẹp như vậy!
Hoàng giải thích:
- Bánh tét được làm bằng nếp, đậu xanh và thịt heo ướp sẵn gia vị hành tiêu mắm muối. Gói tất cả lại bằng lá chuối rồi nấu cỡ 10 đến 12 tiếng cho đến khi thịt mỡ tan chảy vào nếp mới ngon.
Hoa phụ họa:
- Món bánh tét này do anh Hoàng làm từ khâu A đến Z. Và khác với người ta thường nấu bánh tét bằng lò gas, củi lửa thì anh ấy nấu nó trong oven.
Đến phiên bà con phe nhà gái ồ lên ngạc nhiên:
- Ủa! Nấu bằng oven à? Nghe ngộ nhen.
Hoàng giải thích:
- Thì trước kia ở Việt Nam thường nấu bằng củi nhưng qua đây phải nấu bằng bếp gas ngoài garage. Phải châm nước hoài vừa cực vừa dơ vì nước hay trào. Hai năm nay nghe cô bạn trong hãng bày về nấu thử trong oven vừa sạch sẽ vừa khỏi mất công châm nước nhiều lần.
Bà chị họ của Hoàng nóng ruột hỏi tới:
- Nấu trong oven thế nào bày cho tui với.
- Em xếp bánh trong hai cái nồi lớn, đổ nước vào ngập nồi rồi chỉnh oven để lửa nóng 400 độ trong 4 giờ đồng hồ. Xong tắt oven 3 giờ đồng hồ vì oven tắt thì nhiệt độ bên trong vẫn còn nóng lắm lâu lắm. Xong mở oven lại để 400 độ 3 giờ đồng hồ nữa là bánh đạt rồi.
Chị họ hỏi tiếp:
- Thế có phải châm thêm nước không? Nếu có thì châm cỡ mấy lần?
- Nấu được 2 tiếng thì châm nước đầy. Canh cỡ gần 2 tiếng nữa trước khi tắt oven châm nước thêm một lần nữa. 3 tiếng sau khi mở lửa oven lại thì châm nước đầy. Coi như châm 3 lần nước là xong.
Bà con tấm tắc khen cách nấu bánh trong oven của Hoàng nghe có lý quá thế nào họ cũng học cách nấu này. Hoa khen thêm:
- Kỳ này thấy anh Hoàng gói bánh đẹp rồi đó nhen. Nhân thịt và đậu xanh nằm chính giữa nếp chứ không nằm méo xẹo như trước nữa.
- Làm hoài phải rút kinh nghiệm chứ.
Nói là làm hoài chứ Hoàng vừa tập gói bánh tét mấy năm gần đây. Mọi năm có bà cô vợ  thường gói bánh chưng cho ăn nhưng cô bị bịnh mất rồi đành phải tự gói ăn thôi chứ mua ngoài thiên hạ gói chàng không vừa ý. Hoàng thích bánh tét có nhiều nếp, ít đậu xanh và ít thịt mà bánh mua thường nhiều đậu xanh quá và đôi khi nêm nếm không vừa ý. Bà cô lại chỉ biết gói bánh chưng chứ không gói bánh tét nên Hoàng cố nhớ lại bài học của bà ngoại vợ chỉ cách nấu bánh tét cách nay hơn 30 năm trước ngày chàng xuất cảnh đi Mỹ. Không ngờ bài học của ngoại lại có lúc hữu dụng.
Lần đầu Hoàng ráng nhớ lời ngoại chỉ dẫn để gói cho thành cái bánh tét nhưng nấu xong cắt ra mới thấy đậu xanh nằm một bên, thịt nằm một nẻo chẳng giống ai. Lại vì buộc dây hơi chặt nên nếp không nở nổi cứng ngắt khó ăn cứ như gạo sống vậy. Hư keo này bày keo khác nên sau nhiều lần thực tập rút kinh nghiệm bánh tét Hoàng gói mới ngon và đẹp như ngày nay.
Cứ tưởng người Mỹ sẽ thích món chả giò hơn nhưng không ngờ họ có vẻ thưởng thức tận tình món bánh tét dưa món. Có lẽ vì nghe lời giới thiệu của Mark đây là hàng quý hiếm nên thiên hạ “chiếu cố” hơn chăng. Thói thường người đời chẳng cần phân tích hay dở cứ nghe quảng cáo hàng độc hiếm có là cho rằng nó có giá trị cao rồi.
Gia đình của Mark rất thích thú khi Hoàng “to go” cho họ mấy đòn bánh tét để buổi chiều đãi tiệc cưới bên họ đàng trai. Anh còn bày họ cách dùng chỉ để cắt bánh. Mark nhắc cô dâu:
- Nhớ đưa thêm dưa món nữa nhé.
Mọi người cười ồ cho cái anh chàng Mỹ sành ăn đồ Việt này. Mark có tâm hồn ăn uống và rất thích các món ăn Việt Nam. Không ai ngờ là anh chàng còn dám ăn cả tiết canh vịt và còn ăn rất nhiều lần nữa đấy.
Tiệc cưới chính được đãi ở nhà anh Mark vì gần bờ hồ có đất vườn rộng. Khách Mỹ đến khá đông. Mọi thứ lều trại bàn ghế được thuê sẵn và đồ ăn thức uống được bày ăn theo kiểu buffet. Vừa đồ ăn Mỹ vừa đồ ăn Việt và khay bánh tét của Hoàng lại một lần nữa được khách người Mỹ của họ đàng trai thích thú thưởng thức. Họ cũng rất thích câu chuyện về nguồn gốc của loại bánh này. Một người Mỹ nói:
- Tôi thấy mấy người có thể mở tiệm làm và bán bánh tét được đó. Biết đâu cũng sẽ làm ăn phát đạt và mở rộng như Mc.Donal hay KFC.
Vợ Hoàng mơ màng:
-Ừ nhỉ! Tại sao không? Chúng ta có thể giới thiệu và quảng bá món bánh tét cũng như bánh chưng cho người dân của đất nước Hiệp Chủng quốc này. Bánh tét chay nè, và bánh tét chiên giòn ngon hấp dẫn không thua chả giò nữa.
Mark nâng ly kêu lên vui vẻ:
-Vậy thì cùng nâng ly chúc mừng shop bánh tét tương lai chứ! Tôi yêu bánh tét. Tôi yêu vợ tôi!

Tác giả: Thanh Mai

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tản mạn đầu năm

NGÀY MỒNG MỘT TẾT NHÂM DẦN

Sáng sớm, ngoài trời sáng trưng, nhưng mặt trời chưa dậy (chắc đêm qua Ngài cúng Giao Thừa, nên còn ngái ngủ!) bỗng điện thoại kêu cái “keng”  lật đật (lại lật đật!) kiếm cái kính, lướt điện thoại coi ai nhắn tin. Chị bạn (tổ sư dậy sớm) gửi Chúc Mừng Năm Mới cho một nhóm bạn có tới …ba người!

Hôm qua, ba chị em đã gặp nhau trao đổi tù binh bánh chưng các thứ, chúc tụng nhau ồn ào ráo riết, thế mà sáng sớm trong giờ phút linh thiêng của ngày đầu năm, bà chị vẫn làm đúng thủ tục truyền thống!

Ba chị em bèn chồm dậy, bấm chữ lia lịa chúc mừng nhau rồi tạm biệt để khởi động cho một ngày đầu năm nhiều ý nghĩa.

Như thường lệ, tôi nấu ấm nước pha cà phê, nướng bánh mì, hôm nay ăn với mật ong cho nó…ngọt ngào suốt năm!

Không quét nhà, nhưng tưới cây, vì suốt hai hôm nay, trời nắng oi ả, cây cối có phần uể oải. Chậu Sen hôm đầu năm Tây nở hoa, hôm nay ngày đầu năm Ta, chợt thấy có thêm hai cái nụ non giữa giàn lá xanh tươi tốt. Thế là năm nay Sen có đến năm hoa. Quá là thương!.

Chớ bảo …Xuân tàn, Sen rụng hết

Đêm qua, trong chậu, ló nụ Sen!!!

Sắp bữa sáng cẩn thận một chút để không bị đổ vỡ, dông cả năm!!!kế đó đi chúc Tết bằng hữu ở Chung Cư Phây.

Bạn ghé nhà mình, mình cũng xúng xính áo mới ghé thăm nhà bạn. Chúc nhau ỏm tỏi, chúc qua chúc lại. Sao mà vui!

Nói tới thì cũng phải nói lui, chuyện gì ra chuyện nấy, thằng em Mark nó có hư, có ham tiền khoá trái cửa những người lên tiếng cho nhân quyền công bằng xã hội, mình la nó, phạt nó. Nhưng nó có công dựng lên cái chung cư Phây, anh chị em bằng hữu mình mới có dịp quen biết hàn huyên giúp đỡ nhau.

Giờ kẻ ở đầu sông, người cuối sông, cách xa vạn dặm, lại thêm tuổi già sức yếu, làm sao thăm nhau ngày Tết, chỉ có thể trượt “pa-te” trên Phây thôi!!!.

Hồi xưa còn ở trong nước, sáng sớm ngày Mồng Một Tết thường có mưa Xuân. Khí trời mát mẻ, khiến lòng người êm ả, khó nổi quạu!. Cả nhà dậy sớm, từ lớn tới nhỏ ráng đi đứng dịu dàng, cư xử từ tốn lễ phép. Mọi người mặc áo mới, đứng trước bàn thờ gia tiên đã được thắp đèn nến sáng trưng, cầu xin mọi đều tốt lành trong năm mới. Kế đó một người trong gia đình (thường là ông Nội, ông Ngoại hay cha hay anh Hai!!) được xem là …tốt tướng, tốt tính sẽ làm nhiệm vụ …xông nhà cho cả nhà yên tâm! sau đó con cháu xếp hàng chúc Tết ông bà cha mẹ, hăm hở chờ tiền lì xì và mở sòng bầu cua cá cọp….Người lớn coi hướng nào hạp với tuổi mình, rồi toả ra khắp các ngã đường đi chúc Tết bà con bạn hữu... Giàu nghèo gì cũng vui vẻ um sùm trời đất!

Bây giờ ở trong nước không biết thế nào? Liệu có còn giữ được những truyền thống tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền không? Xin ráng giữ, dù hoàn cảnh có thế nào nghe bạn hữu, bà con cô bác.

Ở hải ngoại cũng gay lắm, Tết Tây mới có ngày nghỉ, Tết mình ai cũng phải đi làm.

Hồi xưa con cái còn nhỏ, tôi và một vài bạn đã xin trường cho con nghỉ ngày Mồng Một Tết để  chúc Tết ông bà, lì xì, rồi đi chùa, rồi hội chợ… lỉnh kỉnh các thứ trong ngày Tết…

Dần dần con cái lớn lên, đi làm, lập gia đình…ngày Tết Tây trở nên quan trọng vì gia đình xum họp dễ dàng. Còn Tết Ta thì chỉ có ông bà cha mẹ, các cô chú tự…diễn biến hoà bình với nhau. Đến tối con cháu mới ghé chúc Tết và mục đích chính của tụi nó là …các phong bì lì xì!!  Thôi, giữ được tí gì hay tí nấy.

Năm nay con gái thứ hai của tôi vừa xin “công thức làm bánh chưng của Mẹ”. Vui ghê! Hỗ Mẫu Sinh Hổ Nữ!!!

Còn các bạn cùng thế hệ, ai cũng…chân yếu tay mềm, mắt kém, lái xe loạng quạng, có người còn bị con… tước bằng lái xe để bảo đảm an toàn cho mẹ, nên không thể vu-loa xe pu voa được, không thể vù vù đi thăm nhau như mơ ước được, thì gặp nhau trên Phây, trên điện thoại rào rào cũng thoả được cái tình muốn thăm hỏi nhau.

Sáng giờ tôi cũng ghé thăm được nhiều bạn, bây giờ sửa soạn qua bên Cha tôi, chúc Tết Ông Cụ, lì xì các em út, rồi cúng đầu năm. Sau đó về nhà tiếp tục du Xuân vòng vòng chung cư Phây, ghé thăm thêm một số bạn hữu nữa rồi …nghỉ xả hơi ba ngày Tết! Cung Chúc Tân Xuân…

PHẠM DIỄM HƯƠNG

 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Giọng nói người Sài Gòn

Sài Gòn Xưa

Phùng Chinh · 23-01-2022

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương.
Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế… Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay.
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy. Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

Trích từ Operablog.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TẠI SAO THỊT KHO TÀU NGÀY TẾT MÀ CHỮ “TÀU” KHÔNG CÓ VIẾT HOA?

Quang Nguyen
Kho Tàu

Khoảng 9, 10 năm trước, trong một buổi sinh hoạt với đồng hương để chuẩn bị cho một buổi picnic. Tham dự buổi sinh hoạt đa số là quý đồng hương lớn tuổi. Tôi có đưa ra một câu hỏi là : “Tại sao chúng ta gọi là thịt kho tàu, trong khi đó, món thịt kho này là món ăn thuần túy của người Việt, và cũng là một trong những món ăn truyền thống của chúng ta?”
Hơn 30 người đều xì xào nhưng không có ai trả lời được. Cuối cùng có một bà thím giơ tay lên và trả lời rất hóm hỉnh. Bà thím đã nói như sau:
“Thịt kho tàu thì miếng thịt phải cắt to, vì vậy khi kho nó nổi lên trong nồi như những chiếc tàu, nên ông bà mình đặt tên là thịt kho tàu.”
Mọi người cười vang thích thú. Tôi bèn hỏi : “Ở đây có ai ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long không ?” Nhiều người giơ tay, tôi nói thêm: “Ở miền Tây có sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ, ở Cần Giờ có sông Lòng Tàu. Vậy riêng chữ “tàu” ở đây có nghĩa là gì ?”
Mọi người im lặng. Tôi nói tiếp: “Theo nhà văn Nguyễn Đức Lập, cũng như theo nhà văn mà cũng là nhà nghiên cứu nổi tiếng Bình Nguyên Lộc, thì chữ “tàu” nói theo ngôn ngữ miền Tây có nghĩa là “mặn ngọt lờ lợ”. Những dòng sông có nước lờ lợ như sông Cái ở phía trên thì dân Nam Bộ mình gọi là sông Cái Tàu Thượng, sông Cái ở phía dưới thì gọi là sông Cái Tàu Hạ, sông Lòng ở Cần Giờ thì gọi là sông Lòng Tàu vì những sông này có nước lờ lợ.”
Bà thím nói theo:
“Tới tuổi này mà bây giờ tui mới biết thịt kho tàu là món ăn chính cống của người Việt mình. Chữ “tàu” có nghĩa là ngọt mặn lờ lợ. Thịt kho tàu là thịt kho ngòn ngọt, mằn mặn… ăn với cải chua dưa giá thì khỏi chê.”
Cả lớp cười ồn ào, rồi tôi nói tiếp : “Vì vậy, các cô chú bác nhớ rằng và cũng nên nói lại cho người mình quen biết rằng thịt kho tàu là món ăn chính gốc của người Việt Nam mình, chớ không có liên quan gì đến Ba Tàu, Made in China cả.”

Quang Nguyen

Nguồn: https://longnguyen48.blogspot.com/.../tai-sao-thit-kho...

 -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngày Tết Theo Chân Một Món Ăn

Võ Phiến

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

Đàm Hoa · 30-01-2022
Theo chân món ăn

Trong cuốn truyện của Minh Đức Hoài Trinh xuất bản vào cuối năm 1974, có một người con trai miền Trung (đồng hương với tác giả) đưa một cô bạn gái miền Bắc đi ăn món Huế. Anh chàng cẩn thận đặn dò:
Coi chừng món Huế cay lắm, liệu cô Duyên có ăn nổi không chứ ăn về khóc ba ngày đó. Cái cẩn thận làm tôi nhớ lại một bữa ăn món Huế mười bốn năm về trước ở Sài Gòn. Hỏi đó có lần một anh bạn người Huế chủ trương một tạp chí văn nghệ mời mấy anh em cộng tác, kẻ Bắc người Nam, đi thưởng thức các món ăn ngon của quê hương anh tại một tiệm ăn ở đường Lê Văn Duyệt. Trước khi đi, anh trịnh trọng, bí mật, cốt dành cho bạn bè một bất ngờ; trước khi ăn, anh cũng lại dặn dò, đề phòng vụ khóc lóc.
Ngày ấy món Huế là cả một sự lạ ở Sài Gòn. Người Sài Gòn quen món Tàu, quen món Tây, đến món cà ri Ấn Độ cũng lấy làm hợp miệng, và dăm ba món Miên cũng được thông cảm dễ dàng, nhưng món Huế thì… mới mẻ quá. Có kỳ cục không chớ? Cái tiệm ăn Huế ở đường Lê Văn Duyệt nọ là một tiệm hiếm hoi, mọi người Huế ở Sài Gòn lúc bấy giờ đều biết.
Bây giờ thì khác rồi. Bây giờ là cả một vận hội mới cho món Huế tại Sài Gòn. Ít ra là cho món bún bò. Đi đâu cũng ăn được bún bò: Trong tiệm, trong nhà hàng, trong lều chợ, ngay vỉa hè v.v… Có thứ bún bò đài các thượng lưu trong tửu lầu, có thứ bún bò bình dân của những chiếc xe lăn đừng lại ở lề đường, có thứ bún bò gánh dạo len lỏi trong các xóm lao động v.v… Thiên hình vạn trạng, thôi thì bún bò chọn đủ mọi hình thức thích nghi để đi vào quần chúng.
Minh họa: Pixabay
Phải nói là nó xông vào quần chúng, bởi vì cái bún bò phổ biến rộng rãi ở Sài Gòn gần đây dường như không phải theo một quá trình tiệm tiến đâu; dường như mới cách đây bốn năm năm gì đó, nó vẫn hãy còn là hiếm, thế rồi chỉ trong vòng vài năm tự dưng nó lan rộng nhanh chóng ào ào. Không kèn không trống, rụp một cái: Nó tỏa ra khắp đều, đi đâu cũng gặp nó. Đồng bào ruột thịt kẻ Nam người Bắc không chê bún bò nữa, không khóc bún bò nữa; nó đã được chấp nhận.
A! Cái sự “chấp nhận” mạnh mẽ này không phải không gây ra những hậu quả bất ngờ. Số là vì được chấp nhận quá rộng rãi, cho nên khách hàng người Nam tự tiện cải biến nó ra lối Nam, khách hàng người Bắc cũng lái nó nghiêng sang hướng Bắc chút ít cho vừa miệng. Thế rồi ở chỗ này có một hàng bún bò thơm ngát mùi cà-ri; ở hẻm kia một nhóm bà con xúm xít thưởng thức những tô bún bò vàng khè màu nghệ; ở trong xóm nọ có bà hàng đang cặm cụi thắng mỡ phi hành phi tỏi tùm lum để trút vào nồi bún bò… Thế rồi có bún bò ăn với rau bắp chuối, giá sống, có bún bò ăn với rau cần v.v…
Một cô bạn xứ Huế che miệng cười rinh rích: “Chi lạ rứa!” Một bà cụ cũng người Huế rút vội điếu thuốc Cẩm Lệ ra khỏi miệng, vừa kịp để ngoác ra cười, cười ngặt cười nghẽo, cười chảy cả nước mắt: “Răng mà cũng có người thời được! Chi chi mô!”
Ấy, không khéo cô bạn và bà cụ lầm to rồi. Chính cái việc biến hình cải dạng nọ mới chứng tỏ sự thành công của bún bò; vì được quần chúng Nam Bắc chiếu cố nồng nhiệt cho nên nó mới bị lôi về bên này, bị kéo về bên kia; nó cả nể, nó chiều lòng khách mà hóa ra nên nỗi. Chứ trước kia, ở Sài Gòn bún bò không được mấy ai hưởng ứng, chỉ chờ đợi thực khách Huế mà thôi, thì bấy giờ nó “thuần túy” lắm. Thuần túy và cô đơn.
Trận thắng lớn của bún bò gần đây đường như cũng có làm điên đảo một ít đối thủ bạn bè khác: Có người đang bán cháo vịt, thoắt cái đã bỏ gánh cháo vịt mà quảy gánh bún bò; lại có bà hàng hủ tiếu lặng lẽ chuyển hóa thành bà hàng bún bò không biết từ hồi nào! Kiểm điểm lại lịch sử Nam tiến của các món ăn trong giai đoạn đôi ba chục năm trở lại đây, có lẽ bún bò chỉ thua có phở. Một món gốc Bắc, một món gốc Trung, chúng đã bám rễ, rồi hiển đạt, rồi vẻ vang ở miền Nam. Không! Nói cho đúng thì thực ra cả hai chúng chỉ phát triển được ở Sài Gòn mà thôi: Tiến quá một chút nữa, xuống đến Mỹ Tho, chúng vẫn chưa được chấp nhận, nói gì đến Vĩnh Long, Bạc Liêu, Long Xuyên, Cà Mau…
Cái gì đã giới thiệu rộng rãi món bún bò Huế với thực khách Sài Gòn, đã khiến cho nó thành món hấp dẫn, được mến mộ? “Ai đi cắt nghĩa được tình yêu?”. Kể cả yêu bún bò. Tuy nhiên, cũng có thể đưa ra một vài phỏng đoán.
Theo chỗ chúng tôi nghĩ thì có lẽ cái làm cho người ta khoái bún bò cũng chính là cái làm cho người ta khóc vì bún bò: Tức những gia vị đậm đà của nó. Thật vậy, không phải riêng gì cô Duyên gái Bắc khóc lóc trên tô bún bò Huế mà thôi đâu. Còn nhớ hình như trong cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, sau bao nhiêu bom đạn kinh hồn, bao nhiêu chết chóc, tan nát đau thương, máu đổ thịt rơi tại cố đô, Nhã Ca cũng kết thúc tác phẩm bằng một tô bún bò. Và người nữ sĩ xứ Huế cũng nói đến chuyện vừa ăn vừa chảy nước mắt. Nhưng nói đến như một cái khoái: Trong giá rét căm căm, mưa dầm ướt át, không gì bằng ăn món thật nóng thật cay.
Bún bò đã cay lại thơm. Thơm lắm kia! Thơm như đa số các món quà Huế. Để cho “sáng tỏ vấn đề”, ở đây lại cũng xin trông cậy ở một tác giả xứ Huế, Hoàng Ngọc Tuấn: “Mỗi sáng sớm, mọi người còn nằm trong chăn ấm, từ ngoài đường đã thổi vào tiếng rao và mùi thơm lừng đánh thức tất cả – nồi bún bò giò heo, cơm hến, hay bánh canh bốc khói đã làm những kẻ ngủ muộn nhất cũng trỗi dậy tỉnh táo”.
Trong các món ăn có mùi thơm thổi từ ngoài đường vào như để đánh thức những kẻ ngủ muộn nhất ấy, bún bò đứng hàng đầu. Chúng tôi ngờ rằng có lẽ người thực khách Sài Gòn cũng lại đã bị nó quyến rũ trước tiên là vì cái mùi. Vì mùi thơm mà đến, mà chấp nhận nó, nhưng rồi không thích hẳn cái thực chất, cái nội dung của nó, cho nên nội dung của bún bò Sài Gòn bị biến cải lung tung, thêm thứ nọ bớt thứ kia… Nó được chấp nhận, nhưng không được “chấp nhận nguyên văn”, do đó mà đã có tiếng cười rúc rích của cô bạn nọ.
Mùi thì thơm, vị thì cay: Món Huế nồng nàn gia vị. A! Cái xứ Huế thật lắm chuyện. Từ hồi ông sư Thích Đại Sán đến chơi theo lời mời của chúa Nguyễn, ông ta đã thấy Thừa Thiên đất ít người đông, cái ăn thiếu thốn. Món ăn ở đây, về chất liệu dĩ nhiên không sánh được với món ăn dồi dào kinh khủng ở trong Nam. Để bù lại sự thiếu thốn về chất liệu, phép chế biến của nó thật tinh vi, hương liệu được sử dụng đến tối đa.
Món ăn ít, nhưng gia vị thì nhiều; cũng như nói với hát thì ít nhưng ngân nga lại dài, Huế là vậy đó: Vai trò của hương hoa của nghệ thuật ở đây thật quan trọng. Thì bún bò Huế là nghệ thuật. Nhưng tại sao nó đột ngột tiến ồ ạt vô Nam?
“Rồng châu ngoài Huế – Ngựa tế Đồng Nai…” Người Nam có mối liên lạc với đất kinh kỳ từ lâu, tại sao mà phải chờ mãi tới gần đây bún bò mới được phổ biến ở Đồng Nai? Phải chăng là vì phải có một làn sóng người Huế, người Quảng Trị dồn dập tràn vào Nam sau các biến cố Mậu Thân và mùa hè 1972, bún bò Huế mới gặp thời cơ thuận lợi? Có thể lắm, phở Bắc tràn vào Nam theo làn sóng di cư sau cuộc chia cắt đất đai năm 1954; bún bò Huế lan rộng ở Sài Gòn sau một mùa xuân và một mùa hè máu lửa. Mỗi món ăn là một cái tội, là một kỷ niệm đau thương.
Quả có thế: Nhất ẩm nhất trác không phải là chuyện vu vơ, vô nghĩa. Ba năm trước, một hôm ở cái tiệm ăn bên hông chợ Cheo Reo, tôi đã sững sờ vì cuộc hội ngộ bất ngờ với cọng giá sống. Từ Sài Gòn vừa đến, vào quán gọi tô phở, lập tức một đĩa giá sống được kèm theo sát cánh. Tôi mở mắt thật lớn nhìn cọng giá mơn mởn, trong đầu dồn đập bao nhiêu là thắc mắc:
“Trời đất! Sao mà qua lại có thể gặp chú em ở chốn này? Cheo Reo, cái địa điểm heo hút ở miền Cao Nguyên này, cái địa phương dân Thượng đông hơn dân Kinh này, xưa nay có bao giờ được hân hạnh đón tiếp những đồng bào từ miền Nam lên đâu? Xưa nay chỉ có đồng bào Trung và Bắc vào làm ăn, sinh cơ lập nghiệp ở miền Nam phì nhiêu, chứ đâu có chuyện người Nam bỏ xứ lên đất thượng du? Vậy thì, hỡi cọng giá sống? Cuộc phiêu lưu bất thường của chú em muốn nói lên cái điềm gì đây?”
Hỏi ra thì đó là cái điềm chiến tranh: Lính đồng minh lên xứ Thượng, tạo ra cơ hội làm ăn cho nhiều đàn bà con gái từ Sài Gòn lên theo. Rồi cọng giá được tháp tùng! Thành thử, một cọng giá nó cũng tỉ tê thóc mách được đôi điều về hoạt động quân sự trong một giai đoạn của đất nước, về một khía cạnh sinh hoạt của một thời loạn lạc.
Lại đi hỏi thăm về quá trình lưu lạc của chiếc bánh tráng tại Phan Thiết, tại Phú Quốc v.v…, chắc chắn nó cũng kể lể được năm bảy chuyện về cuộc sống và con đường di chuyển của ngư dân Bình Định trong thế kỷ trước. Một món ăn của thời qua phân lãnh thổ, một món ăn của mùa hè đỏ lửa, một món ăn đi theo ghe thuyền, một món ăn theo chân chiến sĩ v.v… Rồi mai kia, trong các thế hệ con cháu được sống thời an lành, nếu có kẻ tẳn mẳn lần dò theo đõi bước phiêu lưu của từng món ăn từ địa phương nọ sang địa phương kia, kẻ ấy sẽ tha hồ thổn thức về những tang thương của đất nước dính liền với những phiêu lưu ấy.
Cái phép tìm về lịch sử dân tộc bằng đầu lưỡi, ai bảo nó không thấm thía bằng những phép khác?

 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

NHỚ TIẾNG QUẾT BÁNH PHỒNG

TẾT - QUÊ HƯƠNG MIỀN NAM·

Huỳnh Hoàng Linh · 15-01-2022
Quết bánh phồng

Đã thành thông lệ, độ đầu tháng Chạp, khi công việc đồng áng vừa xong là nhà nhà bắt tay lo sắm tết. Tết quê xưa là những thứ món ăn dân dã cây nhà lá vườn, nhưng có lẽ quết bánh phồng là món ăn và cũng là “cách ăn tết” vui nhất mà nhiều người khó quên.
Thỉnh thoảng, khi trà dư tửu hậu cùng họa sĩ Đặng Can, anh hay nhắc đến vở cải lương “Tuyệt tình ca” của soạn giả Hoa Phượng, rồi anh cất giọng theo đệ nhất danh ca- cố nghệ sĩ Út Trà Ôn nghe mùi mẫn: “Cứ mỗi lần bông ô môi nở hường trong gió chướng, mỗi lần tiếng quết bánh phồng rộn rã đón Xuân sang…”. Nghe giọng ca mùi mẫn, lời ca mộc mạc nhưng thắm đượm tình quê càng làm cho tôi càng nhớ tới quết bánh phồng.
Ngày trước, năm nào ngoại tôi cũng quết bánh phồng. Thường thì khoảng chừng rằm tháng Chạp đến 29 tết, thì cả xóm thay nhau quết bánh. Làm vần công, hôm nay nhà này, hôm sau nhà khác, từ người lớn đến trẻ nhỏ mỗi người một việc thay nhau làm.
Mỗi năm ngoại tôi quết từ 2 ổ (mỗi ổ là một cối quết khoảng trăm bánh) vừa để cúng ông bà, con cháu ăn, phần gửi cho bà con xa. Theo đó, từ chiều thì ngoại lo tẻ nếp ngâm nước, rồi rửa cối, chày quết bánh, lau ống cán, lau lá chuối, soạn chiếu phơi bánh...loay hoay cũng đã tới khuya.
Ngoại kêu tôi vô mùng ngủ khi nào quết bánh ngoại kêu dậy. Con nít thì dễ ngủ say, nhưng đối với tôi không ngủ được, cứ lơ mơ chờ thức dậy chạy ra coi quết bánh phồng.
Khoảng 3 giờ sáng, khi mẻ xôi nếp vừa chín tới thơm lừng, trong cái se lạnh của ngày cuối năm thì cũng chính là lúc vang lên tiếng quết bánh phồng, nhịp chày nghe văng vẳng cum, cum vang lên khắp cả xóm.
Quết bánh phồng chỉ với thanh niên cầm chày, quết theo nhịp nhàng. Một người quết, một người vô nước, cũng là người ngồi điều khiển chính. Thường là những người già có kinh nghiệm trong nghề làm bánh đảm nhận nhiệm vụ này.
Hễ khi người này mệt, thì lập tức phải có người khác vào thay, cho đến khi mẻ bánh đạt yêu cầu, mới được ngưng chày.
Lúc này, phụ nữ hàng xóm cũng đến đông vui để chờ cán bánh. Vừa cán bánh, mọi người cũng thay nhau chuyện trò vui vô kể.
Công đoạn cán bánh, quan trọng là người trực tiếp phân chia mẻ bánh thành từng viên nhỏ, nó đòi hỏi phải thật đều tay, để khi người cán ra từng chiếc bánh có hình tròn kích cỡ phải đều nhau không nhỏ, không lớn, không quá dầy, quá mỏng.
Ngoại tôi là một trong những người khéo tay, tuy không cân lượng mà mỗi phần bột đều nhau như có khuôn mẫu vậy. Ống cán bánh phồng được làm bằng ống tre lồ ô, được cắt chiều dài độ một gang tay, thường nó được chọn từ những lóng tre già mỏng ruột, sau đó đem xỏ xâu treo lên giàn bếp để vừa hun nóng cho khô, vừa đề phòng mối mọt.
Trước khi đem ra cán bánh, người ta thường rửa sạch lau khô, sau đó thoa lên một lớp sáp ong để chống dính. Từng viên bột được để lên lá chuối có thoa dầu dừa chống dính, người cán để lên tấm thớt rồi tay cán, tay xoay tròn làm cho chiếc bánh mỏng đều. Bánh cán xong thì có người đưa bánh qua chiếu phơi.
Trong khi công đoạn cán bánh sắp xong, thì phía ngoài sân một giàn phơi bánh cũng được dựng lên đâu vào đó, để những chiếc chiếu mới trải đầy bánh phồng kịp mang ra phơi đón tia nắng sớm.
Thường bánh phồng chỉ phơi một nắng, tránh để bánh “nằm chiếu” qua đêm. Bởi, theo kinh nghiệm dân gian, loại bánh nằm chiếu khi đem nướng bánh sẽ bị chai, không đạt đến độ giòn, độ tơi xốp cần thiết và sẽ không ngon như bánh phơi một nắng. Khi bánh phơi được quá buổi, khô dẻo thì phải gỡ lên “tắm bánh”.
Nước tắm bánh là nước cốt dừa pha chút đường, dùng miếng vải the mới chấm nước cốt quét lên 2 mặt bánh để bánh được bóng và thơm, dẻo, béo, ngọt... Tắm bánh xong phơi tiếp đến chiều gần tắt nắng mới gom bánh vào cất giữ để dành ăn cho đến hết tháng giêng.
Khi chiều xuống, trước sân nhà ai cũng đỏ lửa nướng bánh phồng. Nướng bánh cũng là một nghệ thuật, khi nhóm lửa phải đốt bằng lá dừa với vỏ dừa khô thì lửa mới đượm, khi lửa cháy đều và than đỏ mới nướng bánh.
Dụng cụ nướng bánh là cặp gắp cũng làm bằng tre, mỗi bên được chẻ ra làm 5 thẻ nhỏ xòe ra như bàn tay. Bánh được để lên gắp, hơ trên lửa rồi chuyển đều tay từ gắp tay này qua gắp tay kia. Khi bánh bắt đầu nở, người nướng chập 2 cây gắp lại để trên lửa, giũ một cái mạnh, bánh nở ra lớn hơn như chơi trò ảo thuật vậy.
Mùi thơm hương nếp mới tỏa ra từ bánh phồng được lan truyền từ ngoài sân vào nhà. Bên tách trà, dĩa bánh phồng giòn tan, câu chuyện về tết của người già cũng bắt đầu từ đây…
Ở miền Nam, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc nổi tiếng là đặc sản của tỉnh Bến Tre, song công đoạn quết bánh, cán bánh đã được thay bằng máy móc. Có lẽ, vì thế tiếng quết bánh phồng giờ chỉ còn lại trong ký ức !

Nguyên Hạnh

 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

KÝ ỨC NGÀY XƯA...

Thiên Hạ Chuyện

Phương Nhu Nguyễn · 15-01-2022
Ký ức ngày qua

Những ngày giáp Tết là những ngày vui nhất của đám con nít chúng tôi. Xa xa đã có tiếng pháo nổ đì đùng của đám nhà giàu, gia đình tôi có mười anh em, có ông bà nội ngoại Tết được khoe áo mới  những tấm áo má đã may cách một tháng trước đó.
 Sáng 28 Tết, má bưng một rổ thật đầy nào là cá lóc cá rô, mà tối qua các anh và cha tôi đã đặt lọp, mấy thứ này ra chợ má đổi về  nào là mấy ký thịt heo, mấy con gà chân vàng mập ú.
Thịt heo thì má kho chung trứng vịt, nhà nghèo nên  ít khi  được ăn thịt heo, nên anh em chúng tôi thèm vô kể.
Tết là cái gì đó vời vợi, mông lung, tuổi thơ nào hiểu chỉ biết rằng, rảnh hơn  vui chơi nhiều hơn, có khi quên cả đường đi lối về.
Ngày đó đâu ai cấm  chơi bầu cua cá cọp. Chúng tôi cũng chẳng có xu nào, cứ đứng chen vào chỗ đông người, chấp tay sau đít  xem người lớn chơi bầu cua, miệng cười toe thích thú.
Trưa đứng bóng chúng tôi trở về nhà, trên chiếc bàn tròn củ xì, má đã dọn sẵn đồ ăn, thịt kho trứng, gà trộn bắp chuối, dưa kiệu, cải làm dưa, canh khổ qua hầm..
Cả nhà quây quần bên mâm cơm, tía má tôi mặt mày hớn hở nhìn đàn con, các anh cũng đã lớn biết phụ giúp gia đình, nên tía má cũng đỡ lo toan.
Tôi là con út nên được yêu chìu, tại má nói tôi xấu nhứt nhà, buổi cơm trưa thật ngon, một chồng bánh phồng đã có sẵn  muốn ăn bao nhiêu cũng được, cắn một miếng vào miệng, nó ngon gì đâu vì nó ngọt nó thơm mùi nước cốt dừa quê tôi.
Cuộc sống nhà quê thanh thản, giản dị biết thương yêu và nhường nhịn.
Chúng tôi đi chơi suốt ngày tới đâu cũng được ăn uống đàng hoàng, không sợ lạc không sợ kẻ xấu và đặc biệt không sợ bị  bắt cóc.. Ôi cuộc sống sao mà êm đềm dễ thương đến vậy.
Xuân về Tết đến, bây giờ đã khác xưa nhiều. Cũng áo quần đẹp cũng chúc tụng, cũng ly rượu chúc mừng năm mới.
Nhưng trong ký ức của  tôi  vẫn bềnh bồng một nổi nhớ mênh mông...

fb Đặng Phước Chi

 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                  Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG NHANG, ĐÈN, HOA QUẢ TRÊN BÀN THỜ PHẬT                          TRONG MẤY NGÀY XUÂN.

Tuệ Tánh Thích cùng với Sakya TánhTuệ Như Nhiên.

(18-01-2022)

- Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG NƯỚC:

Cúng nước là tượng trưng cho tâm từ bi của mình và Phật không khác. Nước dù có nấu sôi cỡ nào để một hồi nó cũng nguội.
Con người của chúng ta cũng vậy, bản chất của chúng ta là thanh tịnh, lắng trong. Sở dĩ chúng ta nóng nảy, bồn chồn rồi đủ thứ là do chúng ta huân tập. Còn nếu chúng ta chịu để yên, yên tịnh, thì tự nhiên nước nó lắng, nước sẽ nguội. Đừng có nói tánh tôi nóng, tôi tu không được. Nóng, biết nóng thì phải tìm cách làm cho nó nguội. Tại sao cái chân khi đi đụng một cái thì cái tay liền biết đưa xuống xoa dịu chỗ đau. Mà tại sao khi cái tâm mình nóng, mình không tìm cách làm cho nó hết?
Cầm một món gì phỏng tay, liền chà cho hết. Mà sao trong tâm nóng không tìm cách chữa, mà cứ nói: “Tôi vậy đó, ai chịu thì chịu, không chịu thì thôi !”Như vậy, rõ ràng mình lo cái lặt vặt bên ngoài hơn.
- TẠI SAO PHẢI CÚNG ĐÈN?
Cúng đèn là tượng trưng cho trí tuệ. Tại sao phải hai cây đèn hai bên? Là tượng trưng rằng trí tuệ Phật và trí tuệ chúng ta đồng nhau không khác. Cho nên không được (cúng) một cây thấp một cây cao.
- TẠI SAO CÚNG TRÁI CÂY?
Tượng trưng cho nhân quả. Vì có nhân lành nên quả mới ngọt. Rồi khi cúng phải đôn trái cây lên cao là tượng trưng cho chúng con luôn mong mỏi tìm quả lành, quả tốt, vun bồi cho cao. Ở đời, hễ có nhân thì có quả, vì vậy cúng một dĩa trái cây cho Đấng Giác Ngộ là tự ý nhắc nhở mình làm cái nhân lành để được quả tốt.
- TẠI SAO PHẢI CÚNG HOA?
Hoa ai cũng yêu, cũng mến vì nó đẹp. Cũng như thế, chúng ta cần đến với nhau như một đóa hoa. Chứ đừng đến với nhau bằng sự héo hắt khổ đau. Mà đến với nhau bằng tấm lòng hoa tươi, hoa đẹp của mình. Bên cạnh đó, hoa còn tượng trưng cho ý nghĩa cuộc đời là vô thường. Đẹp đó, rồi thì héo hắt.
- TẠI SAO PHẢI THẮP NHANG?
Nhang, tượng trưng cho giới. Vì người có đức hạnh mới lan tỏa hương thơm. Cây nhang chúng ta thắp để nhắc nhở chúng ta sống có đức hạnh, người có đức hạnh thì hương bay khắp chốn. Nhang, còn tượng trưng cho hương giới, hương định, hương tuệ. Vì vậy, chỉ cần giữ giới thì định, tuệ sẽ sinh. Chỉ cần có tuệ, thì giới, định sẽ có. Mà định có thì giới, tuệ sẽ sinh. Cho nên không cần thắp ba, một cây cũng được. Vì trong một có cả ba.

  Như Thị ___(())___

 ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Người Việt xưa ăn tết Nguyên Đán như thế nào?

Vũ Phượng

PHÙ SA CỬU LONG

20-01-2020.

Từ bao đời, dù có đi đâu thì những ngày cận tết người Việt cũng hội tụ về làng quê, về với gia đình, ngồi cạnh nhau bên nồi bánh chưng xanh.
Đây là dịp quý báu để mọi người cùng hàn huyên, tâm sự, bỏ qua mọi chuyện trong năm cũ, đón một năm mới nhiều niềm vui, phấn khởi trong tinh thần đoàn kết, vui tươi.
+ Nguồn gốc của tết Nguyên Đán
Tết là do đọc chệch từ chữ Tiết (tiếng Hán) mà ra, nguyên là đầu tiên, đán là buổi sáng sớm. Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian đầu của một năm mới. Dần dần được gọi vắn tắt là tết.
Chúng ta đang sử dụng hai loại lịch để đo thời gian đó là dương lịch phương Tây và âm lịch. Trong các hoạt động của đời sống hằng ngày, chúng ta dùng dương lịch phương Tây nhưng Tết của ta lại dựa theo dương lịch Nam Á và Âm lịch.
Trong Đất lề quê thói, Nhất Thanh cho biết phép làm lịch của ta theo khoa học thiên văn như của Trung Hoa, lấy khởi điểm ở tháng Dần làm tháng Giêng là lúc chuôi (hay đuôi) sao Bắc Đẩu chỉ về phương Dần, đến tháng Hai chuôi sao Đẩu chỉ về phương Mão… cho đến tháng Chạp thì đuôi sao Đẩu chỉ về phương Sửu.
Tiến sĩ Trần Long (giảng viên khoa Văn hóa học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) cũng cho biết tết gắn liền với chữ tiết trong 24 tiết trong năm. Tiết là một hiện tượng khí hậu thay đổi sau 15 ngày quả đất tự quay quanh đó và đi một đoạn trên quỹ đạo biểu kiến quanh mặt trời. Tết là khoảng thời gian Bắc bán cầu dần dần dịch chuyển đến gần mặt trời hơn, thời tiết ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian đầu của một năm mới. Dần dần được gọi vắn tắt là tết.
Ở vùng Bắc bộ ngày xưa, nông dân thường gặt hái xong mới tổ chức lễ hội. Nếu được mùa thì lễ hội hoành tráng, mất mùa vẫn tổ chức lễ hội nhưng khiêm tốn hơn. Ngày Tết được thống nhất chung nhưng lễ hội mừng xuân thì không trùng nhau giữa các tộc người và giữa các làng xã.
+ Vì sao nói Tháng Giêng là tháng ăn chơi?
Theo TS Trần Long, khu vực Bắc bộ do sông Đà và sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên địa hình thấp dần về phía Đông Nam. Vùng trên làm ruộng trước thì gặt trước, các vùng thấp làm ruộng sau sẽ gặt sau. Gặt xong dân làng dọn ruộng, đốt rạ để có đất trống, bằng phẳng làm chỗ vui chơi, tổ chức lễ hội.
Vì vậy khoảng thời gian kết thúc vụ mùa trong toàn khu vực Bắc Bộ kéo dài hơn cả tháng. Thêm vào đó, các làng xã ở miền Bắc còn có tục kết Chạ, tức là làng này kết làm anh em với làng kia, vì vậy mà cả một vùng nông thôn rộng lớn của miền Bắc, kể cả miền núi hay miền xuôi đều có mối liên kết chặt chẽ (...)

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

PHONG TỤC TẾT CỦA NGƯỜI DÂN NAM KỲ XƯA

Sài Gòn Xưa

Trần Khắc Tường · 24-01-2022
Phong tục Tết

Nguyên Đán là ngày Tết truyền thống thiêng liêng và trọng đại của dân tộc; vì thế để đón chào một năm mới, người dân khắp nơi đều chuẩn bị chu đáo. Ở mỗi miền đều có tập quán riêng, tuy nhiên xét về tổng thể thì không khác nhau mấy. Trong bài nầy chúng tôi chỉ nói về phong tục “ăn Tết” của người dân Nam Kỳ ngày xưa.
Từ đầu tháng chạp, cũng là lúc gặt hái xong, nhà nhà đều nao nức chuẩn bị đón mừng năm mới, mà tiếng quết bánh phồng rộn rã là âm thanh báo hiệu đầu tiên; tiếp theo đó là chuối sứ ép phơi khô. Trước kia ở nông thôn bánh mứt từ tỉnh thành về rất hiếm hoi, vả lại người dân thời ấy cũng rất rảnh rang sau vụ lúa (mỗi năm chỉ có một mùa lúa 6 tháng) nên dư thì giờ chuẩn bị đãi khách bằng cây nhà lá vườn, môt mặt là tiết kiêm, một mặt là để các chị khoe tài gia chánh của mình: Bánh phồng nướng và mứt chuối là hai “đặc sản” không thể thiếu của mọi nhà thời ấy. Phần các anh thì nhà cửa cũng bắt đầu dọn dẹp ngăn nắp, sơn phết từ từ; nếu có cây mai trước cửa thì phải lặt sạch lá, và canh làm sao cho đến mồng một thì hoa phải nở rộ. Đến sáng ngày hăm ba đến hăm lăm âm lịch thì tất cả phải tươm tất, nhất là bàn thờ tổ tiên phải coi rôm rả, đẹp mắt với bộ lư đồng được chùi sáng loáng, mâm ngũ quả phải đầy ắp, lọ hoa tươi rói và không thể thiếu một nhành mai.
Cũng từ hai mươi đến hăm lăm tháng chạp (ít khi trễ hơn), mọi người đi tảo mộ ông bà. Những gia đình có đất rộng thì ông bà được nằm ở một nơi nào đó ngay trong mảnh vườn hay thửa ruộng của mình; còn những người ít đất thì ông bà được nằm ở chòm mả chung (không gọi là nghĩa địa). Cũng nên nói thêm, trước khi quét mộ, mọi người đều phải đem nhang đèn, giấy tiền vàng bạc, trà hay chút rượu thịt đặt trước mộ mà khấn vái để xin phép, vì vô duyên vô cớ mà “động mồ động mả” là điều tối kỵ. Quét mộ xong, người ta phải dằn trên mộ một ít giấy tiền vàng bạc; đây là dấu hiệu để báo với tốp người “chạp mả” biết là mộ nầy đã được quét rồi, (Thực tế mả chưa quét và quét rồi rất dễ dàng phân biệt, nhưng việc làm nầy là do thói quen). “Chạp mả” theo nghĩa được giải thích của bà con là “quét mả từ thiện vào tháng chạp”. Trong những ngày nầy, vì nhiều lý do mà có những mấm mộ không được người nhà chăm sóc (có mả bị bỏ hoang từ năm nầy qua năm khác), thì những thanh niên trong làng, sẵn cuốc xẻng đó, họ … “chạp mả” luôn! Dù là nghĩa cử từ thiện, nhưng trước khi “chạp mả”, họ cũng không quên thắp vài nén hương cung kính khấn vái người quá cố. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng và vẫn còn cho tới ngày nay.
Ngày hăm ba là ngày đưa ông Táo và chư thiên về trời, cũng là ngày đánh dấu Tết đã cận kề. Lễ vật không thể thiếu để đưa ông Táo là chè, tốt nhất là chè trôi nước (sau nầy là thèo lèo, bánh in) Theo bà con giải thích thì ông Táo thích ăn ngọt, hơn nữa là để lúc tâu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế, ông luôn nhớ mà nói tốt cho chủ nhà vì vị ngọt còn thừa lại ở lưỡi môi nhắc nhở; có người còn cẩn thận trét chút nước đường ở miệng ông Táo trong bộ hình nhân “cò bay ngựa chạy” (!). Chè trôi nước cũng không ngoài mục đích mong muốn mọi việc ông Táo tâu rỗi đều trôi chảy như dòng nước (!). Sau ngày đưa ông Táo, bàn thờ ông Táo và “ông Thiên” không được thắp nhang, vì không muốn cho quý ngài bận bịu nhớ về hạ giới trong lúc ở thiên đình!
Chiều hăm chín Tết là mọi việc chuẩn bị phải hoàn tất để sáng hôm sau làm lễ rước ông bà. Nhìn bàn thờ tổ tiên, người ta có thể đánh giá được thành bại của gia chủ trong năm qua. Nhưng dù thế nào, trên bàn thờ cũng phải có dĩa trái cây ngũ quả; hồi trước ngũ quả là cam, quýt, bưởi, dừa, xoài với ý nghĩa tượng trưng sự sung mãn tròn đầy theo hình dáng chúng. Sau nầy vì kiêng cử âm gọi , nên bà con bỏ cam (cam phận nghèo), quýt (húyt háy), bưởi (bưởi bồng) nên có đổi khác hơn; là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, tượng trưng theo tên phát âm Nam Bộ của nó : “cầu vừa đủ xài sung”. Có người thay trái sung bằng trái thơm: thơm tho; trái bắp: đều đặn và … “chắc ăn như bắp”. Một cặp “dưa nhứt”, tức dưa hấu loại to nhứt được dán giấy hồng đơn nằm trang trọng hai bên (bàn thờ) tượng trưng cho sự no đầy và nhành mai ở bình hoa tượng trưng cho sự may mắn, dường như nhà nào cũng có.
Sáng ba mươi là lễ rước ông bà đồng thời rước ông Táo và chư thiên về ăn Tết với gia đình. Mọi nơi thờ phụng như Ông Táo, Long thần Thổ Địa, Thần Tài, Ông Thiên, Phật, thì đơn sơ với bánh tét, hoa quả, khói hương nghi ngút. Riêng hai mâm cơm dành cho cửu huyền thất tổ và đất đai thì thịnh soạn hơn tùy theo khả năng của gia chủ, nhưng không thể thiếu tô cơm, bánh tét tượng trưng cho sự no đủ, mùa màng đắc lợi; dưa hấu tượng trưng cho sự viên mãn, may mắn; bánh phồng tượng trưng cho sự phát triển dồi dào (“phồng” ra); và chủ yếu vẫn là thịt kho tàu, tượng trưng cho sự vuông tròn (vuông của thịt, tròn của trứng). Mâm cửu huyền được dọn sáu chén, sáu đôi đũa; bàn đất đai thì năm (không hiểu sao). Mọi nhà cũng không quên dành một mâm đặt ở ngoài sân để dành cho những kẻ xiêu mồ lạc mả, vị quốc vong thân, hay những tiền nhân khai sơn phá thạch. Đặc biệt mâm nầy phải có chén muối, chén gạo; cúng xong thì đem rải bốn phương. Cùng lúc, giấy hồng đơn (cắt từng miếng vuông nhỏ đều nhau) được dán ở cột nhà, cửa tủ, cửa ngõ và cây trái quanh vườn để cho mọi việc sang năm đều thuận lợi.
Cuối cùng thì ông bà, cha mẹ dặn dò con cháu những điều cần thiết và những kiêng kỵ vào những ngày đầu xuân như tiền bạc và quần áo phải lấy sẵn ra ngoài, vì mồng một mà mở tủ lấy tiền là điều “không nên” (suốt năm tiền cứ ra mà không vô); con cháu không được gây gỗ (năm mới sẽ gây gỗ hoài); với ly tách, chén đũa, nhất là gương soi mặt, cầm nắm cũng phải cẩn thận, không được vuột tay đổ bể (vì chuyện làm ăn sang năm sẽ bị đổ vỡ), trẻ em không được làm gì phạm lỗi để bị đánh đòn (suốt năm bị đánh đòn liên tục). Dù vậy, nhưng nếu lỡ có em nào quậy phá, thì bậc trưởng thượng cũng xí xóa bỏ qua cho những ngày đầu năm được suôn sẻ.
Cũng trong chiều ngày nầy, cây nêu được dựng lên trước cửa: đó là một cây tre được tiện hết nhánh chỉ chừa một ít ở trên. Trên đầu cây tre người ta thường treo một khánh đất, một giỏ trầu cau, một bầu rượu, một bó lá dứa hay một nhành đa, một lá bùa bát quái để xua đuổi tà ma; những vật vừa nêu có thể thiếu một vài món, nhưng mảnh vải vàng tượng trưng cho áo cà sa của Phật thì không thể không có (nhiều nơi treo mảnh vải đỏ e không đúng lắm). Dựng (thượng) nêu , theo truyền thuyết là để trừ yêu quái trong mấy ngày Tết, đến mùng năm hay mùng bảy thì hạ nêu. Có người thượng nêu vào chiều hai mươi ba, viện lẽ ngày đó ông Táo chầu trời, nên ma quỷ thừa cơ lẻn vào nhà; điều nầy sai với truyền thuyết: Khi yêu quái thua trí Phật, chúng phải chạy về biển đông, và Phật cho phép chúng chỉ được về thăm tổ tiên vào ba ngày Tết mà thôi. Trên thực tế, phần đông đồng bào cũng thượng nêu vào chiều ba mươi.
Tục dựng nêu là nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, tiếc thay ngày nay còn tồn tại rất ít ở các vùng quê.
Đến mười hai giờ khuya gọi là “giao thừa”, tức thời điểm từ năm cũ chuyển sang năm mới. Đây là thời điểm trọng đại; mỗi nhà đều có sẵn một mâm bánh trái, hoa quả, nhang đèn dọn trước sân để tống cựu nghinh tân gọi là “cúng giao thừa”.
Mùng một Tết dù có thức dậy sớm để chuẩn bị cơm canh cúng ông bà nhưng không ai mở cửa trước mặt trời mọc vì sợ ma quỷ lẻn vào nhà. Buổi cúng cơm sáng đầu năm xong thì cả gia đình quây quần ăn uống vui vẻ. Xong xuôi, trẻ con mặc đồ mới “mừng tuổi” ông bà, cha mẹ; em nào cũng vẻ mặt hân hoan khi được trao bao lì xì! Mùng hai, mùng ba ngày ba bữa cũng “dâng cơm” cho tổ tiên y như ngày mồng một vậy. Chiều mùng hai thì mấy chị gói bánh tét để chuẩn bị ngày mùng ba “tiễn (đưa) ông bà”.
Sáng mùng ba nhà nhà đều “cúng gà ra mắt”. Hỏi “ra mắt” ai thì hầu hết bà con đều … cười trừ, nói “ông bà dạy sao thì mình nghe vậy”. Sau nầy có người giải thích là “ra mắt” ngài Việt Vương Hành Khiển, nhưng lại không dựa vào một căn cứ nào! Đặc biệt gà cúng mùng ba là gà giò; nhưng không phải do ngài Việt Vương Hành Khiển nào đó thích gà giò mà vì qua mấy ngày Tết mọi người đều không còn tha thiết với mọi loại thịt nữa!
Chiều mùng ba cũng là ngày đưa ông bà. Lễ vật gồm cơm canh như những ngày trước; đặc biệt là những đòn bánh tét to đùng gói ngày hôm qua (có thành ngữ là “bánh tét mùng ba”), để ông bà mang theo cho được no đủ trong suốt cuộc hành trình vạn dặm nước sông (thời khai hoang ông bà đi bằng ghe xuồng)
Tết Nguyên Đán là một phong tục thiêng liêng đầy màu sắc văn hóa của dân tộc. Mấy ai đã từng xa quê mà ngày Tết không về nhà được mới thấy thấm thía nỗi buồn nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, họ hàng . Ngày nay, tuy những tục lệ trong những ngày Tết có đơn giản đi nhiều, nhưng nhìn chung những nét cơ bản thì vẫn còn tồn tại, và chúng tôi chắc rằng nó mãi mãi tồn tại theo thời gian.
   St.   
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tục chạp mộ (tảo mộ; giẫy mã) cuối năm

Sài Gòn Xưa

Phùng Chinh · 25-01-2022
Tảo mộGiẫy mã

Hàng năm, cứ vào khoảng ngày 24, 25 tháng Chạp là nhiều gia đình người Việt đi tảo mộ. Người ta đi thăm viếng, vun lại những nấm mồ, phát cỏ dại, chặt cây cối quanh mộ, sửa sang, tu bổ mộ phần những người quá cố trong gia đình, và cả những phần mộ của các vị tổ tiên nhiều đời trước đó.
Để tưởng nhớ người đã khuất, những người còn sống mỗi năm đều cúng giỗ. Và vào mỗi dịp năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến, người ta còn lo sửa sang, thăm viếng mồ mả, làm sạch đẹp nơi an nghỉ của ông bà tổ tiên, người thân của mình.
Truyền thống tâm linh người Việt tin rằng, khi năm mới đến tất cả mọi thứ đều phải được chuẩn bị, sửa sang cho mới mẻ, kể cả nơi an nghỉ của ông bà, người thân.
Tục ngữ Việt Nam có câu “cao nấm ấm mồ”. Vì vậy, sửa sang nấm mồ cũng là một trong những việc hiếu đạo của con cái, thể hiện lòng kính trọng đối với đấng sinh thành, và các bậc tổ tiên đã khuất.
Tục tảo mộ cuối năm, ngoài là một phong tục phổ biến của người dân Việt khắp mọi miền đất nước, còn là một hoạt động mang tính dòng tộc rõ nét.
Đặc biệt, những dòng tộc lớn thường có những ngày tảo mộ được quy định rất cụ thể, thường ghi trong gia phả như một truyền thống của dòng tộc để con cháu ở các thế hệ sau tiếp tục thực hiện, cũng để thắt chặt tình yêu thương, đoàn kết đồng thời cũng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Về quê tảo mộ mỗi dịp xuân về đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đó cũng là thể hiện của tình cảm hướng về với nguồn cội. Người ta ví: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” là vậy. Ca dao xưa cũng có câu:
“Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn”
Đối với cư dân thành thị, những người đã khuất được mai táng trong các nghĩa trang ở thành phố, do vậy thường khó duy trì việc những người trong gia đình, dòng họ khi khuất núi được chôn cất gần gũi, đầm ấm với nhau như ở thôn quê.
Nhưng cứ mỗi dịp cuối năm, khi sắp đến Tết Nguyên đán, người thành thị cũng luôn sắp xếp thời gian để đi thăm viếng, chăm sóc phần mộ ông bà, cha mẹ, người thân của mình để tỏ lòng hiếu thuận.
Thăm viếng phần mộ tổ tiên cũng là nét đặc trưng của văn hóa cổ truyền, một tục lệ trong “đạo thờ ông bà” của dân tộc ta vốn từ lâu đã trở thành truyền thống. Dù tất bật thế nào đi chăng nữa trong cuộc mưu sinh, dù cả năm bôn ba làm ăn ở nơi xa, nhưng chốn quay về vẫn là gia đình.
Nhiều gia đình cho rằng mỗi dịp tảo mộ cũng là một dịp giãi bày với ông bà, tổ tiên những chuyện đã xảy đến trong năm với cả gia đình, dòng họ; cũng là để thành tâm mời ông bà tổ tiên chuẩn bị cùng về ăn Tết với gia đình.
Do đó, theo sau phong tục này ta có tục rước ông bà vào trưa ngày 30 âm lịch, và đưa ông bà, thường là vào trưa mùng 3 hoặc mùng 4, tùy theo tập quán ở mỗi địa phương, và nếp sống của mỗi gia đình.
Thường thì ngày tiễn đưa ông bà cũng là ngày cuối cùng của những ngày nghỉ ngơi vui Tết, mọi người trong gia đình lại quay trở về với cuộc sống thường nhật, với những công việc phải làm, cùng với lòng tin là sẽ được tổ tiên phù hộ cho những ngày tiếp sau đó.

Nguồn Internet

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tết ở miền Nam trước 1975 khác bây giờ như thế nào?

(Tác giả Vương Hồng Sển - 13/12/1966)
Vương hồng Sển  Bài viết xưa, ngôn ngữ sử dụng cũng có khác. Tuy cùng một gốc nhưng nước Việt ta, Bắc-Nam-Trung, vẫn thưởng Tết không đâu giống với đâu: Tết trong Nam mộc mạc sơ sài, không như tết miền Trung và ngoài Bắc, trước đây giữ nhiều lễ phép và kiêng cữ.

Tuy không lạnh lẽo đến có tuyết rơi giá phủ, nhưng Trung và Bắc, có đủ xuân hạ thu đông bốn mùa phân biệt: Các thi ông ngoài nớ hơn chúng tôi ở trong Nam vì được thưởng Xuân trọn vẹn, khi chén rượu ấm lòng, khi câu thơ phấn khởi, khi nhắp chén trà hương đượm… và ngoài ấy mới thấy chiếc áo ngự hàn bằng dạ bằng nhung có mãnh lực làm tăиg giá trị con người và cũng làm khổ con người bằng cách bắt buộc mọi người phải  тùy theo túi tiền, săи sóc và chạy theo từ cái “ăи no mặc ấm”. Nhưng đã là “ăи Tết” đúng theo ý nghĩa tục lệ ông bà để lại, thì đâu đâu cũng như nhau, dùng dịp Tết nhứt để mừng đoàn tụ gia đình, tưởng niệm cúng vái tổ tiên đã khuất, há đợi gì: “Xuân từ trong ấy mới ban ra”?
Mấy chục năm nay, cнιếɴ тʀᴀɴн không dứt, nhơn tâm suy bại, khiến nên cái tết đã thay đổi rất nhiều và trở nên tạm bợ, ai ai cũng có ý nghĩ “chờ hết ԍιặc sẽ ăи tết lớn”… chớ trước kia, trước năm đảo chánh 1945, miền Nam dật lạc thái bình, tiền rừng bạc biển, ngày Xuân đối với con dân làm ruộng, quả là những ngày xả hơi và phải thừa dịp ấy, ăи chơi cho thỏa phỉ chí.
Thời tiết trong Nam luôn luôn có tiếng là khoan hậu: nóng đều đều, tuy không cho phép nhà giàu mượn dịp tra mãi bộ đồ dạ ấm đắt tiền, nhưng sức nóng mặt trời trong Nam không bao giờ đến cháy da phỏng trán, và ấm áp dễ chịu quanh năm. Tự cổ chí kim, chưa nghe có nạn cнếт rét vì thiếu y phục, hoặc cнếт đói vì thiếu cơm. Bẻ cây cần trúc tạm, ra ruộng đứng nhắp chơi cũng có cá tươi kho đầy mẻ, đến ăи không hết. Còn nói chi làm siêng ra đồng quơ bậy bạ cũng đủ nấu nồi canh rau nhẹ lòng.
Thiết tưởng miền Nam từ Đồng nai đến vùng Cà Mau, trước đây, trước khi bị nạn тʀᴀɴн giành cấu xé như nay, quả là một Phật địa, cảnh thiên đường, cảnh cực lạc giữa chốn trần gian. Thuở ấy trong Nam lúa thóc đầy đồng, cá tôm đầy dẫy, có đâu như ngày nay tuy đồng sống chung trên ruộng vườn mầu mỡ, mà phải ăи gạo viện trợ và ăи thịt heo ướp lạnh chở từ phương xa đem lại. Còn đâu cái cảnh cũ, tôm tép ăи không hết đến phải phơi làm “phân tôm” xa xỉ để dành bón trái dưa hấu ngọt lịm của bãi biển Bạc Liêu hay dưa đất giồng Xoài Cả Nả (Sóc Trăиg)? Ngày xưa dân Miền Nam không bao giờ thiếu ăи, không cần nhờ nhõi nước ngoài và hưởng nhiều Tết thú vị. Ngày nay Tết không cánh đã bay về đâu mất dạng và mỗi lần gió xuân phất mặt, dường như đã làm cho mình thêm tê tái cõi lòng.
Mấy chục năm về trước, Miền nam gồm toàn người củi lụt làm ăи, đầu tắt mặt tối, quanh năm chơn lấm tay bùn, lặn lội eo sèo trong sình lầy nước thúi, chỉ có mỗi lần Tết đến mới có dịp nhớ đến ngôi nhà đang ở và ra côɴԍ quyét tước dọn dẹp từ trên trang thờ đến bếp núc ông Táo ông Vôi, một năm chỉ có một lần ấy mà thôi.
Nhà nào có vườn có sân thì đốn tre trồng nêu để nhắc lại cổ tục chầu xưa, nhà nào ở chợ búa phố xá hẹp hòi thì cũng treo cờ trước cửa cho gió bay mấp máy thấy đủ vui mắt, nhưng nhà nhà bất luận sang hèn, dẫu ọp ẹp bằng tre lợp ʟá chằm ʟá khíu, cũng có đôi liễn mới dán đỏ cột và trên bàn thờ tổ tiên sao sao cũng có lộc bình, quả тử, nhứt là phải có bộ lư đồng và cặp chưn đèn thau o bế chùi bóng nhoáng rất nên thơ. Nhớ đến phong tục chùi lư mà tiếc hối buổi xuân thời: lúc nào còn bé thơ, mãi sợ nạn chùi lư vì mỏi tay thêm mất dịp đi xιɴ bánh và đi lượm pháo tịt ngòi. Nay đã khôn già thì người lớn đã khuất hết, tiếc cho mình nay không còn cha mẹ để được bắt chùi lư! Phong tục dán liễn Tết nay đã lui lần vào dĩ vãng.
Gẫm lại xưa các nhà làm ăи vừa phát, vẫn nhà gỗ cột tre cột cây tạp nên ba bữa Xuân phải nhờ đôi liễn đỏ che cho cột gỗ bớt xấu xí và cũng vừa để khoe trong nhà còn hiếm kẻ độc thơ nhân:
Thiên tăиg tuế nguyệt, nhơn tăиg thọ, Đức mãn càn khôn, phước mãn môn..vân vân… Ngày nay tân tiến, là tân tiến chỗ nào? Sợ dán liễn phết  нồ dơ cái mặt tiền và làm bẩn cột gạch, tường đá nhân tạo! Lại cũng còn đâu đủ tài ăи học, đọc иổi câu Hán văи hòng thưởng thức ý nghĩa câu đối câu liễn?
Nhắc đến lư thờ mà tủi lòng: nhiều nhà khá giả có đến ba giàn giường thờ, nay không còn giữ được một. Lớp nào khi tản cư năm 1945-46 đào đất chôn giấu lư xưa, khi нồi cư moi lên thì kẻ trộm nó đã moi trước lấy mất tự  нồi nào, lớp lại thật thà tự tay dâng cúng cho đồng chí năm xưa tuần lễ thau đồng ái quốc lấy đó làm ѕúиɢ đạи chống ԍιặc Tây… nay nhớ ông bà muốn sắm mua lại cũng không có thợ khéo, chỉ có lư hàng chế tạo dối trá, đồng xấu, kiểu không đẹp.
Lối năm 1920, bộ lư đồng năm tấc bề cao, giá độ năm chục đồng bạc lớn, nhưng năm chục đồng bạc ấy lớn thật, có bao nhiêu ấy mua sắm lung tung và giá trị năm chục đồng bạc 1920 còn lớn hơn năm ngàn bạc ngày nay xa lắc! Có thứ lư thau trơn dễ chùi, ở trên chóp đỉnh có đặt con lân giỡn trái châu, đứng nhe răиg cười “cầu phúc”, có thứ lư gồ ghề rất khó chùi cho bóng, vì lư làm theo kiểu “lư mắt tre”, lư “trúc hóa lân”. Lư trơn ʟáng thì phải lựa thứ kiểu thật rôm, xứng trái xứng bề cao. Lư mắt tre thì phải lựa cho được thật hùng vĩ, bặm trợn, cân xứng y gốc tre già cỗi đã biến hình thành con thú, con lân.
Muốn chùi lư cho bóng, lọ là phải có dầu bóng hiệu Tây-u cho thêm tốn nhiều tiền. Miễn có khế chua đập giập lấy nước chua chấm với tro bếp thật mặn, chấm với “cặt bần” cọ xát thật mạnh thì bao nhiêu ten rỉ cũng sạch. Lư khéo chùi là đến khi nào bóng sáng đến ngó thấy mặt tỏ rõ, nhưng bóng lộn không chưa đủ, thuở ấy con mắt mỹ thuật còn kén thi nhau khoe khéo khoe tài. Giỏi chùi và biết “trau lư” là nhà nào lư bóng như kiếng soi thêm toàn trên da đồng, tìm không thấy lằn gạch lằn trầy, lằn rễ tre vằn sọc.
Như đã nói, nhà cửa lớp xưa, mỗi năm chỉ đổi bộ mặt mới có một lần và phải đợi năm sau mới có dịp quét dọn lau mò hóng, quơ váng nhện lại lần nữa. “May sắm hà rầm” và muốn có áo mới; mặc tình đến tiệm, lựa hàng đặt may. Xưa muốn cắт áo phải tra lịch lựa ngày, và trẻ nít phải đợi đến Tết mới có dịp cha mẹ may cho cái quần lãnh Bắc Thảo hay cái áo ʟá liễu bằng củng xá hay hàng lụa Tứ Xuyên bền chắc.
Ngày nay đâu còn hạnh phúc mừng xuân đến “không nhắm mắt được” và tục chờ mau đến Tết để được bận đồ mới! Tượng trưng “ăи Tết” đối với trẻ con buổi ấy là mỗi lần cận Tết, đêm nào cũng nghe cô bác “đỗ Tam Hường” tiếng hột lút lắt ngà nhảy bồng trong tô da kiểu, tiếng xu bạc khua khi chung tiền, tiếng cười giòn khi đổ được Trạng Nguyên, Bảng Nhãn hoặc khiêm tốn chỉ đỗ “Ngũ тử phò tứ”, tức là sáu hột có năm mặt chữ “Ngũ” và một mặt tứ màu нồng.
Chiều ba mươi cúng “vào Khem” trong Nam cũng giản dị đơn sơ, không quá kiêng cữ như ngoài nớ, và “vào khem” đối với dân “lục tỉnh” mấy mươi năm về trước thì thâu gọn lại như nhà mấy ông mấy thầy tức nhà quan quyền thì rước ông bà nội ngày ba mươi hoặc trưa hoặc chiều đều được, còn như nhà thường dân, dân dã, thì vẫn rước vào đầu hôm một lượt như nhau.
Cứ từ chạng vạng tối bắt đầu phải giữ gìn cho trong nhà bình tịnh, không nên cười lớn và khi nói phải lựa lời, cử chỉ phải thanh bai lễ giáo vì hiểu rằng vào khem trong nhà có rước vong ông bà quá vãng về sống chung ba ngày xuân nhựt với con cái, nên phải thủ lễ. Lại nữa cũng tin tưởng, tin rằng đêm ba mươi rạng mồng một Tết, có ông Hành cũ và mới đến nên trong nhà nhỏ lớn đều kiêng không “động đất”. Cái cổ tục “hai nhà bàn giao việc đã qua và sắp đến, ông Hành giao việc” đã phai mờ trong trí óc mộc mạc dân Nam, có họa chăиg độ mấy mươi năm trước nhớ có một tờ báo Xuân nào đó, ngạo mạn dám vẽ hình bìa ông Táo quân cũ quần áo rách nát và khói đóng đen xì, Táo cũ chưn bước ra cửa tránh chỗ nhà trong cho vị Táo quân mới áo mão xúng xính đỏ loe loét, tuy vẽ chơi làm vậy mà đã đụng chạm vào cổ tục, và phàm đã bất kính thì lần  нồi những tục xưa lệ tốt cũng khó được bảo tồn. May sao, tuy vậy, nhiều gia giáo ngày nay còn giữ được lệ cấm nói tục tĩu ba ngày Tết và bớt rầy la con cháu khi lâm lỗi buổi đầu xuân, ý tốt muốn giữ là mong năm mới và suốt năm ăи nói thanh bai thì sẽ trọn năm không xúi quảy.
Nhưng ngày nay xem cho kỹ, cái thị hiếu và cái sở cầu hai thế hệ xưa và nay đã đổi khác, xưa quen thắp đèn dầu dĩa mỡ, nay toàn dùng điện dùng neon, cho đến thôn quê cũng một vài nơi có máy điện viện trợ chạy nghe xành xạch, xưa kia ngày Tết là ngày tưởng niệm vong linh ông bà, con cháu thừa dịp ấy qui tụ về nhà chung để giáp một năm thấy mặt mừng nhau khỏe mạnh, nay đà đổi khác thừa dịp Tết người lớn tha  нồ đi nghỉ mát, cặp tay nhơn tình đưa nhau ra bãi biển giỡn sóng hay lên non hứng gió, ông bà tổ tiên phú mặc cho vợ con hiu quạnh cúng quảy lấy lề.
Tết Bính Ngọ đã qua, Tết Đinh mùi sắp đến, cũng như bao nhiêu tết khác nếu còn được hưởng, đều là Tết điện sáng vàng, neon sáng xanh, nhưng biết đâu chừng cái sáng sủᴀ văи minh tân thời chỉ sáng bề ngoài để càng thêm thấy rõ nạn cнιếɴ тʀᴀɴн dai dẳng không thôi, ɢιếт chóc kéo dài không dứt và trong lòng coi rẻ мạиɢ người và sặc mùi bôn danh trục lợi chợ đen chợ đỏ hơn bao giờ cả, sao bì được những Tết cổ lỗ năm xưa tuy thắp mỡ dầu mà trong lòng thơ thới sáng sủᴀ hơn nay nhiều. Thậm chí tuy thắp đèn dầu mù u hay dầu cá, có năm 1931-1935 kinh tế khẩn bách, đến vùng Mỹ thuận và Sa Đéc thắp đến dầu mỡ chuột tanh rì, nhưng vậy mà dẫu sao cũng lúa gạo chứa đầy mái đầy thùng, cá mắm cả lu, và tết đến lại có dịp vặn máy hát thức xem đèn dầu, tim bằng cỏ bấc trổ bông báo điềm lành và nhờ đêm thanh tịnh không tiếng ѕúиɢ иổ mà cũng không tiếng máy bay rầm rầm, nên cổ nhân canh chừng mới biết được “con thú gì ra đời”: gà gáy đem lại thăиg bình hay chuột túc con bày điềm sang năm sung túc.
Mỗi dịp tết đến, dẹp đèn chong leo lét, lấy trong tủ cây đèn họng ba mươi Huê kỳ ra thắp, hy vọng sang năm mới trong nhà trong cửa sáng suốt hơn năm rồi có đâu như ngày nay tuy đã vượt xa cái cảnh tối tăm cũ, nhưng dẫu nhà sáng hơn thật nhưng nhiều gia đình vẫn nội tâm bê bối còn rối rắm hơn bao giờ. Và mãi bao giờ còn ruồng xét ráp bố, bắt bớ, đánh qua càn lại, thì đâu có yên ổn cho dân cư làm ăи vui Tết: thà sống âm thầm như buổi trước mà nhẹ lòng đỡ lo hơn.
Ngày xưa trông mau đến Tết đặng về quê thăm nhà. Ngày nay đướng xá bế tắc thêm bị lụt bị đào, thôn xã bất an, còn đâu cảnh từ hai mươi lăm hai sáu Tết, nôn nao nhộn nhịp băиg đường, kẻ ở Lục Tỉnh trồi đầu về Sài Gòn, kẻ ở Kinh thành lại hơ hãi lội về quê ăи Tết! Ngày xưa bên Trung quốc tải qua đây hoa quả đặc biệt: trái  нồng khô hai xu, trái  нồng tươi và trái cam Tàu (cam Quảng Đông dính vỏ, cam Triều Châu tróc lóc), mỗi trăm trái chỉ có sáu bảy đồng bạc mà ông bà thuở ấy đã le lưỡi than mắc không dám mua ăи, nay Tàu đã nhuộm đỏ, dân Nam không được phép chơi với mầy và tao ăи quả nho tươi Âu Mỹ, mỗi ký giá bạc trăm bạc ngàn và trái lê trái táo ngoại bang tuy lạ miệng nhưng vẫn nhớ cam Tàu có cái hậu thanh thanh mát đóc giọng.
Bởi xưa ham uống rượu Trung hoa, hiệu “Ngũ gia bì” nên khiến dân ta say ngủ ly bỳ, và thích uống “Mai quế lộ” nên thường túy lúy nằm đo đường té lộ. Khách tân thời đua đòi theo Âu Mỹ, có độ uống sâm banh cổ nhác, nay day qua chai ba góc hay chai vuông huýt ky. Sao cho bằng uống mỹ тửu quốc нồn: rượu đế lậu đặt tại Thủ Đức với nếp đầu mùa, do các chị đàn bà Bắc tải xuống chợ Bà Chiểu và để đánh lạc mắt nhà đoan, giả bụng chữa, độn bụng thè lè, chớ kỳ thật chị mang bong bóng trâu phơi khô, trong chứa hai ba chục lít rượu nếp chánh hiệu có bọt. Xứ Cai Lậy (Mỹ Tho) nay đánh lung tung trước đây có đặt rượu đậu nành nước trắng trong khe, mùi thơm ngon ngọt có thua gì rượu Tây, rượu lục vị, Pháp danh là Anisette.
Ngày nay tiếng ѕúиɢ иổ quanh đêm suốt năm lấn át mất tiếng chày giòn quen tai cận Tết giã gạo làm bánh p нồng dịp dầu Xuân và khói lửa cнιếɴ chinh đã dập tắt lửa cuối năm nấu bánh tét bánh chưng. Ngày nay muốn ăи những bánh khiêu gợi Tết, đã phải nhờ quán khách làm sẵn, chớ còn đâu lửa reo vui mắt bữa chưng bánh chung quanh gia đình đoàn tụ, ông kỹ sư tóc hoa râm, đứng chờ bánh nói chuyện với nhà học giả quá mùa, xúm xít gần bà mẹ tuy lụm cụm nhưng không khứng bỏ tục cổ truyền. Hai ông tân nhơn vật tuy bụng chứa đầy văи minh Âu Mỹ, nhưng trong lòng thỉnh thoảng vẫn thèm vẫn nhớ miếng bánh p нồng nướng bằng lửa rơm thơm ngát, hay miếng bánh nhưn đậu giữa có cục mỡ béo bùi của đòn bánh tét gói và nấu tại gia, bánh ấy tuy xấu mặt nhưng hương vị đặc biệt đã đánh lui các bánh tây bánh ngoại quốc dồn vào kẹt tủ buổi Tân Xuân.
Ngày nay miền Nam càng tiến hóa bao nhiêu càng đi xa lần và lãng quên những phong tục cũ, độ nào phải chờ Tết đến mới có dịp cho trẻ con thấy đồng xu đỏ au và bạc cắc phong gói trong tờ giấy làm gói “lì xì” tân niên. Được vài ba gói trẻ đã mừng húm, nhờ vậy mà con nít chóng lớn và người lớn thấy vậy cũng phấn khởi thấy đời thêm vui. Ngày nay đổi đời, trẻ con đi học đã có bạc ngàn bỏ túi, và thử cho trẻ một tờ giấy bạc năm trăm, chưa thấy nó mừng bắng lớp trước đây, được thưởng nửa đồng bạc đã cắp ca cắp củm để dành và đó là sưu tập phẩm cà rô bi (roupie) hiếm có.
Mấy năm gần đây có tục lệ đầu năm đi xιɴ xăm nơi miếu Tả Quân trong Gia Định, báo нạι các bà ᴅι cư ham hái lộc như thuở nào ở ngoài kia, báo нạι kiểng cây kiểng gốc trong Lăиg trụi lủi ʟá cành. Xin lộc là một phong tục cổ kính của xứ có hoa đào hoa  нồng hoa thủy tiên. Đất Nam Trung ít bông nhiều ʟá làm gì có hoa chời chở để hái lộc?
Nhắc lại một phong tục nhỏ trong Nam. Ba ngày Tết trong nầy ăи dồn thịt kho, thịt lạp xường và vịt phơi khô, nhiều ngày quá nên lợm giọng, vì thế qua ngày mồng bốn Tết có lệ “cúng tất”, tết nhà tết cửa. Ngày ấy nấu bữa cơm cúng đất đai ông bà, lễ tất, đại để có tục lệ cắт giấy kim ngân ra hình vuông hình нồ lô để dán vào cột cửa tủ bàn và dâng lên bàn thờ Tổ tiên “nồi cháo cá ám”. Cũng thì cháo cá nhưng cháo nấu kiểu cá luộc chần thì vẫn cá luộc sơ và xắt khúc, không để nguyên con, còn trái lại “cháo cá ám” là nấu nồi cháo rất kỹ, cá để nguyên con không chặt ra khúc và khi nấu nồi cháo vẫn không đậy nắp vung (nấu ám). Theo tôi đây là món тнuốc vệ sanh trừ độc của ông bà lưu truyền lại, vì ba ngày tết ăи mỡ đã nhiều, qua mồng bốn ăи tô cháo ám có rau ghém chát xắt nhỏ, chuối cây non và rau thơm, vừa nhẹ lòng khoan khoái thêm ngon miệng, trở bữa, nghệ thuật bí quyết trường sanh là đó!
Nay cũng thấy bớt đi cái tục “cung chúc tân xuân”. Xưa có lệ sáng mồng một thay nhau vái lạy ông bà lối xóm và chúc nhau bằng cánh thiệp viết tay có để tên họ và câu chúc cổ truyền. Nay đã thôi đi “cung hỷ” và quen nhờ nhà bưu điện đem thơ giùm, làm cái việc trả nợ quỉ thần, báo нạι mỗi lần Tết người đem thơ mỗi lần đổ quạu.
Người Việt ta vì quá đua đòi chạy theo cái mới lấy cái Tết Dương lịch làm lớn và thuần phong cổ tục về Tết âm lịch đã mất lần нồi. Tục thờ kiếng ông bà đã xem nhẹ hơn xưa và cái lễ Tết là lễ nhớ người cнếт đã trở nên ngày xả hơi vui chơi của người sống. Chúng ta có thể giản dị hóa phần nào những gì phiền phức rườm rà, nhưng không nên để cho mất ý nghĩa của cái Tết cổ truyền của một xứ lấy việc nông tang làm gốc, chớ nên quá ᴅuy vật mảng ăи chơi vui sướng cho mình mà quên câu “mộc bổn thủy nguyên” trước có ông bà sau mới có ta vậy. Theo tôi, ngày Tết Nguyên Đán phải được bảo tồn với bao nhiêu cổ tục của nó./.

Vương Hồng Sển 13-12-1966

 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CHỢ CHIỀU HĂM TÁM TẾT

Hùng Bi

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

Hung Kieu · 30-01-2022

Sáng sớm hôm qua tôi đi trên đường Võ Văn Kiệt trước kêu là Đại lộ Đông Tây, nhìn qua bên kia Kinh Tàu Hủ đoạn bến Bình Đông thấy ghe thuyền đậu san sát, hoạt cảnh mua bán rất tấp nập.
Những chiếc ghe thương hồ từ vùng sông nước miền tây xa xôi đã chở cả mùa xuân về cho phố thị.
Họ chở những trái cây đặc sản miệt vườn như dưa hấu, dừa, đu đủ, xoài, mãng cầu, cam quýt, thanh long, nhãn, sa-bô-chê, bưởi...để làm đẹp và trang trọng thêm cho bàn thờ ông bà người dân thành phố trong mấy ngày xuân và mâm ngũ quả đón giao thừa.
Họ chở cả những sắc màu tươi thắm của mùa xuân đem trao cho người thành phố. Những sản phẩm hoa đặc trưng của vùng đất Nam bộ đa số xuất phát từ huyện Chợ Lách Bến Tre hay từ làng hoa Sa Đéc: Mai, Cúc, Thược Dược, Vạn Thọ, Mồng gà, Bông giấy, Hướng Dương...đủ kiểu đủ màu làm cho bức tranh xuân của thành phố Sài gòn rất sống động và tươi vui.
Đó chỉ là một nhánh hàng trong nhiều nhánh khác đang nườm nượp đổ về Sài gòn, thuỷ bộ đều có đủ.
Đã định chụp vài tấm ảnh để giới thiệu với các bạn, nhưng sáng sớm trời vẫn còn mù mịt, hơn nữa nước sông đang ròng nên chắc không được đẹp mắt.
Tôi ở đất Sài gòn đã mấy chục năm và đã qua lại những cái bến ghe không biết bao nhiêu lần vào dịp tết để có dịp ngắm nghía người ta mang cái hương vị mùa xuân từ những miền quê xa xôi về cho thành phố để cảm nhận hương xuân đang phảng phất trong gió. Lần đầu tiên tôi mới có dịp nhìn thấy những chiếc ghe chở hoa được bao phủ kín đáo bốn bề và lợp kín mái bằng những manh lá dừa nước chằm. Lạ quá ta! Tôi đứng ngẩn người suy đoán không tìm ra nguyên nhân.
Năm nay tháng chạp âm lịch không có ba mươi thành ra ăn Tết sớm một ngày. Chỉ sớm có một ngày mà người ta chộn rộn lo lắng cho kịp làm như sớm cả tuần lễ. Hăm ba tháng chạp cúng đưa ông Táo về trời xong, loay hoay đã thấy cái Tết cận kề.
Chiều nay, hăm tám tết đợi cho mặt sông đầy tôi trở lại chỗ cũ để thực hiện ý định của mình.
Số lượng ghe tôi thấy sáng hôm qua đã nhổ neo về bến cũ quá nửa nên bến Bình Đông đã vắng đi nhiều. Buổi chợ chiều cuối năm vắng vẻ đã manh nha xuất hiện. Trái cây đã chuyển đi gần hết về các chợ nhỏ hay bày bán trên những lề đường đông người qua lại.
Tôi không muốn nhắc tới vẻ mặt đen đúa và khắc khổ của những người nông dân đang đau đáu hướng cặp mắt vào dòng xe cộ chạy phớt ngang và mong chờ một cái dừng chân và câu hỏi giá. Điều đó đã nhiều người nhắc tới rồi.
Nhìn những chiếc ghe còn đầy những chậu bông trên boong, tôi hơi có chút se lòng và nghĩ chắc họ cũng còn đặt hy vọng vào buổi chợ cuối cùng sáng 29 tết. Những chiếc ghe nhỏ hơn không che chắn kỹ càng chắc là chở trái cây. Tôi thấy nó nổi hẳn trên mặt nước chứng tỏ tải trọng của nó đã bằng không, nhưng tôi vẫn chưa dám mừng cho họ. Biết đâu vợ con họ vẫn còn lăn lóc bên lề đường để cố bán cho hết phần hàng của mình? Và liệu có bán được hết không?
Riêng những chiếc ghe lớn, có những chiếc trên boong còn rực đầy sắc vàng của những cây mai đã trổ bung hết cỡ thì thương vụ nầy thua là cái chắc rồi! Nhưng dù gì số mai ấy khi trở về cố quận sẽ được chăm sóc để năm sau sẽ trở lại góp mặt trong vòng quay của tiết mùa. Chỉ tội cho những loài hoa khác, vô duyên không được dịp góp chút sắc màu mùa xuân sẽ phải hoá kiếp trong những giọt nước mắt đắng cay.
Bây giờ thì tôi hiểu được nguyên nhân của những chiếc ghe được che chắn bịt bùng.
Thời tiết năm nay thay đổi nên đa số những gốc mai đều trổ nụ sớm. Để bảo vệ cho những cánh hoa vàng rực mỏng manh ấy khỏi bị những cơn gió lớn trên mặt sông cái vặt trụi trước khi lên bờ, và cái nắng tháng chạp khô hanh sẽ thôi thúc nụ hoa bung sớm, chủ ghe phải che chắn kỹ. Người ta cũng có biện pháp để kìm hãm như đặt những cục nước đá dưới gốc, nhưng khó mà ngăn trở được sự tiến triển của thiên nhiên. Và những chậu tắc sai trái để bị gió nhiều thổi qua mặt sông sẽ dễ vàng khô rụng lá.
Đâu có ai đi mua những chậu mai đã mãn khai hay những chậu tắc úa vàng đem về nhà khi ngày đầu năm chưa tới?
Sáng hăm sáu tết tôi ghé ngang Bến Phú Định nằm bên đây Kinh Tàu Hủ ngắm nghía mùa xuân sớm, thấy một chậu mai tạo dáng bonsai uốn lượn khá đẹp cao khoảng 3 tấc bèn hỏi giá định mua. Một chàng trung niên vẻ mặt lanh lợi nói giá 1 triệu rưỡi. Theo nhận xét vẻ ngoài, tôi đoán đây là một thương lái chuyên nghiệp, đầu mùa thì hét giá trên trời để gỡ lại những chậu mai cuối mùa. Không thuận mua vừa bán, tôi cám ơn một tiếng rồi quay đi mà trong đầu thầm nghĩ: Thôi! Với giá đó thì chú để dành mà chở ngược lại nhà vườn đi.
Bước xích qua hai chỗ nữa, chào tôi bằng nụ cười hồn hậu nở trên khuôn mặt của một lão nông da đen sạm mà thời gian đã để lại rất nhiều rảnh sâu. Tôi biết ngay đó là một nhà vườn muốn đem sản phẩm của mình bán tận tay người mua mà không phải qua trung gian. Tôi ngắm nghía một gốc mai còn giữ dáng tự nhiên như một cây tùng bách tán cao khoảng 1m8 đặt trong chậu kiểng, thân trụ vạm vỡ vươn thẳng đứng. Theo tôi, đó là cái dáng quân tử với những cành nhánh toả đều ra chung quanh là tán vượng khí, những chùm nụ hoa vừa nẩy lộc xanh đầy khắp các cành, tất nhiên nhà vườn đã tỉa bỏ đi những cành nhánh râu ria không đáng có rồi. Là tôi nghĩ vậy thôi! Rất ưng ý, tôi chọn mua mà không hỏi giá.
Mới sáng sớm mà đã có khách hàng khá dễ tính, lão nông nói giá làm tôi ngạc nhiên: Hai triệu hai không bao công giao tới nhà.
Thuận mua vừa bán, tôi móc tiền ra trả mà không kỳ kèo giá cả.
Cuộc giao dịch mua bán mau chóng, ông già cười tươi nói thôi bớt cho một trăm ngàn tiền xe.
Đồng ý thôi! Chúc Chú mua may bán đắt.
Mọi người đều vui vẻ. Tết mà!
Ông Bà có câu: “Trăm người bán, vạn người mua”, nhưng thực tế của xã hội hiện nay, đừng nhìn vẻ hào nhoáng của những toà cao ốc ở trung tâm thành phố mà vội đánh giá cuộc sống hôm nay đã sung túc và đầy đủ hơn xưa. Cuộc sống cùa những người lao động xem chừng còn nhiều chật vật, và bây giờ là “trăm người bán, ngàn người mua”.
Trong văn hoá Đông phương, giao thừa là thời điểm thiêng liêng nhất đối với mỗi gia đình và mỗi con người. Ai cũng hân hoan và để hết tấm lòng thành van vái cầu xin Trời Phật Ông Bà gia hộ sang năm mới sẽ nhận được nhiều điều tốt đẹp. Nhưng đón giao thừa trong lúc còn lênh đênh sóng nước trên đường trở về quê là câu chuyện quen thuộc của những thương nhân miền tây nầy.
Âu cũng là vì miếng cơm manh áo!
Ngày xuân trăm hoa đua nở, én liệng ngang trời, hương xuân tươi thắm, người người rạng rỡ với niềm vui đón chào năm mới, hy vọng những điều vui vẻ và may mắn sẽ đến với gia đình mình.

Nhưng vẫn còn nhiều những giọt nước mắt đắng cay âm thầm rơi xuống ở những lề đường vắng vẻ dưới ánh đèn đường hiu hắt và trên những bến sông buồn./.

 ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 

Xin hãy nghiêng mình giữ tiếng nói Miền Nam muôn đời!

Kien Pham . 8-12-2021

Vô siêu thị thấy bà kia giọng Sài Gòn chánh gốc, hỏi bà quản lý: "Em ơi!  Sao không còn thịt ba chỉ vậy?"
Đi chợ, bà bán thịt mập ú nu ú na mời : "Mua thịt đi cưng! Thịt ba chỉ ngon lắm nè." Con nhỏ mua :"Chị ơi! Bi nhiêu một ký ba chỉ dzậy hả ?" Rồi hồn nhiên: "Cân cho em ba lạng thịt ba chỉ đi chị."
Chương trình nấu ăn của người Sài Gòn, món của Miền Nam luôn nha, vậy mà xài thịt "ba chỉ".
Ba chỉ là của người Bắc.
Nghe muốn lên tăng xông, mắc dịch mắc gió hông? Sao tự dưng thủ tiêu cái chữ "thịt ba rọi" dễ thương của Nam Kỳ Lục Tỉnh quê mình vậy chèn?
Thịt kho nước dừa (kho rệu) truyền thống của Nam Kỳ mình ngon nhứt là  xài thịt heo ba rọi loại ngon nhứt, miếng thịt có một lớp da ngoài cùng, một lớp mỡ và trong cùng là thịt. Cục thịt phải bự bằng một gang tay, sau đó lấy dây chuối, dây lạt buộc chặc cục thịt lại, kho với nước dừa xiêm Bến Tre đúng cạy, đường cát trắng, ướp hành băm, xài nước mắm Phú Quốc loại ngon và mở lửa liu riu cho tới khi nó nhừ cục thịt. Khi nồi thịt sôi tiêm gần nhừ thì bỏ vô hàng chục cái hột vịt cho nó nổi linh đinh trên mặt nồi.
Chữ "ba rọi" rất thông dụng, là phương ngữ ông bà mình đặt ra cho Miền Nam xưa rày. Từ thịt ba rọi có "trình độ ba rọi" chỉ những người học hành lam nham, có cách sống nửa này nửa nọ.
Ngày nay ngôn ngữ Miền Nam đang bị ngôn ngữ miền Bắc xâm lăng và bức tử đáng sợ. Các bạn trẻ không ý thức, mình là người Miền Nam mà cứ tự nhiên nói đi "quẩy", đi "phượt", rồi vào "quán ăn vặt", kêu bánh snack là "bim bim", kêu tã là  “bỉm”,  kêu drap trải giường thành "ga giường", tự xưng mình là "mẹ bỉm sữa".
Nam Kỳ không có "ăn vặt", Nam Kỳ chỉ có "ăn hàng". Nam Kỳ không có "gà rán" nghen. Mùa dịch, ngày nào trên đài truyền thanh, phát thanh, truyền hình đều ra rả "Phạt người vất khẩu trang ra đường." Miền Nam không có "vất", chỉ có "quăng". Nam Kỳ không có "chỗ đỗ xe", Nam Kỳ chỉ có "nơi đậu xe","cấm đổ rác"mà thôi. Nam Kỳ chỉ có bùng binh, ngã năm, ngã bảy và "quẹo". Miền Nam không có "vòng xuyến", không có "rẽ lối " nha.
“Anh đi ngã bảy ngã năm
Anh về anh mệt anh nằm ngã ba”
Thấy cái phim ba rọi "Gạo nếp gạo tẻ" tức cười. Đâu có gia đình Nam Kỳ nào kêu gạo nếp gạo tẻ, kêu là gạo và nếp thôi. Tại sao các bạn trẻ Miền Nam vô ý thức thấy thương như vậy?
Là do giáo dục ở sách giáo khoa, ở trường, ở truyền thông, và gia đình cha mẹ ông bà cũng lơ là không để ý, họ nghĩ là chuyện không quá quan trọng
Rất quan trọng là khác, đó là gốc gác, là đặc trưng bản sắc riêng, là cái hồn Miền Nam, là ý thức, là niềm tự hào để mà vun vén, tranh đoạt mọi thứ.
Thịt ba rọi khác thịt ba chỉ hoàn toàn dù nó chỉ một loại thịt. Như cầu Trường Tiền khác hoàn toàn cầu Tràng Tiền
Nhớ tuồng cải lương "Nửa đời hương phấn" của hai cố soạn giả Hà Triều- Hoa Phượng có đoạn ông Sáu chửi con vầy:
"Tại sao mày lên Sài Gòn mày có thêm cái tên Hương? Tên The ba má đặt cho con nó quê mùa xấu xí lắm phải không con? Mày liệng bỏ tên The chẳng khác nào mày liệng bỏ một quãng đời trong sạch của mày. Mày lượm cái tên Hương đẹp đẽ từ đâu đó để thay vào, mày dùng cái tên đẹp đẽ thơm tho kia để bắt đầu quãng đời xấu xa thúi nát."
Xin các bạn hãy biết đoái nhìn đặng mà thương Miền Nam của chúng ta.
“Miền Nam ! Niềm vui chan chứa đêm mơ hồ.
Miền Nam ! Tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ.”
Miền Nam lòng dạ thẳng ngay, luôn hạ mình xuống để nâng người đối diện lên, biết thương người đồng cảnh, đồng loại, nhìn ra cùng một phương đặng mà cùng kiếm chén cơm manh áo. Người Miền Nam luôn thiệt bụng, thiệt lòng, không lòng vòng và gài bẫy bằng lời nói người đối diện. Nhưng người Miền Nam không a dua, dễ dãi, không bị mất gốc.
"Tôi yêu tiếng Việt Miền Nam
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao.
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.
Tôi yêu đồng cỏ nắng se,
Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh.
Tôi yêu nắng lóa châu thành,
Trận mưa ngắn ngủi gió lành hiu hiu.
Nơi đây tôi mến thương nhiều,
Miền Nam nước Việt mỹ miều làm sao!"
Xin các bạn hãy "dạ, thưa", đừng đổi thành "vâng ạ"
"Ngọt ngào hai tiếng dạ thưa
Đôi môi hiền thục gói vừa nết na
Lời thưa từ buổi sanh ra
Lẫn vào tiếng dạ thật thà thành em."
Tiếng Việt sau 1975 có nhiều sự thất kinh hồn vía lắm. Tp Hồ Chí Minh ngập nước linh láng trắng xóa, minh mông, và thấy báo chí, truyền thông chánh quyền kêu là “triều cường”. Thực ra hai chữ “triều cường” không có trong tự điển Hán Việt. Chữ này thêm ra sau 1975. Nói về nước dâng từ sông, từ biển lên người Việt Nam ta có chữ riêng kêu là lụt, lụt lội, lũ lụt. Người Tàu kêu lụt là hồng (洪), nước lụt là hồng thủy (洪水), lũ lụt kinh hoàng là đại hồng thủy (大洪水). Còn con nước mà lên xuống hàng ngày mà dân Nam Kỳ kêu là nước nhảy, nước nhữn, nước đứng, nước lớn, nước ròng thì chung kêu là thủy triều (水潮). Nếu tự ý lấy hai chữ Hán Việt ghép lại và tự kêu nước lụt là triều cường là bậy bạ vì trong tự điển không có từ này.
Rồi nhắc một cái nữa cũng thất kinh lắm, “cựu và nguyên.”
Báo VN cứ "Nguyên thủ tướng", "Nguyên tổng thống". Theo nguyên tắc xưa, cái cũ gọi là cựu, cựu thủ tướng, cựu tổng thống. Vậy chứ chữ “nguyên” móc ở đâu ra? Hán Việt có chữ nguyên (原) là cái gốc, vốn dĩ, nguyên bản, lúc đầu, tự điển có căn nguyên (根原) tức là cái gốc ban đầu. Nhưng lấy nguyên ra để gọi là “nguyên thủ tướng” là sai bét. Gọi nhẹ nhàng phải là “nguyên là” nhưng cũng không đúng với bản chất của một ông thủ tướng đã về hưu. Gọi chức vụ đúng phải là “cựu thủ tướng”.
Xin hãy giữ hồn Miền Nam, tiếng Miền Nam, giữ bằng được ngôn ngữ Lục Tỉnh quê mình. Chúng ta giữ của chúng ta, và không có tham vọng muốn người miền khác phải giống chúng ta, của ai nấy giữ hồn vía mình trên sự tôn trọng. Nên nhớ, cái riêng của mình mà giữ không được thì sẽ không còn là mình nữa.
Xin các bạn hãy dằn lòng, giữ mình,biết suy tư ngẫm ngợi, biết yêu xứ sở của mình hơn, thương da diết những lời cằn nhằn cửi nhửi của ông bà, cha mẹ mình, thương hết thảy những người cô, người dì áo bà ba quấn khăn rằn hì hụi xay bột làm bánh bò, bánh ít, bánh chuối cho mình ăn. Không yêu cầu bạn thuộc những sự kiện lịch sử vì bản chất bạn vốn hời hợt, nhưng bạn phát ngôn ra phải biết văn nào của mình, chữ nào của người, phải giữ cái của mình để mình còn đường tồn tại mai sau. Hãy cúi xuống, hãy chạnh lòng nhớ mình là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, người Miền Nam.
"Bao nhiêu hưng vong
Đón đợi thu vào tầm tay
Rồi con lớn khôn, hai mươi tuổi đời....."
Người Miền Nam vẫn là những người tiến bộ, tài hoa và không bao giờ ngừng bước. Sau 1975 thế hệ có xa thì xa, nhưng gần vẫn rất gần, ý thức rõ thì gần xịt, nó giữ khư khư trong lòng thì sao mà mất đặng. Di sản của Miền Nam mình thì mình ráng giữ, văn hiến của mình thì mình xiển dương, khoe khoang. Nếu không chịu ý thức, không chịu suy nghĩ thì mãi mãi Miền Nam sẽ nằm hoài ở tư thế chót bảng.

(St) -Nguyễn Gia Việt-

 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TRANG THƠ XUÂN

Pháp thoại Thầy Thích Pháp Hòa 

Thơ Đất Quảng · 27-01-2022

CHÀO XUÂN 2022

"Nam mô A di đà Phật"

Xuân sang thêm tuổi Bồ đề,

Tâm hương dâng Phật phước về lành thay.

Niết bàn tô điểm sớm nay,

Một Trời xuân sắc tung bay màu hoàng.

Hoa từ quện khói trầm hương,

Mênh mông trải rộng chẳng vương bụi trần.

Dù cho vật có đổi dời,

Cảnh Thiền một vẻ sáng ngời lưu ly.

Xuân sang một ánh huyền vi,

Tô điểm cho Đạo uy nghi trang đài.

Kim thân vĩnh cửu Liên đài.

Tối linh mười cõi Đạo Ngài Thích ca.

Ba ngàn Thế Giới hát ca,

Di Lặc xuân mới đậm đà yêu thương.

Ảnh minh họa

Nam mô A di đà Phật

 ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

31-01-2022

CHIA trách nhiệm nầy nhé bạn Trâu!

TAY anh năm ngón máu nhìn rầu

TÂN Tần gây cảnh sầu ghê gớm

SỬU sức chưa cao Cọp đối đầu!

Vậy là hết một năm Tân Sửu đó

Một năm buồn mang hơi gió bi thương

Trâu sừng ơi! sao lắm nỗi đoạn trường

Khăn xô trắng lệ dường tuôn như nước...

Nay đã hết phận mình mi lui bước

Dần thế ngôi cầu sống được bình yên!

Cọp mi ơi! Xin làm chú Cọp hiền

Cho dân sống ấm êm nhiều chút nhé!

Cảnh cơm áo phận nghèo lo nhè nhẹ

Ruộng cùng nương giá cả chớ bấp bênh

Rẫy cùng cây kinh tế được vững bền

Nông dân sống trên nền phát triển mới

Nhâm Dần hãy mang theo nhiều thắng lợi

Mang ngập tràn không khí ngọt ngào nha!

Mang đoàn viên mang hạnh phúc từng nhà

Mang no ấm mang tự do khắp chốn

Năm Hai Hai rãnh đi nhiều bận rộn

Nước nhà hưng nhân loại được bình an

Không lệ cay không xác chết ngập tràn

Toàn dân được An Khang cùng Thịnh Vượng!

   CHÀO mừng năm mới Hai Hai,

XUÂN về khắp chốn hát bài vui ca.

   NHÂM nhi chén rượu chén trà,

DẦN ơi! Xin giúp vạn gia thanh bình!

Giao thời, Xuân Nhâm Dần 2022

Nguyễn Văn Nhựt

 ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Đầu Năm Kính Chúc
NLINH 1

Năm Tân Sửu cũng đang dần khép lại, nhường chỗ cho xuân Nhâm Dần 2022, hứa hẹn nhiều may mắn và thành công.

Xuân mới về sẽ mang đến niềm vui, ước vọng, cùng những điều tốt lành. Nhất Lĩnh & Diem Phan Nguyen

Xin kính chúc tất cả các bạn bè, Anh-Chị-Em, Cô-Chú-Bác cùng gia đình một năm mới tươi đẹp: Dồi dào sức khỏe, Công danh sáng ngời, May mắn khắp nơi, Việc làm thuận lợi, Tết đến tấn tài, Xuân về đắc lộc, Gia đình hạnh phúc, Vạn sự cát tường và An khang Thịnh vượng nhé.

MỪNG XUÂN NHÂM DẦN 2022
1. Gió mát trời thanh nắng dịu dàng,
Tưng bừng nhộn nhịp thấy hân hoan.
Tung tăng đàn bướm đùa bay lượn,
Ríu rít bầy chim hót rộn ràng.
Tết đến rồng lân vui nhảy múa,
Xuân về tiếng pháo nổ giòn tan.
Trăm hoa đua nở chào năm mới,
Mừng đón chúa xuân rước Cọp vàng.
 
2. Cung chúc tân xuân tới mọi nhà,
Cuộc đời đẹp đẽ tựa như hoa.
Dồi dào sức khỏe đời hưng thịnh,
Hạnh phúc An khang sống thái hòa.
Đất khách nghinh tân khi Tết đến,
Quê nhà tống cựu lúc Xuân qua.
Thuận hòa hiếu thảo lòng hoan hỷ,
Gia đạo đoàn viên rộn tiếng ca.
 
3. Chúc mừng năm mới khắp nơi nơi,
Sự nghiệp công danh mãi sáng ngời,
Tiễn Tân Sửu đi rền tiếng nhạc,
Rước Nhâm Dần đến pháo vang trời.
Anh em hội ngộ cùng nâng chén,
Bè bạn gặp nhau đối ẩm chơi.
Mong ước xuân này hơn tết trước,
Mọi nhà hạnh phúc sống yêu đời.
Nhất Lĩnh (31-1-2022)

 ----------------------------------------------------------------------------------------------------

ĐÊM TRỪ TỊCH.

Nguyễn Trung Hừng – Dallas, TX.

Năm nay tháng 12 âl thiếu (không có ngày 30), nên đêm 29 tui thức để cúng Giao thừa lúc nửa đêm!
Trong giờ phút thiêng liêng của Đất Trời; tống Cựu nghinh Tân, giao hòa giữa cũ và mới… và theo tục lệ truyền thống VN tôi cũng bày bánh nước, nhang đèn, hoa trái cúng vái với hy vọng Nhâm Dần (con Cọp) sẽ đem đến tốt đẹp hơn Tân Sửu (con Trâu)… để nhân loại được sống bình an không còn đại dịch!
Và cũng trong không khí đón Xuân mới 2022, kính chúc tất cả bạn bè thân hữu một năm đầy hạnh phúc, bình an, vạn sự như ý!
                                                          ĐÓN XUÂN.
Tha hương mừng Tết thiếu Mai vàng,
Thay Nụ tầm Xuân đón Xuân sang,
Với chậu Cúc vàng chào trước ngõ,
Và mâm Ngũ quả dọn trên bàn;
Trái dưa Hấu đỏ: mong Điều Tốt…
Đòn bánh Tét xanh: muốn Phúc Lành!
Năm Cọp nguyện cầu qua đại dịch,
Để cho nhân loại sống Bình an!
Nguyễn Trung Hừng
(Texas - New Year 2022)

-------------------------------------------------------------------------------------------------------  

NHỚ ĐÊM GIAO THỪA
DTDB
Đêm nay chùa đón giao thừa
Tuyết rơi khắp nẻo từ trưa đến chiều
Gió đông giá lạnh đìu hiu
Chạnh lòng viễn khách nhớ nhiều quê xưa
Làng em có miễu, đình, chùa…
Mái cong, rêu phủ bao mùa nắng mưa
Hàng sao bến nước lưa thưa
Bên ngôi Thổ Địa, hàng dừa liếp cau
Quanh co một dải sông đào
Vườn sai trái ngọt, trong rào trúc mai
Tết về trẩy hội gái trai
Vui xuân quên những tháng ngày tối tăm
Đêm Ba Mươi, vắng chị hằng
Đèn sao lấp lánh, hương trầm bay xa
Cùng đi lễ Tết với bà
Lâm râm em nguyện cả nhà an vui
Thẹn thùng bắt gặp nụ cười
Còn nheo mắt nữa! “Ấy người vô duyên!”
Em ra hái lộc ngoài hiên
Giao Thừa giây phút thiêng liêng đất trời
Tết sau em được đôi mươi
Mùng Hai khách khứa vui cười chúc nhau
Trời trong trải ánh nắng đào
Gió xuân phảng phất hương cau sau nhà
Em nghe tiếng gọi của bà
Bước vào mẹ bảo: “Rót trà bưng lên”
Trong nhà không khí trang nghiêm
Vén màng mẹ dạy: “Con nghiêng đầu chào”
Thẹn thùng ửng nóng má đào
Tách trà sóng sánh, lao đao cả người!
Ai kia nheo mắt mỉm cười!
Phải chăng Tết trước! “Cái người vô duyên?”
Năm sau tách bến chung thuyền
Buồn vui, mặn ngọt thề nguyền có nhau
Trải qua gió lốc, sóng trào…
Bây giờ hai mái tóc màu sương pha
Bao lần đón Tết xứ xa
Tìm đâu hương vị mặn mà xuân xưa
Dù cho bão tuyết giao thừa
Em cùng “Người ấy” đến chùa đón xuân
DƯ THỊ DIỄM BUỒN

--------------------------------------------
NHỚ VỀ THĂM MẸ NGÀY XUÂN

      Tôi Yêu Việt Nam27-01-
Mẹ
















Con nhớ về thăm mẹ lúc xuân sang

Nay tóc mẹ,đã một màu trắng bạc

Cánh én sang,để xuân buồn vời vợi

Vai mẹ gày, bám nặng hạt mưa rơi

Con nhớ về… quê cũ lúc xuân sang

Sân đình cũ, giăng đầy câu đối đỏ

Gạo nếp thơm, mùi bánh chưng ngày tết

Lá dong chiều, chờ mẹ buổi chợ quê

Cành đào xuân, hương tết đến nao lòng

Mẹ ta đó lưng còng thêm chút nữa

Đừng lỡ hẹn, để mẹ buồn thêm nữa

Biết xuân sau…mẹ còn đợi con về..?

Mẹ!

 ----------------------------------------------

GIAO THỜI

Quê mình còn phảng phất heo may

Tóc còn sương trắng Mẹ chiều nay

Đào phai quên tết còn ôm nụ

Ngõ trúc liêu xiêu bóng nghiêng dài..

Kìa xuân rơi xuống thềm quên nắng

Văng vẳng câu hò điệu buồn ai..

Chợt nghe xơ xác vàng hoa cải

Có phải xuân qua dưới thôn Đoài..

.......

KD

 ---------------------------------------------------------- 

                                                         TẾT ĐẾN RỒI, VỀ ĐI CON- MẸ ĐỢI!
                                                                         Tác giả: HUY TRIẾT                                           Mẹ chấp tay
                                                       
Khi quê đầy bóng giặc,
Mẹ tiển con lên đường,
Nghẹn ngào ôm con chặt,
Xong giặc, về nghe con.
Rồi những năm kháng chiến,
Con đi khắp chiến trường,
Dù "Khu Đ", "Rừng Sát",
Mẹ vẫn tìm thăm con.
Tình của mẹ sắc son,
Rộng, dài hơn biển cả,
Dù con đi muôn ngã,
Mẹ dỏi từng bước chân.
Từng đêm mẹ cầu Thiên,
Con của mẹ bình yên,
Mong nước nhà hết giặc,
Mẹ đón con trở về.
Nay hòa bình, thống nhất,
Quê hương sạch bóng thù,
Sao không về với mẹ?
Để mẹ ngồi đợi trông.
Thằng "Ba", "thằng Tư" tao,
Sao kêu hoài không thấy?
Nhớ con bầm tím ruột,
Mẹ gọi thầm tên con.
              *   *    *
Mỗi năm Mùa Xuân về,
Mẹ già thêm một tuổi,
Lưng còng, tóc bạc trắng,
Mẹ vẫn ngồi đợi con.
Dẫu biết con không về,
Mẹ vẫn ngồi tựa cửa,
Dù chờ bao năm nữa,
Mẹ vẫn tin con về.
Mấy mươi năm chờ đợi,
Sức mẹ nay đã tàn,
Chắc không chờ được nữa,
Con hiện giờ nơi đâu?
Trong lòng mẹ khắc sâu,
Bóng hình con yêu dấu
Dù tử biệt, chia phôi,
Mẹ mãi ngồi tựa cửa.
Năm mới sắp đến rồi
Về đi con, mẹ đợi.

---------------------------------------

TẾT NÀY CON KHÔNG VỀ
THƠ VÀ NHỮNG TÌNH KHÚC VƯỢT THỜI GIAN
Dinh Pham · 18-01-2022
Tết năm nay con không về thăm mẹ,
Con biết mẹ buồn lặng lẽ ngóng trông!
Con cũng nghe đau xót trong lòng,
Vì công việc con không về bên mẹ!
Không có con, mẹ giữ gìn sức khỏe,
Việc cữa nhà nhờ đám trẻ ngó qua...
Mấy con heo bầy vịt với đàn gà,
Nhờ hàng xóm giúp mang ra chợ bán!
Tết xa nhà con nhớ quê vô hạn,
Nhớ giao thừa thức đến sáng thật vui...
Nấu bánh chưng, ăn khoai nướng mì lùi,
Con làm mứt, mẹ lụi cui quét dọn...
Con không về—Tết này vui không trọn,
Buồn cô đơn ở giữa chốn thị thành!
Nhớ mẹ già nơi xóm nhỏ mái tranh,
Thương mẹ lắm con cũng đành xin lỗi!
Con chúc mẹ khỏe nhiều trong năm mới,
Sống với con cho tới tận thật già!
Mọi đau buồn thương nhớ cũng sẽ qua,
Xuân năm tới con về nhà với mẹ!
Dinh Pham
01/2022
Tết sắp đến!
Nhớ mẹ vô cùng! 
Tặng những ai vì lý do này kia không thể về nhà ăn Tết!

 ----------------------------------------------------------------------------------------------- 

ĐÓN CON VỀ ĂN TẾT!
Hoàng Huyền · 15 tháng 1 -2022
Mẹ thắp nhang rồi - con đã về chưa?
Cổng vẫn mở chờ con từ độ ấy
Qua sân đất lác đác chùm hoa giấy
Về đi con rủ đồng đội cùng về
*
Bốn chục năm hơn Mẹ khi tỉnh lúc mê
Cứ nghĩ con bận chưa về được
Thế hệ các con gắn mình vào vận nước
Cứ hẹn nhiều mà về đứa nào đâu?
*
Mẹ một đời bãi mía nương dâu
Đâu biết nông sâu dòng sông Thạch Hãn
Đâu biết Cổ Thành một trời bom đạn
Chỉ biết con nằm dưới một nghĩa trang trôi
*
Về đi con Mẹ bóc bánh chưng rồi
Vẫn nhớ con thích ăn nhân thật ngọt
Nghiêng chai rượu tay gầy run run rót
Ờ ! lớn rồi thêm nửa chén nữa thôi
*
Mưa nắng bào mòn giờ Mẹ yếu lắm rồi
Mâm cỗ Tết chống đũa ngồi đối ảnh
Con bướm trắng bay vào nhà rách cánh
Có phải con về đón Xuân mới - không con?
***

St
________________________________ 

Xuân về giữa mùa Đại dịch
Tết đến, niềm vui khắp mọi nhà,
Xuân về, tươi thắm vạn cành hoa.
Bao nhiêu ký ức như ùa đến,
Trổi dậy trong lòng kỷ niệm qua.
 
Nhớ lại ngày nầy năm tháng cũ,
Phố phường tấp nập biết bao nhiêu.
Người qua, kẻ lại, xe không ngớt,
Hàng hóa, bán mua sáng lẫn chiều.
 
Bỗng dưng đại dịch từ đâu đến,
Tang tóc đau thương khắp phố phường.
Đâu đâu cũng thấy người lây nhiễm,
Kẻ ở, người đi lắm đoạn trường.
 
Đau đớn biết bao người ở lại,
Tiễn biệt người đi, chẳng dám gần.
Đứng xa, tay vẫy nhau lần cuối.
Đứt ruột, lòng tan, suối lệ tràn.
 
Giãn cách, giới nghiêm rồi chốt chặn,
Khiến người như ở chốn tù lao.
Đón nhu yếu phẩm chờ phân phối,
Cứ mãi vầy sao, chẳng lẽ nào!
 
Thế rồi lệnh mới được ban ra,
Giải tỏa cách ly, lại chích ngừa,
Ai ai cũng được hai, ba mũi,
Khiến chị Cô-Vi tạm giã từ.
 
Sống chung với dịch kể từ đây
Hết sợ, hết lo, bỏ những ngày,
Cách ly, xa vắng người thân mến.
Giờ đã không còn sợ nhiễm lây.
 
Chỉnh trang nhà cửa đón Giao thừa,
Sắm chút nhang đèn, chút mứt, dưa.
Tổ tiên phù hộ đàn con cháu,
Thoát cảnh khổ đau, kiếp sống thừa.
 
Hỡi ai đang sống trên nhung lụa,
Hãy giúp những người đang khó khăn.
Lá lành xin nhớ đùm lá rách.
Tích đức, tu nhân, tạo phước phần.
 
Đại dịch sẽ qua, bình an đến
Đau thương, mất mát cũng vơi dần.
Còn chăng tình nghĩa, lòng nhân ái,
Mãi mãi trường tồn với thế gian.
 
Xuân về, Tết đến xin cầu chúc
Thịnh vượng, An khang khắp mọi nhà,
Ước mong Vạn sự đều Như Ý,
Cây trái sai oằn, mãi trổ hoa./.
Thơ HỒNG TRẦN (28-01-2022)

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  

"VIỆT NAM - NHỮNG MÙA XUÂN LY LOẠN."
La T. Nguyen – 27-01-2022 
Điệp khúc Đông tàn Xuân lại đến,
Khi trời đêm xào xạc gió giao mùa.
Như khuấy động tâm tư từ sâu thẳm,
Ta nghe hồn xao xuyến nỗi buồn đau!
**
Từ muôn thuở... Tết cổ truyền dân tộc,
Đón Xuân về vui buổi tiệc đoàn viên.
Chúc tụng nhau điều tốt đẹp bình yên,
Sang năm mới đặng An Khang Thịnh Vượng.
**
Nhưng... Non thế kỷ chỉ còn là "Xuân gượng",
Tết cổ truyền dân tộc nhuộm màu tang.
Bởi lũ người vong bản dạ tham tàn,
Thờ chủ nghĩa vô thần phi nhân bản!
**
Xưa... Đinh Hợi! Một mùa Xuân ly loạn,
Đức Giáo Chủ thọ nàn do bè lũ vô nhân.
Kể từ ấy... Thầy băng mình khuất dặm,
Non nước nầy năm tháng khóc tang thương!
**
Xuân Mậu Thân...Sau thời khắc đón giao thừa,
Dân Nam Việt đang an lành say giấc điệp.
Bỗng súng đạn nổ từ đâu... Ôi! kinh khiếp,
Đã cướp đi hằng vạn mạng dân lành!
**
Từ ấy... Xuân cứ mãi triền miên chinh chiến,
Súng đạn Tàu cùng bè đảng Hán nô.
Chúng quyết giành chiếm đoạt mảnh cơ đồ,
Khiến non nước tuôn dầm dề lệ máu!
**
Một chín bảy lăm... Mùa Xuân Ất Mão,
Cuộc đổi đời... Màn tăm tối phũ quê hương.
Người dân Việt đành sống kiếp đau thương,
Dưới chánh sách tham tàn phi đạo đức!!!
**
Nay Nhâm Dần...Tết cổ truyền Xuân bước sang,
Thềm năm mới: Thấy Dân Oan đầy khắp ngõ.
Sống vất vưởng; dưới màn trời chiếu đất "nhìn" cờ đỏ,
"Mừng Đảng quang vinh" háo hức Búa Liềm bay!
**
Toàn Dân Việt giờ đã mất tương lai,
Và sắp đến đem thân làm nô lệ.
Bởi Đất Nước, Đảng dở trò tác tệ,
Bán cho giặc Tàu để đổi lấy "Quang Vinh"!
**
Mẹ Việt Nam năm tháng bị đắm mình,
Đau vày xéo toàn thân khôn xiết kể.
Bởi những đứa đi hoang không còn tình huynh đệ,
Kể từ khi nó nhận giặc làm cha!
**
Nói sao hết...Với những nỗi xót xa,
Khi nhìn thấy non sông mình chìm đắm.
Đồng bào mình sẽ bị chôn vùi nơi vực thẵm,
Do chính người Cộng Sản đã gây ra!!!
**
Ngày đầu năm. Lời tình tự thiết tha,
Xin gửi đến với Chúa Xuân Nhâm Dần.
Cùng vạn vật cùng Hồn Thiêng Sông Núi,
Dụng phép mầu độ sanh chúng bình an!
**
Kịp xua tan màn tăm tối vô thần,
Diệt tiêu hết loài tham tàn ác bạo.
Chúng ngất ngưởng say sưa mùi thịt máu,
Trên xác dân lành suốt mấy chục năm qua!
**
Cho Việt Nam vui hát khúc khải hoàn ca,
Mừng năm mới rực sắc hoa Dân Chủ.
Chúa Xuân đến cùng chung vui đoàn tựu,
Đón Tết cổ truyền dân tộc mãi khang an!
**
Đó là cả khối lòng ta mang mệnh,
Để làm tròn điều Tứ Đại Trọng Ân.
Dẫu cực hình có đày đọa lấy xác thân,
Ta vẫn đổi. Quyết không hề hối tiếc./.
-Ngày đầu Xuân Nhâm Dần
   -Phù Vân Tuệ Nữ-
------------------------------------------------------------- 
CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Hướng về cố quốc chúc Quê Hương
Thoát cảnh lầm than nỗi đoạn trường
Dân Việt cầu mau qua khổ nhục
Giang Sơn xin chóng vượt tang thương
Con Hồng quyết chí xây tân tiến
Cháu Lạc kiên tâm dựng phú cường
Nòi giống Rồng Tiên ta đứng dậy
Chung tay quét cộng cứu Quê Hương!!
Cam thành, Jan. 20th, 2022
Tha Nhân những ngày giáp Tết…   
----------------------------------------------
Năm Cọp hợp Năm Dần
Năm nay năm cọp tức năm Dần
Ngẫu hứng dăm ba chữ bắt vần
Sân khấu sáng lòa năm cọp diễn
Khán đài mờ ảo ảnh thằng dân
 
Gánh xiếc mở màn năm cọp diễn
Năm dần năm cọp dữ dương oai
Bầy đàn chia chát nhau hành xử
Tơi tả dân quèn khắp đó đây!
 
Than ôi! Năm cọp hợp năm dần
Múa vuốt nhăn nanh chực bàn mâm
Máu thịt tanh hôi mùi thỏa thích
Không từ thủ đoạn miễn phình thân!
 
Năm cọp năm dần năm dữ đến
Nàng Xuân vội vã trốn non đoài
Từ đây Xuân thắm đâu còn nữa
Chỉ có năm con cọp dữ dằn! 
           LAN NGUYỄN (30-01-2022)  
CHÚC MỪNG NM
 
 
      
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn