2. Năm Canh-Thìn (1940)

11 Tháng Tám 20202:51 CH(Xem: 3406)
2. Năm Canh-Thìn (1940)

NĂM CANH THÌN

(1940)

 

CỜ TAM SẮC

 

Tam sắc cờ bay phất-phới mà,
Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.
Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,
Gặp cảnh vong bang úa ruột-rà.

 

Lúc Đức Thầy ở nhà thương Chợ-Quán, Ngài có gởi về Hòa-Hảo bài dưới đây và dặn bôi bỏ bài trên. Anh em bổn-đạo lúc đó cũng chưa hiểu vì sao Đức Thầy bảo sửa. Bỗng một bữa nọ, Cai-Tổng Pho đến nhà Đức Ông đem vấn-đề thi-văn của Đức Thầy ra nói chuyện, có ý muốn làm khó dễ Đức Ông về bài thi "Cờ tam sắc" nói trên. Liền đó, Đức Ông bảo ông Hương-quản Diệp (ngẫu nhiên có mặt trong lúc đó) đọc bài dưới đây. Nghe xong, Cai-Tổng Pho vỗ tay nói : "Vậy mà người ta nói lại khác chớ !"

 

Tam sắc cờ bay phất-phới mà,
Ngồi nhìn khoan-khoái cõi lòng ta.
Thuở xưa đâu có cờ tam sắc,
Gặp cảnh Tây Đông thể ruột-rà!

     Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940)
(Chép theo bản chánh do Ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

 

ĐẦU NĂM

 

Đầu năm tục lệ gọi ngày mùng,
Tiếng pháo đốt hoài cũng thấy chung.
Xóm trên xóm dưới cùng nhau đốt,
Khúc giữa phần ta mãi nghe hùn.

   *

*   *

Nghe hùn lỗ nhĩ cũng lùng-tung,
Ngày một tiếp xuân mới vô cùng.
Mèo lui rồng tới bay vơ-vẩn,
Thế-giới chiến-tranh nổ khắp bùng.

   *

*   *

Mồng một năm nay rõ thiệt Thìn,
Hẹn cùng non nước vẫn đinh-ninh.
Cố chí tấm lòng gìn đạo-đức,
Mặc tình bá tánh chẳng thèm tin.

   *

*   *

Nam-hải Quan-Âm lấy tịnh bình,
Cầm nhành dương-liễu rảy tà tinh.
Quyết lòng độ tận trong sanh-chúng,
Ai ghét ai ưa cũng mặc tình.

   *

*   *

Xuân sang ảm-đạm ánh dương mờ,
Thệ quyết một lòng chẳng bỏ ngơ.
Có sông có núi cùng cây cỏ,
Độ tận chúng-sanh khỏi dại khờ.

   *

*   *

Lòng ta gặp cảnh rối tơ vò,
Gan ruột phổi phèo một bộng to.
Lo hoài lo mãi không sao xiết,
Tiên cảnh chúa tôi vẫn hẹn-hò.

   *

*   *

Hò hẹn Phật-Tiên hiệp một ngày,
Một ngày thế-giới khỏi bi-ai.
Trung-Ương tam cõi đều hòa mặt,
Ta mới thảnh-thơi trở gót hài.

   *

*   *

Gót hài muốn trở phải làm sao?
Đạo-đức thâm sâu hãy bước vào.
Sớm chiều lo liệu rèn tâm trí,
Niệm tưởng Phật Trời thỏa ươc-ao.

     Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940)
(Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

                                     

ĐỐT PHÁO XUÂN

 

Lẹt-đẹt rồi đây lẹt-đẹt bùng,
Đùng-đùng lẹt-đẹt nổ lùng-tung.
Lùng-tung lúng-túng dân ta túng,
Ngao-ngán cho xuân Lão bắt khùng.

   *

*   *

Đoái thấy xa xa một cái đèn,
Ngoài đường trời tối thiệt len-nhen.
Tiết xuân buồn-bã vì ngập lúa,
Nên phải ăn chơi cách quá hèn.
     Hòa-Hảo, ngày 1 tháng giêng Canh-Thìn (1940)
(Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

 

TỐI MỒNG MỘT

 

Nhuần gội ơn trên rải Đạo mầu,
Thương đời chỉ-vẽ nẻo cao sâu.
Khai rừng kinh kệ câu huyền-bí,
Để cứu nhơn-sanh khỏi thảm-sầu.

   *

*   *

Hương đăng nghi-ngút lễ vọng cầu, (1)

Cám lòng bá-tánh nguyện từ câu.
Chí quyết một lời ta độ tận,
Dắt chúng lánh xa cảnh mộng sầu.

   *

*   *

Giữ nguyện đinh-ninh tiếng tạc thù,
Làm lành đâu phải tốn tiền xu.
Mà sau lại được về Tiên cảnh,
Thêm thoát ngục mê chốn Diêm-phù.

   *

*   *

Diêm-phù chơn Chúa chọn người tu,
Hành phạt ác-hung chốn cửa tù.

____________________________________________ 

(1) Đêm ấy ông Hương-Kiểm Chương và anh em ở Hưng-Nhơn (Châu- Đốc) đến dưng bông lễ Phật.


Tiếp nghinh những kẻ lòng nhơn-đức,
Hỡi bớ dương-trần hãy rán tu.

   *

*   *

Rán tu vẹt phá đạo lu-bù,
Thấy chúng đời nầy lạc chữ tu.

Sớm tỉnh kệ kinh tìm hiểu lý,
Một ngày hội hiệp hết mờ lu.

   *

*   *

Mờ lu được sáng rắn hóa cù,
Hiệp mặt phân trần nỗi ám-u.
Tớ Thầy tôi chúa cùng nhau gặp,
Khắp hết thế-gian thoát chốn tù.

   *

*   *

Chốn tù vốn thiệt cõi ta-bà,
Tiên cảnh được về mới lánh xa.
Chúng-sanh chìm đắm trong vòng khổ.
Khuyến dạy bởi vưng sắc Ngọc-tòa.

   *

*   *

Ngọc-tòa Phật-Tổ nấy sai ta,
Xuống cứu thế-gian nẻo vạy tà.
Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu-pháp,
Cho đời thấu tỏ Đạo ma-ha.

   *

*   *

Ma-ha thoàn nhỏ dọn rồi đa,
Bước xuống đi qua bến giác mà.
Sao hỡi còn chờ ta réo mãi?
Dân tình xem giảng cứ ngâm-nga.

   *

*   *

Ngâm-nga việc khổ tới bên a,
Bổn phận tu hiền phải lánh xa.
Biết Đạo tùy thời mau tránh khổ,
Chớ đừng thi-thố những tài ba.

   *

*   *

Tài ba khoe sức uổng thây mà!
Nhựt dạ yêu đời dụng khuyến ca.
Tỉnh thức nhơn dân đang mờ ám,
Nên làm thi phú đặng ngâm-nga.

   *

*   *

Ngâm-nga hiểu nghĩa đáng kim ngà,
Huyền-bí nhiều lời chỉ thiệt xa.
Bổn-đạo rán tìm cho cặn-kẽ,
Lòng hiền Phật độ khỏi tinh-ma.

     Hòa-Hảo, đêm mồng 1 tháng giêng Canh-Thìn
(Ông Nguyễn-thanh-Tân có họa mấy chục bài thi xuân trên đây nhưng xin miễn đăng)
(Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

 

Thầy giáo XOÀI (tức SOÀI,

tức MẠNH-XUÂN-QUẢ) xướng:

 

Đạo-đức bao nhiêu dám gọi Thần,
Bia danh mô-phạm để lừa dân.
Trời Âu tấn hóa nhờ khoa-học,
Đất Á suy đồi tại biếng thân.
Nhồi sọ nhơn-sanh kêu thức tỉnh,
Mê hồn bá tánh gọi người ân.
Dạy đời mở Đạo mình coi dở,
Sánh lại khác xa Việt với Tần.

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Ngu muội Khùng Điên chẳng thuyết Thần,
Đôi lời cuồng-sĩ gọi lòng dân.
Văn-minh lợi dụng nhờ hay học,
Giỏi chữ lòe đời để lập thân.
Ham sướng dương-trần ôi! khó tỉnh,
Ưa vui dân sự chẳng thi ân.
Ỷ mình chê chúng rằng hay dở,
Ganh-ghét hiền như thứ ác Tần.

 

Thầy giáo XOÀI xướng:

 

Biết ai là Thánh biết ai Thần,
Học hỏi thầy mô dám dạy dân.
Khuyên-nhủ thiện nam nên để tóc,
Vỗ-về tín nữ lại tu thân.
Niết-bàn dành để người phàm tục,
Trần-thế màng chi cuộc ái ân.
Muốn dắt đồng bào qua bể khổ,
Đạo mầu xin luyện mấy non Tần.

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Đâu màng bá tánh gọi danh Thần,
Tự giác huyền cơ để giáo dân.
Bắt chước ông cha ta để tóc,
Noi theo tổ phụ đặng gìn thân.

Lòng yêu chi sá lời thô tục,
Dạ ái nào thèm chúng đáp ân.
Hồng-Lạc chỉ đường qua cảnh khổ,
Kìa ai chớ tập tánh dân Tần.

 

Thầy giáo XOÀI xướng:

 

Mê-tín dị-đoan mới tặng Thần,
Noi gương hiền-triết lại chăn dân.
Sám kinh lấy nể răn truyền giáo,
Giảng dạy là mưu để ấm thân.
Khai sáng đứa mù đời trách oán,
Làm ngu kẻ trí gọi là ân.
Ông ôi! nay đã bao nhiêu tuổi?
Sao chẳng có lo cuộc Tấn-Tần?

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Lọc lẽ tà tâm ấy gọi Thần,
Trượng phu người phải biết thương dân.
Nồi cơm thiếu bữa tranh nghề giáo,
Trách cá hụt dùng đoạt mối thân.

Ở phải giúp giùm sao nói oán?
Ôi thôi, làm mướn chớ rằng ân.
Đạo đời chẳng luận người cao tuổi,
Xin miễn cho ta cuộc Tấn-Tần.
  *

*   *

Chẳng phải lòng ta muốn họa thơ,
Ví như văn-sĩ đáp lời ngờ.
Đạo mầu giữ phận không cao thấp,
Ai đọc qua rồi phải bỏ lơ.

   *

*   *

Thi phú dầu cho thấu đến tai,
Cũng đứng giận-giũi mới là hay.
Bóp lòng chìu ý nên lời trả, (1)
Tôn-chỉ người tu sái việc bài.

   *

*   *

Tôi làm như thế khác lời tu,
Giả dạng nhà nho muốn trả thù.

Người xỏ tới mình, mình đáp lại,
Chớ tình chẳng chịu viết thi ru.

      Hòa-Hảo, Tết năm Canh-Thìn

 
Ông HUỲNH HIỆP-HÒA
(làng Bình-Thủy, tỉnh Long-Xuyên) xướng:

 

Phỏng cầu Tiên Phật dẫn kim châm,
Phạn ngữ truyền lai tối thậm thâm.

Phanh luyện ô kim mong điểm đạo,
Tiễn ngao thế chỉ hóa khai tâm.

_______________________________________

(1) Đức Thầy không muốn trả lời ba bài thi của thầy giáo Xoài, nhưng vì ông giáo Long, người đưa thơ, cố nài-nỉ mãi nên bất đắc dĩ Ngài mới chịu đáp họa.


Thuấn Nghiêu thọ thọ nguy duy hiển,
Phật Lão hư không bí khuyết thầm.
Thị nhị giáo-sư đoàn thuyết-pháp,
Tảo tương thích điển chúng-sanh tầm.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Mã hồi nhơn diện ngã kim châm,
Pháp-giáo phạn-văn bát diệu thâm.
Lam thất thanh chơn hà khuyết Đạo,
Qui hồi bí hiểm trị nhơn tâm.
Môn-gia khảo sát lai duy hiển,
Vị-khí nan thông ký cảm thầm.
Ngã thị vô biên nhiên lập pháp,
Hòa giai Nam-đỉnh tác thi tầm.

     Hòa-Hảo, mùng một Tết năm Canh-Thìn

 

Ông HUỲNH HIỆP-HÒA xướng:

 

Chúng-sanh tầm đắc đạo nan minh,
Bửu-bối trừng tâm thể dụng tinh.
Cầm-kiếm đảnh lư an trí thủ,
Càn khôn nhựt nguyệt vị đồng linh.

Siêu phàm ôn dưỡng âm-dương số,
Nhập thánh đề khai thế-tục tình.
Thái-Thượng, Thích Ca luân kiếp giáo,
Đơn song đồ-đệ cổ kim minh.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Chúng-sanh khố diệt diện nan minh,
Ly cấu từ-bi cái thế tinh.
Nhan-Thước duyên-do tam diễn thủ,
Can trừ danh-vi nã kỳ linh.
Ngộ thâm nan liễu âm-dương số,
Xác tục trần gian cố dục tình.
Thổ phỉ nam lương toàn khuyến-giáo,
Tam tồn ngôn xuất biện kim minh.

 

Ông HUỲNH HIỆP-HÒA xướng:

 

Hội trung bửu-cái cổ-kim truyền,
Tri giác hư linh kế lập thiên.
Siển, triệt phân minh Châu-Võ kỷ,
Âm, dương chuyển luyện Hớn-thê tiên.
Lôi-Âm kinh-ký khai đàn việt,
Sơn-Thứu từ tăng phản bổn nguyên.
Gia bác na thời di phổ hóa,
Huyền-cơ như thử kiếp trần yên.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Bửu gia nan hối thế-gian truyền,
Tam thế hư không tế kiệm thiên.
Nhơn ngã hạ-nguơn phân bất kỷ.
Qui hồi thượng-cổ bút thê tiên.
Chất âm, thinh, sắc phi tiêu-diệt,
Bài phỏng liêm-gia bế hộ nguyên.
Lập chí hiền-nhu đương kế hóa,
Thi thần ký chú định hòa yên.

 

Ông HUỲNH HIỆP-HÒA xướng:

 

Ngọc quang cảnh nội chủ càn-khôn,
Tam nhứt vô cùng kiến thúc tôn.
Âu-Á chiến tranh thùy thắng lợi?
Kim lê uổng-tử sắc hà môn?

   *

*   *

Hà môn giáp tý giáng lâm trần,
Đào-tạo lương-tâm khổ não dân.
Xuất hiện mạng chơn phi quyết chiến,
Cấu ai trị địa hội quân thần.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Thành tha ngũ nội nã càn-khôn,
Cái thế vô linh mạng thích tôn.
U lịch bá trừ nô bính lợi,
Tiền đồ lê dị đắc giang môn.

   *

*   *

Tam thiên lục bá giáng lâm trần,
Khóc tử lang tâm biến họa dân.
Tà quái hạ nguơn khai ác-chiến,
Ất niên bình thự kiến quân-thần.

 

Ông HUỲNH HIỆP-HÒA xướng:

 

Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương,
Khẩu tụng Văn-Vương vị bốc tường.
Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị,
Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương.
Mã lai thủ thị danh thương pháp,
Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường. (1)
Thi vấn hồi âm tri bửu hiệu,
Tứ minh tam vị hiển văn-chương.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Hồi đầu điểm Đạo chuyển phong cương,
Háo thắng bi ly đạo khổ tường.
Tề tướng Cam phong an diện nhị,
Hàn nhơn thọ khóa tác tâm lương.
Thiên-tôn mật sát nhơn-gian pháp,
Phật-lý di khai đại-hội trường.
Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,
Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương.

     Hòa-Hảo, mùng một Tết năm Canh-Thìn

 

Ông HUỲNH TRUNG-HÒA (thầy ba Tươi) ở làng Kiến-An (Long Xuyên) xướng:

 

Lưng chưng khó hiểu khách trần-gian,
Sớm mặn chiều chay lắm nhộn-nhàng.
Đặc đất phấn tình tô láng mép,
Cả trời lửa chướng đốt nồng gan.

____________________________________________

(1) Nếu chiết tự 6 câu của đầu bài nầy thì chúng ta thấy mấy chữ sau đây: Trạng Trình, Cử Đa, Đề Thám. Ông Huỳnh Hiệp-Hòa muốn hỏi coi Đức Thầy có phải là một trong 3 ông đã kể trên đây chăng?

Khéo đam điệu hạnh trêu màu Phật,
Đành để xương da nhuộm máu phàm.
Riêng tưởng trồng gieo rừng bác-ái,
Những mong trông ngóng đến Thiên-đàng.

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Từ rày đặng nẻo lánh trần-gian,
Chẳng hiểu mặn chay mới nhộn nhàng.
Ngao ngán cho người ôi quá mép,
Thương đời mê muội luống bầm gan.
Đạo mầu chẳng hiểu nên lừa Phật,
Hiển diệu ra cơ giác tỉnh phàm.
Dạ luống ước mong đời bác-ái,
Quyết lòng chỉ rõ nẻo Thiên-đàng.

     Hòa-Hảo, mùng 3 Tết Canh-Thìn

 

Viếng non Ông KÉT

 

Non Tiên gió mát toại lòng thay,
Tức cảnh thi văn nhả một bài.
Cố tưởng ước mơ về nhược thủy,
Ngặt vì không cánh lấy gì bay.

   *

*   *

Dắt xác phàm phu viếng non Đoài,
Hỏi nhờ đá cục ngủ đêm nay.
Chư sơn Bảy núi đều qui tựu,
Thầy tớ cảnh Tiên rõ mặt mày.

   *

*   *

Nhìn xem cây lá gió lung-lay,
Sáng lại lui chơn trở gót hài.
Vậy hỡi chư Thần mau nối gót,
Theo Thầy dắt chúng khỏi nồng cay.

   *

*   *

Lầu đài núi Cấm lộ nay mai,
Thức tỉnh chúng-sanh mới tỏ bày.
Khuyên dạy dân tình minh đạo-đức,
Tu hành được thấy cảnh Bồng-Lai.

     Trên non, ngày 14 tháng giêng năm Canh-Thìn

(Đức Thầy đọc bốn bài nầy cho ông Hương-giáo ở Thới-sơn (Châu-Đốc) viết tại trên non và khi về nhà, Đức Thầy còn đọc lại cho anh em tín-đồ chép)

 

Ông TÙNG (ở vàm Cái-Đầm,

thôn Hòa-Hảo) hỏi ĐỨC THẦY:

 

Càn-khôn Tạo-Hóa ở một bầu,
Kính hỏi thăm Thầy vậy ở đâu?
Sắc ở Tà-Lơn hay núi Cấm?
Cán còn khâu mất cất ở đâu?

 

ĐỨC-THẦY họa:

 

Cũng biết càn khôn vẫn một bầu,
Tây-Phương yêu chúng chẳng ngồi lâu.
Sắc của A-Di là Phật-Tổ,
Bốn chữ xuống trần chớ ở đâu?

Ông TÙNG hỏi:

 

Cắc-cớ vì đâu khéo vấn-vương,
Đem lời Phật Thánh dám bày tường.
Thiên-cơ bất khả sao ông nói?
Phật Thánh Tiên Thần dám phô trương.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Vì tình nhơn loại mới vấn vương,

Thương đời lầm lạc Lão bày tường.

Thiên cơ được lịnh nên ta nói,

Phật Thánh phần ta mới bày tường.

     Hòa Hảo, năm Canh Thìn

 

THỜI LAI DIỆN MỤC

 

Hồng nhạn ô qui thán giả hồ,
Thi thần đởm khí ngộ hà mô.
Điện phong vạn hộ vô thiên ảnh,
Tổn khí thao tồi vọng nhứt vô.

   *

*   *

Nhứt vô tam kiến cái thiên hồng,
Tông tích kỳ sanh chuyển kiếp thông.
Khai cảnh nguyệt đài minh hạ giái,
Thới lai diện mục tác hài công.

Hòa-Hảo, tháng giêng năm Canh-Thìn

(Ông Nguyễn thanh-Tân có họa hai bài thi trên đây, nhưng xin miễn chép).

 

Viếng làng MỸ-HỘI-ĐÔNG (Long-Xuyên)

 

        Canh-niên trổi bước thừa nhàn,
Để chơn đến viếng xóm làng Hội-Đông.
        Về non dạ luống ước-mong,
Cám tình lê-thứ tuôn ròng lụy châu.
        Lời thăm cùng khắp đâu đâu,
Hương thôn bổn-đạo lo âu mối giềng.
        Tu là tu Phật tu Tiên,
Tu cho rõ biết chữ hiền ra sao.
        Mùa xuân chưa có mưa dào,
Cũng như Đạo hạnh sắc màu chưa thanh.
        Sớm chiều phủi sạch lợi-danh,
Tầm nơi chánh-giác cõi thanh đặng về.
        Hỡi ôi, thấy chúng bớt mê,
Đạo mầu siêu-việt tập-đề là đây.
        Tinh-thần hiệp vén ngút mây,
Vẹt cho rõ mặt tớ Thầy Hạ-nguơn.
        Lòng thương bá tánh đòi cơn,

Dầu ai mua oán chác hờn mặc ai.
        Chuông linh giục thúc bên tai,
Chúc cầu thạnh-trị thới-lai xóm làng.
        Hiệp chung một cuộc chi-lan,
Rồng đà lố bóng đá vàng biết nhau.
        Lọc-lừa hiểu đặng vàng thau,
Đem thân mua lấy mận đào thiên-nhiên.
        Duyên lành rõ được Khùng Điên,
Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần.
        Làm sao khỏi chốn mê-tân,
Đào-nguyên vạn lượng tỏ phân kính sùng.
        Thánh-nhơn ghi sách Trung-Dung,
Hiền-nhơn thức-tỉnh biết dùng người ngay.
        Hội thanh hiệp mặt vui-vầy,
Gắng công cố chí lòng nầy chẳng phai.
        Vinh-hoa dường thể cúc mai,
Cuối mùa tàn rụi lâu dài đặng đâu.
        Thích-Ca Đạo vị huyền-sâu,
Rạch tim xem được một bầu linh-quang.
        Mảng còn tư-lự tình-tang,
Thuyền từ tới bến thanh nhàn bớ dân.
        Hóa-công chí thiện cầm cân,
Công-bình thưởng phạt thứ-dân nào tường.
         Sum-vầy chiếc nhạn sâm-thương,
Nho-văn cảm-kính hiền lương của người.
        Se-sua nói nói cười cười,
Cao sâu lý-diệu vàng mười khó mua.
        Trần-gian thiếu trái chi chua,
Bây giờ trái ngọt không mua bởi mình.
        Tới đây cạn lẽ phân-minh,
Quyết đem chơn-lý đặng gìn Phật gia.
        Tài sơ trí siển nôm-na,
Mặc tình chê ghét phận ta ta tường.
        Thoảng qua mùi diệu phô-trương,
Kêu dân mau tỉnh trong trường mộng xuân.
        Keo sơn đâu cật liền lưng.
Thấy trong bá-tánh nửa mừng nửa lo.
        Mừng là mừng việc hay-ho,
Lo là lo việc ốc-sò trải qua.
        Tỉnh tâm mượn lấy thi-ca,
Giác-dân hướng-thiện chánh-tà phân-minh.

        Rèn lòng giữ dạ sắt-đinh,
Đừng phai đừng lợt thân mình thảnh-thơi.
        Biển trần lao-lý diệu-vơi,
Khổ tâm chắt lưỡi chiều mơi phủi rồi.
        Nhìn xem tâm não bồi-hồi,
Sơ nhi đã lậu phá mồi vinh-vang.
        Chừng nào kim phụng hòa-loan,
Đông Tây vô lự mới an sự đời.

        Thừa vưng sắc-lịch của Trời,
Cùng ông Phật-Tổ giáo đời khuyên dân.
        Bấy lâu chạnh cám ô-ngân,
Bây giờ hiệp mặt phân-trần sạ-dươn.
        Dập-dồi gió kép mưa đơn,
Đau thương vì bởi nghĩa ơn chẳng tròn.
        Bày ra thiên-lý héo-von,
Giấu trong tim-óc lòng son chẳng đành.
        Trải qua một lúc sỏi-sành,
Trung-Ương hòa-hiệp mới đành lòng đây.
        Hoàn-cầu trái-đất chuyển xây,
Gớm-ghê cho chúng phơi thây muôn ngàn.
        Ngày nay đạo-đức chẳng màng,
Rồi sau dẫu có tiền ngàn khó mua.
        Biển sông lặn-lội hơn thua,
Tự thân tạo lấy mà mua cái sầu.
        Phật, nhơn, tạo hóa một bầu,
Kẻ thanh người trược mới hầu khác nhau.
        Thân nầy sá quản cần lao,
Miễn cho bá tánh được mau an nhàn.
        Ngũ niên viễn lự cơ hàn,
Đến chừng qui phuc Hớn-Đàng mới yên.
        Bao la cảnh Phật cõi Tiên,
Tòng mai liễu trúc hữu duyên khoe màu.
        Ngũ vân năm sắc năm màu,
Kia qui nọ phụng lao-xao vui mừng.
        Vang-vầy sấm nổ chuyển-luân,
Kiểng-tiên lộ vẻ vui mừng cha con.
        Bấy lâu nghĩa nọ tiêu mòn,
Ngày nay hiệp mặt hết còn thở-than.
        Các nơi liệt-quốc chư-bang,
Chúc cầu bình-trị trướng-loan sum-vầy.
        Bây giờ làm việc tà-tây,
Ngày sau bị khốn tội rày điêu-ngoa.
        Biết khôn tìm kiếm ma-ha,
Một-câu lục tự nhà nhà bình-an.
        Xa-xuôi đường sá dặm tràng,
Khó bề lui tới rỗi nhàn lao-lung.
        Lo bề cúc-dục cội thung,
Nghe lời Thầy dạy việc chung của đời.
        Bút nghiên tạm gát đợi thời,
Chúc cho bá tánh xét đời biết ta.

   Mỹ-Hội-Đông, ngày 22-1 Canh-Thìn

 

Ông NGUYỄN THANH-TÂN

(tức Hương-Thân Ướng) xướng:

 

Bóng thỏ đà lu rạng mặt rồng,
Bốn phương sĩ-tử nhóm càng đông.
Trời Nghiêu phụng múa vòng tay áo,
Đất Thuấn voi cày ruộng trổ bông.

Biển lặng sông trong chờ lịnh chánh,
Nhà an nước trị lẽ thiên công.
Kìa ai gói-gấm lời cơ-mật,
Ức bụng kẻ hiền bớ núi sông!

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Non Lịch rừng nhu lộ vẻ rồng,
Danh hiền bao rải khắp Tây-Đông.
Chòm ong còn múa trong the áo,
Nam-Việt giống nòi trổ nhụy bông.
Mặt đất địa cầu qui lập chánh,
Một nền Đạo hạnh lấy tâm công.
Văn nhu áo não tìm cơ-mật,
Sẽ hản việc đời hỡi núi sông!

     Mỹ-Hội-Đông, ngày 22-1 Canh-Thìn

 

Ông NGUYỄN THANH-TÂN xướng:

 

Tiết phong một võ nhứt thân khinh,
Háo đạo thơ sanh cảm khốc tình.
Cực vọng nam minh dân tiếp thủy,
Tường khan bắc chỉ thạch tranh vinh.
Mộng hồi cố quốc tam canh nguyệt,
Tỉnh khởi cô bang vạn lý trình.
Kim nhựt phùng chơn tu tận túy,
Hưu tương ly biệt não bình sanh.

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Hải qui thiết lượng ngốc nhơn khinh,
Cố viễn hà qua kiến hữu tình.
Qui hóa ai thi hà quốc thủy,
Đài phi sơn lãnh vị thành vinh.
Phù vân lộ thức nhiên âm nguyệt,
Tố giả vong bang kỷ tráng trình.
Phúc họa trù phong nhiên Bính tí,
Trùng lai hữu nhựt tại hoài sanh.

     Mỹ-Hội-Đông, ngày 22-1 Canh-Thìn

 

Ông NGUYỄN KỲ-TRÂN tức Chín Diệm (làng Định-Yên, tỉnh Long-Xuyên) xướng:

 

Cường-khấu xâm lăng kỷ thập niên,
Vị tri đại-đức giáng, hà Tiên?
Hi-Di ngũ quí kim an tại,
Thái-Thượng tam vương cổ bất truyền.
Độc nhãn sa-đà tàng Bắc-địa,
Liên mi chơn mạng ẩn Nam-thiên.
Phòng ngư xích vĩ đương kim nhựt,
Dẫn lãnh minh lương trứ tổ tiên.

   *

*   *

Tổ-tiên cứu loạn hựu phò nguy,
Hướng thiện khử tà chúng bất tri.
Vô tránh vô tranh thiên hạ thiểu,
Toàn trung toàn hiếu thế gian hy.
Ái mao vị tiện ngô đồng phụng,
Tiết giác thâm tàng trạch thủy qui.
Bất tận tam tâm danh lợi khách,
Đáo đầu thâm mãnh niệm từ-bi.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Thiên ký Lạc-Hồng đắc ngũ niên,
Sơn-Trung hồi giả bí danh tiên.
Trần-nhơn đãi thế Nam tồn tại,
Lão đạo tiền phong Bắc ý truyền.

Trình mỗ ngộ kim khuê Cổ địa,
Xích mi hải hội luật trừng thiên.
Vị phi minh đế đồ tôn nhựt,
Thạnh khí đào thinh giác kỷ tiên.

   *

*   *

Kỷ tiên hữu nhựt ngã đình nguy,
Lượng trí bồi thành thử tất tri.
Võ kỷ hùng phong nhơn mạt thiểu,
Thần-Tiên tiểu ẩn cổ lai hy.
Thí-sanh tán địa liên đài phụng,
Nam-sĩ bài kỳ phục kiết qui.
Vạn vật an-ninh thông điện khách,
Nhứt trường lê-thứ kiến vô bi.

 

Ông NGUYỄN-KỲ-TRÂN xướng:

 

Gió xuân muôn vật toại lòng rồi,
Nghĩ lại bâng-khuâng đạo Chúa tôi.
Cá phụ vẫy-vùng trong dấu cạn,
Trông chừng đấu nước luống ngùi ngùi.

   *

*   *

Ngùi ngùi trông thấy đám mây xanh,
Thoạt vậy mưa tuôn đượm nhánh nhành.
Thẩm đến rừng nhu tơi vật sắc,
Dù ai đấp lũy nguyện bồi thành.

 

ĐỨC THẦY đáp:

 

Đạo-đức truyền ban cũng chửa rồi,
Xa đường nguyện ước chuyện con tôi.
Mưa tuôn vừa tiết ngư thong-thả,
Dạ thảm lòng vui cũng bắt ngùi.

   *

*   *

Bắt ngùi cho kẻ bạc đầu xanh,
Sum-hiệp cùng nhau cội nhánh nhành.
Gặp lúc tiết hòa mưa đượm sắc,
Quyết lòng trợ thế với bồi thành.

   *

*   *

Bồi thành mới phải đạo văn nhu,
Có lẽ ngày kia rắn hóa cù.
Lũ-lượt đoàn chim bay kiếm ổ,
Rán mà theo dõi bớ văn-nhu!

   *

*   *

Văn-nhu vẹt phá sụp ao tù,
Nước túng dân nghèo lại thiếu xu.
Khổ, khổ thương đời luân chuyển kiếp,
Phân trần cụ lão chuyện người tu.

     Mỹ-Hội-Đông, đêm 22-1 Canh-Thìn

 

Vịnh ông ĐỊA bằng sành

 

(Để tại nhà ông hai Xòn ở Vàm-Nao, thuộc tỉnh Long-Xuyên)

 

Bảnh chẹ ngồi chơi sướng hỡi ông!
Tâm lành sao chẳng tiếp non sông?
Nhơn dân bốn phía đương đồ thán,
Vui sướng chi mà lại tỉnh không?

     Mỹ-Hội-Đông, sáng ngày 23-1 Canh-Thìn

 

Viếng làng PHÚ-AN (Châu-Đốc)

 

Lưng-chưng một bước lạ làng,
Viếng thăm khắp chốn luận bàn huyền-cơ.

Người đời lòng những ước-mơ,

Một câu đạo-hạnh lỡ ngờ chuyện xa.

Đêm khuya còn vắng tiếng gà,

Bút nghiên tạm lấy tờ hoa tố-trần.

Ô-kim vàng ấy ngàn cân,

Dương-gian muốn đổi lập thân cho tròn.

Trăm năm ghi tạc miễu son,
Trung-quân ái-quốc hãy còn danh bia.

Mặc tình tiếng nọ lời kia,

Chẳng màng thế sự đặt-bia nhiều lời.

Gẫm ra chuyện lạ ở đời,

Kẻ ngu người trí nhiều lời phân-vân.

Xưa kia bạo-ngược nhà Tần,

Đem lòng hung-ác giết lần văn-nhu.

Ước mong rắn đặng hóa cù,

Đồng tâm hiệp trí chữ tu dắt-dìu.

Lòng hiền giữ vẹn sớm chiều,

Xem kinh niệm Phật mỹ-miều mặc-ai.

Hưng-vong suy-thạnh xưa nay,

Cuộc đời vay trả, trả vay đổi đời.

Mấy ai trăm tuổi ở đời,

Được như Bành-Tổ mà rời lợi danh?

Quyết lòng tầm kiếm cõi thanh,

Lánh nơi trần tục học hành đường Tiên.

Trả cho rồi nợ tiền khiên,

Đến ngày hiệp mặt kiểng tiên vui-vầy.

Làm sao rõ mặt tớ Thầy,

Tới chừng trăng rọi đài mây mới tường.

Bây giờ nạn ách còn vương,

Cha làm con chịu nhiều đường gai-chông.

Nhiều người kinh-sử lảu-thông,

Mà không sửa tánh bởi lòng còn mê.

Kiếm con hiền đức dắt về,

Về nơi cõi Phật Tây-Phương an nhàn.

Nợ trần con sớm liệu-toan,

Nghĩa-nhơn trọn-vẹn mới an tấm lòng.

Thuyền từ kêu gọi ngóng trông,

Trông cho dân-chúng bớt lòng tham-ô.

Chừng nào thấy được cơ-đồ,

Nhơn vô viễn lự gia vô nhơn đình.

Đến đây thấy cảnh sanh tình,

Lòng son đòi đoạn công trình dạy khuyên.

Cứ lo chế ngạo Khùng Điên,

Ngày sau chịu mãi chữ phiền chữ đau.

Ngọt bùi lời đạo thanh-thao,

Đời còn mê-muội chừng nào mới thôi.

Vinh-hoa một bả làm mồi,

Để câu kẻ dại việc tồi chất lên.

Muốn mình lên đặng bực trên,

Hãy lo rèn đúc mới nên Thánh-Hiền.

Giống lành xưa cùng Rồng Tiên.

Ngày nay hung ác đảo-điên khắp cùng.

Mặc tình nghe phải thì dùng,

Chớ đừng bỉ-bạc kẻ Khùng làm chi.

Buồn đời gác bút nghĩ suy,

Suy cho cạn lẽ sầu-bi quá chừng.

 

Cầu ngã kiến văn tối thậm đa,
Thiện duyên tác phước ý như hà.
Phô trương vạn lượng tam hài tuế,
Hội thính na thời kiến thạnh hoa.

   *

*   *

Viễn lự ô hô chí Lão Bành!
Nhơn thì sanh dưỡng khí tồn thanh.
Hải qui thế-giái nam hòa vọng,
Nguyện dữ như hà dụng thức canh.

   *

*   *

Kim phụng triều vương viễn khứ đình,
Bài hồi phong nhã lạc trầm thinh.
Duyên-do phước thọ lai duy hiển,
Thủ đảnh thư hùng thục sử-kinh.

   *

*   *

Quang-minh diện-mục khả hồ sơ,
Nhứt diệu phù-vân phú-quới cơ.
Quân-tử Thánh-nhơn hà đại lượng?
Liên hồng vạn thứ cảnh thiên-thơ.

 

     (Chợ-Vàm (Phú-An), ngày 23 tháng giêng Canh-Thìn, tại nhà Hương-Hào Phỉ)

 

Cho Thầy ba THẬN ở làng Phú-Lâm
(tỉnh Châu-Đốc)

 

Đêm vắng mà sao cảm quá dài,
Văn-nhu lão trưởng tiếng bi-ai.
Tầm nơi yếu lý câu huyền-diệu,
Thương thảm cho đời thưởng huệ mai.

 

Đoái tưởng lòng ông quá đỗi hiền,
Dậm tràng tới viếng mượn ngòi nghiên.
Tỏ tình yêu quí người lương thiện,
Trông đợi ngày kia khỏi xích-xiềng.

     Phú-An, tối 23 tháng giêng Canh-Thìn

 

 TỎ CÂU HUYỀN-BÍ

 

Đời đạo liên quan rạng chói ngời,
Trần-hoàn biển khổ thẳm vơi-vơi.
Thanh minh đạo-đức câu huyên-bí,
Mượn lấy bút nghiên tỏ ít lời.

   *

*   *

Hồng-Lạc giống xưa rất tuyệt vời,
Sao mà dương-thế mảng lo chơi.
Sớm chiều tự liệu rèn tâm trí,
Đạo-đức nhiệm sâu Lão khuyến mời.

   *

*   *

Thiên sanh thiện tánh tác thì gia,
Tông-tích cổ kim lượng thử hà.
Sư giả hạ trần nhơn mạt kiếp,
Ngã hồi dương-thế thuyết huyền ca.

   *

*   *

Đài phong liễu khước tạo Nam-gia,
Thiện chí hồ thiên thức Ngọc-tòa.
Trung sơn tế giáng Lư-Bồng kiểng,
Giác tỉnh sanh kỳ tối diệu đa.

   *

*   *

BỬU ngọc mai danh ẩn nhục tràng,
SƠN đài hồ-hải luyện tứ phang.
KỲ sanh tạo giả thi truyền tục,
HƯƠNG giải thao tồi thị Bảo-giang.

   *

*   *

Ngũ hồ ly cấu tạn hài tiên,
Nguyền thuyết thanh danh tác thiện duyên.
Thậm thâm tối thiểu kim tàng cốc,
Đa giả khứ hồi giải nghiệp-duyên.

   *

*   *

Canh tràng dạ đoản, đoản canh sơ,
Ngã thứ trung sanh trực thế thờ.
Ngỡi khí yên hùng ghi đảm liệt,
Hà giang lương thố vẽ thiên-cơ.

   *

*   *

Khởi điệu tầm vương Phật cổ hồi,
Vạn năng sĩ-tử hiệp hòa ngôi.
Tam thanh truyện tích ghi biên tự.
Khán giả tận tường liệt võng khôi.

   *

*   *

Canh niên viễn lự tối thi thần,
Kê thủ nhứt tràng vạn địch nhân.
Nam thức quân thần cuồng lão-sĩ,
Châu nhi phục thỉ cổ đồng lân.

   *

*   *

BỬU kiến trừng tâm dụng thể tiên,
SƠN sanh giả kế chưởng huyền thiên.
KỲ thâm hạ giái ly đài nguyệt,
HƯƠNG vị trầm thinh bí kỷ niên.

     Phú-An, đêm 23-1 Canh Thìn

 

 Cho ông PHAN THANH-LONG

 

Long rày năm mới thiệt là rồng.
Mèo-mả bạc-bài bỏ được không?
Hiệu, Khuynh cùng gã mau liền lại,
Kẻo để ngày sau chịu não-nồng.

     Trường học Phú-An, ngày 24-1 Canh-Thìn

 

DIỆT TIỀN KHIÊN

 

Bồng-Lai như khứ khổ nan truyền,
Cảm tác quyền hồ tố thiện duyên.
Quốc-thủy đài chương trung liệt cổ,
Trần gian ngã đáo diệt tiền khiên.

   *

*   *

Vạn lý trường đồ mộ nhứt sơn,
Danh tiên liễu bá định hồi yên.
Vị phi lai tục đa ưu lự,
Sơn hải điền viên tất tảo nan.

     Hòa-Hảo, tháng giêng năm Canh-Thìn

                                    

           ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC

 

        Để chơn đất bắc Thầy trò,
Dân còn quê kịch hát hò nghêu-ngao.
        Xóm làng Đồng-Thạnh xôn-xao,
Cùng nhau bàn-tán khác nào trong Nam.
        Chúng dân tựu ngũ tùng tam,
Kẻ ma người mị kẻ ham người cười.
        Làng nầy đông-đúc nhiều người,
Dân tình cũng được đôi mươi tu hành.
        Nhiều người già cả lòng lành,
Có nhiều kỳ lão biết rành tích xưa.
        Tới đâu cũng ít người ưa,
Nằm lăn ca hát sớm trưa dỗ-dành.
        Trưng bày tích cũ đành-rành,
Thiên-cơ đạo-đức tu hành phận tôi.
        Dân quê nghe nói hỡi ôi!
Hung-đồ cường nghịch một hồi cười reo.
        Đâu đây mà có hùm beo,
Khéo bày bá-láp nghe theo làm gì?
        Thấy trong lê-thứ cũng kỳ,
Đi đâu cũng bị dân thì ghét vơ.
        Ngày đầu nhiều kẻ còn mơ,
Trị chơi ít bịnh ngẩn-ngơ xóm diềng.
        Cũng không thèm trọng bạc tiền,
Quyết lòng tìm kiếm người hiền mà thôi.
        Bắc-kỳ dân ít mép-môi,
Cũng còn cúng kiếng chè xôi ê-hề.
        Thương dân nên chịu nặng-nề,
Lời ăn tiếng nói nhiều bề thấp cao.
        Tớ thầy nào nệ cần-lao,
Thương dân dạy-dỗ xiết bao nhọc-nhằn.
        Ngũ-luân lễ nghĩa năm hằng,
Tam cang trung-trực người rằng ngu-si.
        Viết ra mới bốn bài thi,
Đặng cho trần thế biết thì Thần Tiên.
        Cũng xưng rằng hiệu Khùng Điên,
Nhắc ra nhiều khúc Rồng-Tiên Hồng-Bàng.

 

   THƠ rằng:

 

Nam-thiền vô ngại đại Hoành-Sơn,
Nhiên khước hành vi kỷ khách huờn.
Tân tạo huyền sanh hồi châu ngọc,
Hữu nhựt Tiên Thần hiệp luyện đơn.

   *

*   *

Vân-vân bạch-bạch thức sinh thần,
Cổ quán thôn-hương nhứt dị nhân.
Tiên-sinh hiện kiếp phò Lê-chúa,
Hậu truyền độ chúng cảm hoài ân.

   *

*   *

Liên hồng cảm-kích vĩ long tuyền,
Đồng-Thạnh hàng kỳ tác thiện duyên.
Kiển-sám truyền danh lưu hậu thế,
Nam-Việt trung-thần đệ nhứt Tiên.

   *

*   *

Nhơn danh ly biệt ngạn Bắc-hà,
Cổ súy lương thần vị phong ca.
Thọ tử tâm trung trưng hùng khí,
Qui hồi quốc thủy tiện phương hoa.

 

        Bốn bài thơ đã làm xong,
Văn-nho bàn-bạc nhiều ông lắc đầu.
        Nghĩ ra mới biết cơ cầu,
Người chi thi-phú công-hầu cổ nhơn.
        Nghiệm suy lời lẽ thiệt hơn,
Dặn-dò bá tánh thi ơn xóm làng.
        Nào ta có nói bướng càn,
Về An-Giang tỉnh rõ ràng ai hay.
        Từ đây Nam Bắc chuyển quay,
Khi đây khi đó ra tài khuyên dân.
        Tuần-huờn tạo hóa cầm cân,
Ở đây cũng dạy hương-dân đủ đều.
        Xác nghèo nhà tợ cái lều,
Cơ-hàn rách-rưới nhiều điều nan nguy.
        Tuy là gia-trạch hàn-vi,
Nhưng mà hiền-đức khác gì người xưa.
        Nhiều người lối xóm đẩy-đưa,
Tấm lòng không mến mà ưa bề ngoài.
        Nước tràn ruộng lúa lạc loài,

Bắt đầu lo chuyện miệt-mài bắp khoai.
        Giáo-truyền lời lẽ thẳng ngay,
Hương-lân trùm-trưởng đắng cay nhiều bề.
        Thầy trò ra sức làm hề,
Ca tuồng ly-loạn dựa kề biên-cương.
        Có nhiều chệc khách Minh-hương,
Đau lòng nhiều khúc thê-lương bên Tàu.
        Chú lùn Nhựt-Bổn hùng-hào,
Chẳng thương sanh-mạng dân Tàu dại ngu.
        Bởi chưng hung-bạo chẳng tu,
Cho nên gây sự lu-bù chiến-tranh.
        Bắc-Kỳ Trung-Quốc giáp ranh,
Sao không xem đó tu hành hiền lương.
        Cá không ăn muối cá ươn,
Chẳng nghe lời dạy lâm đường chông gai.
        Hát tuồng Trung-Quốc quá dai,
Ta bèn bỏ bản hát bài tà-tinh.
        Cả kêu lớn nhỏ đệ-huynh,
Từ đây nhẫn nại chống kình làm chi.
        Bút nghiên lôi lại làm thi,
Đặng cho sanh-chúng bớt nghi tinh-tà.

 

Cổ qui tài tận hận do Tần,
Thiện chí tu trì lập vĩ thân.
Tồn tại hư vô tầm Bát-nhã,
Tiên kiếm thần thông chỉ huy cần.

   *

*   *

Điền tan gia phế tế nhiên hàn,
Khổ đáo ly kỳ ảo viễn cang.
Nghị xuất Thần Tiên yên truyền đạo,
Bần phú cơ đồ bất tự sang.

   *

*   *

Nôn nảy kìa ai nhọc mưu cầu,
Thê thảm cho đời nẻo huyền sâu.
Kiên cố của tiền thiên đạo lý,
Cấp hồi ái truất trót canh thâu.

   *

*   *

Thiên ý bất tư hoạnh trữ tài,
Biên hình liên huệ tất ư giai.
Kiệm kỷ tha lam mi hài-chí,
Long trì phi ẩn tạo kiền khai.

   *

*   *

Ngạo cảnh du vân triện Bắc-hà,
Quá khứ trú đình vịnh ngân ca.
Thanh tích cổ nhân tân cừ khí,
Nghiên tòng bí khuyết bích-lư xa.

 

        Thâm canh bất mến công hầu,
Trông cho lê thứ gặp chầu vinh-huê.
        Ở đâu dân cũng còn mê,
Tham câu danh lợi khó kề Thần-Tiên.

        Tư lương một mối sầu riêng,
Long thiền đãi ảnh vị thiên cô phần.
        Ngảnh ngao tái chí thi ân,
Biện minh chí hứng đền lân dựa kề.

 

Huy hoàng hương nến tự thiên chi,
Hội kiến truyền linh thuyết vĩnh kỳ.
Lôi chất khai âm vô sắc thí,
Ngại hồi bi hiện án tiền phi.

 

        Rừng thông bên cạnh gần kề,
Bôn-phi lê-thứ nhiều bề gian-nan.
        Bắc-kỳ còn hỡi hò khoan,
Chúng dân đi cấy reo vang ruộng đồng.
        Thấy đời cũng luống động lòng,
Xứ quê nghèo cực muỗi mòng thiếu chi.
        Dạo miền thành-thị một khi,
Chán-chê thế sự sầu-bi trong lòng.
        Ca xang thảm cảnh não-nồng,
Cả kêu dân-chúng Lạc-Hồng hỡi ơi!
        Giống xưa Tiên cảnh tuyệt vời,
Ngày nay đã lạc đạo đời nhuốc-nhơ.
        Người hiền nghe thấu ngẩn-ngơ,
Đớn đau sắp đến bơ-vơ một mình.
        Muốn xem được hội Long-Đình,
Thì dân hãy rán sửa mình cho trơn.
        Ở ăn cho vẹn mười ơn,
Cảnh tình hiền-đức gặp cơn khải hoàn.
        Gắng công khỏi buổi nghèo nàn,
Sum vầy một cuộc Hớn đàng toại thay.
        Người nào vẹn được thảo ngay,

Dựa kề cửa Thánh đài mây an nhàn.
        Khuyên răn cuối xóm cùng làng,
Giàu sang nắm giữ của ngàn làm chi.
        Việc đời nhiều nỗi sầu-bi,
Hạ-nguơn đã hết loạn-ly cơ đồ.
        Bây giờ còn hỡi mờ-hồ,
Chẳng nghe dạy chỉ cơ-đồ về sau.
        Thử xem cho biết vàng thau,
Tình yêu sanh chúng chẳng nao tấc lòng.
        Tu hiền như thể phụng rồng,
Mắt nhìn Tiên cảnh mây hồng toại thay.
        Bây giờ rán chịu đắng cay,
Ngày sau mới biết mặt mày Khùng Điên.
        Đạo đời nào có tư riêng,
Minh-Vương sửa trị mới yên ngôi Trời.
        Xa-xăm các chỗ các nơi,
Đâu đâu cũng rán nghe lời tiên tri.
        Kẻ hung ngạo-nghễ khinh khi,
Nữa sau đến việc sầu-bi nhiều bề.
        Tớ Thầy non núi dựa kề,
Cũng tìm am cốc liệu bề dạy khuyên.
        Quyết lòng rửa sạch tiền khiên,
Ra oai ra lực hùng-yên mới là.
        Bây giờ còn liệu tây tà,
Cho nên đạo-đức khó mà cạn phân.
        Nam-thiền báu ngọc châu trân,
Phật Tiên phân định tấm thân mới nhàn.

 

Duyên sự đê-mê cảnh Hớn-đàng,
Lần dò cho thấu nẻo Tiên-bang.
Xuê-xang mấy kiểng nhìn sương gió,
Lòn cúi chờ trông lúc khải hoàn.

   *

*   *

Mê-man danh-lợi cõi hồng trần,
Có một hội nầy lập lấy thân.
Nếu để trễ chầy e chẳng kịp,
Khuyên ai khuya sớm gắng chuyên cần.

   *

*   *

Huyền-vi cơ đạo kiến linh kỳ,
Tự thán dương-trần tốc kham bi.
Vô vị phi liên tâm phế kỷ,
Điểm hồng nê địa tự thiên chi.

 

        Chừng nào thấy được phụng hoàng,
Rồng chầu chớp-nháng Hớn-đàng hiển-vinh.
        Sớm chiều rèn đúc kỉnh-tinh,
Ngày sau mới thấy phép linh của Trời.
        Ai ai cũng ở trong đời,
Chốn nào không đạo là đời vô liêm.
        Xét suy cho cạn cổ kim,
Hết tâm bền chí rạch tim xem nhìn.
        Ta đây ưa ghét mặc tình,
Dương-gian cứ mãi chống-kình làm chi.
        Chừng nào thượng-cổ hồi qui,
Thế-trần mới hết khinh-khi Phật Trời.
        Tu hành đạo-đức rao mời,
Như người ngu dại với đời loạn-ly.
        Ở sao cho biết tôn-ti,
Dể-ngươi Phật Thánh sầu-bi mãn đời.
        Khùng-Điên ẩn-nhẫn tùy thời,
Có-cơn giả dạng dắt đời hạ-nguơn.
        Mặc tình ai nói thiệt hơn,
Thấp cao tai tiếng làm ơn cho đời.
        Luân phiên Thầy Tớ tách vời,
Chẳng nài lao-lý miễn đời bình an.
        Tiếng đờn hò liếu cống xang,
Đêm khuya khuyên nhủ khắp tràng chúng-sanh.
        Buổi nay nhằm lúc vắng thanh,
Lời ta khuyên đó như cành ghẹo chim.
        Trau dồi đúng bực thanh liêm,
Nữa sau mới biết thành kim đền đài.
        Việc đời nhiều lúc khôi-hài,
Quyết lòng cho thế một bài học hay.
        Chuyển miền Nam địa lung-lay.
Nam Trung cùng Bắc một tay giáo đời.
        Thiếu ai mà bị réo mời,
Đầu trên xóm dưới thỉnh mời liên thinh.
        Trớ-trêu phải mượn kệ kinh,
Mặc tình dân-sự biện minh lẽ nào.

 

THI

 

Thâm-trầm đạo-đức quá thanh-thao,
Rừng-rú kệ-kinh cắt khoen rào.
Rước đưa sanh-chúng rời bể ái,
Thử-thét cho cùng cạn thấp cao.

   *

*   *

Liên lụy trần mê bể ái hà,
Bỗng xuất thoàn tình mượn thi ca.
Thể-thống Thần Tiên kiên bế chí,
Tương đồng sanh-chúng gội ma-ha.

   *

*   *

Si lung á giá tọa phú hào,
Tiên kiến hậu hiền quí kỷ cao.
Thố tử hồ bi ghi chí hứng,
Đại đồng đạo cả khắp trùm bao.

   *

*   *

Toan ly bể khổ, khổ tới à!
Dân-sự an-nhàn sướng dữ a!
Ta mảng lòng lo gìn sanh-chúng,
Gội nhuần ân-đức vịnh phong ca.

   *

*   *

Ma-ha thoàn nhỏ đã dọn rồi,
Chèo lái trương bườm chớ thả trôi.
Bến giác bờ mê, mê phải tránh,
Ly-biệt hồng trần hỡi ai ôi!

   *

*   *

Liên-hoa chín phẩm ở ngọc tòa,
Được lịnh Thiên-Hoàng nấy sai ta.
Hạ-giái dạy khuyên truyền đạo-lý,
Giả dạng Điên-Khùng mượn thi ca.

   *

*   *

Ham vui đào mận chẳng xong rồi,
Trung hiếu giữ-gìn phận con tôi.
Thế-sự bao la ta chẳng quản,
Tiên-cảnh non Bồng sẵn vị-ngôi.

   *

*   *

Nước non náo-nức giống nòi Hồng,
Gắng chí kiếm tìm chủ-nhơn ông.
Tuổi trẻ đầu xanh khoanh tay rế,
Liệu-lượng thâm tình tợ biển sông.

   *

*   *

Thay cảnh đổi lòng nỗi biệt-ly,
Muốn gặp bảng son với linh-kỳ.
Noi sức bình-sanh quanh nước lửa,
Có một ngày chờ hội ứng thi.

   *

*   *

Hồn thơ Tiên Thánh sánh đạo mầu,
Chẳng thấy việc đời mảng góp thâu.
Tóm tắt ít lời âu diệt chủng,
Thế-sự mê hồn lụy song mâu.

   *

*   *

Cha nọ bồng con vợ khóc òa,
Tan nát xóm diềng khổ dữ a!
Nhà không kẻ ở, ôi! nói trước,
Nếu chẳng tin lời gặp thiết-tha.

   *

*   *

Lời xưa di tích rõ việc nầy,
Ai muốn mắt phàm gặp Rồng Mây.
Hãy rán nghe lời ta mách trước,
Không gìn đạo-đức phải phơi thây.

  Thương dân xuống bút tay đề,
Dặn-dò bá-tánh chớ hề lợt-phai.

   Cuộc thế-giới chuyển lay như chóng,
   Khuyên dân tình hãy lóng mà nghe.

  Lam-kiều hữu lộ vắng hoe,

Ngục môn không cửa mà hè nhau đi.

  Thảm cho trẻ hài-nhi liệu-điệu,

  Vợ xa chồng bận-bịu thê lương.

  Phong trần dày-dạn gió sương,

Chư bang ham báu hùng-cường đua tranh.

  Còn một cuộc chiếu manh giành xé,

  Khắp hoàn-cầu ó-ré một nơi.

  Dòm xem châu ngọc chiều mơi,
Sao đời không sớm tách rời cõi mê.
       Để đến việc thảm-thê thê-thảm,
       Mắt phàm-trần tường lãm bi-ai.
             Cũng đồng cốt-nhục hoài thai,
Nên ta rán sức miệt-mài dạy khuyên.
      Thơ với phú Thần Tiên giáng bút,
      Bởi cơ trời đà thúc bên lưng.
             Không tu chừng khổ cũng ưng.
Tu hành gặp cảnh vui mừng toại thay!

 

Hoàng hôn tái sắc chuyển luân tài,
Nhựt dạ yêu đời chỉ quá dai.
Tỏ thuyết huyền-vi sanh-chúng rõ,
Năng kỳ liên huệ tất biền lai.

   *

*   *

Tư lương đeo đuổi giấc mộng sầu,
Bớ hỡi dương trần khá liệu âu.
Nước lửa đến chưn, ôi! khó nhảy,
Co giò phóng riết lọt ngoài sâu.

   *

*   *

Huyền cơ đạo-hạnh hãy rán tầm,
Đời cùng Tiên Phật dụng nhơn tâm.
Ngàn năm Thích Đạo đành chôn lấp,
Thương tưởng bá-gia nỗi lạc lầm.

 

   Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,
   Sao dân còn tríu-mến trần-mê?
           Mắt nhìn ngoại quốc thảm-thê,

Nam-bang cảnh khổ cũng kề bên tai.
        Cuộc biến động nay mai nguy ngập,
        Một hội nầy rán lập thân danh.
              Kìa kìa các bực công khanh,
Miễu son tạc để đành rành chẳng sai.
        Đất với nước hậu lai vinh-diệu,
        Đạo lo tròn yểu-điệu tấm thân.
                 Một câu quân lý tứ ân,
Ta đừng phai-lợt phong-thần bảng ghi.

     Hòa-Hảo, tháng giêng năm Canh-Thìn
(Chép theo bổn chánh của Đức Thầy do Đức Ông giữ)

                                   

GIỌNG KHÀN

 

Lập chí giác dân đến giọng khàn,
Cảm tình bổn-đạo ngặt lời khan.
Tạm ngưng lý-lẽ trong đôi bữa,
Xin chớ bỏ qua rất muộn-màng.

   *

*   *

Muộn-màng chơn-lý khó bằng an,
Thế thái trần mê giải mộng tràng.
Hỡi giống Tiên-Rồng mau mở mắt,
Kiếm tìm đạo-lý lánh hùm lang.

     Hòa Hảo, tháng 2 năm Canh-Thìn

                                        

       Cho ông Tham-Tá NGÀ

 (con của ông Đốc-phủ Lê-quang-Liêm tức Bảy)

 

        Lòng buồn gặp kẻ xa-xôi,
Lân-la đến chốn buôn mồi vinh-hoa.
        Xả thân tìm kiếm ma-ha,
Chẳng nài viễn-vọng dẹp tà nơi tâm.
    Nay gặp bạn tri âm tri kỷ,
    Cho những điều thiện mỹ cổ lai.
        Đừng nên sớm vội lợt phai,
Xe dây cho chặt mà nài tánh linh.
    Nền đạo-đức sắc thinh chớ mến,
    Có thuyền từ đưa đến non Tiên.
        Cứu người hữu phước thiện-duyên,
Về nơi cõi Phật khỏi miền trần ai.
    Kẻ ác-đức hậu lai khổ thảm,
    Mắt phàm trần tường lãm hồ binh.
        Mấy lời dặn bảo đinh-ninh,
Gắn-ghi chạm dạ Long-Đình được xem.
    Mùi đạo-diệu gỏi nem khó sánh,
    Chốn trà-đình xa lánh vãng lai.
        Tu hành nào luận mặn chay,
Miễn tâm thanh tịnh gặp ngày an cư.
    Nền đạo-đức vị tư bất nhã,
    Ta đừng phân nhơn ngã mới hay.
        Nhìn đời thế thái đổi thay,
        Hết vinh tới nhục lẽ nầy thường xưa.

Đời (1) vật chất văn-minh chiều-chuộng,

Vì thời lai vận bĩ trải qua.
Lòng sắt-son đây đó nõn-nà,
Tâm não bít bê-tha chậm trễ.
Tu với tỉnh bảo toàn thân thể,
Giữ đừng mòn linh tánh mới hay.
Nỗi bút-nghiên phận Lão cạn bày,
Câu diệu-lý cơ-huyền khó kiếm.
Sá chi kẻ dùng lời bao-biếm,
Chê Điên Khùng khó kiếm cho ra.
Não tâm tràng sớm dứt ái-hà,
Nên phải vội lìa xa cõi tạm.
Quyết chỉ nẻo lánh vòng hắc ám,

Đạo và đời thăm-thẳm sâu-xa.
Diệm Hồng-Liên thơ-thớ quần ca,
Tạo duyên giả phàm gian thân giả.
Chớ lấy đó mà tâm buồn-bã,

Hiệp-hòa nhau chờ đợi năm non.
Kìa hỡi ai giữ phận cho tròn,
Sau huynh-đệ có ngày hòa hiệp.

Chớ nản chí đường tu bỏ líp,

Trổi bước sang gặp Lão thế ngôn.
Trổi hùng phong cốt cách duy tồn,
Xác tuy mất hồn thiêng chẳng mất,
_______________________________________________

(1) Lúc hầu chuyện với Đức Thầy ông Ngà có khen ông Lê-văn-Trung và nói nếu ông Trung còn sống thì câu chuyện đạo-đức với Đức Thầy ắt là lý thú lắm. Đức Thầy mới viết thêm đoạn dưới đây.


Lão cũng tỏ đôi lời khờ-khật,
Câu huyền sâu cho đó ngụ ngôn.

Mã song phi viễn-vọng tâm-hồn,
Hành thế lữ đêm dài cạn tỏ.
Giết cho sạch những loài sâu bọ,
Giống hại người lúc bỏ rẫy trồng.
Huệ tâm khai ngữ chuyễn huyền thông.
Sanh hồi thiện đôi câu thành-thật.
Đêm vắn tắt vài lời để cất,
Gát ngòi nghiên tạm biệt phàm gian.
Rạng vừng mây bóng thỏ lạc nhàn,
Để chuyến khác cạn câu hoài vọng.

 

Dậm tràng đó mới chuyến sang chơi,
Tỏ ý Thần Tiên khá nhận lời.
Huyền-pháp thâm-trầm thơm bất tuyệt,
Vô-vi chánh đạo hỡi người ôi!

   *

*   *

Người ôi! chơn-lý thậm lâu đời,
Thâm cảnh diêu-huyền hẹn một nơi.
Hòa mặt Trung-Ương tam điệp khách,
Đợi chờ thiên-luật mới về ngơi.

   *

*   *

Về ngơi chốn ấy rõ như lời,
Nào Lão có bày chuyện khuấy chơi.
Vẽ việc Trời xanh cho đó biết,
Một lòng gắn chặt chẳng xa lơi.
 

   *

*   *

Xa lơi đạo-đức khổ tâm à!
Học cũ ít bài Lão thiết-tha.
Bóng xế tà tây ôi! lắm thể,
Dạ hiền cất bút mượn thi ca.

   *

*   *

Thi ca nhiều nẻo thậm rồi đa,
Hồi tị sứ thần dạy chuyện xa.
Lánh thế chẳng bày danh Lão sĩ,
Ngày nay các chỗ ngộ cuồng-ca.

     Hòa-Hảo, lối tháng 2 Canh-Thìn

           (trong lúc ban đêm)

 

        KHUYÊN NGƯỜI

GIÀU LÒNG PHƯỚC-THIỆN

 

        Mắt nhìn Kỷ-Mão vừa qua,
Gẫm trong thiên hạ nhiều nhà thiếu cơm.
        Ruộng đồng chẳng có rạ rơm,
Trâu bò ngóng cổ nhà nông héo lòng.
        Canh Thìn bước tới thiệt Rồng,
Trông cho mùa khác ruộng đồng ra sao.
        Nhà nghèo dạ tợ như bào,
Vợ đau con yếu phương nào cho an.
        Cả kêu cùng khắp xóm làng,
Mấy ông điền chủ cứu nàn mới qua.
        Làng gần chí những tỉnh xa,
Lúc xưa thì cũng ruột-rà với nhau.
        Ngày nay tốt phước sang giàu,
Xin thương kẻ khó giúp hào một khi.
        Cậu cô chú bác cùng dì,
Khắp nơi thầy chú một khi hảo lòng.
        Việc nhà quí bạn đã xong,
Hiệp nhau làm phước rõ lòng hiền nhơn.
        Lão đây thân khó chẳng sờn,
Tỏ lời khuyến-khích tợ đờn Bá-Nha.
        Ông nào lòng dạ hải-hà,
Động tình bác-ái ra mà làm đi.
        Giúp người đói khó nhu-mì,
Dạy nó tâm trì niệm Phật làm ngay.
        Bà nào góa bụa hữu tài,

Tiền nhiền đất rộng cò bay mút đồng.
        Cơn nầy bố thí cho xong,
Để khi nhắm mắt bên chồng giành chia.
        Ông bang các chợ, xẩm hia,
Tiệm hàng thạnh mậu nhờ dân ruộng vườn.
        Ngày nay thất bát khá thương,
Tiền nong chẳng có cơm lường cho qua.
        Mắt nhìn lòng ứa ruột-rà,
Cả kêu bổn đạo ai là thiệt tu.
        Muốn cho rắn đặng hóa cù,
Xả thân làm phước Diêm-phù vượt qua.
        Giữ bo đến lúc phong ba,
Gặp cơn bát loạn khó mà yên thân.
        Phong trần ai cũng phong trần,
Được sang nhờ của người bần góp thâu.
        Thấy đời lao-lý mà rầu,
Giúp cho chúng nó ngõ hầu làm ơn.
        Xin quên mấy lúc giận hờn,
Ra tay tế-độ nghe đờn Tây-qui.
        Xây vần trời đất tiết thì,
Hết cơn bĩ cực tới kỳ thới lai.
        Cổ kim hiếm lúc nạn tai,
Hưng vong suy thạnh bằng nay lẽ thường.
        Lớn ròng nạn ách phải vương,
Muốn qua truông khổ tìm đường Bồng-lai.
        Ngày kia được trở gót hài,
Về nơi Tiên cảnh ngàn ngày đẹp tươi.
        Giàu sang nghèo khó cũng người,
Nên ta thương hết dầu cười hay khen.
        Lòng nhơn xin khá tập rèn,
Thạch-Sùng Vương-Khải sách đèn ai ưa.
        Thánh-hiền roi tích đời xưa,
Nhờ tâm từ thiện người ưa kính thờ.
        Chết rồi bỏ của bơ-vơ,
Chi bằng làm phải truyện thơ ghi đời.
        Xác phàm có mấy lăm hơi,
Hỏi vay có một mà lời đôi ba.
        Của dư cho mượn mới là,
Hảo tâm bố thí ngọc-tòa được lên.
        Chê nghèo, giàu nọ đâu bền,
Chi bằng bố đức lập nền từ-bi.

        Con hiền khá sớm hồi qui,
Nghe lời Thầy dạy kịp thì bớ dân.
        Dòm xem kẻ khó tảo tần,
Ruộng tâm sang-sớt dắt lần với nhau.
        Nghèo thời cũng rán cháo rau,
Chớ đừng gian-xảo ngày sau thanh-nhàn.
        Bần cùng cũng sớm liệu-toan,
Giữ tâm ngay thảo xóm làng mến yêu.
        Mộ khan thần tỉnh cần triêu,
Khỏi cơn hoạn-nạn Lam-kiều được lên.
        Ít ai giữ đặng chí bền,
Tu theo nước lớn ròng bèn thả trôi.
        Tuy xa mà tới mấy hồi,
Đất còn lở thét phải bồi tự nhiên.
        Thảm thương cho kẻ tá-điền,
Gặp cơn lúa ngập của tiền ráo tay.
        No chiều rồi lại đói mai,
Gia bần trí đoản đắng cay nhiều bề.
        Lo tròn cha mẹ nhi thê,
Nhằm năm lưng túc não-nề tâm trung.
        Khá thương những kẻ bần cùng,
Tâm lành dư của hãy dùng vào đây.

 

Sột-sột nhà sau mụ vét nồi,
Ông chồng quần áo rách lôi-thôi.
Bầy con ngơ-ngác đòi xơi bữa,
Lũ nhỏ giành nhau lấn chỗ ngồi.
Khua đũa mèo mun ngờ chủ thảo,
Muỗng rơi chó vện tưởng cho mồi.
Lầm than đói khó vì tai-ách,
Hỡi kẻ sang giàu cứu nạn trôi.

   *

*   *

Nạn trôi lúa ngập đói còn xa,
Điền chủ mau mau nghĩ tận mà!
Tế-độ dân nghèo trong lúc túng,
Giúp giùm kẻ rối buổi vừa qua.
Có ăn dư huệ nhờ thân nó,
Nghèo khổ bần phu thảm dữ a!
Nếu đã xả thân tầm đạo-đức,
Mở lòng bố thí ngộ thần ca.

   *

*   *

Tỏ lời nhắn-nhủ khắp đâu đâu,
Vạn-vật từ nay luống thảm sầu.
Áo-não thương đời đa đói khổ,
U-buồn trăm họ vẽ vài câu.

     Hòa-Hảo, ngày 25-2 Canh-Thìn

 (Đức Thầy viết bài nầy để kích-thích lòng bác-ái của những bà giàu có ở xứ xa đến viếng Ngài).

 

              DẶN-DÒ BỔN-ĐẠO

 

        Tháng năm mười tám rõ-ràng,
Cùng xóm cuối làng ai cũng cười reo.
        Xuống trần nhằm buổi nạn eo,
Gẫm trong dân-sự còn nghèo chữ tu.
        Hạ-nguơn sanh-chúng ám-u,
Tây-Phương sắc lịnh vân-du Nam-kỳ.
        Mượn nhằm một xác nhu-mì,
Giảng dân sáu tháng vậy thì xem sao.
        Rất buồn bá tánh biết bao,
Nạn nguy sắp đến mà ngao-du hoài!
        Viết ra giảng kệ bốn bài,
Giã-từ trần-thế lui hài bôn-phi.
        An-Nam phong-hóa lễ-nghi,
Đời nay văn-vật bỏ đi chẳng gìn.
        Mảng lo chế nhạo chống kình,
Chẳng toan đạo-đức mà gìn thôn hương.
        Ta đây dường thể như lươn,
Cứu dân chẳng nệ nắng sương lấm đầu.
        Sáu trăng Thầy tớ dãi-đầu,
Quyết lòng truyền bá Đạo mầu mà thôi.
        Bồng-Lai Điên dại có ngôi,
Tây-Phương Cực-Lạc Khùng ngồi tòa sen.
        Từ-bi ngọn đuốc mới nhen,
Giả như mở cửa mà then còn cầm.
        Dân tình xài-xể dập bầm,
Nào hay ta đã thương ngầm sanh linh.
        Xác trần ta mở oai thinh,
Đạo mầu truyền pháp thình lình không hay.
        Trớ-trêu con tạo thày-lay,
Lôi-âm sắc lịnh đòi rày hỏi han.
        Cúi đầu tâu trước Phật đàng:

“Lê dân ngoan-ngạnh xóm làng cừ-khôi.
        Đầu đuôi tâu lại khúc nôi,
Một trăm mới đặng ối thôi mười người!
        Mãng lo cao thấp ngạo cười,
Bởi chưng trần-hạ biếng lười không lo”.
        Di-Đà nghe tấu buồn xo,
Vạn dân bá tánh đắn-đo nhiều bề.
        Làm sao cửa Phật dựa kề,
Hung sùng tàn ác khó bề dạy khuyên.
        Thầy khùng trò lại hóa điên,
Khùng điên mấy tháng tình riêng ai ngờ!
        Tượng xưa dấu cũ còn mờ,
Không lo tìm kiếm bến bờ mà nương.
        Nói cho bổn-đạo đặng tường,
Dạy dân nào có gạt lường chi dân.
        Chim ô đà dựa cầu Ngân,
Người Xưa trở gót mấy lần ai hay.
        Đời nầy chưa vẹn thảo ngay,
Thì là khó thấy mặt mày người xưa.
        Dạy đời nào quản nắng mưa,
Ước mong bá tánh sớm ưa tu hành.
        Đục trong bốn cuốn ngọn ngành,
Khuyên đời trau trỉa chữ lành cho xong.
        Con người có Tổ có Tông,
Học hay chữ nghĩa sao không phượng thờ?
        Hiếu trung truyện tích sờ-sờ,
Người đời phải biết phượng thờ mẹ cha.
        Từ đây ta mắc bôn-ba,
Dời chơn ra Bắc đặng mà dạy khuyên.
        Vạn dân nên trọng Phật Tiên,
Dể ngươi lời dạy dọa riêng một mình.
        Bắc, Nam chờ đợi cuối Thìn,
Sẽ lo vận chuyển thân hình xác ta.
        Viết thêm một khúc ngâm nga,
Dặn dò bổn đạo vậy mà mấy trương.
        Ta dầu có cách thôn hương,
Vạn dân cứ chữ hiền lương mà làm.

        Thích-Ca còn phế tước hàm,
Lầu cao cửa rộng mà ham tu hành.
        Phật, Tiên dụng kẻ lòng thành,
Đạo chơn thì ít ai hành thiệt tâm.
        Trí phàm như chốn sơn lâm,
Dạy dân như phá rừng cầm cho dân.
        Nào đâu dân có biết ân,
Mạnh rồi tưởng Phật vái Thần làm chi.
        Đây nầy lời lẽ rán ghi,
Thương đời nên mới làm thi khuyên đời.
        Ra đi dặn lại ít lời,
Khuyên trong bổn-đạo vậy thời rán nghe.
        Dầu ai tài phép bày khoe,
Ham linh ham nghiệm sợ e mang nghèo.
        Lựa cho phải cột phải kèo,
Phải vai phải vế mà theo kẻo lầm.
        Ngọc kia ẩn dạng khó tầm,
Chọn nơi chơn chánh khỏi lâm khổ hình.
        Ách trời nạn nước thình-lình,
Người hung cứ mãi chống kình với ta.
        Theo tài học cũ nôm-na,
Hỡi ai trí-thức tầm mà cạn sâu.
        Lúc nầy chưa thể ngồi lâu,
Tách dời chốn khác ngõ hầu dạy răn.
        Tín-đồ cùng các chư-tăng,
Từ rày sắp đến nói năng chọn lời.
        Bớt phiền bớt não cuộc đời,
Rán nghe lời dạy vậy thời hành y.
        Đạo mầu bát-chánh rán ghi,
Thứ nhứt chánh-kiến việc chi xem nhìn.
        Luận bàn chơn-lý cho minh,
Chuyện chi xét đoán xảo tinh mới là.
        Thứ nhì chánh-mạng vậy mà,
Việc làm do lịnh tâm hồn khiến sai.
        Thứ ba tư-duy bằng nay,
Các điều tưởng nhớ thẳng ngay mới mầu.
        Thứ tư chánh-nghiệp mặc dầu,
Nghề chi thì cũng ngõ hầu làm ngay.
        Tà gian tánh ấy tù đày,
Của người tham nhũng nghề nầy chớ ham.
        Thứ năm tinh-tấn hội đàm,
Sạch trong kỹ lưỡng mà làm mới ngoan.
        Thứ sáu chánh-ngữ liệu toan,
Nói năng điều chánh thì an chớ gì!

        Thứ bảy chánh-niệm vậy thì,
Khi cầu khi nguyện chuyện gì thành tâm.
        Thứ tám chánh-định chớ lầm,
Từ-bi hai chữ đứng nằm chớ quên.
        Ngồi đâu cũng định mới nên,
Đừng cho công việc hớ-hênh với người.
        Hành y thì đáng vàng mười,
Tùy lòng tùy sức của người đời nay.
        Tu nhơn hiền hậu cũng hay,
Dạy đời phải viết ngày rày cho tinh.
        Rút trong các luật các kinh,
Tùy lòng không ép làm in giảng nầy.
        Thấp cao các bực chớ chầy,
Kẻ ngu người trí nghe Thầy dạy khuyên.
        Sớm khuya bá tánh cần chuyên,
Nghe lời dạy bảo cảnh Tiên dựa kề.
        Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên cùng bổn-đạo chớ hề lãng-xao.
        Trì lòng chớ có núng-nao,
Từ đây nhơn-vật mòn hao lần-lần.
        Mấy lời nhắn lại ân-cần,
Bổn-đạo xa gần nghĩ cạn mới hay.
        Tu trì nguyện ước cầu may,
Thượng-Nguơn hồi phục là ngày an cư.
        Học câu hỉ-xả đại từ,
Noi gương nghĩa-sĩ dạ tư chớ gần.
        Bôn Nam tẩu Bắc tảo tần,
Chúng-sanh rán nhớ thì gần cùng ta.
        Xác trần Ta đã rời xa,
Bá-gia ở lại vậy mà bình-an.
        Kìa-kìa anh hố hò khoan,
Tình lang về mất hổ-hang mặt-mày.
        Sớm lo sắp đặt luyện tài,
Phật Trời phân định mặt mày mới xinh.
        Ơn trên lượng rộng thinh-thinh,
Từ-bi khuyến dạy mặc tình nghe không.
        Giống hiền như thể gieo bông.
Nhụy đơm thơm phức màu hồng xuê-xang.

        Dân ta dòng giống Tiên-bang,
Chớ đâu có giống ngỗ-ngang hung sùng.
        Mặc tình bá tánh có dùng,
Ai muốn nghe Khùng chép lấy mà coi.
        Lấy tâm lấy trí xét soi,
Thầy đi dạy Bắc thử coi lẽ nào?
        Thôi thôi dân chớ hùng-hào,
Khùng từ bổn-đạo tẩu đào Bắc-đô.

     Hòa-Hảo, lối tháng 2 Canh-Thìn
(Chép theo bản chánh do ông Nguyễn-Chi-Diệp giữ)

 

MUỐN RÕ ĐẠO MẦU

 

Đạo mầu diệt khổ có từ lâu,
Thần-Tú ra đời lại góp thâu.
Chuông mõ, sám kinh bèn cải sửa,
Xá phướn truyền-lưu lấp Đạo mầu.

   *

*   *

Niệm chữ A-Di dẹp lòng sầu,
Rán trì kinh-kệ hoặc mau lâu.
Cũng có ngày kia ta giải-thoát,
Giải-thoát thì ta rõ Đạo mầu.

   *

*   *

Tây-Phương Cực-Lạc Phật hằng-hà,
Ta rán bền lòng Phật chẳng xa.
Trong cõi trần mê còn mong đợi,
Thấy Phật trì tâm đến năm gà.

     Hòa-Hảo, năm Canh-Thìn

                                  

              TRÔNG MÂY

 

        Phiêu-phiêu mây bạc trắng lòa,
Ấy la tại lịnh Ngọc-tòa sai Ta.
        Xuống trần thấy chúng thiết-tha,
Vì đâu sắp đến hằng hà lụy rơi.
        Chừng nào mới đặng thảnh-thơi?
Qua năm Tuất-Hợi Phật Trời định phân.

   *

*   *

Tây-Vức liên Nam hiệp định phân,
Tam giáo qui nguơn viện lý cân.
Hùng anh Phiên-quốc lai hàng phục,
Đinh Hợi đáo niên tạo thiện nhân.

                                  

LÝ-LỊCH

 

THƯỢNG thẩm đạo mầu nẻo cao sâu,
ĐẲNG đẳng hãy làm chớ để lâu.
ĐẠI pháp vô-vi là chơn lý,
THẦN làm trọn vẹn khỏi lo âu.

   *

*   *

Huỳnh long tự thế gần sanh-chúng,
Bổn tánh Hòa thôn Hảo dĩ đầu.
Tiên cảnh thoát-ly truyền bá kỷ,
Năng tầm Phật-lý rạch từ câu.

   *

*   *

Oai hùm chấn động một góc trời,
Độ chúng ra Kinh rải khắp nơi.
Cứu thế chẳng mong ơn ai trả,
Nương xác phàm phu ngõ đợi thời.

   *

*   *

Huỳnh sanh cơ thẩm đáo trung đàn,
Tự giác âm thầm kiến Tiên-bang.
BỬU ngọc SƠN trung KỲ-HƯƠNG chí,
Tứ hải bất hòa khởi liên giang.

     Hòa-Hảo, năm Canh Thìn

                                    

KHUYÊN SƯ VÃI

 

Trước đài sen báu ngát hương đăng,
Hai chữ Nam-Mô ấy lẽ hằng.
Thề-sự biếng đua bề lợi-hại,
Tâm-trần rửa sạch mới siêu-thăng.
Khuyên trong sư vãi mau mau tỉnh,
Luân hồi quả báo rất công bằng.
Mang tiếng xuất gia sao chẳng liệu?
Đạo-đức xong chưa hỡi chư tăng?

     Hòa-Hảo, năm Canh-Thìn

 

  “XUÂN-HẠ TÁC CUỒNG-THƠ

 

   Sĩ điềm tịnh tiểu-nhơn lấn-lướt,
   Thời-vận hèn dụng nhược thắng cang.

        Cầu cho bốn biển bằng an,

Chúc câu lai thới xóm làng vĩnh-miên.

        Xưng danh hiệu nửa Tiên nửa tục,
        Đứng trung-thần gạn đục tầm trong.
             Gìn câu thủ cựu gia phong,
Gom nhành lá rụng vun trồng giống xưa.
          Tơ lòng nhiều đoạn đẩy-đưa,
Mong ơn Phật-Thánh phước thừa cho dân.
        Chúng lấy thuyết vô thần bài bác,
        Quyết một ngày thông đạt địa thiên.
           Chúng-sanh nghe thửa lời truyền,
Cùng nhau thảo thuận danh hiền mới thơm.
        Dốc chờ ngày sen đơm nhụy trổ,
        Khỏi bùn lầy tông-tổ hiển vang.
             Bá-Nha hiệp mặt tao-đàn,
Tử-Kỳ trổi giọng khải hoàn bốn phương.
        Lòng chạnh cảm quê-hương nghèo-ngặt,
        Các nước ngoài bán mắc hàng lên.
             Ơn cha nghĩa mẹ phải đền,
Một ngày hiệp mặt lập nền từ-bi.
        Những mơ-ước hồi qui thượng-cổ,
        Thì hết câu ái-ố gièm-pha.
             Phương Nam rạng ngọc chói lòa,
Lưu-ly hổ-phách mấy tòa đài cung.
        Dành cho kẻ lòng trung chánh-trực,
        Quân cùng Thần náo-nức vui-tươi.
             Liên-hoa đua nở nụ cười,
Rước tôi lương-đống chào người chơn tu.
             Thế-gian thoát chốn ngục-tù,
Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long.
        Mất nhìn thấy thần thông biến hóa,
        Đức Di-Đà hiện chóa hào quang.
             Việt-Nam là giống Hồng-Bàng,
Không còn hung-bạo lăng-loàn như nay.
        Dòm khắp chốn rồng mây chơi giỡn,
        Dân hai lòng hết bỡn Khùng-Điên.
             Thiên cơ biến ảo diệu huyền,
Hiệp chung tam cõi dưới miền trần ai.
        Bút nghiên hạ viết bài an lạc,
        Dẫu cho người dốt nát cũng nghe.

             Kìa kìa con cuốc gọi hè,
Chẳng lo gieo giống đậu, mè, bắp, khoai.
        Thi tả cảnh Bồng-Lai tại thế,
        Mãi chần-chờ e trễ kỳ thi.
             Muôn năm Trời định khắc kỳ,
Ngặt ông thất thủ Hạ-bì khó toan.
        Ta điên thuở Tam-Hoàng Thượng-cổ,
        Khùng thế thời khùng lộ ngoài da.
             Ghét dòng con nịnh độc xà,
Khinh-khi trung nghĩa hải hà lòng nhơn.
        Đường gai gốc thiên sơn vạn hải,
        Dẹp cho rồi tướng bái đàn đăng.
             Tử-Nha như thể cát-đằng,
Tùng quân dựa bóng vui bằng hưng Châu.
             Các nơi Tiên-trưởng đâu đâu,
Lư-bồng hội hiệp đồng chầu Thánh-vương.
             Trụ kia bạo-ác phải nhường,
Võ-vương hữu đức đường đường trị dân.
        Thì rõ việc Phong-Thần trở lại,
        Thuyền Đông-Pha lèo lái cánh trương.
              Con lành mau lại Phật đường,
Cùng Thầy cọng hưởng một vườn từ-bi.
        Chớ nóng-nảy sân-si hư việc,
        Phải đợi thời vua Kiệt hồi qui.
             Xử phân những đứa vô nghì,
Mới là khỏa lấp vít tỳ ngọc son.
        Khuyên rán giữ cho tròn đời đạo,
        Đừng cho loài cầy cáo lung-lăng.
             Yêu tinh chực nuốt Đường-tăng,
May nhờ Đại-Thánh phi đằng cứu nguy.
        Lôi-Âm tự đường đi chưa đến,
        Nên giữa chừng kẻ mến người khinh.
             Thôi thôi ta để mặc tình,
Dầu ai chê nhạo phận mình mình toan.

     Hòa-Hảo, tháng tư năm Canh-Thìn

 

       TỪ GIÃ BỔN-ĐẠO KHẮP NƠI

 

        Canh-Thìn năm thiệt là rồng,
Từ ngày mượn xác trần-hồng đáo lai.
        Tháng năm Kỷ-Mão đến nay,
Khắp trong bá-tánh gặp bài sám-kinh.
        Lời văn tao-nhã hữu tình,
Bởi vưng sắc-lịnh Thiên-Đình sai ta.
        Xuống trần Lão dụng khuyến-ca,
Đầu đuôi cạn tỏ ngâm-nga ít bài.
        Tạm đây Ta mắc lui hài,
Vì trên bệ-ngọc triệu rày hồi-qui.
        Không đành tách gót ra đi,
Nên dùng lời lẽ từ thì bá gia.
        Thiên đường lộ ấy nào xa,
Muốn cho khỏi khổ xem qua lời truyền.
        Dấu xưa noi tích Thánh-hiền,
Thương trần mượn xác bút liền ra cơ.
        Thấy trong bá tánh ngẩn-ngơ,
Nay Thầy xa tớ bơ-vơ một mình.
        Gẫm trong hai chữ nhục-vinh,
Xưa nay thiên hạ kệ kinh ít dùng.
        Cúi đầu tâu lại cửu trùng,
Ngọc-Hoàng ban chiếu lão Khùng giáo-dân.
        Gái trai lớn nhỏ ân cần,
Chùi lau vẹn mặt thì gần Thánh Tiên.
        Tây-phương đua nở hoa liên,
Chờ người hữu phước thiện duyên từ-hòa.
        Nhắn cùng bổn-đạo gần xa,
Ta về âm cảnh thiết-tha tâm tràng.
        Đời nay hiếm kẻ nghinh-ngang,
Chẳng kiêng lời lẽ Phật-đàng từ-bi.
        Lang tâm trắc-nết vô-nghì,
Nhỏ không biết nể kính vì bề trên.
        Nhỏ to lời lẽ chớ quên,
Rán mà nguyện vái đặng đền ơn sâu.
        Bá gia bá tánh đâu đâu,
Xem lời ta chỉ về cầu tại gia.
        Có đau thì thuốc đó mà,
Dòm trong bản chữ về nhà kiếm cây.
        Nay Thầy chịu lịnh về Tây,
Tạm ngưng đạo-đức ít ngày Thầy qua.
        Dạo trong khắp cõi ta-bà,
Nơi nơi chốn chốn quỉ ma rối loàn.

Chữ rằng: “Nhơn thiện vi nan”.
Dầu cho tài trí cũng mang nợ nần.
        Có đeo bịnh tật vào thân,
Giấy vàng xé nhỏ vái Thần độ vô.
        Thành lòng nước lã nên hồ,
Hữu tâm chí đức cam-lồ Phật ban.
        Cám thương bá-tánh tai nàn,
Gặp cơn dông tố nào an lòng nầy.
        Đờn ta vốn thiệt không dây,
Vô duyên khó biết lời Thầy nói xa.
        Từ trên tới dưới thuận hòa,
Hay hơn châu báu ngọc-ngà giàu sang.
        Thầy về tâu lại Phật-đàng,
Cúi xin nhỏ phước xóm làng bình yên.
        Giống nòi thiệt cốt Rồng Tiên,
Mà nay lạc mất gương hiền nơi đâu.
        Muốn xem bốn chữ Long-Châu,
Bền gan sắt đá sồng-nâu tu trì.
        Tu hành mà mãi nan nghi,
Sợ ta gạt-gẫm cũng kỳ cho dân.
        Giã từ khắp hết dương-trần,
Vân du chốn cũ lưới Thần bủa ra.
        Non cao nhiều thứ cáo-xà,
Trừ loài độc-địa mới là yên thân.
        Biết sao cho toại lòng dân,
Kẻ ưa đạo-đức người cần vinh-hoa.
        Xót lòng cậy nước ma-ha,
Hớp vô ba hớp ắt là lặng tâm.
        Thân Khùng đêm vắng khóc thầm,
Cựa mình cũng nhớ giấc nằm nào an.
        Từ nay cách biệt xa ngàn,
Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.
        Giữa chừng đờn nỡ dứt dây,
Chưa vui buổi hiệp bỗng Thầy lại xa.
        Tỉnh say trong giấc mộng hoa,
Mơ-màng cũng tưởng như ta bên mình.
        Tuy là hữu ảnh vô hình,
Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai.
        Nghe sơ lời lão cạn bày,
Tìm trong não óc gặp ngày bình-an.
        Kim-lân, xích-phụng lâm nàn,

Cho nên phận lão đâu an thân già.
        Tảo-tần lo liệu năm ba,
Biết sao hiệp mặt lòng già mới nguôi.
        Mặt ngoài gượng-gạo bải-buôi,
Chớ trong tim phổi rối nùi như tơ.
        Tuồng đời như cá trong lờ,
Thọc tay vô bắt còn ngờ kẹt hom.
        Bao nhiêu tâm não góp tom,
Dặn-dò kỹ-lưỡng chăm-nom khắp cùng.
        Chừng nào tôi được hết Khùng,
Thì là dân-sự còn dùng làm chi.
        Bận lòng cạn tỏ vân-vi,
Bớ dân hai chữ công-trì sớm khuya.
        Nhớ câu ăn giấy bỏ bìa,
Được thân sung-sướng vội lìa Tổ-Tông.
        Kể ra lại bắt mủi lòng,
Ngán đời mua bưởi bán bồng chát-chua.
        Cứ theo cái lối a-dua,
Dạ toan đốt miễu phá chùa từ-bi.
        Vàng kho thêm gánh ích gì,
Thôi ta than lắm vậy thì thẹn thêm.
        Bóng trăng cậy đỡ ban đêm,
Trầu ăn nhả bã lại têm mời hoài.
        Khùng ngồi nói chuyện quá dai,
Bị lòng bác ái nói hoài chẳng thôi.
        Thấy đời mặt lọ không bôi,
Lại khoe kép giỏi một hồi múa men.
        Từ nay cửa Khổng gài then,
Chờ ta trở lại thì đèn hết lu.
        Thân Khùng là phận sĩ-phu,
Chẳng ham danh-diệu miễn tu vuông tròn.
        Khôn thì lánh chốn đau đòn,
Dại thì lòn cúi đồ ngon ăn thừa.
        Hai lòng uốn lưỡi đẩy đưa,
Ỷ hơi Hạng-Võ mắc lừa Trương-Lương.
        Nhớ qua hồi lúc đời Đường,
Hiền thần Nhơn-Quí người đương ẩn mình.
        Cửu-Thiên còn giấu tại dinh,
Chờ ngày mãn hạn phép linh ban rày.
        Giảng kinh đọc tụng chiều mai,
Làm theo lời chỉ ngày rày gặp ta.

        Xác trần để lại làng Hòa,
Lời thăm bốn phía Ngọc-tòa ta lui.
        Âm dương cách trở xa-xuôi,
Nhắn cùng bá tánh chớ nguôi tấc lòng.
        Phận Khùng thân hỡi long đong.
Còn lo cho thế hai lòng toan mưu.
        Ta không gây oán kết cừu,
Cớ sao dân-sự phiền ưu nỗi gì?
        Khoa tràng lịnh mở hội thi,
Nên Ta xuống bút dạy thì trần-gian.
        Chớ mình hồn dựa lâm-san,
Thảnh-thơi còn xuống thế-gian làm gì?
        Ước-mơ Thượng-cổ hồi qui,
Thế-trần no ấm phú thi an nhàn.
        Quân-thần, phụ-tử vinh-vang,
Hết lo cay đắng, Khùng an phận khùng.
        Tới đây từ biệt khắp cùng,
Thầy lìa khỏi xác Thiên-cung phản hồi.
        Đục trong cạn tỏ khúc nôi,
Thấy dân tu dối nghĩ thôi bận lòng.
        Lang tâm như thú thiếu lông,
Trớ-trêu cửa miệng trong lòng gươm đao.
        Ra đời chẳng nệ công lao,
Chẳng hờn không giận, hùng-hào còn ganh.
        Hiệp chung một cội nhánh-nhành,
Sum-sê lá thắm chim xanh nối đường.
        Từ-bi tình ấy đoạn trường,
Kể qua tích cũ mà lường lòng đây.
        Như ai có đọc đoạn nầy,
Xin đừng chê nhạo rằng Thầy nói nhăng.
        Muốn sao có phép phi đằng,
Cũng như Đại-Thánh, Đường-Tăng thoát nàn.
        Rưng-rưng nước mắt hai hàng,
Lánh nơi cõi tục Phật-đàng lui chơn.

     Hòa-Hảo, ngày 1-4 Canh-Thìn

(Đức Thầy viết bài nầy vì Ngài tiên-tri rằng Ngài sẽ xa cách bổn-đạo.                                                                            Quả thật ngày 12-4 Canh-Thìn nhà chức-trách ở Châu-Đốc dời Ngài đi Sa-Đéc).

TẠM NGƯNG LÝ-THUYẾT

 

Gặp buổi gian-truân tiếng nhộn-nhàng,
Cảm-tình bổn-đạo sự riêng than.
Thầy an nghỉ xác trong đôi bữa,
Đây cũng trải qua hết nhộn-nhàng.

   *

*   *

Nhộn-nhàng già trẻ có lòng lo,
Mà ấy chẳng qua ngược gió đò.
Đậu lại ít ngày chờ lặng sóng,
Tớ Thầy sẽ gặp việc hay-ho.

     Hòa-Hảo, ngày 10-4 Canh-Thìn
(Đức Thầy viết bài nầy vì lúc ấy có nhân-viên sở Mật-thám ở Châu-Đốc đến dòm ngó).

                                           

DIỆU-PHÁP QUANG-MINH
   (Khùng Điên tự cảm tác)

 

Gươm trí-huệ từ-bi chớp nhoáng,
Bóng quang-âm ngày tháng dập-dồn.
Ta thừa vưng sắc lịnh Thế-Tôn,
Khắp hạ-giái truyền khai đạo-pháp.
Tùy phong-hóa dân-sanh phù-hạp,
Chấp bút thần tả ít bổn kinh.
Bởi luật trời mở rộng thinh-thinh,
Tri phong-võ bất kỳ chuyển kiếp.
Giống Hồng-Lạc kim chi ngọc diệp,
Nay đổi dời nhiều sự thấp hèn.
Từ ngàn xưa Phật-pháp gài then,
Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo.
Ta cũng tỏ đôi lời khờ khạo,
Ngắm cảnh đời tâm não bắt cuồng.
Hiệu Điên Khùng ban rải dư muôn,
Khùng đạo-đức Khùng câu tuyệt-diệu.
Khùng toán biết âm-dương kết-liễu,
Khùng huyền-cơ Khùng Đạo Thích-Ca.
Huơi bút thần dẹp lũ cáo-xà,
Loài độc-địa toan trừ dứt nọc.
Noi tục cổ xác Khùng để tóc,
Phải đua chen tập tánh ông cha.

Mong dương-trần tỉnh giấc Nam-Kha,
Trừ vật-dục trì chơn bất hoại.
Cặp mắt Thánh dòm xem tứ hải,
Thương hồng-trần mượn xác tái sanh.
Bởi vì đời văn-vật cạnh-tranh,
Nên cấu xé cùng nhau thảm-não.
Sá chi kẻ ngu si khinh-ngạo,
Vì trên đời nhiều hạng khác nhau.
Đấng trung-thần dạ ngọc ước-ao,
Người bội phản ghét-vơ đạo-lý.
Khùng cảm mến truyền câu hồi vị,
Thà làm hiền mà biết non sông.
Điên như ta Điên giống Tiên Rồng,
Điên gở ách xích-xiềng thế tục.
Chuông Linh-khứu ba hồi giục-thúc,
Đờn Lôi-âm khởi điệu êm tai.
Con lành duyên khá trở gót hài,
Điên quyết chí dắt người lánh tục.
Đạo mở cửa bày câu minh mục,
Nước ma-ha tưới tắt lòng phàm.
Cõi Trung-Ương luân chuyển phương Nam,
Mở hội Thánh chọn người trung hiếu.
Tử vì nước còn ghi linh miếu, (1)
Thác vì đời thanh-sử danh bia.
Mũ cánh chuồn, đai giáp, mang hia,
Tuy thô-kịch mà tâm chánh-trực.
Nước văn-minh chê đồ ấy nực,
Mảng trau-tria xác thịt thanh bai.
Cảnh dương-trần khó sánh Bồng-Lai,
Về Tiên cảnh say mùi rượu Thánh.
Chén quỳnh tương gác đều gai ngạnh,
Vui tinh-thần bày biện cuộc cờ.
Khi thừa nhàn trổi giọng ngâm thơ,
Bày thi phú than qua thời thế.

Xuống dương-gian thân Điên nào nệ,
Chốn hồng trần đuốc huệ liền khai.
Cho nam-nhi sửa mặt râu mày,
Hàng phụ-nữ giồi câu trinh-liệt.
Rán bắt chước những trang tuấn-kiệt,
Gái anh hùng xưa có Trưng-Vương.

Đuổi quân Tàu cứu vớt quê-hương, (2)

Rửa xong hận thù chồng dốc trả.

Xưa Châu-Xáng thanh long phải tá,

Ngăn Sư-Đồ đặng cứu Ngũ-Viên.
Nói cho đời rõ biết Khùng Điên,
Điên vận bĩ điên câu ái quốc.

Viết một ngọn lưỡi nầy một tấc,

Đem Đạo lành ban rải nơi nơi.

______________________________________

(1) Vì để tránh sự khó dễ của người Pháp, Đức Thầy đã có lần đổi lại là: “Tượng Quan Thánh còn ghi linh miếu.

(2) Câu nầy sau lại, Đức Thầy có sửa như vầy:

Đến đời nay còn phụng lửa hương.

Mảng chờ trông bá tánh thảnh-thơi,

Khắp bốn biển liên dây hòa-hảo.
Rừng bác-ái điên đời biến ảo,
Điên như ta vì Đạo vì dân.
Điên tu cầu Quân thánh rải ân,
Cho bốn biển dân lành được hưởng.
Điên dẹp gác âm thinh sắc tướng.
Tầm vô vi kiếm cảnh Niết-Bàn.
Thuyền từ-bi thẳng cánh lướt sang,
Qua Đông-độ vớt người hữu đức.
Bể ái hà gươm linh sớm dứt,
Lòng bồ-đề sắt đá dám kình.
Cả tiếng kêu lớn nhỏ đệ-huynh,
Noi chí ấy sửa-sang thời-thế.

Trời quá buổi chinh chinh vừa xế,
Chờ ít lâu cũng lặn về Tây.
Lúc huỳnh-hôn đèn trí soi đầy
Tìm nẻo thẳng đi về Cực-Lạc.
Điên đàm luận ít câu dốt nát,
Mong chị anh bàn-bạc thể-nào?
Lời văn thô ý-kiến chẳng cao,
Nội quang-cảnh tâm vô kỳ vật.
Đường đạo-đức bước đi từ nấc,
Ngoại quan hình bất chấp kỳ hình.
Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh,
Rán kiếm chữ bất sanh bất diệt.
Chúng-sanh mê nên đem pháp thuyết,
Giải thoát rồi pháp bất khả dùng.
Nương gia-đình kính trọng cội thung,
Lo nưng đỡ trong ngày tuổi hạc,
Thân Điên Khùng thế-gian tạm xác,
Chén rượu nồng chẳng nếm mà say.
Say lê-mê lết-mết tối ngày,
Say đạo pháp say mùi hương khói.
Biết chừng nào chúng-sanh vượt khỏi.
Bể ái hà rứt bỏ vẹn lau.
Say như xưa nhằm lúc Huỳnh-Bào,
Trần-Di ngủ say câu thành tựu.
Quyết đưa chúng về nơi non Thứu,
Tạo Lư-bồng ngõ hội quần Tiên.
Khương Tử-Nha sông Vị còn phiền,
Câu không ngạnh chờ non phụng gáy.
Thuyền bát-nhã ta cầm tay lái,
Quyết đưa người khỏi bến sông mê.
Nên phải đành mang lốt làm hề,
Mặc bá tánh khen chê cũng phải.
Chí quân-tử lòng nhơn vạn đại,
Dốc làm sao rõ mặt tang bồng.
Nghiên hai vai gánh nặng non sông,
Vớt trăm họ lầm than bể khổ.
Ví như loại sanh cầm hồ thố,
Còn thương nhau lại huống chi người.
Đứa hai lòng sao chẳng hổ ngươi,
Đáng thùa-thẹn với cây cùng cỏ.
Dấu bút tích tuôn bay theo gió,
Học sách chi phỉ báng ông cha.
Thấy dân tình xem giảng ngâm nga,
Lão xót dạ đôi lời trần tố.
Đức Khổng-Thánh người sanh nước Lỗ,
Ngài còn xưng cuồng quyến giả hồ.
Sá chi lời đạo-chích tục thô,
Kẻ ngu xuẩn khi người nhân đức.
Danh hiền-sĩ non sông náo-nức,
Giả như hồi Chiến-Quốc Xuân-Thu.
Thầy Mạnh ra dùng đạo châu du,
Lúc thập bát chư hầu rối loạn.
Bực Thánh-nhơn công lao chẳng chán,
Huống chi ta nào dám than-van.
Thấy đời mê chưa rõ Phật-đàng,

Nên tỏ ý khắp nơi đặng biết.
Coi ai có chứa bầu nhiệt huyết,
Dùng Đạo mầu cứu vớt sanh-linh.
Nếu để chờ sấm nổ vang thinh,
E bá tánh ăn-năn đã muộn.
Giảng với kệ ra đà bốn cuốn,
Ít có người khám rõ cơ huyền.
Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên,
Đức Ngọc-Đế xử phân cho chúng.
Đêm dài-dặn cạn dầu tim lụn,
Chẳng thấy ai tìm kiếm bóng trăng.
Để làm cho mích bụng chị Hằng,
Nơi cung nguyệt chờ trông mõn dạ.
Thiếu chi kẻ đặng chim bẻ ná,
Hiếm bao người được cá quên nơm.
Ưa đồ ngon đút nhét đầy mồm,
Chăng thèm kể cha hiền trông đợi.
Trương-Ban-Xương đành quên nhơn-ngỡi,
Nỡ phụ-phàng vui Tống-Khâm-Tôn.
Xem truyện xưa mà bắt hết hồn,
Gớm cho kẻ thay lòng đổi dạ.
Gã Tần-Cối ít ai còn lạ,

Dụng mưu thần giết thác Nhạc Phi.
Thương trung thần ghét nịnh mặt lỳ,
Dám thiết kế hại tôi lương-đống.
Thuở Hiến-Đế có nhà họ Đổng,
Cũng chuyên quyền muốn tiếm giang-san.
Nhờ Tư-Đồ thiết lập Liên-hoàn,
Nghiệp nhà Hớn mói an một lúc,
Cảnh gian nan như Lưu-Hoàng-Thúc,
Qua ở nhờ Viên-Thiệu dung thân.
Quan-Công Hầu gìn chặt nghĩa ân,
Vượt năm ải về thăm huynh trưởng.
Kẻ nghĩa khí thiên kim vạn lượng,
Lũ nịnh-thần sách-sử nào khen.
Xem tích xưa thẹn với bóng đèn,
Đời lắm kẻ đầu trâu mặt ngựa.
Coi sự sống như Tiên nưa nửa,
Mê mồi thơm như cá lục-châu.
Sao chẳng lo thức tỉnh quày đầu,
Cho khỏi thẹn với người thiên-cổ.
Cấp-cô-Độc là nhà bá hộ,

Còn đành lòng bố thí xả thân.
Chữ vinh-hoa phú-quí chẳng cần,
Miễn hiểu đạo hơn là châu báu.
Chẳng sớm lo chần-chờ sợ Lão,
E sau nầy tâm não đoạn trường.
Lũ gian-hùng mang lấy họa-ương,
Trời đất xử những người bội phản.
Phải chỗi dậy nương dây hùng-tráng.
Chữ đại hùng đại lực từ-bi.
Vậy mới trang quân-tử nam-nhi,
Thân dốc vẹn hai câu ngay thảo.
Đời cũng lắm bao người giá áo,
Nương bả vinh nhiều hạng túi cơm.
Thấy dân ngu trong dạ sẵn hờm,
Quyết kiếm thế đặng toan lừa dối.
Ngọn bút sắt chỉ đường người tối,
Gậy kim-cang đưa chúng lên đàng.
Kíp nương theo trực chỉ Tây-phang,
Đến Cực-lạc tìm nơi an dưỡng.
Dẹp cầy cáo dùng cây thiền-trượng,
Lánh ta bà cõi thế đua chen.
Được vinh-hoa khinh-bỉ kẻ hèn,
Bạn phản bạn như ngươi Bùi-Kiệm.
Trên mặt đất hạng người ấy hiếm,
Thấy Tiên mù xô xuống giữa dòng.
Nhìn Trịnh-Hâm lão bắt mủi lòng,
Than cặn-kẽ kêu dân sớm tỉnh.
Viết ít câu cho đời ngâm vịnh,
Phận tài sơ xin hãy thứ tha.
Yêu nhơn-sanh trổi giọng hùng ca,
Tạm nghiên bút vẽ tranh thế tạo.
Trong bá tánh nhìn xem châu đáo,
Chớ vội vàng chê Lão ngu-si.
Rạch lang tâm những đứa vô nghì,
Nhắc sơ tích người xưa trong sử.
Khuyên bá-tánh vạn-dân gìn-giữ,
Lão chúc cầu thiên-hạ thái-bình.
Đứng trung cang hành thiện truy kinh,
Mong trên dưới cùng nhau thảo-thuận.
Đã thấy lộ cơ trời báo ứng,
Diệt loài gian tầm kiếm con Tiên.

Nợ hồng-trần túc trái tiền khiên,
Ta quyết dẹp cứu nàn dương thế,
Noi chí đức Hoàng Thang luật chế,
Đời không hay những việc xa vời.
Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi,
Lúc hạn nắng từ-bi giúp nón.
Cảnh thế tạo càng ngày thỏn-mỏn,
Giống vi-trùng thường đục phổi tim.
Đến cơn đau phương thuốc phải tìm,
Gặp Biển-Thước, Hoa-Đà lai thế.
Kim với cổ nhìn xem thế-hệ,
Sợ có ngày hoạch tội ư thiên.
Nẻo đục trong cạn tỏ cơ-huyền,
Mực đã cạn lòng yêu chẳng mãn.
Ai coi qua xin đừng bỏ lảng,
Gắng công-trình vạch lá tìm sâu.
Nay dương-trần gặp buổi mưa ngâu,
Phải sớm hứng giọt sương Đông-hạ.
Điên nhơn-nghĩa điên vì Đạo cả,
Thôi chào đời khép cửa buồn duyên.
Có thiện-căn sớm lại cửa thiền,
Câu niệm Phật chờ ngày chung cuộc.

 
Nam-mô Định-Tâm Vương Bồ-Tát Ma-Ha Tát.

     Hòa-Hảo, ngày 10-4 năm Canh-Thìn

                                    

         SA-ĐÉC

(Rằm tháng tư năm Canh-Thìn)

 

Nhìn cuộc thế bộn bề sóng dậy,
Cửa thiền môn còn hỡi khóa then.
Nương xứ xa tạm viết với đèn,
Tỏ tâm sự của người liễu Đạo.
Sách có chữ thâm ân dục báo,
Phận làm người hiếu thảo noi gương.
Ấy chẳng qua là đạo luân thường,
Chớ Phật Thích lìa quê ngàn dặm.
Non tuyết san rú rừng thăm thẳm,
Đem thân phàm tầm đạo siêu sanh.
Đến ngày nay còn rạng lấy danh,

Khắp bốn biển dân lành sùng bái.
Muốn lập Đạo có câu thành bại,
Sự truân chuyên của khách thiền môn.
Khắp sáu châu nức tiếng người đồn,
Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.
Tiếng gọi đời sông mê hãy lánh,
Chạm lợi quyền giàu có cạnh tranh.
Bước gai chông đường đủ sỏi-sành,
Đành tách gót lìa quê hương dã.
Ta cũng chẳng lấy chi buồn-bã,
Bởi sự thường của bực siêu nhơn.
Dầu gian-lao dạ sắt chẳng sờn,
Miễn sanh-chúng thông đường giải-thoát.
Cơn dông-tố mịt-mù bụi cát,
Chẳng nao lòng của đấng từ bi.
Vì Thiên-đình chưa mở hội thi,
Nên Lão phải phiêu-lưu độ chúng.
Kẻ ác đức cho rằng nói túng,
Nó đâu ngờ lòng Lão yêu đương.
Xe rồ xăng vụt chạy bải-bương,
Đến khuất dạng tình thương náo-nức.
Khắp bá-tánh chớ nên bực-tức,
Bởi nạn tai vừa mới vấn-vương.
Chốn liên-đài bát-ngát mùi hương,
Nhờ chỗ ấy mới thi công-đức.
Dạy con cả nào đâu than cực,
Tiếng làm Thầy phải nặng đôi vai.
Việc khó-khăn lắm lúc khôi-hài,
Ấy cũng bởi thày-lay ông Tạo.
Ông nhồi quả cho người hành Đạo,
Lúc nguy-nàn thối chí cùng chăng?
Nếu bền lòng vị quả cao thăng,
Chẳng chặt dạ bỏ lăn Phật-Thánh.
Chốn Phật-đường rán trau đức-hạnh,
Phải bền lòng mới rảnh trần ai.
Chuyện cao siêu Phật-pháp còn dài,
Khó gặp chữ không không mà có.
Lúc trồng rẫy rủi nhiều sâu bọ,
Rồi ngẩn-ngơ bỏ giống hay sao?
Nấu lọc rành mới biết vàng thau,
Ai thật tánh ai người giả đạo.

Tiếng sấm-sét bên tai xốc-xáo,
Cả muôn người ngơ-ngáo hỏi-han.
Nay thân Thầy cũng đặng bình an,
Khuyên bổn-đạo đừng than lắm tiếng.
Tuy xa đường có lời luận-biện,
Bởi bút thần bay luyện khắp nơi.
Ngọc nhờ lau ngọc mới rạng ngời,
Kim mài giũa kim kia mới bén.
Người làm phải như tằm trong kén,
Có muôn tơ bao bọc ấm thân.
Sách có câu “Minh đức tân dân”,
Được thủ trụ huyền khai nhứt khiếu.
Ta còn thương, thương trò liệu-điệu,
Chớ cũng mừng được dịp phổ-thông.
Đắc Đạo rồi cứu vớt Tổ-tông,
Cũng như Phật xuất gia thuở trước.
Các bực Thánh châu lưu nhiều nước,
Nghèo thầy Nhan bầu nước đai cơm.
Tuy cơ-hàn mà được danh thơm,
Hơn phú-quí ngồi ôm bả lợi.
Quá sung-sướng rồi quên đạo ngỡi,
Thì khác chi loại thú rừng săng.
Vật hổ-lang đâu biết đạo hằng,
Chỉ có biết ngủ ăn ăn ngủ.
Khi đói mồi mặt mày sù-sụ,
Chạy quơ quào vật nhỏ đặng ăn.
Đến chết thây đầy lũ ruồi lằn,
Bu nút thịt của loài bạo ác.
Đạo mà biết mùi thơm bát-ngát,
Rứt bụi trần mặn lạt thây ai.
Chữ Nam-mô trì giái giữ chay,
Chay được tánh chay tâm mời quí.
Trong Đạo Phật quá nên huyền-bí,
Chỗ tâm thần tọa vị nơi thân.
Muốn cho nên khuya sớm chuyên cần,
Lòng chí nguyện sở cầu Phật Thánh.
Đuốc thiền lâm phương Đông chói ánh,
Dắt hồn người vượt khỏi sông-mê.
Dầu cho nay xa cách Sở, Tề,
Sau Thầy tớ gặp nhau Phật-cảnh.
Ước trăm họ nhẹ mình có cánh,

Đồng bay về Cựu-Lạc một-đàng.
Thì thân Thầy hết phải gian-nan,
Đâu có chịu mang câu nhạo báng.
Nói thì nói chờ ngày thấp-thoáng,
Dòm êm trời thì cứ ra tay.
Quyết chèo thoàn đến chốn Bồng-Lai,
Mới ngơi nghỉ tấm thân của Lão.
Lúc Tam-Tạng Tây phương quyết đáo,
Bị loài yêu làm bạo lắm phen.
Đức từ-bi phải lộ trắng đen,
Lôi-Âm tự cũng đi đến chốn.
Đi dọc đường yêu tinh làm hỗn,
Thấy Đường-Tăng thơm thịt muốn ăn.
Nhờ môn-đồ Bát-Giái, Sa-Tăng,
Với Đại Thánh Tề-Thiên cứu vớt.
Lòng sáu chữ nhớ không có ngớt,
Thì nạn tai cũng thoát như không.
Khó tìm cho gặp chủ-nhơn-ông,
Còn ẩn ánh nơi vòng sanh-chúng.
Ai mê tâm nghe qua không phủng,
Rán suy tầm đặng mở tánh linh.
Lòng ngộ rồi chẳng đợi nhiều kinh,
Thì cũng thấy bổn lai diện mục.
Lần thứ chót gọi lời kêu thúc,
Thầy nhắc cho bổn-đạo rõ lòng.
Chừng Ơn Trên ban được Lục-Thông,
Thầy mới được Tây, Đông du thuyết.
Thâu cho được con long ác-nghiệt,
Thì khắp nơi mới biết mến yêu.
Chúng-sanh nên tầm quạt ba-tiêu,
Chữa hỏa-diệm nơi tâm cho tắt.
Thì đạo hạnh ngày kia mới đắc,
Chớ chứa hờn đứa dữ ích chi.
Phận tu-hành tai gác mặt lỳ,
Chịu cay đắng của người sang-sớt.
Lòng sầu riêng hãy nên nguôi bớt,
Đừng thở-than bận đến lòng ta.
Để cho Thầy đi dạo ta-bà,
Đặng dạy kẻ đường xa chưa rõ.
Nay rừng bụi có người mở ngõ,
Thì noi theo dấu thỏ đàng dê.

Giục vó cu nhiều nỗi thảm-thê,
Dạy sanh-chúng cho rồi mới rảnh.
Cũng hiếm kẻ nghinh-ngang cường ngạnh,
Ôi! kể sao cho hết thói đời!
Mãi say-sưa theo cuộc vui chơi,
Nên kiếp kiếp đời đời lên xuống.
Suối Tiên thanh đổ ra cuồn-cuộn,
Tràn ruộng lòng gieo giống mới nên.
Kẻ vô tình chẳng có chí bền,
Phải sa ngã theo nơi mộng-ảo.
Giấc mộng vàng đặng truyền đại đạo,
Cảnh vô sanh lòng bạo mà mê.
Mùa nước tràn ngập cả điền đê,
Đến nước hạ đồng khô cỏ cháy.
Cuộc gian-nan năm qua đã thấy,
Luận việc đời cũng khúc lớn ròng.
Khi dậy thì tràn cả bờ sông,
Lúc khô hạn đi đồng khao-khát.
Biết làm sao lên lưng bạch hạc,
Bay cả trời tỏ ý từ-bi.
Khắp thế-gian con thảo phục quì,
Chầu trước bệ cha hiền Ngọc-Đế.
Gẫm vinh-nhục sanh trong thế-hệ,
Tuồng xưa kia sắp đặt đã lâu.
Phải chuyển xây trái đất một bầu,
Đạng lừa-lọc con Tiên cháu Phật.
Gồm một nơi sửa-sang tiêm-tất,
Xử phân người cùng vật thưởng phong.
Cho dương-trần rõ luật Thiên-công,
Có Địa ngục Thiên-đường hay chẳng.
Các chúng-sanh nghe rồi yên-lặng,
Suy cho tường rồi sẽ biện minh.
Cơn vui tai từ tạ Thiên-Đình,
Cho phép Lão tố trần đôi lẽ.
Lời Thầy dạy thật là cặn-kẽ,
Bao nhiêu tình bác-ái góp tom.
Trông bá gia tìm đạo quá mòm,
Thôi giã thế ước-mong đời thạnh.

 
NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
Sa-Đéc, đêm rằm tháng 4 Canh-Thìn

(Đức Thầy viết bài nầy trước mặt một số đông người, trong đó có vài phần tử muốn thử coi,                                           sau khi bị dời khỏi quê-quán Ngài còn đủ tinh-thần chăng).

 

 ĐẾN LÀNG NHƠN-NGHĨA (Cần-Thơ)

 

        Vui mừng gặp chốn hiền lương,
Dốc lòng mở cửa Phật-đường độ dân.
      Làng Nhơn-Nghĩa để chân đến chốn,
      Thấy dương-trần trà-trộn tà tâm.
        Oai Thần đem đạo huyền thâm,
Nhiệm-mầu phổ-độ âm-thầm ai hay.
      Mẹo đã hết, rồng bay vơ-vẩn,
      Khắp hoàn-cầu nghịch lẫn cùng nhau.
        Lê-dân trăm họ xáo-xào,
Rã-rời phụ tử, máu đào nhuộm tuôn.
      Thương quá sức bắt cuồng tâm não,
      Quyết cứu người dùng Đạo phổ thông.
        Ước-mơ cho được đại-đồng,
Tràn-trề khắp cả, Lạc-Hồng thảnh-thơi,
      Nhìn vạn vật cuộc đời ngao-ngán,
      Bởi hoàn-cầu thù oán cứ gây.
        Vẽ hình rồi lại vẽ mây,
Vẽ tranh Thiên tạo Bồng-Lai cảnh tình.
      Lại thêm vẽ phù sanh cõi tạm,
      Dắt hồn người hắc ám khỏi mang.
        Cầu cho cuối xóm cùng làng,
Trẻ già lớn nhỏ Phật-đàng yên thân.

 

THI

 

Luân-thường nặng nợ phải vai mang,
Nhuần gội thừa ân của Phật-đàng.
Cố-gắng tâm trì theo đến chốn,
Một ngày vinh-diệu ắt bằng an.

   *

*   *

Bằng an bốn biển khỏi đua tranh,
Bởi khắp bá gia được chí lành.
Trau sửa tâm phàm tìm cội cũ,
Về nơi Tiên cảnh mới nhàn thanh.

   *

*   *

Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,
Phật cũ này xưa hãy rán tầm.
Nhành lá sum-sê màu đượm vẻ,
Non Thần biến đổi hết rừng lâm.

   *

*   *

Rừng lâm cây đá thấy ngày nay,
Mà ruột năm non có các đài.
Chờ đợi con hiền noi tục cổ,
Tới thời thượng-cổ điểu hòa mai.

   *

*   *

VÕ-võ đêm thanh nức giọng vàng,
Kiểng cây sum MẬU đượm nùi nhang.
Phù dung rã gánh thân yên nhã,
THẠNH thới gia trung gặp chữ nhàn.

   *

*   *

Chữ nhàn vô sự mới nên Tiên,
Bát-nhã từ đây gặp cửa thiền.
Bể giác bờ mê ngày vượt khỏi,
Lánh đời tục lụy rứt tiền khiên.

   *

*   *

Tiền khiên kiếp tạo bởi trần thân,
Đạo diệu giồi-trau lập chí cần.
Luyện tánh, trau tâm cho sạch-sẽ,
Rứt rồi nợ thế khỏi ưu-phiền.

   *

*   *

Ư-phiền thường sự chốn ta-bà,
Phật cảnh mau về ắt lánh xa.
Tỉnh ngộ từ đây người gặp chủ,
Phủi trần tìm kiếm chữ ma-ha.

   *

*   *

Ma-ha mùi ngọt mật cùng đa!
Cảnh thế nhìn xem lũ cáo-xà.
Múa gút nhăn nanh ưa thịt béo,
Nào khờn dạ ái của thiền-gia.

   *

*   *

Thiền-gia chí cả dốc hành thân,
Diệu diệu truyền thi cảm kích thần.
Những tưởng thói đời ôi chát lạt!
Đạo mầu siêu-việt của thiền lâm.

   *

*   *

Thiền lâm Phật Thích thuở xưa kia,
Non tuyết rèn ra bát chánh kìa.
Phổ hóa dân lành trong khắp chúng,
Hoàn-cầu bốn biển khắp danh bia.

 

(Mấy bài tứ cú trên đây Đức Thầy trao cho ông Võ-Mậu-Thạnh ở làng Nhơn-Nghĩa).

 

      Luồng thanh điển nhoáng qua như chớp,
     Chuyển căn tiền nhắc lớp người xưa.
        Phật, Tiên vận chuyển lọc-lừa,
Kiếm con hữu phước mà đưa trở về.
     Ôi! khổ thảm bốn bề sóng dậy,
     Dòm lừng trời lửa cháy liên-miên.
        Tiêu-điều sản-vật điền viên,
Thần-thông biến hóa dưới miền Trung-Ương.
        Ngục môn đầy quỉ vô thường,
Dắt hồn kẻ bạo Diêm-Vương luật trừng.
        Nhìn xa nước mắt rưng rưng,
Thương đời mê muội trầm-luân hoài hoài.
      Tay hạ bút viết bài chung cuộc,
      Ai rõ lòng con cuốc khỏi kêu.
        Thân khùng vận bỉ trớ-trêu,
Phiêu-lưu trôi giạt danh nêu khắp cùng.
      Ai giàu có thung-dung thanh nhã,
      Ta lo đời sắt đá bền gan.
        Âu sầu nức giọng riêng than,
Trách dân chẳng sợ hùm lang cứ gần.

     Nhơn-Nghĩa (Xà No), ngày 29 tháng 4 Canh Thìn

 

Ông NGUYỄN-THANH-TÂN (đến Xà-No thăm Đức Thầy) xướng:

 

Cách mấy tuần dư đã vắng lâu,
Mái tây đứng xủ tóc phai màu.
Tin thơ mới đặng thông lời ngọc,
Ngòi bút khôn dằn ứa hột châu.
Khắc lụn bâng-khuâng nơi cửa Khổng,
Canh tàn thỏ-thẻ chốn thang lầu.
Ngàn trùng nước bích xa xuôi đấy,
Cúi kính lời quê gợi mạch sầu.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Xuống trần dạy-dỗ cũng đà lâu,
Sẵn dịp lìa quê rải Đạo mầu.
Thong-thả trau-tria đời lựa ngọc,
Thảnh-thơi chùi rửa khắp tim châu.
Trung-dung khuyên đó noi gương Khổng,
Hiếu-hạnh dạy con chớ mến lầu.
Tuyệt đích siêu mầu nơi kệ đấy,
Phàm-nhơn sớm vội gác cơn sầu.

 
Ông NGUYỄN-THANH-TÂN xướng:

 

Đạo-đức bủa ra khắp cõi trần,
Ơn Thầy phổ-hóa nặng ngàn cân.
Ngậm vành mong trả ghi muôn thuở,
Nhả ngọc làm đền nguyện một thân.
Xủ-xếp lũ bàng còn đợi gió,
U-ơ bầy bướm hỡi chờ xuân.
Hội lành rồng gặp cơn mưa móc,
Chi để nho-văn khói lửa Tần.

 
ĐỨC THẦY họa và cho thêm:

 

Thương tưởng người mê Lão xuống trần,
Ngặt vì chưa dẹp lũ Huỳnh-Cân.
Lòng yêu sanh-chúng luân chuyển kiếp,
Dạ ái dương-trần đổi sắc thân.
Lèo-lái sẵn rồi còn ngược gió,
Cánh trương chưa gặp cuộc phù-vân.
Sang hè con cuốc sầu mưa móc,
Đoái thấy đời nay học thói Tần. 

   *

*   *

Vạn lý trường thành khí khẩu chương,
Thanh phong tiết-hạnh dĩ luân-thường.
Dị nhân tái thế từ-bi thuyết,
Đào tị long xà thoát họa ương.

   *

*   *

Dặn lòng lục tự mựa đừng sai,
Qua bể về quê ngõ chuốc hài.
Tiên-cảnh kìa kìa gần lộ vẻ,
Chờ người hữu phước đến liên-đài.

   *

*   *

Tỏ lời thăm viếng khắp đâu đâu,
Bổn-đạo từ nay gác mộng sầu.
Vọng bái Thánh Thần đền lộc cả,
Trọng quyền chỉ bảo khắp đâu đâu.

   *

*   *

Đâu đâu cũng mến tới mà tu,
Ngàn dậm xa-xuôi biệt tít mù.
Công-cán thăm Thầy không nại khổ,
Việc đời lắm kẻ quá là ngu.

   *

*   *

Lập thân hành đạo phải truân chuyên,
Cứu thế Thầy đâu mến bạc tiền.
Dặn lòng con hãy bền gan dạ,
Sẵn dịp dân lành rõ Phật Tiên.

   *

*   *

Phật Tiên thương hết cả nhơn-sanh,
Tu tỉnh trì tâm đạo rán hành.
Chớ lấy sự sầu gieo não trí,
Để Thầy an ổn dẫn quần sanh.

   *

*   *

Thâm hiểu lòng ta nỗi cuộc đời,
Một bầu nhiệt huyết chẳng xe lơi.
Mến yêu quốc thủy tình đồng chủng,
Phải tính cho xong nỗi cuộc đời.

    Xà-No, tháng 6 năm Canh-Thìn

 

Cho ông Chín Diệm
tức NGUYỄN KỲ-TRÂN ở làng Định-Yên (Long-xuyên)

 

Đường xa ngàn dặm cụ sang thăm,
Nghe Đạo huyền-vi cảm-kích thầm.
Cố tưởng ước mơ đời thạnh-trị,
Gạn tầm hoài-vọng điệu xa-xăm.
Nòi giống Lạc-Hồng nay nẩy-nở,
Nam bang vui thú buổi đồng tâm.
Ông ơi, hãy rán tìn chơn-lý,
Khác thể Thần Tiên thấm nhạc âm.

   *

*   *

Nhạc âm Châu-Võ cuộc Phong-Thần,
Tảo Bắc chinh Nam ái nước dân.
Treo sợi xích thằng chờ vận đến,
Cột dây ngọc-đái đợi người ân,
Thiên-công lắc-lẻo sao lâu quá,
Địa-phủ trớ-trêu lấp mắt trần.
Tông-Tổ mở-mang nhờ đức cả,
Giống dòng no ấm bớt trần thân.

   *

*   *

Đường xa diệu vợi cảm tình ông,
Vậy mới nở-nang giống Lạc-Hồng.
Noi chí Thánh-Hiền tìm cội cũ,
Theo gương Phật-Tổ thấy non sông.
Hồ thiên ngọc ẩn chờ qui kiểng,
Trì địa kim sơn đến cõi Bồng.
Hãy rán sưu tầm cho rạch lý,
Một ngày hòa hiệp hết còn mong.

   *

*   *

Còn mong cho gặp hội Mây Rồng,
Sắp đến bước đường lắm nẻo chông.
Quân tử tùy thời hơi sút bước,
Tiểu nhơn ỷ sức mạnh pha xông.
Khốn thay dân sự người cao thấp,
Đau đớn thân hèn kẻ tiếc công.
Dạ luống ai hoài than-thở chút,
Lòng lo dương-thế bắt cuồng ngông.

   *

*   *

Cuồng ngông cửa Phật quá thêm nồng,
Thấy chúng đời nầy những ước mong.
Trời định nhơn tâm qui nhứt thống,
Đất xoay vật dụng một nền không.
Diệu thâm bát-chánh lời truyền giáo,
Xa thẳm tứ-đề tiếng giục ông.
Bớ hỡi Lạc-Hồng mau lượng xét,
Để chừng phong võ hết chờ trông.

   Xà-No, năm Canh-Thìn

                                     

BÁC ÁI ĐẠI ĐỒNG

 

Nhơn-dân bá-tánh cũng con lành,
Thầy dạy cho đều khắp chúng-sanh.
May-mắn vận thời đưa đến chốn,
Tiền-khiên dẹp gác kiếm con lành.

   *

*   *

Nhắn cùng bổn-đạo khắp đâu đâu,
Vạn vật từ nay luống thảm sầu.
Áo-não thương đời đa đói khổ,
U-buồn trăm họ vẽ vài câu.

     Xà-No, tháng 4 năm Canh-Thìn

 

NHẮN NHỦ CÙNG AI

 

Nhắn nhủ cùng ai một ít lời,
Nhờ ơn đưa đẩy tới nhiều nơi.(1)
Ghét vơ sĩ khó trau lời hạnh,
Hạnh phúc hiền lương tiếng nức trời.

   *

*   *

(1) Nhà chức-trách dời Đức Thầy từ Hòa-Hảo đến Sa-Đéc rồi qua Nhơn-Nghĩa (Cần-Thơ)

 

Nức trời cảm động cảnh trầm-luân,
Đừng để tim gan lửa nó lừng.

Hỏa-diệm mảng chờ cây quạt phép,
Tâm trần siêu-việt kiến thời hưng.

   *

*   *

Thời hưng Trời Đất tảo trừng gian,
Ủa, ủa thì ra rất muộn-màng.

Vui thẩm Tiên Bồng nơi thỏa hiệp,
Hoàn-cầu sanh-chúng khỏi lầm than.

     Xà-No, tháng tư năm Canh-Thìn

 

GIẤY VÀNG

 

Giấy vàng nay đã giá cao thăng,
Bìa trắng lại chê vội bỏ lăn.
Thương thảm chúng quăng nằm kẹt hóc,
Chủ nhà quét tước lượm lăng-xăng.

Xà-No, tháng tư năm Canh-Thìn

 

(Thấy quý ông Năm Hiệu, Năm Chơn, biện Hùm xé giấy vàng mà bỏ bìa trắng nên Đức Thầy tức cảnh làm bài thơ trên đây. Trước khi làm thơ, Ngài cười nói rằng: "Trắng hay vàng uống cũng được. Giấy mắc lắm, tại sao mấy ông xé bỏ?").

 
Cho HƯƠNG-BỘ THẠNH

 

HƯƠNG đăng thơm nức quá nhẹ nhàng,
BỘ đời còn kẹt nỗi hùm lang.
THẠNH thay thời sự đưa Khùng đến,
Đạo-đức bày ra bủa khắp làng.

   *

*   *

Hương-bộ mang soi bận áo dà,
Đêm ngày tiếp rước khách gần xa.
Nhơn dân bá tánh đều trông thấy,
Hương-bộ mang soi bận áo dà.

   *

*   *

Áo dà Hương-bộ bận mang soi,
Ai có tức cười hãy đến coi.
Dòm riết chú chàng vùng mắc cỡ,
Áo dà Hương-bộ bận mang soi.

   *

*   *

VÕ nghệ ngày xưa của nước nhà,
MẬU truyền nên chẳng kiếm cho ra.
Luyện tập để dành khi đến việc,
THẠNH thời mới được hưởng vinh-hoa.

   *

*   *

Vinh-hoa cũng phải rán công phu,
Tìm kiếm mà coi sấu hóa cù.
Kiếp trước ông cha làm đức cả,
Ngày sau con cháu rán lo tu.

   *

*   *

Võng dù sao chẳng rán mà tu,
Gặp đặng người xưa phước bổ bù.
Bởi trước giữ-gìn nền đạo-đức,
Bảng vàng chói rạng chẳng hề lu.

   *

*   *

HƯƠNG đèn cầu nguyện với ông cha,
BỘ đạo tìm ra nẻo chánh tà.
NHƠN ái giữ nền noi lối cũ,
NGHĨA hòa huynh-đệ phụng tông gia.

   *

*   *

Rày mừng gặp đặng lúc ban ân,
Duyên trước ngày nay mới có phần,
Hãy rán dặn lòng lo trung hiếu,
Đền chừng gặp hội có Tiên, Thần.

   *

*   *

Mùi hương phưởng-phất ghẹo cùng đời,
Công-tử sang giàu tiếp cuộc chơi.
Trải mặt phong-trần tìm món lạ,
Nào dè thâm nhiễm tổn hao hơi.
Bo-bo ngày tối lo nồi ống,
Chặt-chịa hằng đêm đổi tiếng lời.
Những mảng ham vui mang bịnh nghiệt,
Gầy mòn thân thề vội buồn ngơi.

   *

*   *

Chán bịnh hiểm nghèo cậy Phật Tiên,
Tâm thành phù hộ hết nạn ghiền. (1)
Dưỡng thân đạo-đức giồi linh trí,

An thể hiền tu ắt được nguyên.

___________________________________________

(1) Ông Hương-bộ Thạnh trước kia ghiền á-phiện rất nặng,
sau nhờ Đức Thầy dùng huyền diệu làm cho bỏ được bịnh nầy.


Chặt dạ tinh-thần thêm mập khá,
Bền lòng khí-lực tráng nguơn nhiên.
Dẹp mâm, dẹp chiếu cho tiêu tán,
Theo dõi Bồng-Lai lánh cõi thiềng.

     Xà-No, tháng 5 năm Canh-Thìn

 

THÂN GÀ (thơ xưa)

 

Chắt-chiu trong trứng mới nở ra,
Diều đâu bay lại xớt con gà.
Mẹ kêu túc túc xè cánh đuổi.
Chủ nhà tiếc của vỗ tay la.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Nịnh gian hai dạ chuyện sanh ra,
Dòm ngó càng thương hại lũ gà.
Trở mặt dòm trời cao tuốt mịt,
Ức lòng thiếu cánh chớ nên la.

     Xà-No, tháng 5 năm Canh-Thìn

 

VIẾNG ĐÊM

(Bài nầy là của nội-tổ ông Hương-bộ Thạnh)

 

Trắng thời chịu vẻ ngọt là nêm,
Vui dạ chi bằng đọc sách đêm.
Học đủ ba dư trời chẳng phụ,
Đến ngày bẻ đặng quế cùng Thềm.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Tình thương thăm viếng chật như nêm,
Tưởng nhớ lòng ta chớ ở đêm (1).
Nhà nước khác chi người thiếu phụ,
Ôi thôi! chờ vận bước lên thềm.

   *

*   *

Canh trường dạ đoản, kiến canh sơ,
Phổ-hóa nhơn-sanh trực thế thờ.
Sư giả hạ trần nhơn mạt kiếp,
Cấp hồi Nam-Việt tác cuồng thơ.

   *

*   *

Thôn hành thế lữ ái nhi ca,
Cổ thụ huyền thi thiết nhĩ hà.
Đái bích Lư-Bồng thâm tải hận,
Đãi thì Thiên định thiết phong xa.

     Xà-No, ngày 24 tháng 5 năm Canh Thìn

 

ƯỚC VỌNG NGƯỜI HIỀH
(Lúc Đức Thầy ở Rạch So-Đũa (Xà-No) có một nhóm nhân-sĩ đến viếng, Ngài có cho hai bài thơ dưới đây):

 

Cảm tình đồng đạo hiểu tâm không,
Cuồng-sĩ bao giờ cũng ngóng trông.

_______________________________________________

(1) Lúc đó có nhiều anh em bổn-đạo ở Long-Điền (Long-Xuyên) đến tại nhà ông Hương-bộ Thạnh để thăm Đức Thầy và muốn ở lại vài ngày. Đức Thầy làm bài nầy để khuyên anh em về sớm.


Mong ước gặp người tri-kỷ ấy,

Toại thay chí cả khách non Bồng.

   *

*   *

Non Bồng xót chúng xuống trần-gian,
Gặp buổi hoàn-cầu nức tiếng than.
Ước-vọng người hiền như khát nước,
Chóng mau liễu kết dẹp lăng-loàn.

     Xà-No, năm Canh-Thìn

    

"NANG THƠ CẨM TÚ"

 

Trời thanh lặng gió đưa hiu-hắc,
Ngồi thơ phòng thân bắt lạnh lùng.
Gẫm xác trần còn cách cội thung,
Đâu có được giũ mùng quạt gió.
Cơn mừng vui nào ngờ lũ ó,
Vội bay ngang rồi xớt đi luôn.
Chữ ngậm-ngùi lụy ngọc ứa tuôn,
Nào phải giống chim muông điểu-thú.
Lìa quê-hương quên câu nghĩa cũ,
Bởi xác phàm hấp thụ đã lâu.
Cuộc lung-tung rối-rắm trời Âu,
Nên còn ngại bước đường trở gót.
Tiếng riêng than tai nghe thảnh-thót,
Trăm ngàn nhà bổn-đạo ước mơ.
Con lạc cha con hỡi u-ơ,
Thầy xa tớ ngẩn-ngơ thương mến.
Ngóng trông chờ vận-thời đưa đến,
Đặng chung cùng môt tiệc quỳnh-tương.
Cây ngô-đồng hứng vẻ đượm sương,
Cho chim phụng mặc tình sè múa.
Cảnh sum-vầy mây lành bay tủa,
Cả trời Nam lưới bủa thiên-la.
Chữ Thánh Hiền mới được nôm-na,
Ta thỏa chí hô-hào trung nghĩa.
Giống hiền xưa bây giờ mới tỉa,
Dốc chờ ngày bông trổ thơm tho.
Tuy ngày nay chưa được ấm no,
Sau được dựa nơi non nhược thủy.
Đây trưng bày khuyên gìn cang-kỷ,
Đờn những câu tỉ-mỉ rung hồn.
Cho người lành dạ ái bắt nôn,
Cúi đầu trước qui-y Phật-Pháp.
Quản chi thân bị mưa, nắng táp,
Nơi sang giàu ấm-áp mặc ai.
Vẽ cho dân lập chí râu mày,
Phá tan óc tinh-thần nhu-nhược.
Thân nặng-nề như chim ô-thước,
Quyết làm xong cầu đá sông Ngân.
Nên chẳng màng báu ngọc châu trân,
Miễn con thảo nhuần ân Thánh-Đế.
Đứng anh hùng dựng nên thời-thế,
Sá chi loài trùn dế nhỏ-nhen.
Vội đem lòng cượng lý ghét-ghen,
Thêm cùng bớt tiếng kèn lời huyễn.
Chốn âm-ty ngưu đầu, mã diện,
Đang trông ngày tới số bắt hồn.
Cõi âm thần bịnh sái dịch ôn,
Chờ mãn phước ra tay bẻ họng.
Cửa Tiên-bang hãy còn khóa cổng,
Nhà cha xưa cửa đóng then gài.
Con nào hiền thì vẹn thảo ngay,
Đứa ngỗ-nghịch một mai đứt cổ.
Nhìn gương kiếng sao không biết hổ,
Lũ gian thần nào biết Tổ Tông.
Làm âu-sầu một góc trời Đông,
Bị miệng sói thổi lông tìm vít.
Văn cang-thường đem ra bày trích,
Vạch chỉ lời cổ tích người xưa.
Nghĩ vì đâu có cuộc giày bừa,
Cho lăn-lóc những người mới tỉnh.
Phải chi Phật lấy ngay bình tịnh,
Rưới cho trần được tỉnh chút tâm.
Mãi để câu vi diệu thậm thâm,
Cho sanh-chúng rừng lâm khó mở.
Được gió nhẹ ngờ đâu dễ thở,
Bỗng dông luồng âm khí nặng-nề.
Phải ngóng chờ cho phụng gặp kê,
Ấy thời đại Thánh Tiên trổ mặt.
Càng nhìn dân lòng tơ siết chặt,
Đau chi bằng đau khúc đoạn trường.
Ước sao mà thuận gió buồm trương,
Đò bát-nhã rước tôi lương đống.
Ngày vui tươi cũng đà lố bóng,
Cớ sao đời còn mãi say-sưa?
Không tìm Thầy đặng hưởng phước thừa,
Ngày lập Hội tay vin nhành quế.
Trau thân phận rạng danh hiếu đễ,
Thỏa dạ Thầy nơi chồn mây rồng.
Đừng chi lìa Bắc tổ Nam tông,
Chỉ biết giống Lạc-Hồng Thượng-cổ.
Tai nghe chi những câu ái ố,
Lòng từ-bi chớ cố lời gièm.
Đạo hiểu rồi ngon tợ gỏi nem,
Tuy cõi thế lấm-lem trần-tục.
Mây ganh hờn đầy lòng nghi-ngút,
Giữ dạ trong đừng đục mới mầu.
Thân bần tăng mặc bộ sồng nâu,
Cuộc thiên-lý một bầu đều hãn.
Đến kỳ thi danh Thầy chạm bảng,
Trên đài cao gọi các linh hồn.
Nay ngu khờ len-lỏi hương-thôn,
Sau đắc Đạo tiếng đồn bốn biển.
Giảng với sấm ra tài sửa kiểng,
Kệ cùng ca lựa tuyển con lành.
Tuy là Ta không thể sanh thành,
Nhưng thương hết ra tài dạy-dỗ.
Đời phải biết suy kim nghiệm cổ,
Thông cơ-đồ dựng nghiệp Thánh Hiền.
Ta quyết lòng rứt nợ oan-khiên,
Cứu bá-tánh khỏi nơi lao-khổ.
Gà lôi sớm mượn oai tố-hộ,
Có một ngày rớt lốt hổ-hang.
Nhu hiền hòa nhược ắt thắng cang,
Đời cùng đạo bi hoan, ly hiệp.
Tấm lòng thành gian-truân chớ khiếp,
Đức từ-bi tiếp-dẫn linh-hồn.
Nén hương nguyền cầu với Phật-Tôn,
Ban phước-huệ cứu nàn dương-thế.
Nhớ thuở nhỏ nhờ ơn bồng-bế,
Nay được nên vai-vế trưởng thành.
Ngẫm cuộc đời hai chữ trược-thanh,
Thân hành đạo vang danh khắp chốn.
Nhưng ngặt nỗi gặp đời hỗn-độn,
Câu quân-thần, phụ-tử rã-rời.
Khuyên tu hành hao sức tổn hơi,
Chẳng hề mở miệng ra than trách.
Hãy bỏ dứt tánh tình kiêu-cách,
Các con lành khá chọn ngay đường.
Tuy thân Thầy lướt cuộc gió-sương,
Mà thỏa chí tang-bồng hồ-thỉ.
Câu trượng-phu là trang nghĩa-sĩ,
Chữ anh-tài của đấng trung-lương.
Phận tu hành đạm bạc ra tương,
Miễn cầu được an-khương bốn-bể.
Rung chuông lành bằng muôn tiếng kệ,
Gọi hồn người hành thiện truy kinh.
Ra khuyên dân hẹn có sơn minh,
Dìu bá-tánh hứa câu thệ hải
Miễn tâm được hư-vô tồn-tại,
Sống ở trần hối cải tiền phi.
Sống làm sao vẹn chữ tu mi,
Sống vùng-vẫy râu-mày nam tử.
Tự như nhiên oai-phong thiên tứ,
Bút thần-linh mượn mực tay đề.
E dương-trần công việc trễ-bê,
Nên giục-thúc nhơn-sanh cày cấy.
Dụng Bá-Nha lên dây đờn khảy,
Lo cho đời quên vóc ốm gầy.
Ngày hằng mong gặp hội Rồng-mây,
Xanh men-mét cũng thây thịt xác.
Đi tới đâu giúp người khao-khát,
Ngặt giếng sâu khó múc mau đầy.
Trong suốt ngày làm việc lây-quây,
Dùng giấy, mực trưng-bày đạo-đức.
Biết bao giờ gái trai tỉnh thức,
Trẻ cùng già đồng hiểu Phật-gia.
Nương hùng-phong trổi giọng cuồng-ca,
Ca cuộc thế ca câu khuynh-đảo.
Buổi nhập tiệc trải qua tràng pháo,
Khói mịt-mù văng xác đầy đường.
Cuộc đời nay như ngựa buông cương,
Khó dừng lại vó cu lụp-bụp,

Mặt nước biển lô nhô lặn hụp,
Chim đua bay, cá lại tranh mồi.
Ngọn thủy-triều nô nức sụt-sôi,
Bầu trái đất một phen luân-chuyển.
Ta là kẻ tu hành thiển kiến,
Xét thế-trần luận-biện đôi điều.
Chớ đâu nào bày việc trớ-trêu,
Muốn giác-tỉnh người mê trở lại.
Mong sanh-chúng học điều thông-thái,
Rèn tâm lành bác-ái trau-tria.
Hành đạo thiền cấp-cấp sớm khuya,
Lòng thương chúng khuyên-răn đủ thế.
Mà nào khác chợ trưa đồ ế,
Bán rẻ-rề ít kẻ hỏi mua.
Mảng lo theo lối mới tranh-đua,
Lại bỏ ngón se-sua học-thức.
Thân hèn-yếu lại vô năng-lực,
Chẳng tìm nơi thuốc nhiệm sửa gân.
Miệng toàn lời bắt-chước chúa Tần,
Muốn chôn sống anh-tài nhu-sĩ.
Nhưng mắc phải từ-bi lập chí,
Lược cùng thao, thao lược vẹn hai.
Của Thần Tiên đã sắp sẵn bày,
Nhờ ơn mọn giúp thêm chí cả.
Miệng nhích môi đầy văn tao-nhã,
Hạ bút thần thơ đã đề khai.
Khó làm cho Hiền-Thánh lung-lay,
Chỉ tưới nước vun phân cây quí.
Thêm mắc phải tay chàng Nhạc-Nghị,
Cận Thầy xưa định việc an dân.
Tiết trung-lương hiếu-nghĩa rạng ngần,
Ông Bàn-Cử mẹ ghi chạm thịt.
Luận sơ-sơ cho dân rõ tích,
Để chờ ngày hoán võ hô phong.
Ban cho đời thoát chữ cay-nồng,
Nay giục thúc câu quân tu ký.
Ngày nào mà Phật Tiên tọa vị,
Ấy thời lai bình trị muôn dân.
Khắp các nơi chư quốc xưng thần,
Trong bốn biển chúng dân lạc nghiệp.
Theo dõi gót người xưa mới kịp,
Vừng mây lành ngũ sắc hào quang.
Phật, Thánh, Tiên, Đông-Độ lướt sang,
Miền Nam-địa phân chia đẳng-cấp.
Nước cờ mới nay đà khởi sắp,
Trổ tài hay biển lấp non dời.
Dưới cùng trên ảm-đạm khí trời,
Cả thế-giới mưa hòa gió thuận.
Tạo nền móng Thánh-quân đặt vững,
Nơi triều-ca gầy-dựng tôi hiền.
Giờ mắc câu thiên lý vị nhiên,
Nên còn đãi thiên oai nấy lịnh.
Tỏ tình đời ít câu cung thỉnh,
Mong khán-quan vào cửa xem tuồng.
Cỏ cùng cây điểu-thú chim-muông,
Nhơn với vật huờn lai bổn-tánh.
Đó mới biết ai là Phật Thánh,
Ai thảo-hiền ai lỗi đạo nhà.
Đồng hát câu phụ-tử khải-ca,
Chúc trăm họ muôn nhà thạnh-thới.

 

      NGÂM

 
Bồ-đào rượu thánh trà tiên,
Muôn năm cọng lạc chúa hiền tôi trung.
     Nhơn-Nghĩa, ngày 29-5 Canh-Thìn

 

Hỏi HẰNG-NGA: (Cổ-thi)

 

Ớ ớ Hằng-Nga dám hỏi đon,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Ba mươi mồng một đi đâu vắng?
Nay về hỏi đặng mấy thằng con?

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Cõi thế nhìn ta gọi tiếng đon,
Phàm nhơn chẳng rõ nói eo tròn?
Hoàn-cầu luân chuyển nên mờ mắt,

Tháng cuối rồi qua cũng một con.

     Nhơn-Nghĩa, ngày 14 tháng 6 dl. 1940 (Canh-Thìn)

 

Hỏi HẰNG-NGA: (Cổ thi)

 

Ớ ớ Hằng-Nga dám hỏi đon,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Đông qua Dương-cốc bao nhiêu dặm?
Tây đến U-đô cách mấy hòn?
Uống thuốc trường-sanh đà mấy lượng?
Lấy chồng Hậu-Nghệ bấy nhiêu con?
Ba mươi mùng một đi đâu vắng?
Hay có tư tình với nước non?

 

ĐỨC THẦY họa:

 
Bởi tại vì ai có tiếng đon,

Luân luân chuyển chuyển mãi eo tròn.
Nam-thiền quê cũ mù xa dặm,
Bắc-lý nhà xưa mịt núi hòn.
Tiên trưởng đơn hay dầu ức lượng,
Phật Thần dược giỏi gắng tìm con.
Thương đời phi pháp tuy nhà vắng,
Những để đền bù với nước non.

 

Vịnh HẰNG-NGA: (Cổ-thi)

 

Khen ai cắc cớ bám trời tây,
Tỉnh giấc Hằng-Nga khéo vẽ mày.
Một phiến linh-đinh trôi mặt biển,
Nửa vừng lửng-đửng dán trên mây.
Cá ngờ câu thả tơi-bời lội,
Chim tưởng cung trương sập-sận bay.
Nên một nên hai còn bé tuổi,
Mười lăm mười bảy bốn phương hay.

 

ĐỨC THẦY họa:

 

Mây hồng năm sắc ở phương tây,
Sáng-suốt ô kim bởi vẹn mày.
Miệng nhỏ tiếng to vang bốn biển,
Lưỡi mềm lời lớn dậy Rồng Mây.
Lòng trong Thánh kệ tình bơi lội,
Dạ sạch Phật kinh ý luyện bay.
Dầu cho thân mỗ thanh xuân tuổi,
Thức giấc đời mê phải được hay.

        Nhơn Nghĩa, ngày 14-6 Canh Thìn

BẠC LIÊU

 

Diệu-vợi đàng xa đến Bạc-Liêu,
Thiền-môn vẹn-vẽ quá tiêu-điều.
Bồng-lai tại thế non dường sánh,
Đẹp-đẽ cho ta trổi nhạc thiều.

   *

*   *

Bổn-đạo trông chừng chữ Bạc-Liêu,
Cớ sao giành muốn cấm lời diêu.
Lưng-chưng bèo giạt thân hành đạo,
Bị lũ a-dua cá út thiều.

   *

*   *

Lá phép xin về tỉnh Bạc-Liêu,
Ngụ nơi gia-trạch Hội-đồng Điều.
Lòng trông Chánh-phủ cho hay chẳng,
Khó dễ làm gì việc bấy nhiêu?
       Nhơn-Nghĩa (Xà-No), lối tháng 6 năm Canh-Thìn

 

     "Từ giã làng NHƠN-NGHĨA"

 

        Kể từ mười tám tháng tư,
Canh-Thìn lưu chữ thiện-từ tới đây.
        Cho làng Nhơn-Nghĩa biết Thầy,
Đem truyền mối đạo thang mây chỉ chừng.
        Nay vì thời vận chuyển luân,
Ở trong cõi tạm đã từng đổi thay.
        Cầu cho già trẻ gái trai,
Rủ nhau niệm Phật liên-đài ắt lên.
        Thế-gian ngay thảo đáp đền,
Ngày sau sẽ được chăn mền thơm-tho.
        Tục kêu là rạch Xà-No,
Vàm kinh ông Bổn eo-co khúc đường.
        Ngày Thầy lìa cách quê-hương,
Về đây nương ngụ bởi thương dân lành.
        Phủi trần xóa bỏ lợi danh,
Quyết lòng lánh trược tầm thanh mai chiều.
        Thuở xưa thời buổi Thuấn-Nghiêu,
Thái-bình thạnh-trị mến yêu khắn tình.
        Chớ đâu đồ-thán sanh-linh,
Bởi nay lỗi đạo kệ kinh ngạo cười.
        Lo cho mình được đẹp tươi,
Phụ-phàng nghĩa cả lại cười Phật Tiên.
        Luật Trời báo ứng nhãn tiền,
Khắp trong thiên-hạ đảo huyền từ nay.
        Ra đi để lại một bài,
Cho trong bổn-đạo hôm mai rèn lòng.
        Băng chừng tách dặm xa trông,
Dân-sanh gặp trận trời long hầu kề.
        Tới lui bùa thuốc bộn-bề,
Chơn dời khỏi cửa ra về phủi ơn.
        Thấy đời tu dối khuyên lơn,
Từ đây sửa lại gặp cơn thái-bình.
        Phật Trời đâu dụng phép linh,
Chỉ dùng đạo-đức mặc tình ghét ưa.
        Nghinh-ngang làm thiếu lấy thừa,
Mẹ cha chẳng kể dối lừa ngỗ-ngang.
        Ngày nay mới đến Phật-đàng,
Niệm một tiếng Phật đòi an bịnh liền.
        Chậm lành chê Phật ngạo Tiên,
Rồi sau tội nghiệp liên-miên tới mình.
        Dương-trần phú trọng bần khinh,
Mãng lo bươi móc cầu vinh thân phàm.
        Biết sao đầy được túi tham,
Không ngăn không đáy càng làm không kiêng.
        Mỉa-mai đến kẻ tu hiền,
Làm cho thỏa chí mới yên giấc nồng.
        Gẫm đời bụng dạ gai chông,
Nên còn khổ sở trời đông túng nghèo.
        Nhìn dân ruột thắt gan teo,
Rán tầm gậy cũ mà leo qua bờ.
        Nếu không, gặp cảnh bơ-vơ,
Thuyền ghe chẳng có bến bờ cũng không.
        Một mai thấy được non Bồng,
Cảnh Tiên rực-rỡ mây rồng đẹp thay.
        Lại thêm thấy chốn Phật-đài,
Không già không bịnh chẳng ngày nào lo.
        Bây giờ Lão lại thúc đò,
Đưa qua bến giác dông to tới nhà.
        Vậy mà còn ghét kệ ca,
Không gây tình cảm để Già nhọc khuyên.
        Thương đời ta phải truân-chuyên,
Bạc-Liêu xứ ấy ta liền đến nơi.
        Giã từ bổn-đạo ít lời,
Gìn câu nguyện vái chớ lơi nghĩa Thầy.
        Bớt lòng thương nhớ từ đây,
Chẳng nên bịn-rịn để Thầy an tâm.
        Nhớ lời dạy dỗ ca ngâm,
Di-Đà sáu chữ trì tâm chớ sờn.
        Cuộc trần Thầy tỏ thiệt hơn,
Mấy người bê-trễ chậm chơn tới Thầy.
        Nghe theo lời chỉ sau đây,
Lãnh bài cầu nguyện về rày mà tu.
        Dạy dân đầu tóc rối bù,
Mà trong bá-tánh hềm-thù chi ta.
        Trễ chơn Thầy mắc đi xa,
Hỏi thăm Hương-bộ vậy mà cách tu.
        Trăng còn khi tỏ khi lu,
Cho nên phận Lão viễn du đổi dời.
        Càng đi càng biết nhiều nơi,
Càng đem chơn-lý tuyệt-vời phổ thông.
        Người Khùng trí lại cuồng-ngông,
Cớ sao thế-cuộc lảu thông cũng kỳ,
        Xả thân tầm Đạo vô-vi,
Nhiệm-mầu thâm-diệu nan-tri Lão bày.
        Cầm hương chắp lại hai tay,
Đưa lên trên trán nguyện bài qui y.
        Nguyện rồi xá xuống tức thì,
Cắm hương rồi cũng đứng thì thẳng ngay.
        Đọc qua lời nguyện một bài,
Lạy luôn bốn lạy tạ rày tông-gia.
        Bàn tay lật ngửa vậy mà,
Chớ đừng lật sấp vì Thầy tái sanh.
        Đi xa thì phải dặn rành,
Bàn thông-thiên cũng thiệt hành như y.
        Bốn phương đều đọc vậy thì,
Cúi đầu bái tạ từ-bi Phật Trời.
        Sớm chiều bình-đẳng chớ lơi,
Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai.
        Có đau xem thuốc ba bài,
Tâm thành cầu nguyện ắt nay bịnh lành.
        Giấy vàng xé nhỏ đành rành,
Để trên bàn Phật chí thành uống ngay.
        Thánh Thần phưởng-phất hồn bay,
Ở đâu cũng đến độ rày chúng-sanh.
        Con rồng mới nửa gút nanh,
Mà trong bá-tánh thất thanh hãi-hùng.
        Chừng nào Thầy lại gia trung,
Thì trong bổn-đạo bóng tùng phủ che.
        Trách dân còn tiếc lụa the,
Chẳng làm phước-thiện họa e đến mình.
        Hết nhục rồi lại đến vinh,
Nghe không thì cũng mặc tình thế-gian.
        Để cho dân-sự luận bàn,
Nếu tu thì phải chọn vàng lừa thau.
        Cá to mà phải ở ao,
Muốn ra biển rộng phải nhào kiếm sông.
        Một mai dạo được Tây, Đông.
Khắp trong thế-giái thỏa lòng ước-mơ.
        Nuôi tằm ắt được nên tơ,
Nếu ta làm phải phước hờ bên lưng.
        Núi non rừng thẳm cũng từng.
Bây giờ phiêu lạc ta mừng khắp nơi.
        Cho dân đều hiểu cuộc đời,
Thiên-cơ để dạ Lão thời yên thân.
        Đại-đồng chuông Đạo bon ngân,
Cho người say ngủ tỉnh lần giấc mê.
        Biết lo sửa kiểng trồng huê,
Thơm-tho gia-trụ danh đề Tổ-Tông.
        Bấy lâu lòng những ước-mong,
Cha con hội hiệp thì lòng mới nguôi.
        Từ nay ai có tới lui,
Cúi đầu bái Phật lòng vui tu hành.
        Xin đừng đeo-đắm lợi-danh,
Bỏ trôi đạo-đức hư danh dạy truyền.
        Mai sau được gặp cõi Tiên,
Phỉ tình nguyện ước khỏi phiền lòng ta.
        Vài lời để lại khuyến ca,
Truy phong tách gót đường xa xứ người.
        Trò buồn Thầy lại tức cười,
Đâu đâu bá tánh cũng người Trời sanh.
        Gần xa Thầy chỉ đành-rành,
Quyết tuyển con lành đem lại Phật-gia.
        Cáo từ làng xóm trẻ già,
Chúc cầu lạc nghiệp nhà nhà ấm no.
     Nhơn-Nghĩa (Xà-No), ngày rằm tháng 6 Canh-Thìn

NGAO-NGÁN TÌNH ĐỜI

 

Ngao-ngán tình đời gẫm cuộc âu,
Đông, Tây, Nam, Bắc cũng chung bầu.
Vì sao thế sự người sang cả,
Phân biệt tước quờn áo rẽ bâu.

   *

*   *

Rẽ bâu dầu có, có mà chi,
Những mảng say sưa mặt cố lỳ.
Múa mỏ khua môi tài biệt thự,
Giống nòi Nam-Việt mãi chia ly.

     Xà-No, năm Canh-Thìn

                                    

AI NGƯỜI TRI KỶ

 

Nghĩ việc đời xưa gẫm việc nay,
Ai người tri kỷ ai là ai?
Tái sanh chọn lựa trang hiền thảo,
Thức tình tâm trung sẽ vẹn mày.

   *

*   *

Vẹn mày mới đẹp, đẹp Tiên-gia,
Tông-Tổ thơm-tho phước hải hà.
Tịch mịch huyền sâu ai hiểu đặng,
Ắt là thấu tích sĩ cuồng ca.

   *

*   *

Cuồng ca nẻo Đạo chốn huyền thâm,
Nghĩ việc xa xa ruột tím bầm.
Đau-đớn cho đời ôi thảm họa,
Mạch sầu có miệng lại dường câm.

   *

*   *

Dường câm khó nói, nói còn e,
Thiện tín thờ-ơ nỗi rụt-rè.
Tiếng động bên tường nghe vẳng vẳng.
Sức hèn như chấu chống ngàn xe.

   *

*   *

Ngàn xe muốn nghiến chấu còn bay,
Nước túng tìm phương chống kẻ tài.
Rốt cuộc tương-lai do quyết định,
Phương trời xa thẳm nắm quyền oai.

   *

*   *

Quyền oai thế-hệ cực ta mang,
Luân chuyển nhơn-sanh lắm cuộc nàn.
Ai hỡi dân lành ta sẽ đợi,
Đạo người sửa trọn dứt lầm than.

   *

*   *

Lầm than khói lửa với binh đao,
Âu á lung-tung nhuộm máu đào.
Bá tanh say sưa mùi phú-quí,
Sau nầy sẽ vướng cảnh đồ lao.

   *

*   *

Đồ lao muốn lánh sớm nghe ta,
Bố thí trì chay giữ giới mà.
Phật Đạo trau dồi tâm tánh lại,
Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.

   *

*   *

Can qua dân chúng chớ buồn lo,
Tích đức chờ ta chốn hẹn-hò.
Tiên cảnh Phật đài xem rực-rỡ,
Hoàn-cầu đến đó ấm cùng no.

   *

*   *

Cùng no bốn biển một cha thôi,
Bỏ dứt thói hư với tật tồi.
Trên có Phật Trời soi việc thế,
Dưới đầy cơm áo Lão về ngôi.
     Nhà thương Chợ-quán, đêm 18-7 Canh-Thìn (1940)

                                     

SẮP MÀN CẢNH TRÍ

 

Cảm bấy lòng ta nổi thẹn thuồng,
Sắp màn cảnh trí chửa nên khuôn.
Chúng-sanh lỡ bước ngơ bờ bến,
Nhơn-loại tầm đường ngán bụi truông.
Tạo hóa khiến đời mang sống khổ,
Đất trời xui đạo bị dông luồng.
U hoài tưởng lại thân lưu lạc,
Rừng thẳm khát-khao kiếm suối nguồn.

        Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn

 

 HIẾN THÂN SÃI KHÓ

 

Bá nhựt thân nầy chịu nạn tai,
Cầu xin Phật-Tổ vẽ tuồng hay.
Giúp cho Sãi khó qua bờ giác,
Trừ lũ yêu ma khuấy chọc Ngài.

   *

*   *

Nhưng Ngài biến hóa ở Tây-Phương,
Còn Sãi dấn thân cảnh đoạn trường.
Nam-Hải Quan-Âm bình nước tịnh,
Rưới giùm bá tánh bớt tai ương.

   *

*   *

Phận tớ xác phàm tớ sẽ dưng,

Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.
Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,
Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn-hưng.

       Nhà thương Chợ-quán, năm Canh-Thìn

                                  

               BÓNG HỒNG

 

        Bóng hồng vừa mới thoáng qua,
Nhơn-sanh tỉnh giấc tìm nhà Thánh Tiên.
      Thánh chúa phán ra miền Nam-địa,
      Mặc cho đời mai-mỉa cười chê.
        Nhìn dân châu lụy ủ-ê,
Biết sao trút hết gánh về ta mang.
      Mang cho hết tai nàn thế-giới,
      Kẻ tâm lành bớt đợi chờ trông.
        Cốt xưa thiệt giống Lạc-Hồng,
Trên hòa dưới thuận một lòng mến yêu.
      Nay hiếm kẻ ỷ nhiều tiền của,
      Vội làm trò hát múa lăng-xăng.
        Xâu nhau đặng có tranh ăn,
Cùng là giành mặc cho bằng ngoại-bang.
      Người sao lại bỉ-bàng tôm cá.
      Thức ăn thừa khiếp nỗi ném quăng.
        Kẻ nghèo lo chạy ngày hằng.
Lại không đủ bữa rối nhăn đời người.
      Xem thế sự biếng cười biếng khóc,
      Chẳng rung-rinh quèo móc chi ta.
        Cười là cười thói ranh ma,
Khóc là khóc kẻ chưa ta dỗ-dành.
      Cơn lỡ-vở buồn tanh chuyện quái,
      Tim non đời kinh hãi bao phen.
        Từ xưa ông cống xù quèn,
Ngày nay ông bịnh ông ghen việc nhà.
      Bởi mắc việc đi xa đánh chén,
      Bà ở nhà sẽ lén cải trang.
        Sét tin ruột nọ bàng-hoàng.
Gượng say làm tỉnh rỗi nhàn cụng ly.
      Thấy hiếm kẻ vô nghì lạc Đạo,
      Đua một lòng làm bạo làm xằng.
        Ai mà xét đến ăn-năn,
Quày đầu hướng thiện bần tăng dắt giùm.

 

"BÓNG HỒNG"
(Tiếp theo bài trước)

 

      Mắt thấy đứa vô nghì phát giận,
      Ngặt nỗi mình còn bận pháp-thân.
        Chờ con đầy-đủ nghĩa-nhân,
Ra tay tế-độ dắt lần về ngôi.
        Có ngày mở rộng qui-khôi,
Non thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.
        Huyền cơ máy tạo xoay vần,
Đồng về Phật-cảnh mười phần xinh tươi.
        Thánh Tiên vừa nhích miệng cười,
Chúc mừng trần-thế có người chơn tu.
        Ngày nay vừa lúc trăng thu,
Tiết trời ảm đạm mịt-mù gió mây.
        Mưa phùn lác-đác đượm bay,
Canh tràng thơ-thẩn thân Thầy bơ-vơ.
        Truân-chuyên Tạo-hóa thờ-ơ,
Đưa người lương-thiện lỡ bờ xa quê.
        Ru con buồn ngủ chưa mê,
Tằm đòi lên kén sợ dê phá chuồng.

        Nực cười cho lũ sói muông.
Đem điều cay nghiệt phá tuồng Thuấn-Nghiêu.
        Đến sau phách lạc hồn xiêu,
Rã-rời thân thể mang nhiều họa-ương.
        Ai ôi! hãy ngắm cho tường,
Nhìn ông tận mặt hùng cường làm chi?
   (Viết tại nhà thương Chơ-quán, ngày 25-8 Canh-Thìn)

 

PHÒNG VẮNG ĐÊM KHUYA

 

Vận thời luân chuyển đưa ta tới,
Tới chốn nhà thương dưỡng bịnh điên.
Lắc-lẻo Hóa-công bày tấn kịch,
Chia xa bổn-đạo xuất mộng phiền. 

   *

*   *

Phòng vắng đêm khuya lặng tiếng người,
Tâm thần phưởng-phất cảnh vui tươi.
Ươc-mơ thế giới lân Hòa-Hảo,
Nhà Phật con Tiên hé miệng cười.

   *

*   *

Lạnh-lùng mây bạc bị luồng dông,
Cũng bởi quá yêu giống Lạc-Hồng.
Cay đắng siểm gièm thân Lão chịu,
Miễn đời thạnh trị hết cuồng ngông.

   *

*   *

Ta bước, bước đường gặp nẻo chông,
Mà không nản chí với nao lòng.
Dắt-dìu nhơn-loại câu huyền-bí,
Bửa đức dạy đời rạng Á-đông.
     Nhà thương Chợ-quán, đêm 25-8 Canh-Thìn

    

GỞI VỀ CHO BỔN-ĐẠO

 

Tiếp đặng lời thăm viếng, ngỏ lời cám ơn chung hết thiện-nam tín-nữ trẻ già, cầu chúc cho tất cả được sáng-suốt và hăng-hái bước vững trên đường Đạo-hạnh thanh-cao của Phật-pháp.

Ở trên nầy lúc nào Thầy cũng vui-vẻ, rất sung-sướng mà làm hết phận-sự của đạo-đức.

Chốn nầy là nơi để cho Thầy tỏ dấu cho hầu hết nhơn-sanh biết rằng chấn-hưng Phật-giáo thì phải chịu những sự tang thương biến cải và khuyên tín-đồ chớ buồn lòng lo-lắng, vì Ơn trên định vậy thôi. Rồi ít lâu có ngày sum-hiệp chớ chẳng hề chi cả.

Về kinh giảng, tốt hơn kỹ-lưỡng chẳng nên phát lúc nầy.

Về thuốc men cũng tùy theo tâm Đạo mà chỉ vẽ thôi. Thời-kỳ nghiêm trọng, chẳng nên làm theo ý cầu xin của người, tạm ngưng việc đó rồi sẽ cho.

Bấy nhiêu lời cho nam-nữ mừng lòng, không cần chi phí phú dông-dài. Ý Thầy tốt hơn giữ lấy bề trong, còn bề ngoài thì để cho Thầy yên tịnh thì sẽ có nhiều điều may-mắn đưa đến.

 

        Dầu cho xoay chuyển đất trời,
Lòng ta chỉ dốc độ đời mà thôi.
        Cội lành mong đặng đâm chồi,
Chặt gìn Phật-Đạo đền bồi ơn xưa.
        Đừng thù kẻ nghịch thêm thừa,
Mở lòng hà-hải lọc-lừa đàng ngay.
        Thế-gian hiếm kẻ Thánh tài,
Ra đời phải chịu ít ngày gian-nan.
        Cổ kim nghiệm biết đừng than,
Để cho Trời Phật lo toan việc nầy.

     Nhà thương Chợ-quán, ngày 25-9 Canh-Thìn

 

NGHĨ NHỮNG NGÀY QUA

 

Bây giờ ngồi nghĩ những ngày qua,
Lòng tớ lạ không, chẳng nhớ nhà.
Nhớ cả vạn dân trong bốn biển,
Gặp hồi trụy lạc Đạo càng xa.

   *

*   *

Mộng hồn trong bóng vẩn-vơ bay,
Sương tỏa trắng trong chói rạng đài.
Bóng xế tà-tà về núi ngủ,
Trông chừng ông Tạo vẽ tuồng hay.

   *

*   *

Ông hỡi khách chờ khách sẽ xem,
Cảnh cũ ôi thôi quá cũ mèm!
Vùng-vẫy đỡ nưng cơn sấm chớp,
Vinh-hoa phú-quí chẳng mơ thèm.

   *

*   *

Phút chốc vui mừng cuộc trí tri,

Cùng nhau hiệp mặt hết sầu bi.

Tình yêu nhơn loại càng thêm đậm,

Có lẽ chơn nhơn lúc thạnh thì.

   *

*   *

Xúc-động tâm hoài gọi chúng-sanh,
Thoát ly cảnh tuc sớm tu hành.
Giác thuyền đến bến đưa người thế,
Chớ đắm hồng trần nẻo lợi danh.

     Nhà thương Chợ-Quán, năm Canh-Thìn

 

KHÔNG BUỒN NGỦ

 

Đêm nay lại sao ta không buồn ngủ?
Đi, đứng, nằm, ủ-rũ nỗi niềm xa.
Hình như say chén rượu quá khề-khà,
Nhớ những kẻ bê tha trong ảo mộng.
Đường danh-lợi đua chen mùi ong-ỏng,
Đâu có màng tiếng vọng của người tu.
Cảnh thế-gian dường thể chốn ao tù,
Trong biển khổ mấy ai mà thoát đặng.
Nơi cửa Thánh, ôi! người càng quạnh vắng,
Chốn nhà ma chen-chúc quá thêm đông.
Biết làm sao gieo Đạo khắp đại đồng,
Đưa nhơn-loại đi vào vòng hạnh-phúc.
Thương trăm họ ruột tơ thêm vò khúc.
Để trí suy giục-thúc cả muôn dân.
Bỗng hay đâu nghi-ngút khói vua Tần,
Tăng-sĩ phải gắng vùi mơi hắc ám.
Nào ai biết tâm ta đời bác lãm,
Kiếp người dường chùm gởi bám vào cây.
Ở thế-gian ai rõ kẻ chơn Thầy,
Dắt sanh-chúng lìa nơi sông mê khổ.
Cõi trần-thế biết bao điều ái ố,
Hơn cùng thua nhắm mắt cũng ra ma.

 

Chi cho bằng:

 

Lúc sống sanh tìm lấy cuộc nhơn hòa,
Chữ thuận thảo hay hơn là tranh-đấu.
Thuở ít tuổi ấy là thời thơ ấu,
Ơn mẹ cha dạy-dỗ lúc nâng-niu.
Lớn lên rồi cần giữ lấy qui điều,
Của Phật-Thánh dạy người trung lẫn hiếu.
Con nghịch phản đều mang câu đàm tiếu,
Giữ sao tròn đạo nghĩa mới khôn ngoan.
Lòng sắt son dám sánh nỗi ngàn vàng,
Khó mua chuộc những người đầy liêm-sỉ.
Đường xa mới rõ biết tài ngựa ký,
Lúc nguy nàn tường tận kẻ vô lương.
Phụ ông cha làm lắm thói bạo cường,
Giành ăn uống ganh em cùng ghét cháu.
Trời sanh muỗi là loài thường hút máu,
Cũng lắm người mượn kế ấy dung thân.
Nên thuở xưa Trời sắp cuộc Phong-Thần,
Diệt kẻ quấy lọc-lừa dân lương-thiện.
Mong Tạo-hóa sắp xong tuồng cổ-điển,
Đặng nhơn-sanh kiến cảnh thái bình hòa.
Ngỏ lời khuyên nhơn-loại khắp gần xa,
Rán tu tỉnh hưởng đời chung cực-lạc.
Trên cửa Phật mùi hương thơm bát ngát,
Dưới quân thần phụ tử khải hoàn ca.
Ấy là xong bốn biển hiệp một nhà,
Không ganh-ghét dứt câu thù hận oán.
Trên kẻ trí lấy công-bình phân-đoán,
Dưới vạn dân trăm họ được im-lìm.
Trẻ với già gìn hai chữ từ-khiêm,
Không còn thấy loạn-luân nền cang-kỷ.
Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,
Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.
Đạo cha con chặt-chẽ chữ miên trường.
Đao chồng vợ thuận-hòa cho đến thác.
Biết lẽ nghĩa kính yêu cùng cô bác,
Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.
Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,
Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo trá.
Đạo bè bạn bất phân nhơn với ngã,
Chữ nghĩa tình sắt đá mãi bền gan.
Trên non Tiên văng-vẳng tiếng phụng-hoàng,
Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc.
Đời xuất Thánh tỏ bày câu tiêm-tất,
Rán giữ-gìn kẻo mất giống hiền xưa.
Những thói hư tật xấu phải răn chừa,
Sau sẽ thấy người xưa tường tận mặt.
Ta kể sơ ít điều cho vắn tắt,
Ước mong đời xét kỹ đặng tu hành.
Phật từ-bi đặng chữ cao thanh,

Người lương-thiện hưởng muôn điều hạnh-phúc.

   *
*   *

        Đến đây ngao-ngán việc trần,
Thôi dừng bút lại định thần xét suy.
        Giàu-sang lắm kẻ vô nghì,
Ỷ mình trên bực kể gì nghĩa-nhân.
        Chẳng kiêng chẳng nễ Phật Thần,
Suy mưu làm quấy nghiệp trần phải mang.
        Vì chưng ta mắc tai nàn,
Lòng thương trăm họ lỡ-làng từ nay.
        Cầu Trời, Phật độ tiêu tai,
Cứu trong thiên-hạ Đạo khai khắp trời.

         Nhà thương Chợ-Quán, năm Canh-Thìn

 

             THU ĐÃ CUỐI
(Bài nầy không có tựa. Chép theo bổn chánh
do Đức Ông giữ)

 

      Thu đã cuối bấc lai-rai thổi,
      Xét cõi lòng chạnh nỗi thương tâm.
        Canh tràng thổn-thức đứng nằm,
Phiền-ba xe ngựa ù-ầm bên tai.
      Nguồn mây bạc cuốn quay mũi viết,
      Chấm vào nghiên chi xiết ngại-ngùng.
        Cũng bung sao lại khuấy bung,
Một bầy ngơ-ngác cội tùng còn xa.
      Thấy Tăng-Sĩ thiệt-thà hữu chí,
      Vội đem lòng ích-kỷ hại nhân.
        Ôi, đời yểm cựu nghinh tân,
Rùng-rùng xóa bỏ Phật, Thần, Thánh, Tiên.
      Làm cho Lão nửa phiền nửa tủi,
      Ước sao mình như cuội trên trăng.
        Đặng soi khắp cả dương-trần,
Cho người trong tối đặng lằn điển quang.
      Kể đến lúc băng ngàn đất khách,
      Đem thân nầy cắt mạch sầu đông.
        Dầu ai trao đổi lạt nồng,
Trao chua chế ngọt tấm lòng chẳng nao.
      Nhưng nghĩ lại héo xào tim phổi,
      Biết gốc lành sao cội không gìn.
        Ngạt-ngào tiếng kệ lời kinh,
Ơn nhờ chư Phật oai thinh giáo-truyền.
      Thân làm Đạo ba giềng năm mối,
      Dù gặp cơn gió thổi mưa tuôn.
        Bại rồi thành lại nên tuồng.
Vạn dân hưởng được nước nguồn Ma-ha.
      Trải một lúc cuồng ba sóng dậy,
      Chắc nhơn-sanh sẽ thấy việc chi?
        Trời đà sắp-đặt ly-kỳ,
Tới ngày trả quả ầm ỳ biết bao.
      Thỏa cho kẻ khát-khao đạo-đức,
      Danh Thánh tài thơm rực non sông.
        Theo đòi học cổ của ông,
Nguồn văn kêu gọi người đồng tâm tu.
      Lòng đừng chất mối thù chi cả,
      Lũ bạo tàn tất tả nay mai.
        Bấy lâu khoe giỏi khoe tài,
Trời xanh rọi thấu diệt loài kiêu căng.
      Lời ta nói có ngằn lắm nhỉ,
      Để đây rồi chúng quỉ hiểu lầm.
        Điệu đờn trổi khúc huyền thâm,
Nhà nghề chọn bản tri âm đâu nào.
      Giọng Tăng-Sĩ thanh thao như kiểng,
      Hạn đã lâu sông giếng cạn mòn.
        Cỏ cây khô héo thon-von,
Nay nhờ mưa đượm mà còn khát khao.
      Nghĩ đến đây gió ào-ào thổi,
      Ngẩng mình ra nhìn ngọn đông-phong.
        Khổng-Minh nhờ gió dụng công,
Còn ta nhờ được muỗi-mòng bay tan.
      Khuyên chớ chấp kẻ lòng lang sói,
      Để đức lành ta rọi khắp nơi.
        Non sông rực-rỡ chói ngời,
Mảnh gương Phật-Đạo soi đời cổ kim.
      Nhơn loại sẽ khỏi chìm bể khổ,
      Khắp muôn loài nguyện độ siêu-thăng.
        Kể chi miệng mối lưỡi lằn.
Mặc tình thế-sự kêu thằng hay ông.
      Chớ chia rẽ phải đồng tâm lực,
      Khua giọng vàng đánh thức bốn phương.
        Chấn-hưng Phật-Giáo học-đường,
Dưới trên hòa-thuận chọn đường qui nguyên.
      Tay Tăng-Sĩ gậy thiền quyết nắm,
      Lần bụi bờ xuống thẳm lên đèo.
        Dầu cho gặp lắm hùm beo,
Từ-bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng.
      Đâu nản chí mà ngừng việc phải,
      Cuộc tang thương biến cải cảnh trần.
        Bực mình đeo đắm pháp-thân,
Chờ cơn gió tạnh sẽ lần bước ra.
      Thấy thiện-tín chan hòa giọt lụy,
      Tâm não nùng chạnh nghĩ xa vời.
        Chim trời dựng ổ chiều mơi,
Bầy con chiu-chít cả đời nhàn thân.
      Còn một đoạn mưa Tần nắng Sở,
      Trải qua rồi việc dở hóa hay.
        Thế-gian sẽ biết Thánh-tài,
Bế-bồng con dại hát bài khải-ca.
      Ai mà được trông qua cảnh ấy,
      Cội phúc nhà tạo lấy mà nhờ.
        Thương đời tả ít lời thơ,
Nẻo tu dân-sự còn chờ dịp nao?
      Phận Tăng-Sĩ nài bao gió bụi,
      Miễn xổ lồng tháo củi ta-bà.
        Theo đòi gương-phẩm Thích-Ca,
Dốc đem tâm chí tầm ra Đạo mầu.
      Cả vạn vật chung bầu thế-giái,
      Vì oán thù dựng bãi chiến-trường.
        Cũng đồng xưng bá xưng vương,
Tranh quyền đoạt lợi đởm đương xé giành.
      Ta nguyện một lời hành chánh đạo,
      Chẳng phải người thông thạo hoàn toàn.
        Nhưng mà gắng chí kêu vang,
Người ôi! thức tỉnh lánh nàn tu thân.
      Nguồn bạch thủy trong ngần mát-mẻ,
      Múc rưới vào độ kẻ chúng-sinh.
        Thần-thông phép Phật muôn nghìn,
Cội lành nắm chặt ắt mình thảnh-thơi.
      Nay Tăng-Sĩ có lời kêu gọi,
      Dụng tinh-thần chống-chỏi quỉ tà.
        Đừng cho chúng đến gần ta,
Nhơn-sanh còn hỡi ngà-ngà giấc say.
      Phật, Tiên, Thánh muôn loài vạn-vật,
      Cũng ở trong quả đất dựng gầy.
        Siêu-thăng nhẹ tách đường mây.
Trầm-luân oan-nghiệt càng gây thêm hoài.
      Ta chí dốc tầm đài-nguyệt-kiến,
      Cho dương-trần rọi chuyện sai lầm.
        Định thần dẹp hết tà tâm,
Huờn lai bổn-tánh Thần khâm quỉ nhường.
      Bỏ cái tánh tự cường tự trọng,
      Gẫm cuộc đời cái bóng theo hình.
        Tu hành đâu kể nhục vinh,
Ta làm bổn-phận ngạo khinh mặc đời.
      Đầu ngưỡng-vọng đất trời minh chứng,
      Tấm lòng thành quyết dựng Đạo đời.
        Đôi điều hòa-nhã nơi nơi,
Thân nầy mới chịu ngồi ngơi thạch-bàn.
      Lòng trẻ thảo biết đoàn biết kết,
      Phí xác phàm mê mệt đâu nài.
        Băng rừng vẹt phá gốc gai,
Đưa người lương-thiện đến ngay Niết-Bàn.
      Thấy biển khổ đâu an lòng đặng,
      Xông thuyền ra cứu vớt sanh-linh.
        Miễn cho bá tánh vẹn mình,
Hết cơn bịnh tật hết tin đạo tà.
      Cúi nhờ nước ma-ha mát mẻ,
      Xin Phật ban cho kẻ khát lòng.
        Chim khôn thì uống nước trong,
Người khôn mau sớm rửa lòng bợn nhơ.
      Để ma bịnh theo hờ bén gót,
      Thần chết kia ôm hót bên mình.
        Đạo lành sao lại chẳng tin,
Dầu cho thông thái cũng gìn cốt xưa.
      Nỡ đâu lại vày bừa đồng loại,
      Cũng gốc Ngài Thượng-Đế xuống trần.
        Quày đầu nghe tiếng chuông ngân,
Trở về nơi cũ cho gần Phật, Tiên.
      Thấy sanh-chúng quá ghiền cảnh tục,
      Nên nhiều lần giục thúc muôn dân.
        Bạch trinh giữ lấy nghĩa-nhân,
Muốn về cõi Phật, lập thân cõi trần.
      Vượt cảnh khổ muôn phần u-ám,
      Ganh, ghét, hờn, thì thảm muôn bề.
        Khuyên trong nam nữ chợ quê,
Cúi đầu thiện-niệm trông về Tây-Phương.

 

                          NGÂM:

 

Tu cho kẻ bạo khâm-nhường,
Đẹp lòng cha mẹ Cửu-Huyền chờ trông.

  

"ĐÊM NGỒI MỘT MÌNH"
    (tiếp theo bài trước)

 

Riêng phòng vắng-vẻ một mình ta,
Đèn điện bật lên ánh sáng lòa.
Trí não nghĩ suy tuồng biến đổi,
Tâm hồn liệu lượng cảnh thay nhà.
Tai nghe bốn phía xe cùng ngựa,
Mắt thấy chung quanh vách trắng ngà.
Cô độc nhưng lòng nô-nức mãi,
Cố tình kinh-nghiệm những ngày qua.

     Nhà thương Chợ-Quán, ngày 30-9 Canh-Thìn

 

MƯỜI BỐN THÁNG MƯỜI

 

Cảnh trời mây mịt vẽ lăng-quằng,
Mười bốn tháng mười lại khuất trăng.
Ngẫm việc thiên-cơ càng biến chuyển,
Xem chừng địa-lý quá xung xăng.
Tơ lòng vương-vấn đời thêm bận,
Tâm dạ ai-hoài cuộc nhện giăng.
Biết đó biết đây thời với vận,
Để ngày kết cuộc khó ăn-năn.

    Nhà thương Chợ-Quán, ngày 14-10 Canh-Thìn

        (trước khi Cộng-Sản nổi dậy ở Xoài-Hột)

 

               "THAN ĐỜI"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

 

Chạnh lòng nghĩ lại cảnh phiền ba,
Nghi-ngút bợn nhơ khói vạy tà.
Lăn lóc phong-trần dày dạn mặt,
Truân chuyên bể ái kiếp mày hoa.
Hố sâu chất chứa người bạc-ác,
Hang thẳm chôn chồng kẻ thiết tha.
Trời đã hoàng hôn mau chợt tỉnh,
Tìm đèn Trí-Huệ lánh thân ra.

   *

*   *

Lánh thân ra khỏi kẻo mang tai,
Tầm nẻo cao siêu đến Phật-đài.
Bến giác Thần, Tiên mau chực sẵn,
Bể mê phàm tục phải cao bay.
Nợ duyên đeo-đắm nơi đời tạm,
Kiếp số luân-chìm chốn gốc gai.
Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-đế,
Cam-lồ rưới tắt lửa trần-ai.
      Nhà thương Chợ-quán, ngày 3-12 Canh-Thìn

 

   "TRAO LỜI CÙNG ÔNG TÁO"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

 

Đôi lời cạn hỏi Táo-quân ông,
Sắp tính về chầu Thượng-giới không?
Nếu có việc trần tâu thẳng lẽ,
Đừng như những kẻ bén hơi đồng.

   *

*   *

Đêm ngồi nghĩ hỏi thăm ông Táo,
Sổ-sách trần ông tính đã xong chưa?
Năm Canh-Thìn nhiều trận gió mưa,
Chơ nhơn-loại trăm cay cùng ngàn đắng.
Còn một tháng trông coi dài dặn,
Chắc hăm-ba theo lệ cũng chầu Trời.
Đêm nay trò chuyện với tôi chơi,
Thêm dặn trước ít lời ông xin nhớ.
Táo cười rằng! có chi nhắn-nhở?
Mới hôm nay sao lại gấp quá chừng?
Có điều chi lo liệu bâng khuâng,
Mà vội-vã dặn-dò tôi sớm vậy?
Sãi cả cười, vuốt-ve tấm đãy:
Sợ ngày về ông bận lắm chè xôi.
Của chúng-sanh làm lễ vãng hồi,
E quên mất những lời tôi gởi-gắm.
Nên tính trước trao tờ cáo-thẩm,
Cuộc trần-gian đà trải một năm qua,
Luôn từ ngày Tăng-Sĩ xa nhà,
Đều uất-kết tâu qua cùng Thượng-Đế:
Ngày vâng chỉ đáo-lai trần-thế,
Cõi Trung-Ương nhằm đất nước Việt-Nam.
Chọn một chàng tuổi trẻ tục-phàm,
Mượn tay gã, tờ hoa Thần hạ bút.
Khuyên bá-tánh tầm Tiên rời tục,
Chỉ máy Trời bày tỏ việc về sau.
Gái cùng trai già trẻ bước vào,
Đường trí-huệ qui-y gìn Đạo-pháp.
Thần cũng chẳng say mê chùa tháp,
Chẳng tham tiền, tham vật, món chi chi.
Hơn năm dư quyết chí duy trì,
Truyền sanh-chúng phải kính thờ Trời, Phật.
Cũng lắm kẻ phàm phu sơ thất,
Vội trêu đùa lũ quỉ ngạo đoàn ma.
Lúc ăn-năn sửa tánh rất thật-thà,
Còn lắm kẻ nghinh-ngang theo chọc rối.
Mượn luật-pháp ẩn trong bóng tối,
Mãi làm điều phi nghĩa chuyện bất lương.
Dạ hiểm sâu không thước đo lường,
Dốc phá hoại đường ngay, bôi lẽ thẳng.
Thêm lời tiếng thấp cao nhẹ nặng,
Làm cho người tu tỉnh phải xót-xa.

Nên hạ thần kính-cẩn tâu qua,
Xin Ngọc-Đế phân minh giùm trần-thế.
Nay cũng lắm người ưa kinh-kệ,
Muốn tu mà gặp lúc quá gay-go.
Xác trần còn mắc phải neo đò.
Giờ rước khách đã ngưng rồi năm tháng.
Thiên-số định cũng chưa quá hạn,
Nên phải còn bận mãi ách nàn tai.
Vọng Thánh-minh đức rạng khắp nhơn-loài,
Ban phước xuống dân lành cho bớt khổ.
Gạo lúa kém là đồ sản-thổ,
Hàng hóa cao, ấy của ngoại bang vào.
Kẻ nghèo hèn thêm nỗi đói, đau,
Rất mong-mỏi an-cư cùng lạc nghiệp.
Oai trời đất, thế-trần khủng-khiếp,
Nhưng ngặt loài thỏ-cáo cứ đua tranh.
Lũ sói hùm hươi gút múa nanh,
Cho trăm họ hãi-hùng cơn sấm nổ.
Thần rán sức ra công khuyến dỗ,
Gìn thuần-phong mỹ-tục của Rồng-Tiên.
Tập ở ăn theo nết Thánh-hiền,
Lòng tu tỉnh, dòm Phật-Tiên nối chí.
Bày tường-tận trước sau chung thỉ,
Đời văn-minh vật-chất bỏ gương xưa.
Nghiệp Tổ Tiên con cháu vày bừa,
Học thói mới lăng loàn theo sở dục.
Khắp thế-giới binh lương cụ túc,
Quyết tranh-giành quyền-lợi, xé-xâu nhau.
Thấy nhơn-sanh tuôn giọt máu đào,
Lòng bác-ái động tình rơi nước mắt.
Tiếng ai-bi thở than véo-vắt,
Khắp Đông, Tây, Nam, Bắc chịu ưu sầu.
Kẻ lương-hiền chờ giọt mưa ngâu,
Người bạo ngược thừa cơ nguy thủ lợi.
Ở thị thiềng đua chen xướng-khởi,
Những tuồng hư, cho bọn gái lẫn trai.
Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,
Nào trùm-đĩ, ma-cô, nghề hút máu.
Ai để mắt xem đời chu đáo,
Chẳng khỏi than giùm dân-tộc hư hèn.
Diện áo quần, son phấn lấn chen,
Miễn cho mình được lên xe xuống ngựa.
Mảng điểm-tô huy-hoàng nhà cửa,
Ai khốn-cùng để mặc đất, trời xây.
Thấy nhơn gian khuynh đảo tỏ bày,

Cho Thương-Đế lãm tường trong sanh-chúng.

Bấy nhiều đều xét xem nhân-chủng,
Táo đệ giùm cho thấu đến Thiên-cung.
Còn nhiều đều gớm-ghiếc hãi-hùng,
Lấy yếu lược đôi câu mà trần tố.
Nay cùng ông hữu duyên tương ngộ,
Chúc ông về Thượng-giái được ban khen.
Phần Sĩ-Tăng tay trống miệng kèn,
Giác thiện-tín chấn-hưng nền Phật-giáo.
Nếu chừng nào khai thông đại Đạo,
Đuốc từ-bi rọi khắp cả nhơn-gian.
Bể trầm-luân khô cạn sáu đàng,
Tăng-Sĩ mới trở về nơi thanh-tịnh.

     Nhà thương Chợ-Quán, ngày 3 tháng chạp Canh-Thìn

 

               "TỰ THÁN"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

 

        Vì đâu bốc ngọn lửa Tần,
Mà lòng Tăng-Sĩ như dần nát tan.
        Nghĩ mình chọn kiếp con hoang,
Quê hương rày đã dặm tràng sơn-xuyên.
        Tổ-đường còn một cành huyên,
Từ-đường hôm sớm luống phiền chờ trông.
        Hai em thiểu trí thơ-đồng,
Chị đà an phận theo chồng đàng xa.

        Từ mang một tấm áo dà,
Mùi thiền đã thắm ơn nhà lợt phai.
        Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.
        Tuy là xa cách cố nhân,
Nơi đời tríu mến sớm gần cửa không.
        Từ-bi buộc chặt cõi lòng,
Còn ơn cúc-dục để hòng mai sau.
        Bể trần sóng cuộn lao-xao,
Xông thuyền bát-nhã lướt vào một phen.
        Quản chi lực kém tài hèn,
Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu.
        Soi từ đài các xá lều,
Cho người trụy-lạc biết điều nghĩa-nhân.
        Tài tai hai chữ cân phân,
Trời ban họa phước một lần cho ta.
        Mắt đen thấy mắt trắng lòa,
Phật ma, ma Phật mới ra vở tuồng.
        Trời già tay khéo, khéo luôn,
Sắp chi chua ngọt pha buồn lẫn vui?
        Năm canh luống những sụt-sùi,
Cám trong nhân-chủng lắm người dở-dang.
        Sầu chung ta cất tiếng than,
Phù-sinh kiếp có đoạn tràng thì thôi.
        Bon bon chuông giục mấy hồi,
Rầm rầm sấm nổ trên đồi xa xa.
        Đầu canh tiếng động bên nhà,
Chờ ba canh một thì gà gáy tan.
        Ngày xuân cách cội xa làng,
Người quê Quán-Chợ như thoàn linh-đinh.
        Vừa cơn sóng gió bất bình,
Số trời đã định phận mình biết sao.
        Ngày xưa mấy bực yên-hào,
Vào sanh ra tử dạ nào trách than.
        Thân nầy đã ngấm trầm nhang.
Vui câu bác-ái bền gan đợi chờ,
        Đêm khuya vắng lặng như tờ,
Vài hàng nhủ hết chớ ngơ-ngẩn lòng.
        Gắng tình đừng lắm ngóng trông.
Hung-tinh sao ấy trời Đông lờ-mờ.
        Hềm vì mắc lá thiên-thơ,
Đôi điều ghi chép cõi bờ chưa xong.
        Thôi thì lòng dặn lấy lòng,
Gẫm đây đến cuộc mây rồng chẳng xa.
        Đêm khuya lác-đác sương sa,
Phòng khuya lạnh-lẽo có ta với phòng.
        Gật-gù suy cuộc hưng vong,
Quyết xoay máy tạo gánh gồng chưa yên.
        Trí thần nhớ đến tiếng quyên,
Gọi hồn cố-quốc sầu riêng một mình.
        Trầm-ngâm vẻ mặt làm thinh,
Tựa mình bên gối giấc quỳnh đã say.
        Mơ tiên hồn muốn vụt bay…
    Nhà thương Chợ-Quán, tháng chạp năm Canh-Thìn

 

"TỈNH BẠN TRẦN GIAN"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

 

Nghiệp chướng lăng-loàn hại xác thân,
Chuông lành buông tiếng vọng bon ngân.
Cương-thường gánh nặng trai gìn trọn,
Tơ-tóc vai quằn gái vẹn phân.

Nợ nước văn-chương toan báo đáp,
Ơn nhà đạo-đức quyết đền ân.
Khuyên người trí-sĩ mau mau tỉnh,
Giấc mộng nam-kha chốn thế-trần.

   *

*   *

Thế-trần tạm giả gạt đời ta,
Lướt khỏi sông mê khỏi ái hà.
Nhân-ngã, ngã-nhân đừng cách biệt,
Sắc không, không sắc chớ lìa xa.
Diệu-huyền chơn lý noi đường sáng,

Ảo-thuật tà-tâm kiếm nẻo ra.
Lóng-lánh gương xưa lời Phật dạy,
Hồng-trần ái-dục giết tài hoa.

   *

*   *

Tài-hoa cho lắm, lắm nàn tai,
Trụy-lạc phong-trần chốn gốc gai.
Nếu đã tỉnh tâm tầm lẽ thẳng,
Cũng nên rèn tánh gặp đàng ngay.
Sân-si phỏng có điều thêm bận,
Nhẫn-nhịn ắt không chuyện kéo dài.
Tiếng gọi hồn mê hồn được giác,
Phải toan sắm-sửa rứt trần-ai.

   *

*   *

Trần-ai chỉ có thú phong-lưu,
Tranh-đấu thành ra mãi oán cừu.
Chung cuộc chỉ mang câu thất vọng,
Xong đời ghi chất mối sầu ưu.
Cổ kim máy tạo nhiều huyền-bí,
Lão ấu xây vần lắm mẹo mưu.
Cũng chẳng cướp xong quyền võ-trụ,
Mà còn đeo đắm thú phong-lưu.

   *

*   *

Phong-lưu nào phải gọi người ngoan,
Sa ngã biến nên kẻ khốn nàn.
Ngày đến, đến đi đâu kéo ngược,
Năm về, về mãi chẳng ngừng ngang.
Tuổi già thân yếu đa sầu cảm,
Tóc bạc mình ve lắm rộn-ràng.
Biết được trần-gian là mộng huyễn,
Tử thần sửa soạn kéo vào quan.

   *

*   *

Kéo vào quan-quách biết bao người,
Cảnh sống sum-vầy phỏng mấy mươi?
Lắm lúc đua chen vui lẫn giận,
Nhiều khi vùng-vẫy khóc pha cười.
Tuồng đời chuốt-ngót cho xong tiếng,
Cuộc thế trau-giồi mượn tấc hơi.
Nín thở nằm ngay không cựa quậy,
Xót thương con trẻ khóc đôi lời.

   *
*   *

Đôi lời kể lại nỗi hàn huyên,
Ma lớn chay to phí lắm tiền.
Tưởng vậy xác thân đa hạnh-phúc,
Nào hay hồn-phách lắm oan-khiên.
Thiên-đường siêu-thoát thời thong-thả,
Địa-ngục trầm-luân ắt đảo-điên.
Nên chọn một nơi thanh-tịnh ấy,
Rứt trần bất nhiễm mới là yên.

   *

*   *

Mới là yên-ổn lánh trần-gian,
Chí nguyện tiêu-diêu cảnh Phật-đàng.
Diệu-pháp chuyển thân vô sự thế,
Huyền-thông hoá kiếp chẳng lo toan.

Tâm linh mắt thánh xem ba cõi,
Tánh hiển tai thần lóng bốn phang.
Phổ-tế chúng-sanh qua bể khổ,
Di-Đà miệng niệm lánh trần-gian.

   *

*   *

Trần-gian khói lửa với đao binh,
Chư Phật sớm bày phép hiển-linh.
Cứu khổ nam-mô vô lượng phước,
Diệt nàn tu-rị hữu thiên kinh.
Sóng xao dương-thế nhiều cay đắng,

Gió cuốn trần-gian nỗi bất bình.
Tín-nữ thiện-nam gìn mối đạo,
Dầu cho lăn-lóc rán kiên-trinh.

   *

*   *

Kiên-trinh mà chịu lúc nàn tai,
Dẫu có gian-nan dạ chớ nài.
Vàng đá bao phen cơn nước lửa,
Chì thau lắm chuyện lúc non hài.
Bền gan chờ đợi ngày sum hiệp,
Gắng chí trông mong bữa tiệc khai.
Thiên địa tuần-huờn gom một mối,
Phàm-trần vẹn kiếp kiến Bồng-Lai.

     Nhà thương Chợ-Quán, tháng chạp năm Canh-Thìn
 
Đức Thầy gởi ông MƯỜI (chú Đức Ông)

 

Ngày Tết đến, nương mực viết thay lời, trước kính bái tông đường, sau chúc mừng ông bà đặng muôn điều hạnh-phúc. Sau có hai bài thơ, xin ông xem chơi cho rõ điều tâm sự:

 

Xuân đến chúc mừng tuổi thúc ông,
Đàng xa không thể viếng môn tông.
Câu thơ cao hứng thay bầu rượu,
Bài phú vui mừng thế chậu bông.
Đạo-đức gắng công nên cách mặt,
Văn-chương rèn chí chẳng phai lòng.
Ơn nhà tạm gác sau này trả,
Xin bớt đau lòng bớt ngóng trông.

   *

*   *

Trước đã đem thân hiến Phật đài,
Chắc rằng sẽ được buổi trùng lai.
Ra công khai-hóa vì nhân-chủng,
Nhọc sức mở-mang bởi cốt-hài.
Sanh đấng nam-nhi toan xử thế,
Sống làm hiền-triết nghĩa gồm hai.
Thuận hòa trăm họ đời an-lạc,
Chừng ấy xe tiên thế dép giày.

    Nhà thương Chợ-Quán, tháng Chạp năm Canh-Thìn
 
MƯỢN CÂY ĐUỐC HUỆ

 

Phụ mẫu thâm ân vô lượng kiếp,
Quân-thần nghĩa trọng hữu thiên niên.
Vận phải bĩ trăm điều chua chát,
Thời đáo lai muôn chuyện ngọt ngon.
Nghĩ cuộc đời mà chan-chứa nỗi hao mòn,
Xem cảnh thế luống xót-xa niềm chích mát.
Đời nầy như thế người kia cũng thế,
Làm sao mà tránh khỏi việc lầm than.
Sống tranh đua khi chết cũng xương tàn,

Cho nên: Mượn đuốc huệ đánh tan mùi tục lụy.

         Buồn vơi mượn bút tay đề,

     Tu hành tâm đạo dựa kề Tiên-bang.
        Nào nào trần thế có sang,
     Sắp đều đau khổ nghèo nàn hỡi ai!
        Thảm trong thế sự ngày nay,
     Lắm điều lao-lý quá dài gian-nan.
        Một tay tá quốc an bang,
     Nước nhà vững đặt Hớn-đàng hiển vinh.
        Bây giờ phải mượn kệ kinh,
     Dắt-dìu trần-thế mặc tình nghe không.
        Kêu thằng hay gọi là ông,
     Cũng không có muốn ai hòng tôn-ti.

Nhà thương Chợ-Quán, tháng Chạp năm Canh-Thìn
(Bài trên đây Đức Thầy gởi về nhà, một lượt với 2 bài thơ gởi ông Mười).
 
NHỔ BÀN THÔNG-THIÊN
(vì sợ liên-can vụ "Đạo tưởng" ở Tân-Châu,
 thuộc tỉnh Châu-Đốc)

 

Đạo ác xảy ra rất thảm phiền,

Làm cho dân sự nhổ thông thiên.
Xô ngang ít bữa rồi trồng lại,
Thần Thánh đi xa khó rước liền.
     Hòa-Hảo, hạ tuần tháng Giêng năm Canh-Thìn

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn