Quyển Thượng Tập 3/3

11 Tháng Tám 20207:37 CH(Xem: 1000)
Quyển Thượng Tập 3/3
sam-giang-thi-van-giao-ly-quyen-thuong-3diendanpghh-duc-hunh-giao-chu
ong-thien-tam-bui-van-uong
Ông Thiện Tâm
BÙI VĂN ƯỞNG (1927-2007)

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

NĂM THỨ 36

(1939 – 1975)

---oOo--- 

 SẤM GIẢNG

THI VĂN TOÀN BỘ 

 CHÚ  GIẢI

QUYỂN THƯỢNG

 TẬP 3

 

CHÁNH VĂN: ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

                                                                         CHÚ GIẢI: THIỆN TÂM

 LƯU HÀNH NỘI BỘ

 

 QUYỂN TƯ

 GIÁC  MÊ  TÂM  K

 

XUẤT XỨ - VĂN THỂ

          Đây là quyển thứ tư, trích trong phần nhất Sấm Giảng Giáo Lý trong Thi Văn Giáo Lý Toàn bộ. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã sáng tác vào ngày 20 thánh 9 năm Kỷ Mão (1939), lúc Ngài còn ở Tổ Đình Thánh Địa Hòa Hảo.

          Ngài viết lối văn vần, thể thất ngôn trường thiên, loại thuyết giáo, dài 846 câu, khởi đầu bằng câu;

                    “Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện

          Và chấm dứt bởi câu:

                    “Mong bá tánh vạn dân giải thoát”.

 

TIÊU ĐỀ:

          Trước khi đi sâu vào nội dung quyển thứ tư, chúng ta nên tìm hiểu ý nghĩa bốn chữ “Giác Mê Tâm Kệ” mà Đức Thầy dùng đặt cho tiêu đề.

          Giác Mê là tỉnh biết sáng suốt, hết mê lầm. Theo Phật học thì Giác có hai phần:

          - Tỉnh ngộ thấy ra những điều quấy ác để trừ dứt gọi là Giác sát.

          - Tự khai ngộ được chân lý để nương theo gọi là Giác ngộ. Cho nên Giác là danh từ chỉ cho bậc Phật (giác ngộ) đối với chúng sanh (mê lầm).

          Hiểu chung hai chữ Giác Mê là Đức Thầy thức tỉnh kẻ còn mê lầm tăm tối.

          Tâm Kệ  là quyển Kệ dạy hành giả tu ngay tâm để kiến tánh thành Phật. Cũng như quyển Tâm Kinh của Đức Bổn Sư Thích Ca và quyển Giác Mê của Đức Phật Thầy Tây An trước kia.

          Vậy quyển Giác Mê Tâm Kệ nầy có ý nghĩa Đức Giáo Chủ khuyên dạy môn đồ các phương pháp sửa đổi tâm chúng sanh để trở thành tâm Phật. Bởi Phật hay chúng sanh cũng do tâm mình tạo nên, như Ngài đã bảo:

                    “Cái chữ tâm mà quỉ hay ma,

                      Tiên hay Phật cũng là tại nó.

                      Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

                      Nếu lặng tâm tỏ ngộ đạo mầu”.

 

NỘI DUNG:

          Đại ý trong đây Đức Thầy nhắc lại Đức Thích Ca xưa kia vì nghiệm xét bốn nỗi khổ của mỗi chúng sanh, nên lìa bỏ cung vui, vợ đẹp con ngoan để ra đi tầm Đạo cứu đời. Nay Đức Thầy khuyên các giới nhân sanh hãy noi theo gương ấy mà giác tỉnh tu hành.

          Về phương cách tu Ngài dạy: Trước nhứt hành giả phải lánh xa lối sống đam mê trụy lạc, tức tửu sắc tài khí và chiến thắng tam bành lục tặc; lấy tâm làm chủ 6 căn đừng để ô nhiễm 6 trần. Đồng thời hãy nghiệm xét Tứ Diệu Đề, trì hành Bát Chánh Đạo, chuyên hành Bát Nhẫn và phá tan Ngũ Uẩn để đạt đến lý “sắc không”, Chân Như Thật Tướng.

BỐ CỤC

          Quyển “Giác Mê Tâm Kệ” gồm có ba phần chánh và nhiều tiểu đoạn.

          I.- Phần nhứt, cũng là phần khai đề, Đức Giáo Chủ cho biết vì lòng từ bi Ngài lâm phàm tại miền Nam nước Việt; dùng trí siêu mầu giác tỉnh chúng sanh sớm nương về nẻo thiện. Từ câu 1- “Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện”, tới câu 4- “Đặng chỉ ngỏ làm lành lánh dữ”.

          II.- Phần nhì, cũng là phần chánh đề, Đức Giáo Chủ vừa khuyên tu, vừa khai triển các pháp tu tự lực cứu cánh (Thiền Tông). Nhứt là hành giả phải chủ yếu về nội tâm, bởi vạn vật trong thế gian, từ Địa ngục, Thiên đường hay Niết Bàn, Cực Lạc, đến Phật ma, Thần Thánh đều do tâm mình tạo ra cả:

                    “Địa Ngục cũng tại tâm làm quấy,

                      Về Thiên đàng tâm ấy tạo ra…”

          Vậy hành giả muốn an cư nơi cảnh giới nào hay tiến đến địa vị nào cũng do tâm mình tạo nên.

          III.- Phần ba, cũng là đoạn kết, Đức Thầy ân cần dặn bảo: Những phương thức Ngài dạy trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ” sẽ giúp cho hành giả đạt đến chỗ an cư thanh tịnh. Những gì quí báu của đất nước Việt Nam sau nầy, còn tiềm ẩn trong đỉnh núi nhà Nam (Thất Sơn) ai muốn trông thấy phải gắng công bền chí tu hành. Lời khuyên nhủ của Ngài là vì lòng từ bi, mặc tình cho người đời có khen chê Ngài cũng không màng kể, miễn sao cho khắp bàn nhân bá tánh đều được giải thoát an vui là Ngài thỏa nguyện. Từ câu (837):“Ra kệ nầy hai chữ bảo an”, cho đến câu (846) “Mong bá tánh vạn dân giải thoát 

CHỦ ĐÍCH:

          Chủ yếu quyển “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Thầy dạy môn đồ học Phật và tu Phật, chuyên về các pháp tu tự lực Thiền Tông, từ tiệm tu đến Đốn Ngộ đều có đầy đủ, tức là từ “Diệt lục căn đừng nhiễm lục trần” đến chỗ đạt được lý “sắc không”. Từ chỗ trì hành Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo, đến chỗ “Giữ tấm lòng bất động như như”, và “Vô pháp tướng mới là thiệt tướng”.

CHÁNH VĂN

1.- Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam-phương,
4.- Đặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 01 đến câu 04)

          Mở đầu quyển “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Giáo Chủ cho biết: Vì lòng từ bi Ngài lâm phàm, khai Đạo cứu dân tại miền Nam nước Việt. Ngài dùng trí tuệ siêu mầu viết ra Kệ Giảng, vạch rõ con đường Phật Đạo để thức tỉnh những ai có căn lành, sớm giác ngộ tu hành, cải ác tùng thiện.

 

CHÚ THÍCH

          GIÁC MÊ: Giác là tỉnh biết sáng suốt, hết mê lầm. Theo Phật học thì GIÁC có hai phần:

          - Tỉnh ngộ thấy ra những điều quấy ác để trừ dứt gọi là Giác sát.

          - Tự khai ngộ được chơn lý để nương theo gọi là Giác ngộ.

          Cho nên Giác là danh từ để chỉ cho Phật (Giác ngộ), đối với chúng sanh (Mê lầm).

          Mê là tối tăm lầm lạc. Nói chung, Giác Mê là thức tỉnh kẻ còn mê lầm tăm tối.

          TÂM KỆ: Quyển Kệ dạy hành giả tu ngay tâm để kiến tánh thành Phật. Như quyển “Tâm Kinh” của Đức Bổn Sư Thích Ca và quyển Giác Mê của Đức Phật Thầy Tây An trước kia.

          Vậy, quyển Giác Mê Tâm Kệ nầy, Đức Giáo Chủ khuyến dạy môn đồ về các phương pháp sửa đổi tâm chúng sanh để trở về với tâm Phật. Bởi Phật hay chúng sanh cũng đều do tâm mình tạo nên, như Ngài đã bảo:

                    “Cái chữ tâm mà quỉ hay ma,

                      Tiên hay Phật cũng là tại nó.

                      Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

                     Nếu lặng tâm tỏ ngộ đạo mầu”.(Giác Mê Q.4)

          KHAI NGỌN ĐUỐC: Mở rộng ánh sáng trí tuệ. Ý nói Đức Thầy dùng trí huệ viết ra kệ giảng, soi đường dẫn lối cho kẻ tu hành, như Ngài thường cho biết:“Nay đuốc huệ từ bi đã rọi”.(Khuyến Thiện, Q.5)

          TỪ BI: (Xem CT đoạn 2, T-1, bài Sứ Mạng).

          CHÍ THIỆN: Đến tột chỗ lành, trọn lành.

          Sách Thánh có câu: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”.( Đạo của bậc đại học, cốt làm sáng cái đức của mình, rồi làm cho dân được mới và đạt đến chỗ trọn lành).

          PHẬT ĐƯỜNG: Nhà Phật, là nghiã của chữ Đạo Phật (con đường về Phật). Đức Thầy có câu:“ Đạo là vốn thiệt cái đường”.

          Và:     “Chốn Phật đường rán trau đức hạnh,

                      Phải bền lòng mới rảnh trần ai”.(Sa Đéc)

          GIÁO ĐẠO: Dạy Đạo, khai truyền Đạo pháp giáo hóa chúng sanh.

          NAM PHƯƠNG: Cũng gọi là phương Nam. Có nghiã là hướng Nam, đây ám chỉ nước Việt Nam. Cũng có nghĩa cõi Nam Diêm Phù Đề, tức Nam Thiệm Bộ Châu, một trong 4 châu lớn ở cõi Ta bà. Đức Thầy từng cho biết:

                    “Cõi trung ương luân chuyển phương Nam,

                      Mở hội Thánh chọn người trung hiếu”.

                                                      (Diệu pháp Quang Minh)

 

CHÁNH VĂN

5.- Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
8.- Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.
Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,
Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc tình đời gièm-siểm ghét ưa,
12.- Rừng kinh-kệ ít người hay chữ.
Quá mắc-mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra.
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
16.- Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa-lý.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 05 đến câu 16)

          - Đoạn nầy, Đức Thầy cho biết trong sách “Tam Tự Kinh” của Đạo Thánh có dạy: Nguyên bản của con người trước kia đều có tánh hiền lành cả, tánh ấy đồng một thể chất với trời Phật. Song vì một tích bất giác mà tạo nghiệp luân hồi, làm thân chúng sanh. Lúc mới chào đời, tâm tánh con người rất hồn nhiên nên chưa biết ham muốn, lần lần lớn lên tập nhiễm theo xã hội chung quanh rồi đắm mê danh lợi, sắc tài, hành động những điều xấu xa tội ác, khiến tánh thiện bị lấp vùi.

          - Nếu con người không được sự khuyên dạy Đạo đức thì biết đâu để rèn luyện tâm xấu, trở lại tâm tốt. Do đó, Đức Thầy dốc lòng nhắc nhở mọi người, hãy nhớ lại tánh thiện Giác của mình trước kia. Và trên con đường thức tỉnh bá gia của Ngài, dù cho người đời có chê bai hay ưa ghét cũng mặc.

          - Xưa kia, Đức Phật thuyết dạy kinh pháp nhiều như rừng, như bể, song thời nay số người xem, được liễu ngộ ý nghiã thì chẳng có là bao. Bởi các Đại đệ tử của Ngài chép lại toàn bằng chữ Phạn. Tuy chư Tổ, chư Sư có phiên dịch ra Hán ngữ hoặc Việt ngữ; nhưng phần đông người lo tu tụng tán hê hà trên mặt văn tự, chớ ít có người thấu suốt được nghĩa lý trong đó để thực hành theo.

 

CHÚ THÍCH

          THÁNH ĐẠO: Đạo của Thánh nhân, ở đây ám chỉ Nho giáo, một nền Đạo do Đức Khổng Tử san định có hệ thống, học thuyết kỷ cương. Sau đó môn đồ của Ngài và Mạnh Tử tiếp tục phổ truyền. Chủ yếu khuyên dạy người đời tu tròn “Nhân Đạo” rèn luyện các đức tánh tốt đẹp, để trở thành bậc Hiền nhân Quân tử. Đức Thầy từng khuyên:

                    “Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,

                      Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người”.

          TAM TỰ: là quyển “Tam Tự Kinh” của Mạnh Tử làm ra, sách viết với lối văn mỗi câu ba chữ. Khởi đầu bằng những câu: “Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện, tánh tương cận, tập tương viễn, cẩu bất giáo, tánh nãi thiên…”(Con người từ thuở sơ khai tâm tánh vốn hiền lành, song vì sanh ra và lớn lên, lần lần tập nhiễm mọi tánh xấu xung quanh, nếu thiếu giáo dục tánh Thiện ấy bị đổi dời theo các thói xấu).

          TÁNH THIỆN TRỜI DÀNH: Tánh lành sẵn có từ trước, đồng với bản thể của chư Phật.

          TÂP NHIỄM: Nhuộm quen. Cũng như một vật chi đem nhuộm lâu ngày sẽ nhuốm lấy màu nhuộm ấy.

          LỢI DANH: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng)

          GIÁO DỤC: Dạy dỗ rèn luyện.

          ĐỨC HẠNH: (Xem CT câu 384, T-2, Q.2).

          TÁNH XƯA: Tánh cũ của mỗi người lúc ban sơ. Từ vô thỉ mỗi chúng sanh đều có tánh hiền lành như nhau cả, song vì vọng niệm mê lầm mà phải luân hồi sanh tử. Từ đó tâm tánh bị chôn vùi dưới lớp vô minh phiền não, nên gọi là che mờ.

          Xưa , Ngài Mạnh Tử có dạy:“Ai tai ! Nhơn hữu kê khuyển xả nhi tắc tri cẩu chi, hữu phóng tâm nhi, bất tri cầu”.(Rất thương thay cho người đời. Mất những vật nhỏ mọn như: đồng xu, cắc bạc, gà, chó…Chẳng xứng đáng chi mà họ còn biết tìm kiếm; huống chi cái tâm là vật quí giá vô cùng: làm hiền nhân quân tử cũng nhờ tâm. Thế mà người đời lại bỏ cái tâm của mình không biết tìm cầu). Cho nên Ngài bảo:“Học vấn chi Đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ”.(Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích là tầm lại cái lương tâm thất lạc của mình).

          Hôm nay, “…quyết nhắc lại tánh xưa”, là Đức Thầy bảo mỗi người hãy tìm cái tâm tánh vốn lành của mình khi trước, như trong bài “Đến làng Nhơn Nghĩa”:

                    “Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,

                      Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

          GIÈM SIỂM: (Xem CT câu 320, T-1, Q.1).

          KINH KỆ: (Xem CT câu 259, T-1, Q.1).

          PHẠN NGỮ: Tiếng Phạn, thứ chữ của dân tộc Ấn độ, dùng chép lại ba Tạng kinh của Phật. Có hai thứ chữ Phạn:

          1.- Nam Phạn (Pali). Phật giáo nguyên thỉ (Tiểu thừa) dùng thứ chữ nầy chép Kinh, truyền về miền Nam Ấn, rồi qua Tích Lan, Xiêm, Miến Điện, Miên.v.v…

          2.- Bắc Phạn (Săncerit). Phật giáo Đại thừa thì dùng thứ chữ nầy chép kinh truyền khắp miền Bắc Ấn, rồi sang Trung Hoa, Nhựt Bổn, Cao Ly, Việt Nam…

CHÁNH VĂN

17.- Dòm trước mắt thấy điều hồ-mị,
Nên động tình bác-ái dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
20.- Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.
Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,
24.- Trong bổn-đạo tự thân phải xử.
Xuống dương thế dạo trong lê-thứ,
Thấy bá-gia gặp lúc não-nùng.
Cảnh trần-gian nhiều nỗi lao-lung,
28.- Việc tu tỉnh ít người hiểu lý.
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
32.- Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 17 đến câu 32)

          - Đức Thầy thấy trong giới tu hành hiện nay bày lắm trò giả dối, để lợi dụng lòng tín ngưỡng của thiện tín, nên Ngài rộng lòng thương xót, kêu gọi họ sớm chừa bỏ những điều xằng xiên không đúng chơn lý.

          - Nếu họ chẳng sớm ăn năn hối cải thì chơn nhơn sẽ bị lấp vùi u tối, màn vô minh ngày càng thêm dày bịt, che mờ cả trí huệ, rồi mãi dắt nhau vào con đường sai lầm tội ác. Vậy từ đây trong bổn đạo, ai cũng phải tự mình lo tu thân lập hạnh, điêu luyện khối tinh thần cho cứng mạnh, để phá tan màn vô minh vọng hoặc, lần bước theo ngọn đèn chơn lý.

          - Đức Giáo Chủ xuống trần dạo khắp các nơi, nhận thấy lê dân đang gặp hồi thảm não, muôn ngàn sự lao lý khổ sầu dồn tấp tới. Thế mà việc tu hành thoát khổ, ít có người thông rành nghĩa lý.

          - Do đó Đức Thầy khuyên bá tánh, ai muốn gặp nơi an lành cao quí, hãy mau nghiên cứu suy tầm những lẽ mầu nhiệm trong Sấm Kinh của Ngài đã dạy. Vì trong ấy có hàm chứa luật cơ mầu biến chuyển của trời đất và yếu pháp tu hành.

CHÚ THÍCH

          HỒ MỊ: Dùng thủ đoạn xảo quyệt gạt người, hoặc tán tỉnh, nịnh hót làm kẻ khác say mê.

          BÁC ÁI: (Xem CT đoạn 6, T-1, Bài Sứ Mạng).

          CHƠN NHƠN: Cũng gọi là chơn thân, pháp thân hay chơn không, tánh nó vốn thường trụ, bất biến. Người chứng ngộ được chơn lý gọi là chơn nhơn; là bậc Thánh A La hán. Cho nên chơn nhơn đối với tánh phàm trần. Đức Thầy từng dạy:

                    “Lấy chơn nhơn dẹp tánh phàm trần,

                     Mới có thể mong về Cực Lạc”.(Giác Mê, Q.4)

          NÃO NÙNG: Buồn thảm, xót xa đau đớn.

          LAO LUNG: Cái chuồng hay cái lồng để nhốt thú. Đây chỉ cho sự kềm hãm, trói buộc, khổ sở, mất tự do.

          TRUY TẦM: Theo dõi để tìm hiểu.

          HUYỀN BÍ: Sự mầu nhiệm bí ẩn, sâu kín.

          SẤM KINH: (Xem CT chữ Sấm trong Tiêu đề Q.1 và chữ Kinh trong câu 259, T-1, Q.1).

 

CHÁNH VĂN

33.- Tạo làm chi những trung với hiếu ! 
Ấy là người bổn-phận phải trau.
Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,
36.- Cũng rán sửa rán trau nền Đạo.
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
40.- Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.
Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.
Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
44.- Cận sơn lãnh trần-gian tri điểu.
Trong sấm-giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
48.- Cho sanh chúng đời nay dễ biết.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 33 tới câu 48)

          - Sanh trong trần con người có được xác thân là nhờ Tổ tiên cha mẹ; có nơi ăn chốn ở là nhờ đất nước quê hương. Cho nên, việc trung hiếu là điều rất quan trọng, là then chốt của Đạo làm người. Vậy bổn phận của mỗi cá nhân phải lo đền đáp cho tròn vẹn:“Hiếu trung lòng chớ vội quên, Sống lo trọn Đạo thác lên Tiên Đài”.(Khuyến Thiện, Q.5) Còn kẻ tu hành chẳng nên ngại sự khó khăn cực khổ, lúc nào cũng cần chuyên trau sửa đúng theo qui tắc của Đạo mới mong kết quả.

          - Theo Đức Thầy dạy: Việc tu khỏi cần phải trang diện hình tướng bên ngoài, như cạo đầu mặc áo cà sa, bá nạp hay bồ đề chuỗi hột…miễn làm sao thi hành cho được cái Đạo làm người. Ngài Đạo Thanh Hòa Thượng nói:“Dục tu Tiên Đạo, tiên  tu Nhân Đạo; Nhân Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hĩ”.(Muốn tu đạo Tiên hay Phật, trước phải tu Đạo làm người; nếu Đạo người không tu thì Đạo Tiên hay Phật còn xa lắm vậy).

          - Đức Thầy còn cho biết: Từ đây khắp bá gia sẽ lỡ cười lỡ khóc, bởi cuộc thế bắt đầu chuyển xây biến đổi, để lập lại đời tân: “Hoàn cầu trái đất chuyển xây, Gớm ghê cho chúng phơi thây muôn ngàn”.(Viếng làng Mỹ Hội Đông) Và:“Phải chuyển xây trái đất một bầu, Đặng lừa lọc con Tiên cháu Phật”.(Sa Đéc)

          - Kể từ nay chư Phật sẽ dạo khắp trần gian để vừa dạy khuyên đạo đức, vừa lọc lừa cứu độ những kẻ hiền lương đức hạnh. Và người xưa từng bảo: Kẻ sống nơi nào thì từng biết tánh tình, nghề nghiệp của con người nơi đó rồi lần lượt tập nhiễm theo. Vậy ai muốn thoát ly cảnh khổ để trở về với Phật thánh thì phải thân cận các bậc thiện trí thức và sống theo hạnh nghiệp của Phật Thánh.

          - Muốn thế, bá tánh cần quay về nẻo Đạo hằng đọc học Kinh Giảng, nếu ai xem qua các quyển Sấm Giảng 1, 2 và 3 mà chưa hiểu được lý nghiã, hãy tìm đọc ngay quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy, vì trong đây Đức Giáo Chủ dạy rõ con đường tu hành. Bởi muốn rộng độ các tầng lớp nhân sanh nên Ngài dùng văn bình dân giản dị, viết ra Kệ Giảng để mỗi ai khi xem đến đều lãnh hội được ý mầu.

CHÚ THÍCH

          CẦN LAO: Siêng năng khó nhọc.

          LỜI SÁCH XƯA CẬN THỦY TRI NGƯ, CẬN SƠN LÃNH TRẦN GIAN TRI ĐIỂU: Sách Quảng Hiền Văn có câu:“Cận thủy tri ngư tánh, cận sơn thức điểu âm”.(Gần nước biết tánh cá, Gần rừng núi biết tiếng chim). Ý nói người ở giới nào thì từng trải việc của giới đó, ví như hành nghề ngư nghiệp thì biết tánh cá. Còn thợ săn thì biết rõ tiếng chim kêu và chỗ ăn ngủ của loài chim nào. Việc Đạo đức cũng thế, có tìm cầu tu học, và có gần gũi Thầy bạn tu hành mới mong thâm nhập giáo lý.

          SẤM GIẢNG: (Xem CT Tiêu đề Q.1, tập 1).

          KỆ: (Xem CT câu 259, T-1, Q.1).

CHÁNH VĂN

49.- Trời dông gió sái mùa sái tiết,
Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,
52.- Đặng lo liệu cho tròn phận-sự.
Thấy trần thế hãy còn lưỡng-lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần-chờ.
Việc thế-gian như thể cuộc cờ,
56.- Thắng với thối một hai nước tướng.
Nào Ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,
60.- Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.
Học đạo-lý như đờn trúng điệu,
Hoà bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam-Bành trong bụng còn đeo,
64.- Đoàn Lục-tặc ta mau sớm giết.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 49 đến câu 64)

          Đoạn giảng trên Đức Thầy cho biết thời nay giông gió, nắng mưa, không còn đúng theo mùa tiết như xưa nữa, đó là cơ biến chuyển cõi đời Hạ ngươn sắp đến ngày tận diệt. Thế nên Ngài khuyên bá tánh hãy sớm lo cải sửa những điều xấu xa tội ác và cư xử cho tròn bổn phận làm người.

          - Ngài nhận thấy dân chúng còn phân vân hai nẻo đường đời, Đạo; có lắm kẻ cũng muốn tu, nhưng mãi nay lần mai lựa, e một ngày kia “Đến tội rồi mới hối muộn màng”.(Khuyến Thiện Q.5) Xét ra cuộc thế quá mỏng manh, chẳng khác nào bàn cờ tướng, chỉ còn một vài nước chiếu nữa là biết ăn thua.

          - Vì lòng từ bi Đức Thầy mới truyền dạy giáo pháp, chớ nào có dối gạt một ai, thế mà bá gia mãi nghi nan tà chánh. Kẻ nào tánh tình chơn thật, khi nghe đến cơ giảng liền biết lo lắng tu hành thì Đức Phật, Đức Thầy thường gia ân cứu độ.

          - Kẻ học đờn, khi rõ thông nhịp điệu, bài bản, rồi y cứ theo đó rèn tập cho đến khi thành công. Người tu học đạo lý cũng thế, trước phải hiểu rành “Tôn chỉ” và pháp giới của Đạo mình, rồi hành trì đúng theo đó, tất được viên thành Đạo quả. Nhứt là cần diệt trừ các tà dục, phiền não (tam bành) nơi lòng và điều phục sáu con giặc (lục tặc), đừng để nó ô nhiễm sáu trần. Đức Thầy từng dạy:

                    “Làm cho chúng phục tùng chơn lý,
                      Trong sắc thân giám thị lục căn.
                      Đừng cho chúng tính lăng quằng,
                      Ngoài thì chấp thủ mà ngăn lục trần”.
                                                  (Cho Ông Cò Tàu Hảo)

CHÚ THÍCH

          TRỜI GIÔNG GIÓ SÁI MÙA SÁI TIẾT: Theo âm lịch thì mỗi năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Và tám tiết: lập Xuân, Xuân phân; lập Hạ, Hạ chí; lập Thu, Thu phân; lập Đông, Đông chí. Ngoài tám tiết lớn ấy còn có nhiều tiết nhỏ…

          Từ xưa, sự mưa gió đều ăn hợp theo thời tiết, không sai; nhưng ngày nay sự nắng mưa không còn đúng y như trước nữa. Giảng Mười Một Hồi, Ngài Huệ Lựu cũng bảo:

Xuân hồi thì Hạ mới lai,

Thu qua Đông lại nào sai đâu là.

Bây giờ khác thể vậy mà,

Bốn mùa tám tiết đổi đà chẳng thông

Thuở nay Đông chót xuống Đông

Bây giờ Xuân chót Đông hầu lạ thay !”

          LƯỠNG LỰ: Lo hai đường, ngần ngừ, phân vân, không quyết định đường nào.

          CHẦN CHỜ: Dần dừ dây dưa, giải đãi không hăng hái cương quyết. Ví dụ: Cứ chần chờ mãi, không làm phứt cho rồi. Đức Thầy hằng thúc giục:

                    “Thi tả cảnh bồng lai tại thế,

                      Nếu chần chờ e trễ kỳ thi”.

                                        (Xuân Hạ tác cuồng thơ)

          LO LIỆU: Tính trước, sắp đặt việc làm đâu đấy đều song toàn. Đức Thầy từng bảo:

                    ‘Sớm chiều tự liệu rèn tâm trí,

                      Đạo đức nhiệm sâu lão khuyến mời”.

                                        (Tỏ câu Huyền bí)

          HỌC ĐẠO LÝ NHƯ ĐỜN TRÚNG ĐIỆU: Câu nầy ý dạy người học Đạo cũng như kẻ học đờn. Khi thấu hiểu Tôn chỉ và Giáo pháp của Thầy, Tổ đã dạy thì cứ y theo đó mà thực hành cho đến khi thành đạt mục đích.

          TAM BÀNH: Ba món phiền não như ba vị ác thần, gồm có: Bành cư ở đầu, Bành chất ở bụng, Bành kiểu ở tay chơn, hay xúi người làm quấy (có chỗ giải là Bành cư, Bành căn và Bành dục).

          LỤC TẶC: Sáu con giặc, tức là sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sở dĩ gọi nó là con giặc; vì nó hay xúi giục con người đắm nhiễm theo sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, thân sướng và ý dục. Cổ Đức từng nói:“Tùng mê chí mê, giai nhơn lục tặc”.(Từ mê đời nầy đến đời sau cũng còn mê, đều bởi sáu tên giặc ấy mà ra).

          Người tu hành có điều phục được sáu căn (lục tặc) không còn ô nhiễm sáu trần, tức đắc được lục thông và tự tại giải thoát.(Nhân căn trần thanh tịnh nhi đắc lục thông thị hiện giả dã).

CHÁNH VĂN

Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Đức Di-Đà Phật-Tổ ngóng trông,
Chờ dân-chúng tìm nơi diệt khổ.
Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,
Gốc ông cha ta cũng tu-hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi, của tiền, quyền tước.
Thấy trần-thế ai ai cũng ước,
Đời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.
Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
Sau mới biết thân ai lao khổ.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 65 tới câu 80)

          - Sự tu trước nhứt cần trau giồi trí huệ cho tinh minh, để dùng nó diệt trừ các vọng tâm ô nhiễm trần tục, và tánh phân biệt câu chấp bản ngã. Nghĩa là không nên chấp có chấp không hoặc chấp thường chấp đoạn mới đạt được lý chơn không và kiến diện Chơn Như thật tướng. Đức Thầy còn cho biết Đức A Di Đà cùng Đức Phật Tổ, lúc nào cũng mong chờ dân chúng biết tìm con đường thoái khổ.

          - Từ xưa, qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần…

Ông cha ta đã sùng ngưỡng và phụng hành theo Phật giáo, cũng đã có nhiều vị tu hành chứng quả. Ngày nay, con cháu lại không noi chí Tổ tiên, mãi lo giành giựt lợi danh, quyền tước, gây nên chướng nghiệp, rồi phải chịu luân hồi sanh tử.

          - Thông bịnh của người đời, hễ có gặp tai nạn khổ sầu, thì ai cũng mong ước cho đời mau tới; bởi hiện giờ không chịu nỗi với cảnh lầm than nghèo đói.

          - Còn những kẻ hành động hung ác, sớm muộn gì họ cũng gặt lấy quả đau khổ. Cũng như con gà ăn gạo chung quanh cối xay, chẳng bao lâu phải giáp lại chỗ cũ. Lại nữa, kẻ không ưa Đạo đức, thường dùng đủ lời đắng cay châm biếm người tu, họ có ngờ đâu, sau nầy phải vương mang khổ quả: “Đừng ham nói đắng nói cay, Cay đắng sau nầy đau đớn sầu bi”.(Sấm Giảng Q.1)

CHÚ THÍCH

          MÀI GƯƠM TRÍ = Trau giồi trí huệ. Có nhiều cách mài luyện như:“Tùng, văn tư tu”, hoặc hành trì tam học: Giới, định, huệ; hay điêu luyện khối tinh thần cho cứng mạnh, để vẹt phá vô minh phiền não, tức trí huệ hiện bày.

          Sở dĩ ví trí huệ như lưỡi gươm (kiếm) là vì nó có đủ diệu năng, chặt đứt cội phiền não (tham sân si) và giết trừ Thập Tam Ma (thất tình lục dục) Đức Thầy đã nói:“Thập Tam ma diệt bằng trí kiếm”.(Sấm Giảng Q.1) Hoặc là:“Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp”.(Khuyến Thiện Q.5)

          TINH KHIẾT: Trong sạch, sáng suốt.

          TÂM TRẦN: Lòng dơ bẩn. Ý nói lòng còn ô nhiễm chứa chấp việc trần tục, nhơ xấu danh , lợi, tình.v.v…

          SẮC KHÔNG: Sắc đây là nói hoạn sắc (có), bởi thể của nó vốn là chơn không; cho nên sắc chẳng khác gì không. Vả lại, từ cái chơn không hiện ra các cảnh vật (hoạn sắc), cho nên không chẳng khác gì sắc. Tuy nói là chẳng khác; nhưng hai tiếng của không và sắc vẫn còn. Để khỏi thiên chấp, trong “Tâm Kinh”, Phật có nói: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc”.(Hoạn sắc tức là chơn không, chơn không tức là hoạn sắc; sắc chẳng khác nào không, không chẳng khác nào sắc). Nghĩa là nói ngoài các hoạn sắc không có cái chơn không, mà ngoài cái chơn không cũng không có các hoạn sắc (cảnh vật hữu vị).

          Khi ngộ được lý “sắc không”, Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:

                    “Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông,
                      Hữu hữu vô vô tất kính đồng.
                      Phiền não bồ đề nguyên bất nhị,
                      Chân như vọng niệm tổng giai không.
                      Thân như huyễn cảnh, nghiệp như ảnh,
                      Tâm nhược thanh phong, tính nhược bồng.
                      Hựu vấn tử sinh ma dữ Phật,
                      Chúng tinh củng Bắc thủy triều Đông”.

          - Như thế, sắc chất và chân không cũng chỉ là một tâm thể như sóng và nước. Vậy câu “kiếm chữ sắc không” là nói thấu đạt cái “bản thể chơn như thật tướng” của chính mình, Đức Thầy từng dạy:“Hãy tìm kiếm cái không mới có”.(Kệ Dân, Q.2) Và:“Sắc không, không sắc chớ lìa xa”.(Tỉnh bạn Trần gian)

          PHẬT GIÁO: (Xem CT câu 153, T-2, Q.2)

          QUANH QUẨN: Luẩn quẩn, vòng quanh rồi trở lại nơi cũ.

          GÀ CỒ ĂN QUẨN CỐI XAY: Con gà ăn chung quanh cái cối xay lúa (xay tay), giáp vòng cũng gặp lại mối đầu. Ý nói kẻ làm ác, sớm muộn gì cũng bị cũng bị quả dữ trả lại (ác lai ác báo)

 

CHÁNH VĂN

81.- Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,
Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
84.- Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.
Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,
Đem lời vàng dạy-dỗ dương-trần.
Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,
88.- Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ Khổ
Bịnh với Tử từ kim chí cổ,
Sanh với Già hai chữ hoài-hoài.
Đức Thích-Ca xưa ở lầu đài,
92.- Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 81 đến câu 92)

          - Lúc Đức Thích Ca ngồi tham thiền tại gốc Bồ Đề, Ma Vương sợ Ngài đắc Đạo rồi không còn ai theo bọn chúng, nên đem binh ma, khí giới và nữ sắc đến phá hại Phật; nhưng bị Phật dùng phép thần thông đối trị và hàng phục, khiến chúng khiếp sợ, không dám đến phá nữa. Bởi lòng từ bi rộng lớn, nên lúc còn là Thái tử; Ngài đành lìa bỏ cung vàng, vợ đẹp, băng mình vào rừng sâu, núi tuyết để tìm ra chơn lý nhiệm mầu, cứu độ chúng sanh.

          - Nay Đức Giáo Chủ PGHH ra đời, cũng đem giáo lý thật tế ấy dạy dỗ quần sanh. Bắt đầu từ pháp “Tứ Diệu Đề, Bát chánh Đạo”, nếu chúng sanh nào biết giác ngộ tu hành; sớm khuya cần mẫn, diệt trừ các vọng tâm phiền não. Vì chính nó là nguồn gốc của bốn nỗi khổ: sanh, già, bịnh, chết.

          - Thêm nữa, mỗi chúng sanh từ vô minh vọng niệm, tạo nghiệp sanh tử luân hồi. Khi thần thức nhập vào bào thai của người mẹ, là bắt đầu chịu khổ cho đến lúc chào đời; kế đó là cái khổ của sự già, rồi trải qua bao cơn bệnh tật hoành hành, đau nhức, tiếp nối là cái khổ về sự chết diễn ra. Nhưng chết đi chưa phải là hết mà còn sanh trở lại, cứ thế rồi tiếp tục xoay vần, chịu khổ mãi mãi. Xưa kia Thái Tử Sĩ Đạt Ta, cũng nhờ nghiệm xét bốn nỗi khổ ấy, mà Ngài xuất gia tầm Đạo giải thoát.

 

CHÚ THÍCH

          OAI LINH: Oai là dáng vẻ tôn nghiêm; linh là phần diệu của tinh thần. Nói chung chữ oai linh người ta thường dùng để tôn xưng các đấng cao cả, có đầy đủ đức tướng và thần thông linh diệu.

          PHÉP THẦN THÔNG: Phép linh diệu vô ngại, không chi liệu lường ngăn trở nổi. Nhà tu Phật khi diệt sạch phiền não, lục căn thanh tịnh thì chứng được sáu pháp thần thông (Nhân căn trần thanh tịnh nhi đắc lục thông thị hiện giả dã). Ở đây chỉ lúc Đức Thích Ca tịnh tọa dưới gốc Bồ đề, bọn Ma vương đến quấy nhiễu, Ngài dùng phép thần thông hàng phục chúng nó.

          Đức Thầy thường cho biết:

                    “Đạo gần đắc Ma vương theo khuấy,

                Dùng thần thông nghị lực dẹp tan”.(K/thiện, Q.5)

          MA VƯƠNG:(Xem CT đoạn 5, T-1, Bài Sứ mạng)

          RỪNG TÒNG: Do chữ “tòng lâm”. Cũng gọi là rừng thông. Đây chỉ khu rừng “Ưu Lâu Tần Loa”, phía Nam núi Tượng đầu, gần bờ sông “Ni Liên thiền”, nơi Thái tử Sĩ Đạt Ta tu khổ hạnh (khổ hạnh lâm).

          LÃO SĨ: Lão là bậc già cả, Sĩ là nhà tu hành chứng Đạo. Tiếng tôn trọng bậc tu hành cao tuổi và đầy đủ hạnh phúc. Đây là một trong nhiều danh xưng của Đức Thầy:“Lánh thế chẳng bày danh Lão sĩ”.(Cho Ô. Tham tá Ngà)

            THẬT TẾ: Cũng viết là chơn tế, chơn thật tế, tức là chỉ cái chơn lý thực thể, cái lý tối cực hoàn toàn, phương diệu tuyệt đích. Thật tế cũng gọi là “Chơn như thật tướng”, Cổ Đức từng bảo:

                    “Thật tế lý địa, Bất thọ nhứt trần

                      Vạn hạnh môn trung, Bất xả nhất pháp”.

          (Về cái tánh thanh tịnh thì không dính dấp một mảy trần; nhưng phần hạnh tướng tu hành thì chẳng bỏ một pháp lành nào cả).

          TÌM NGUỒN CỘI DIỆT TRỪ TỨ KHỔ: Tứ khổ là bốn điều khổ lớn: Sanh, Già, Bịnh, Chết. Đó là định luật: Hễ có sanh ra xác thân, tất phải có già, bịnh, chết; không một chúng sanh nào thoát khỏi.

          Xưa, Đức Phật thường dạy: “Nầy các Tỳ Kheo! các ngươi đừng thắc mắc về vấn đề thế giới nầy là hữu cùng hay vô cùng, hữu hạn hay vô hạn. Dù thế giới nầy có hữu hạn, hữu cùng hay vô hạn, vô cùng; điều mà chúng ta nên nhận xét cái thật có trong đời là khổ sầu và “sanh, lão, bịnh, tử”.

          Ngày nay, Đức Giáo Chủ khuyên: “Tìm nguồn cội diệt trừ tứ khổ”. Xét ra xác thân là gốc khổ (khổ đề) mà hột giống (nguồn cội) của nó là vọng tâm phiền não (tập đề).

          Thuở Đức Phật còn trụ thế, có bốn Tỳ Kheo cùng đang tu học. Một hôm họ ngồi lại bàn luận về các sự khổ:

          Tỳ Kheo thứ nhứt nói:

          - Tôi nghĩ trong đời chỉ có sự sợ hãi là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên thì không thể nào yên lòng được.

          Ý kiến của vị thứ nhì:

          - Tôi nghĩ, trong đời chỉ có sự đói khát là khổ hơn cả, bởi đói thì phải lo tạo tác cho có cơm ăn áo mặc, đâu yên tâm hành đạo được.

          Tỳ Kheo thứ ba trình bày:

          - Theo tôi, thì sự nóng giận là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên làm mất hết trí khôn, bất luận kẻ thân người sơ đều bị mình làm thiệt hại, gây ra tội khổ không ít.

          Tỳ Kheo thứ tư nói:

          - Riêng tôi, không chi khổ bằng sự dâm dục, chính nó là hột giống sanh tử, suốt đời con người đem thân làm tôi mọi cho nó, đi đến chỗ hư thân mất nết, mờ đục cả trí huệ.

          Trong lúc 4 Tỳ Kheo đang tranh luận, ai cũng cho chỗ nhận xét của mình là đúng, may đâu Đức Phật vừa đi tới, bốn người đồng lễ Phật và nhờ Ngài phân giải!

          Phật ôn tồn bảo:

          - Các ngươi luận đều phải cả, song chỉ biết được ngọn ngành của sự khổ, chớ chưa thấy tận nguồn gốc của nó. Gốc khổ là do xác thân, tại có thân nầy mới có lòng tham dục, nóng giận, đói khát và hãi sợ…Nếu thân nầy chẳng có, lấy đâu mà có bốn sự khổ kia. Cho nên muôn sự phiền, ngàn sự khổ đều dồn chứa vào xác thân. Song nguyên nhân chánh là do vọng tâm, bởi có vọng tâm phiền não mới sanh ra xác thân để rồi chịu khổ. Vậy các ngươi muốn hết khổ nên diệt ngay vọng tâm phiền não.

          Nghe Phật giảng xong, bốn Tỳ Kheo rất vui mừng, đồng lễ bái Phật.

          Để xác định lý trên, Kinh xưa có những câu kệ:

                    “…Tội tùng tâm sanh, tùng tâm diệt,
                      Tâm diệt nhược thời tội diệt vong
                      Tội vong, tâm diệt lưỡng câu không”.

          Tạm dịch:

                    -Tội khổ vốn do tâm phát khởi
                     Tâm chẳng sanh, tội chẳng hề sanh
                     Tội tâm không một niệm sanh
                     Chơn không thị hiện Đạo lành đạt thông.

          HOÀI HOÀI: Luôn luôn, mãi mãi không dừng. Ý nói hết kiếp nầy sang kiếp khác “Tử sanh già bịnh đáo đầu tử sanh”.

          ĐỨC THÍCH CA: (Xem CT câu 390, T-2, Q.2).

CHÁNH VĂN

93.- Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,
Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.
Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,
96.- Hương với Vị xác trần nên lánh.
Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh Sáu Đường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
100.- Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 93 tới câu 100)

          - Bổn phận người tu cứ lo trau thân sửa tánh, dầu cho ai có nhạo chê phỉ báng cũng mặc, nhứt là phải làm chủ sáu căn, đừng cho ô nhiễm sáu trần. Mắt đối với các sắc đẹp hay các màu sắc khác, chẳng để tâm cảm nhiễm. Tai nghe các tiếng đờn hát, âm thanh trầm bổng, những tiếng đường mật vỗ về, lòng không để say đắm. Mũi ngửi các mùi thơm dịu không ưa thích. Lưỡi nếm những vị ngon, vật béo chẳng thèm khát. Thân đối với các vật trơn láng mịn màng cũng đừng cảm nhiễm. Ý đối vạn pháp hữu hình hay vô hình đều giữ tâm trong sạch, không hề vướng mắc một pháp nào.

          - Người hành Đạo hãy noi gương những bậc Hiền Thánh, tuy còn phải dùng chút ít vật chất, để nuôi thân hành Đạo; nhưng tâm không còn ô nghiễm, vướng mắc sáu trần. Ấy là sáu căn được thanh tịnh và đặng chứng quả Phật Thần, bằng như các phiền não vi tế chưa trừ sạch cũng được về bực Tiên Thần. Đức Thầy còn cho biết: xưa nay, Ngài đã có nhiều lần dùng Kinh pháp chỉ dạy chúng sanh, nhưng ít có người lo liệu tu thân lập hạnh.

 

CHÚ THÍCH

          LỤC CĂN: Sáu căn trong thân con người là: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. (Mắt, tai, mũi, lưỡi, xác thân và tâm ý).

          LỤC TRẦN: Sáu cảnh trần, tức là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Trong sáu trần nầy, mỗi món chia làm hai loại:

          -Sắc Trần: Sắc có năng lực làm ô nhiễm thân tâm, nên gọi là sắc trần, gồm có hai thứ:

          1/- Hiển sắc: Sắc tô vẻ ra các màu: vàng, đỏ, xanh, trắng…Không có sắc chất, nhưng nương theo vật mà hiện ra.

          2/- Đối sắc: Sắc có chất, như sắc người và các vật: cứng, mềm, khô, ướt…xem thấy, cầm nắm được.

          - Thinh Trần: Các thứ tiếng có năng lực khiến thân tâm ưa thích, ô nhiễm. Tiếng có hai thứ:

          1/- Tiếng cảnh trực: các tiếng thuộc về vô tình, như: sấm sét, gió, nước, đờn sáo…

          2/- Tiếng khuất khúc: các thứ tiếng thuộc về hữu tình như: nói, kêu, ca hát…

          - Hương Trần: Các mùi thơm, thúi có năng lực khiến thân tâm ô nhiễm. Mùi hương có hai thứ:

          1/- Mùi thúi, như: xác chết, cây mục, phân người và thú.

          2/- Mùi thơm, gồm ba loại: hoa hương, thọ hương và tâm hương.

          - Vị Trần: Những vật có năng lực làm cho người ưa nhiễm. Vị cũng có hai thứ:

          1/- Vị không phải thức ăn, nên người ta không ưa thích, nhưng có thể làm thuốc được.

          2/- Vị thường dùng ăn uống đặng và người ta rất ưa thích, như ngũ vị: mặn, ngọt, chua, cay, đắng.

          - Xúc Trần: Những vật có năng lực làm mê hoặc thất tình, nhiễm ô chân tánh; xúc gồm có 2 thứ:

          1/- Xúc khổ: làm cho đau đớn, nóng, lạnh, đói, chết, buồn, khổ.

          2/- Xúc lạc: làm cho thân tâm vui, chịu, nên ưa thích va chạm.

          - Pháp Trần: Các pháp có năng lực khiến tâm trí ô nhiễm. Pháp cũng có hai thứ:

          1/- Sắc pháp: gồm có thiên nhiên và nhân tạo.

          2/- Tâm pháp: gồm có thiện pháp và ác pháp.

          HIỀN: Phạn ngữ (Scr) là Bhadra có nghĩa người tu học các điều lành, có tài đức phẩm hạnh tốt đẹp. Bậc hiền là chỉ cho các vị đang tu tập, đoạn trừ các phiền não, mê hoặc. Đức Thầy có câu: “Lẫn tục đừng mê chứng bậc Hiền”.(Luận việc tu hành)

          THÁNH: Phạn ngữ (Scr) là Arya, phiên âm là A ly Da hay A Lê Du, dịch là Thánh nhơn, có nghĩa chơn thật, chánh trực và thanh tịnh. Thánh nhơn có hai bực: Thánh thế gian và Thánh xuất thế gian. (Thánh thế gian là bậc trọn lành , thông suốt Đạo lý thấu rõ việc trời đất và tính tình muôn vật. Kinh Dịch có nói:“ Đức của Thánh nhơn sánh cùng Trời đất, sánh bằng Nhựt nguyệt, biết rõ thời tiết, kiết hung”.- Còn Thánh xuất Thế gian là chỉ…cho bậc tu hành đã chứng quả Phật.) Đây chỉ cho bực Thánh xuất thế gian, tức là hạng tu đắc Đạo, có đủ trí huệ và các pháp thần thông dứt khổ não luân hồi. Từ các bậc chứng quả A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát cho đến Phật Như Lai đều là bậc Thánh.

          Các Kinh điển cũng thường gọi là bực Tu Đà Hườn, Tu Đà Hàm, A Na Hàm, đến A La Hán là Thánh (Tứ Thánh Thinh Văn). Người ta cũng dùng tiếng Thánh để tôn xưng Phật như: Thánh ngôn, Thánh triết. Thánh còn là danh từ để đối với phàm. Đức Thầy từng bảo: “Cư trần bất nhiễm là người Thánh”.(Luận việc Tu hành)

          THẦN: Bậc khác hơn thế tục, lượng xét không cùng tột, linh diệu, oai mãnh, thông suốt không bị chướng ngại. Là bực bá tánh thường tôn trọng kính nhờ. Cho nên người ta cũng gọi đấng Phạm Thiên, Đế Thích và Đức Phật là bậc Thần. Vậy Thần có bốn bực: Phật Thần, Tiên Thần, Thánh Thần và A Tu La Thần (quỉ Thần); nhưng chữ Thần ở đây là chỉ cho bậc Phật Thần hay Tiên Thần. Đức Thầy có viết: “Cha là Phật Thánh Tiên Thần phước dư”.(Cảm tác)

 

CHÁNH VĂN

101.- Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
104.- Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.
Đồ thơm tho nó ưa nó chịu,
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,
108.- Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.
Thân tham sướng muốn tiền của đến,
Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình.
Ý thì ưa sửa sắc soi hình,
112.- Với chức phận cho cao cho quí.
Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,
116.-Mượn trí-đạo đuổi ra khỏi xác.
Dứt được nó ấy là giải thoát,
118.- Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 101 đến câu 118)

          - Đoạn giảng trên Đức Thầy diễn tả sáu căn ô nhiễm sáu trần và phương cách diệt trừ.

          Trước nhứt là cặp mắt của con người hễ thấy các sắc đẹp măng búp yêu kiều, son phấn lả lơi thì ước mơ quyến luyến. Tai lại thích nghe những lời đường mật véo von, những giọng đờn, sáo, hát ca trầm bổng. Mắt và tai vốn là hai căn bén nhạy nhứt, khiến lòng người đắm nhiễm sắc lịch, tiếng hay. Đến như lỗ mũi thì ưa ngửi các thứ hương xông, xạ ướp, những mùi dầu mỡ tẩm dầm; khiến con người lân la mê mẩn mãi, khó mà rời rứt được.

          - Phần cái lưỡi hay cảm nhiễm các món ngon vật béo, mùi vị hăng nồng. Còn thân thì lúc nào cũng ham sống cảnh giàu sang sung sướng, tiền của lụa là, muốn nghỉ giường cao nệm ấm và va chạm những vật trơn láng mịn màng.

          - Đến cái ý thì không vật chi mà nó chẳng ưa thích: nào trau dạng sửa hình, chưng diện cửa nhà y phục; nào chức tước, bạc vàng, oai danh lừng lẫy. Nên biết, sáu cửa của lục căn, tiếp nhiễm lục trần vừa kể trên, là dưới sự sai khiến của vọng tâm phân biệt. Bởi cái ý phân biệt tham chấp đó, là chủ đề của các căn, nên Đức Thầy dạy chúng ta hãy sớm trừ ngay nó.

          - Nếu chúng sanh nào thức tỉnh tu hành, biết dùng trí huệ giám thị và điều khiển lục căn, đừng cho ô nhiễm lục trần, tức hành giả đặng tự tại giải thoát, thân tâm không còn bị đọa đày trong luân hồi khổ nạn.

 

CHÚ THÍCH

          BẬN BỊU: Vướng víu về tình cảm với sắc đẹp, lòng muốn rứt bỏ, nhưng khó xa rời được.

          XẠ HƯƠNG: Chất xạ lấy nơi rún (rốn) của vài loại thú rừng, như: Hươu hoặc chồn, mùi rất thơm, quí; dùng làm thuốc trị bịnh. Ví dụ: Hương thơm xạ ướp. Đây chỉ các mùi thơm của hương trầm.

          SÁU ĐƯỜNG ẤY Ở TRONG TÂM Ý = Sáu đường ấy là sáu ngõ (cửa) của lục căn tiếp xúc với lục trần vừa giải trên. Trong tâm ý, là vì: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là năm cửa và dưới quyền điều khiển của tâm ý. Tâm ý vốn ở bên trong, ví dụ như ông chủ nhà, còn năm căn kia, ví như năm cửa bên ngoài, hễ tâm ý vọng thì năm trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, theo năm cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà vào nhà. Ấy gọi là sáu căn ô nghiễm sáu trần. Nhược bằng tâm ý chơn thì năm căn không tiếp xúc năm trần, tức lục căn thanh tịnh mà thành Đạo giải thoát.

          Xưa, Đức Tam Tổ có nói:

                    “Dục thủ nhứt thừa, Vật ố lục trần,

                    Lục trần bất ố, Hườn đồng chánh giác”.

            (Muốn chứng đặng bực nhứt thừa, thời đừng đắm nhiễm sáu trần, nếu sáu trần không nhiễm đắm thì đồng với bực chánh giác).

          Trong Kinh Tạp A Hàm có chép:

          Thuở xa xưa về trước, gần bên bờ ao, cỏ mọc um tùm, có một con rùa, ẩn náu nơi đó đã lâu năm. Hằng ngày nó bò ra khỏi hang, đi kiếm ăn.

          Hôm nọ, có con Giả Can (một loại với chồn và chó sói) đi quanh đó. Trong lúc đói bụng, đang rảo bước kiếm mồi, nó chợt thấy con rùa bên bờ nước, lòng vui mừng vô hạn, chắc rằng sẽ được một bữa ăn ngon lành. Nó chạy nhanh lại, toan bắt rùa mà ăn. Khi thấy con Giả Can chạy tới, chú rùa biết sắp lâm nguy, không tài nào bò trốn kịp, nên thủ thế trước. Nó nằm yên thu mình vào trong vỏ cứng, chẳng để hở một phần nào.

          Giả Can, hết lật con rùa qua bên nầy, rồi lật rùa qua bên kia, ý chừng tìm chỗ có thịt mà cắn. Nó cắn cái vỏ thì vỏ rùa cứng quá cạp không được. Nó đành để yên, ngồi đó đợi cho khi nào rùa ló đầu đuôi ra mà cắn, nhưng rùa rất khôn ngoan, càng rúc đầu, đuôi và bốn chân vào trong vỏ hơn trước.

          Đợi mãi rùa không ló đầu, ló chân ra, phần mệt mỏi, phần bụng đói, bức bách, Giả Can liệu ở đó mãi cũng vô ích, nên bỏ rùa đi kiếm mồi khác.

          Nhờ đó, rùa được khỏi chết.

          Khi kể xong câu truyện trên, Đức Phật khuyên các Tỳ Kheo:

          “Các ngươi nên biết: Thiên Ma Ba tuần, thường rình rập bên các người, nó muốn cho mắt các ngươi nhiễm sắc, tai các ngươi thích nghe tiếng, mũi các ngươi ưa ngửi hương, lưỡi các ngươi thích nếm vị, thân các ngươi muốn cọ xát những chất trơn láng. Ý các ngươi luôn vọng tưởng. Nghĩa là nó muốn các ngươi nhiễm trước lục trần. Thế nên các ngươi hằng ngày hãy giữ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý luôn luôn trong giới luật thì ác Ma ba Tuần không làm chi được. Cũng như con Giả Can kia, không làm gì hại được rùa”.

          Nếu mỗi người tu hành đều giữ mình được như chú rùa, không để lục căn duyên nhiễm theo lục trần thì lo gì Đạo quả chẳng viên thành.

          Tấm gương của chú rùa thật là một bài học quí giá, xứng đáng cho người sau ghi nhớ.

          TỈNH TÂM: (Xem CT câu 230, T-1, Q.1).

          TRÍ ĐẠO: Trí sáng suốt diệu huyền, đắc nhập chơn lý (Đạo). Cũng gọi là chơn trí, có diệu năng đoạn trừ vọng tâm phiền não, làm cho sáu căn thanh tịnh, không còn ô nhiễm sáu trần.

          GIẢI THOÁT: Giải, do Phạn ngữ (Scr) Moksha, phiên âm là Mộc đề hay Mộc xoa, dịch là Giải. Có nghĩa lìa khỏi sự trói buộc của hoặc nghiệp phiền não. Thoát, là ra ngoài tam giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Vậy, giải thoát là cởi mở sự trói buộc của nghiệp luân hồi sanh tử, chứng đắc từ quả thánh A La Hán lên Duyên Giác, Bồ Tát và Phật. Cho nên chữ Giải thoát đồng nghĩa với chữ Niết Bàn (bất sanh bất diệt). Đức Thầy từng dạy:“Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc đạo an bần xả thân tu tỉnh”.(Bát chánh: Chánh Tư Duy)

          ĐỌA ĐÀY: Cũng viết là đày đọa. Có nghĩa bắt làm việc nặng nhọc và đối đãi khắc khổ. Đây ý nói sự thèm khát đòi hỏi của lục căn, làm cho thân tâm con người, phải gian nan khổ sở.

 

CHÁNH VĂN

119.- Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ.
121.- Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là phải bực công-bình,
124.- Nẻo chánh-trực chí người quân-tử.
Người biết Đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.
Trọng mẹ cha kính nể Phật-Trời,
128.- Đừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Điên nói đại nói càn,
132.- Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 119 tới câu 132)

          - Đức Giáo Chủ kêu gọi trong giới trí tài nên lặng tâm suy nghĩ lời giáo huấn của Ngài và trước khi đứng ra xử thế, mỗi người cần phải tu thân xử kỷ. Lời dạy trong đây đồng với thuyết “Chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Đức Khổng Tử. Phận làm người trước hết phải lo tu trị bản thân, rồi sẽ sửa dạy người khác. Được thế, mới đúng với lẽ công bằng ngay chánh và xứng đáng là bậc hiền nhân quân tử.

          - Kẻ tu học Đạo pháp lúc nào cũng cẩn trọng lời nói, khi muốn thốt ra điều gì, cần suy nghĩ chín chắn, nếu thấy đúng với lẽ phải và có lợi cho Đạo đức mới nói. Bằng không, thà nín thinh càng tốt; và nên chừa hẳn những tiếng xảo ngôn thất tín. Đối với cha mẹ cần có hiếu thảo, mỗi khi thưa hỏi điều chi, nên dùng lời lẽ dịu dàng lễ độ. Đầy lòng tôn kính Phật Trời và các bậc Thần Thánh, không nên nói ngang tàng vô lễ mà vương mang nghiệp tội: “Khi nói làm ít chịu suy lường, Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác”.(Kh/thiện, Q.5)

          - Với lòng thẳng ngay trung chánh, ta đã và đang rèn tập nên bảo trọng nó, cho đến khi thành đạt mục đích. Dù phải đường đầu với bao thử thách, khó khăn hay có thiệt hại đến thân mạng, ta cũng quyết định không thay đổi. Bởi lòng quá thương đời nên Đức Thầy không ngần ngại, nói thẳng với số người còn sai trái, dầu ai có rầy la chưởi mắng cũng cam.

 

CHÚ THÍCH

          TRÍ TÀI: Cũng gọi là tài trí. Có nghĩa tài năng và trí thức. Đây chỉ cho người có thế trí biện thông, tức kẻ có học thức, tài ba trong đời, nhưng trí độ còn thường tình, chưa thấu được chơn lý của Đạo xuất thế gian.

          TIÊN XỬ KỶ HẬU LAI XỬ BỈ: Do câu thành ngữ người xưa thường dùng “Tiên xử kỷ nhi hậu xử bỉ”. Có nghĩa trước phải tự xét xử phê phán việc của ta, rồi sau mới xét xử bình phán việc của người. Kinh Phật Giáo cũng có câu:“Chánh kỷ dĩ giáo nhân giả thuận, Thích kỷ dĩ giáo nhân giả nghịch”.(Giữ mình ngay chánh rồi dạy người là điều thuận lý, còn tự bỏ mình, buông lung mà đứng ra dạy người là điều nghịch lý). Đức Thầy cảnh tỉnh những người không biết xử kỷ:

                    “Sợ nhiều kẻ dạ buồn đổi chí,

             Quên những câu chánh kỷ hóa nhơn”.(Thiên lý ca)

            CÔNG BÌNH: Công bằng ngay thẳng, không thiên vị một ai. Ca dao có câu:“Theo trong luân lý giáo khoa, Công bằng là đạo người ta ở đời”. Đức Thầy nay cũng bảo:

                    “Trên vua minh chánh cầm cân,

           Dưới quan liêm khiết xử phân công bình”.(Hoài cổ)         

          CHÁNH TRỰC: (Xem CT câu 100, T-2, Q.3).

          QUÂN TỬ: (Xem CT câu 471, T-2, Q.2).

          PHẢI GÌN NGÔN NGỮ: Tự mình nói ra là ngôn, đáp lại kẻ khác là ngữ. Giải chung, ngôn ngữ là cách nói năng xử sự bằng lời nói, hoặc viết ra trên văn tự. Câu “Phải gìn ngôn ngữ”, ý dạy người tu phải thận trọng, gìn giữ lời nói cho đúng đắn, không bạ đâu nói đó. Bởi lời nói rất quan trọng, nên Cổ Đức từng bảo: “Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang”.(Một lời nói mà làm cho hưng thịnh nước nhà, cũng một lời nói mà làm cho nước mất nhà tan). Và Kinh thi cũng có câu:“Bạch Khuê chi điếm, thượng khả ma giả; tư ngôn chi điếm, bất khả vi giả”.(ngọc Bạch Khuê có vít, có thể mài được. Lời nói có vít, chẳng biết làm sao?)

          Kinh Phật cũng dạy:“Lập thân chi yếu, ngôn hạnh thị tiên”.(Cốt yếu của sự lập thân, lời nói là trước hết).

          Thuở xưa, tại cái ao nọ, nhằm năm đại hạn, nước khô hết. Các loài thủy tộc như: tôm, cá, cua…đều chết, chỉ còn con rùa sống sót trong cảnh khô khan!

          Một hôm, có hai chú Cò đến kiếm mồi, rùa đem tình cảnh khốn khổ của mình ra than thở:

          - Nếu trời hạn hán mãi như thế nầy chắc tôi phải chết thiêu hoặc bị người ta bắt mất. Vậy hai anh có phương pháp nào cứu tôi với !

          Ngẫm nghĩ giây lâu, một chú Cò bảo:

          - Cách đây non mười dặm, có ao sen vừa sâu rộng, vừa có nhiều thức ăn. Bây giờ hai đứa tôi tha một cành cây, mỗi đứa cắn một đầu; còn anh thì ngậm khúc giữa, nhớ đừng hả miệng ra sẽ bị rớt chết. Cò dặn đi dặn lại đôi ba lượt, rồi hai chú khởi hành. Rùa lấy làm vui thích, vì chuyến nầy mình sẽ sống cuộc đời thong thả.

          Bay được một đỗi, đến xóm nhà nọ, có đàn trẻ em đang chơi, trông thấy liền la lớn lên:

          - Anh em ơi! Ra coi nè! Hai con cò tha một con rùa, ngộ quá! Đám trẻ chạy ra trông thấy la ầm lên. Có đứa nói đùa:

          - Ê ! coi kìa! Giống hệt hai thằng mỏng dắt anh thầy mù!

          Rùa nghe nói dằn lòng không được, định bụng sẽ mắng bọn trẻ một chập cho hả giận, nhưng vừa hả miệng ra thì rùa bị rơi xuống đất nát thây”.(Phỏng theo Kinh tạp tỷ dụ.)

          Xưa, Đức Phật thường dạy:“Ở đời biết bao nhiêu người vì không giữ lấy miệng, nói không phải lúc nên thường mang họa. Nầy các đệ tử! Họa từ miệng phát ra, vậy các ngươi hãy gìn giữ lấy miệng”.

          Ngài Lão Tử cũng bảo: Bên trong ngăn chừng lời nói, bên ngoài đóng chặt cửa miệng, thì suốt đời không lầm lỗi.(Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn; chung thân bất cần).

          Ngày nay Đức Thầy hằng khuyên dạy tín đồ, trước khi muốn nói điều chi cần phải cẩn trọng, lựa lời:

                    “Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,

                  Khi thốt ra đoan chánh hiền từ”.(Kh/thiện, Q.5)

            KÍNH NỂ: Kính trọng nể vì. Đây ý dạy người tu khi nói năng phải biết kính trọng nể vì Trời Phật và Tổ Tiên Cha mẹ.

          NGAY THẲNG: Ngay ngắn, thẳng thớm, thành thật, chánh đáng. Ví dụ: Tánh tình ngay thẳng, ăn ở ngay thẳng: “Ngay thẳng hiếu trung trang hiếu thảo”.(Thiên lý ca)

CHÁNH VĂN

133.- Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần-gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
136.- Kẻ hiền-hậu người thì gian-ác.
Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ-bi sánh thể ngọc-ngà,
140.- Trong các báu khó bì tánh Thiện.
Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
144.- Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.
Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ-gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
148.- Mến những kẻ biết vào đường chánh.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 133 tới câu 148)

          - Đoạn nầy ý nói: Thời tiết còn có lúc mưa lúc nắng thì kiếp sống của nhân sanh, vẫn còn gian lao mãi mãi, đó là định luật không một ai tránh khỏi. Bởi tiền nghiệp của mỗi chúng sanh chẳng đồng nhau, cho nên sanh ra cõi trần mỗi người, mỗi khác; từ hình thể: thấp, cao, xấu, tốt cho đến nếp sống giàu, nghèo, hiền lương hay hung ác đều có sai biệt cả.

          - Còn việc giao tiếp với thôn xóm, Đức Giáo Chủ dạy: Khi gặp người lớn tuổi hơn mình, dù lạ hay quen, cũng nên kính nể. Đồng thời lo rèn tập lòng từ bi để ban vui cứu khổ cho người và vật. Bởi tánh hiền lành rất quí giá, dầu cho ngọc ngà châu báu cũng không sánh được.

          - Về mặt xử thế tiếp vật và nghề sanh sống, cần phải tập tánh ngay thật, công bằng, chẳng nên bày vẽ nhiều điều lắm chuyện. Bỏ hẳn những lời dối gian láo khoét, những việc làm bất chánh: đổi giạ, thay cân.

          Tất cả việc xấu xa, tội ác thường xảy ra hằng ngày trong xã hội, ta hãy giữ lòng trong sạch, đừng để ô nhiễm tập tành. Công việc khai Đạo độ đời, lòng Đức Thầy luôn thanh khiết, không còn ham muốn sắc màu danh vị, chỉ thương mến những ai biết cải tà qui chánh, nương theo Phật pháp tu hành.

CHÚ THÍCH

          HIỀN HẬU: Hiền lành và trung hậu.

          TÁNH THIỆN: Tánh hiền lành tốt đẹp.

          XỬ THẾ: Cách ở ăn, đối xử với người đời. Đức Thầy bảo:

                    “Sanh đấng nam nhi toan xử thế,

                      Sống làm hiền triết nghĩa gồm hai”.

                                   (Đức Thầy gởi cho Ô. Mười (Thúc Ông)

          BÀY BIỆN: Cũng viết là bài biện. Có nghĩa sắp đặt sửa soạn. Bày đặt cho có chuyện. Ví dụ: Khéo bày biện cho lắm chuyện

          XẢO NGÔN: Nói dối trá, nói láo một cách khéo léo. Kẻ xảo ngôn hay dùng lời giả dối, tráo trở để lừa gạt kẻ khác, song thường rước lấy tai hại về mình:“Cái miệng nó kiện cái thân”. Sách Thánh nói:“Dục lượng tha nhơn, tiên tu tự lượng, thương nhơn chi ngữ, hười thị tự thương, hàm huyềt phún nhơn, tiên ô tự khẩu”.(Muốn so lường người ta, trước phải so mình; lời nói hại người; trở lại hại mình, ngậm máu phun người, miệng mình dơ trước). Đức Thầy nay cũng bảo:

                    “Người dương thế chẳng ưa bốc xước,

                 Phật Thần nào gần kẻ xảo ngôn”.(Kh/thiện, Q.5)

            ĐẤU: Vật để đo lường lúa gạo thời xưa; cứ 10 thăng là một đấu. Câu “…lận lưòng tráo đấu” là chỉ cho người làm việc gian tà, khi mua thì dùng giạ già, cân già; nhưng lúc bán thì giạ non, cân non.

          BẦN TĂNG: Nhà tu nghèo. Tiếng tự khiêm của các Tăng sư tu hành theo Đạo Phật. Đây là tiếng Đức Thầy thường dùng:

                    “Ai mà xét đến ăn năn,

       Quày đầu hướng thiện bần tăng dắt dùm”.(Bóng hồng)

            ĐƯỜNG CHÁNH: Nghĩa của chữ Chánh Đạo (Xem CT câu 161, T-2, Q.2).

 

CHÁNH VĂN

149.- Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,
152.- Chừng phân định thì Ta cao-quí.
Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,
Đặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
156.- Cho trần-hạ tìm trong lánh đục.
Chẳng chịu tu mãi còn lục-thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công-danh quên chữ sanh-thành,
160.- Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.
Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng-trần sớm gội cho xong,
164.- Ngày lập hội mới mong trở lại.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 149 đến câu 164)

          - Công cuộc khai hóa nhân sanh, Đức Thầy có mượn lời của Phật Thích Ca và Thánh Khổng Tử truyền dạy khắp nơi để cho mỗi người đều hiểu biết tường tận. Tuy hiện giờ lắm kẻ ỷ mình có thế lực, lấn áp người tu, nhưng đến một ngày kia: “Phật Thánh Tiên Đông độ lướt sang, Miền Nam địa phân chia đẳng cấp” thì bá tánh sẽ thấy rõ sự cao quí của kẻ tu hành Đạo đức ra sao.

          - Đức Thầy khuyên tín đồ nên lập thân hành Đạo và nuôi dưỡng ý chí cao cả để sau nầy được yết kiến Phật trời. Vì lòng quá thương xót chúng dân nên Ngài đã nhiều lần giải bày cặn kẽ, cho mỗi người xem đó hầu tìm con đường thanh cao, lánh xa chỗ đê hèn nhơ xấu.

          - Xét thấy việc tu không làm trở ngại cho phần sanh sống, thế mà có nhiều người mãi do dự chần chờ. Quanh năm suốt tháng, chỉ biết hơn thua trong cảnh nghèo giàu, nhưng rốt cuộc đâu chẳng ra đâu, kế tử thần gõ cửa; nào khác câu chuyện “Anh chàng cày ruộng xưa kia”.(Anh cày ruộng trải qua 91 kiếp, gặp 7 vị Phật ra đời mà anh vẫn còn cày ruộng. Đến khi Đức Thích Ca xuất thế dùng phương tiện nhắc lại cho anh biết tiền kiếp. Anh mới chịu giác tỉnh tu hành.) Cũng có số người vì quá tham giàu sang danh lợi, chẳng nhớ ơn sanh dưỡng của mẹ cha.

          - Đức Giáo Chủ cũng khuyên dạy vạn dân, rán tìm về con đường siêu thoát của Phật Tiên, lánh xa nơi trần tục khổ sầu. Trong việc cư xử với đời mỗi người cần giữ lòng trong sạch, gội rửa tất cả những gì xấu xa tội ác: “Chẳng còn vướng víu chi với cuộc lợi danh tài sắc”.(Chư Phật có bốn Đại đức.) Có thế, mới được dự Hội Long Hoa và trở về quê Tiên cảnh Phật.

 

CHÚ THÍCH

          PHẬT THÁNH: (Xem CT chữ  Phật đoạn 7, T-1, bài Sứ Mạng và chữ Thánh câu 96, T-3, Q.5). Chữ Phật Thánh ở đây, chỉ cho Đức Phật Thích Ca, vị Giáo Tổ của Đạo Phật và Đức Thánh Khổng Tử, bậc Thầy của Nho giáo.

          TRUYỀN BAN: Truyền dạy và ban rộng khắp nơi, cho bá tánh được rõ.

          HÙNG CƯỜNG: Mạnh mẽ và có thế lực. Đây chỉ cho số người dựa theo sức mạnh của nhà cầm quyền Pháp thời ấy (1939-1945). Đức Thầy có câu:

                    “Ai ôi ! hãy ngắm cho tường,

          Nhìn ông tận mặt hung cường làm chi?”(Bóng hồng)

          PHÂN ĐỊNH: Cũng gọi là định phân. Có nghĩa chia định ra từng việc, từng phần và thứ bực cao thấp, lớn nhỏ cho có trật tự. Đức Thầy từng dạy:

                    “Sớm lo sắp đặt luyện tài,

            Phật Trời phân định mặt mày mới xinh”.

                                                                  (Dặn dò Bổn đạo)

          LẬP THÂN: (Xem CT câu 549, T-2, Q.3)

          NUÔI CHÍ: Nuôi dưỡng ôm ấp mãi trong đầu óc một định hướng và ý chí cao cả. Cho đến khi thành đạt mục đích. Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Khuyên bổn đạo gần xa nuôi chí,

                    Lẽ nhiệm mầu huyền bí nơi đây”.(Thiên lý ca)

            YẾT KIẾN: Ra mắt, đến viếng hoặc được gặp mặt người trên.

          TÌM TRONG LÁNH ĐỤC: Do chữ “lánh trược tầm thanh”. Có nghĩa tìm nơi cao cả trong sạch, xa lánh chỗ thấp hèn nhơ xấu. Ý chỉ tầm con đường Đạo đức siêu thoát của Phật Tiên, và tránh xa chốn tranh đấu: danh, lợi, tình. Vì đó là đường luân hồi, thế tục.

          Đức Thầy có câu:

                    “Phủi trần xóa bỏ lợi danh,

          Quyết lòng lánh trược tầm thanh mai chiều”.

                                                  (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          LỤC THỤC: Cũng gọi là lục đục. Có nghĩa chần chờ chậm lụt, không mau mắn. Ví dụ: tới giờ nầy vẫn còn lục thục ở đó. Đức Thầy thường kêu thúc:“Nếu chần chờ lục đục trễ chơn”.(Vọng Bắc hoà Nam)

          CÔNG DANH: Công nghiệp và danh vọng.

          SANH THÀNH: Đẻ ra và nuôi cho nên người.

          PHÚ QUÍ: Giàu sang quyền quí. Đức Thầy có câu:

                    “Phú quí tạo đời thêm mệt xác,

                      Tham danh phế Đạo chí đâu yên”.

                                                  (Luận việc Tu hành)

          DƯỠNG DỤC: Nuôi nấng và dạy dỗ chăm nom.

          BIỂN HỒNG TRẦN: (Xem CT câu 249, T-1, Q.1)

CHÁNH VĂN

165.- Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,
168.- Bởi giả tạm của đời Nguơn-hạ.
Gắng công tu xem nhiều phép lạ,
Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.,
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
172.- Chớ ham mến mà sau lao-lý.
Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tý,
Đến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đà nhượm máu điều,
176.- Sao trần-thế không toan chẳng liệu.
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,
180.- Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.
Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố-thiết ta hoài.
Nên bá-gia hãy rán miệt-mài,
184.- Dầu rách rưới cũng mau cần-kiệm.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 165 đến câu 184)

          - Đoạn nầy có ý dạy: người tu học Đạo Pháp dầu có lâm cảnh nghèo khổ, cũng chẳng ngại chi, miễn sao được đi đúng theo con đường ngay chánh là tốt. Có điều, chẳng nên tham đắm cảnh giàu sang phú quí, bởi nó là của giả tạm, như làn mây, bọt nước. Nhứt là giữa buổi Hạ ngươn, tiền của từ tay người nầy sang qua người khác rất mau chóng, và khi nhắm mắt cũng chẳng đem theo được vật nào.

          - Đức Thầy khuyên mọi người, hãy gắng công tu niệm, để sau nầy được xem các đấng Thần Tiên, dùng phép mầu trừ dẹp kẻ hung tàn bạo ác. Nếu ai còn say đắm: ăn sung, mặc sướng, hàng lãnh, võng dù thì mai hậu sẽ gặp nhiều tai nạn khổ lao.

          - Cuộc tận diệt cõi Hạ ngươn khởi đầu từ năm Bính Tý (1936), tai nạn lụt lội đã xảy ra một lần, tại miền Nam nước Việt, rồi nay (1939) lại tái diễn. Cùng một lúc, cuộc Đệ nhị Thế chiến sắp bùng nổ từ Âu sang Á, các nước ngoài phải chịu cảnh đói nghèo, chết chóc rất thê thảm. Trước trạng huống ấy, nếu bá tánh không sớm liệu toan, thì một ngày kia tai nạn khổ sầu đưa đến, đành phải chịu, chớ không thể nào cầu trời khẩn Phật, tiếp cứu mình cho kịp.

          - Đức Giáo Chủ dạy khắp chúng sanh từ đây nên bỏ dứt sự ăn chơi, lười biếng và phải hăng hái lo làm ăn, đó là điều cấp thiết, cho cuộc sống của nhân loại; vì cảnh nghèo đói sắp xảy ra một bên. Lúc bấy giờ trận giặc đói đang lan tràn đất Trung Hoa. Đức Thầy cũng tiên đoán, rồi đây nó sẽ sang đến miền Bắc Việt Nam. Lại thêm người ngoại quốc muốn phá hoại nền kinh tế nước ta, họ cho vật giá gia tăng để xiết chặt dân ta vào vòng nô lệ. Do đó Đức Thầy khuyên trong vạn dân từ đây hãy chuyên cần, vừa “…sốt sắng lo làm ăn” và “vừa lo tu hiền chơn chất”, để vượt qua cảnh nghèo đói tới đây.

 

CHÚ THÍCH

          NGAY ĐÀNG: Con đường ngay chánh. Ý chỉ con đường của Đạo Phật.

          NGƯƠN HẠ: (Xem CT chữ Hạ ngươn, đoạn 5, bài Sứ Mạng).

          HUNG ĐỒ: (Xem CT câu 113, t-2, Q.2)

          NĂM BÍNH TÝ: Nhằm năm 1936, năm ấy bị nạn lụt lội, thất mùa, bá tánh chịu nạn đói khổ.

          SỐT SẮNG: Nhiệt thành, có nhiệt tâm, hết lòng mau mắn. Ví dụ: Anh ấy sốt sắng trong việc từ thiện. Đức Thầy có khuyên:“…Phải cần kiệm sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất”.(Tám điều răn cấm)   

          CẦN THIẾT: Rất cần, phải có mới được.Ví dụ: Điều ấy cần thiết lắm.

          BỐ THIẾT: Bố là tiếng lóng. Ý là khủng bố bao vây. Thiết là xiết chặt. Đây chỉ cho ngoại quốc bán hàng hóa càng ngày càng tăng giá cao, quá đắc đỏ để xiết chặt dân ta. Đức Thầy từng nói:

                    “Gạo lúa kém là đồ sản thổ,

                      Hàng quá cao ấy của ngoại bang vào”.

                                                  (Trả lời cùng Ông Táo)

          CẦN KIỆM: Siêng năng và tiết kiệm. Ví dụ: Người biết tiết kiệm dầu không giàu cũng dư ăn (Tiểu phú do cần).

CHÁNH VĂN

185.- Lời Ta dạy hãy nên suy-nghiệm,
Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình. 
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
188.- Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,
Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,
192.- Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
196.- Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 185 đến câu 196)

          - Đức Thầy khuyên mỗi tín đồ hãy xét suy, nhận định lời dạy của Ngài cho kỹ để cố gắng thực hành theo. Trước nhứt là phải suy gẫm cho thấu đạt chơn lý, để trí huệ phát khai, rồi dùng trí sáng ấy quán xét, chiếu tan ngũ uẩn. Đứng đầu là tánh tham: Xét rằng các sắc tướng của vạn pháp trong thế gian đều là ảo ảnh, không thật có, hầu diệt tận gốc của sự ham muốn.

          - Kế tiếp là lòng sân hận, nó là cửa sanh ra muôn ngàn tội ác, ta phải xoay về nội tâm theo dõi từ phút giây, hễ thấy một đóm lửa sân vừa phát khởi nơi lòng, là diệt ngay, đừng để nó lộ ra trên gương mặt, hoặc hành động, ngôn ngữ. Đến sự si mê cũng là tai hại không vừa; hãy dùng trí huệ phá trừ nó, nương theo ngọn đèn chơn lý, soi sáng lối đi. Đồng thời dùng trí bình đẳng diệt sạch lòng phân biệt nhân ngã.

          - Vậy muốn chiếu phá năm uẩn vừa kể trên, trước hết hành giả phải trừ ngay cái tâm nhân ngã và lòng tham ái. Hễ tâm phân biệt nhơn ngã và tham ái không còn, thì lòng câu chấp ô nhiễm và sân si đều dứt sạch. Bấy giờ, tâm ta được rỗng thông sáng tỏ, chẳng còn dính mắc một pháp tướng nào, tức đặng trở về cái chân thật tướng của Như Lai.

CHÚ THÍCH

          SUY NGHIỆM: Vận dụng trí huệ suy nghĩ, nghiệm xét để nhận định. Ví dụ: Suy nghiệm điều đó đúng không?

          NGŨ UẨN: Cũng gọi là ngũ ấm. Có nghĩa năm cái kết hợp, che đậy chơn tánh của con người. Theo Kinh Phật từ trước thì giải ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Còn Đức Thầy nay giải là: tham, sân, si, nhân, ngã. Hai lối giải nầy, tuy danh từ có khác, nhưng lý nghĩa vẫn đồng nhau.

          A)- Ngũ Uẩn: Theo Kinh Phật giải;

          1/- Sắc Uẩn: là sắc thân tứ đại giả hợp. Hễ có sắc thân tức có sanh, già, bịnh, chết…Thế mà chúng sanh khởi tâm chấp trước điên đảo, rồi mưu cầu vật chất phụng sự nó.

          2/- Thọ Uẩn: Khi có sắc thân, dĩ nhiên phải có lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thường tiếp nạp sáu trần: sắc thinh, hương, vị, xúc, pháp…làm cho chúng sanh khởi tâm thủ, xả, ái, ố.

          3/- Tưởng Uẩn: Sau khi lục căn tiếp nạp lục trần những cái thủ, xả, ái, ố đó làm cho chúng sanh khởi tâm tưởng tượng ghi nhớ mãi.

          4/-Hành Uẩn: Khi tưởng tượng ghi nhớ những điều thủ, xả, ái, ố, làm cho chúng sanh khởi tâm, quyết thật hành cho kỳ được.

          5/- Thức Uẩn: Đối với những việc đã và đang thực hành, mỗi mỗi đều làm cho chúng sanh khởi tâm phân biệt người và ta, hơn thua, tốt xấu…

          CÁCH PHÁ NGŨ UẨN: theo Kinh Phật dạy: Để tiêu phá ngũ uẩn, hành giả cần phải diệt sạch vọng tâm câu chấp bản ngã. Diệt được bản ngã thì chẳng còn quá trọng sắc thân. Sắc thân hiện hữu đã chẳng quá trọng, thì các cái vọng khởi: thọ lục trần, tưởng ái ố, hành đắc thất, thức nhơn ngã sẽ tự tiêu diệt ngay. Vì rằng các vọng khởi: thọ, tưởng, hành, thức chỉ để cung cấp cho sắc thân, hễ tâm vọng chấp sắc thân không còn, là chúng nó không còn. Tâm Kinh có chép: Hễ soi thấy năm uẩn đều không, thì vượt qua tất cả lao khổ nạn ách; tức được tự tại an vui (chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách).

          B)- NGŨ UẨN: theo Đức Thầy giải trong đây:

          1/- Tham: tức là tham vọng luyến ái. Từ một điểm khởi niệm tham ái, tâm hồn đã tạo nghiệp sanh tử mới đi đầu thai, thành có xác thể con người.

          2/- Sân: là lòng nóng giận. Khi có xác thân, tất phải có sáu căn, tiếp nhiễm với sáu trần; song sự thèm khát ô nhiễm của sáu căn không thỏa mãn, nên có sân hận.

          3/- Si: là tâm mê tối. Khi lòng sân dấy lên, làm mờ tối cả tâm trí “giận mất khôn”, như mặt nước hồ bị nổi sóng, nên không nhận rõ lẽ chánh tà chơn giả.

           4/- Nhân: là người. Từ chỗ mê tối ấy, mới phân biệt người và ta khác nhau, bao giờ cũng xem người là thấp kém, thua thiếu, đáng khinh chê lấn áp, ai đau khổ mặc ai.

          5/- Ngã: là cái tâm chấp ta. Lúc nào cũng xem ta là cao cả hơn người, đáng quí trọng, kính yêu rồi bảo thủ, nên mỗi vật chi đều cũng muốn bao gồm về mình. Chính đó là lòng phân biệt, khác ái, là hột giống sanh tử, để rồi đầu thai trở lại một thân khác nữa, và cứ thế mà lên xuống mãi trong sáu nẻo luân hồi: “Tâm trần tục còn phân nhân ngã, Thì làm sao thoát khỏi luân hồi”.(Kệ Dân, Q.2)

          CÁCH PHÁ NGŨ UẨN: Theo Đức Thầy dạy: Muốn phá ngũ uẩn, trước hết người hành Đạo phải tu tập trí huệ, rồi dùng sự sáng suốt ấy mà quán chiếu, diệt trừ tâm tham ái và vọng chấp bản ngã. Nếu lòng câu chấp bản ngã không còn, thì các tánh: sân hận, mê si và sự phân biệt ngã nhân, cũng không do đâu phát khởi. Lúc ấy tâm ta được bình đẳng an nhiên, chứng ngộ “chơn như thật tướng”, dứt đường tử sanh:

                    “Phá ngũ uẩn rứt lần tham ái,
                      Cội sân si cũng phải tảo trừ.
                         Đem về giác tánh chơn như,
                     Kim thân thị hiện dứt trừ tử sanh”.
                                               (Cho Ô. Cò Tàu Hảo)

          ĐỒNG LÝ NGHĨA:

          Tại sao gọi hai cách PHÁ NGŨ UẨN vừa giải trên đồng lý nghĩa?

          Bởi theo Kinh xưa, giải: từ chỗ có sắc thân, mới có thọ lục căn, tưởng ái ố, hành đắc thất và thức nhân ngã. Nên hễ diệt được lòng câu chấp sắc thân thì những cái thọ, tưởng, hành, thức cũng không còn, tức chứng được “chơn như thật tướng”.

          Còn Đức Thầy nay thì giải: từ chỗ lòng tham ái mới có sắc thân hiện hữu, và sân, si, nhân, ngã. Nên khi trừ được gốc tham ái, thì lòng sân hận, mê si và nhân ngã đều dứt sạch, tất chứng được “Giác tánh chân như”.

          Cho nên nói hai lối giải trên đây, về phương tiện thực hành và văn tự, tuy có khác đôi phần, nhưng khi kết quả cũng đồng đạt đến mức cứu cánh giải thoát.

          NĂM TÊN: Chỉ cho năm uẩn nói trên.

          VÔ PHÁP TƯỚNG MỚI LÀ THIỆT TƯỚNG: Bởi cái tâm vốn chơn không, cho nên người tu không nên chấp vào các phá tướng, như ngũ uẩn nói trên. Vì các pháp đều không có thật thể và thường tồn. Nếu hành giả trừ được cái tâm tham chấp vào các pháp tướng, tức chứng được cái thiệt tướng của Như Lai. Kinh Kim Cang có dạy:“Người tu hành đến khi nào không còn bị các tướng câu thúc, tức là không còn phân biệt có tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tất nhiên cái thiệt tướng thường tái hiện ra sừng sững vậy (chơn tướng Như Lai)”.

CHÁNH VĂN

197.- Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,
Với bốn ma mới đặng an-nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
200.- Sắc mến nó ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên-miên,
204.- Chữ Tài của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,
208.- Mà lao-lý tấm thân trần-thế.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 197 đến câu 208)

          - Trên đường giải thoát, người hành đạo muốn được kết quả, cần phải nhắm ngay cội gốc của các chướng nghiệp mà diệt trừ; tức ba món phiền não: tham, sân, si nơi ý nghiệp. Hễ phiền não chướng không sanh thì hai nghiệp của thân và khẩu cũng thanh tịnh. Đồng thời nên xa lánh bốn con ma bên ngoài, tức là “tứ đổ tường”(tửu, sắc, tài, khí).

          - Bởi rượu và sắc đẹp là hai thứ rất độc, nếu kẻ nào say đắm, tất sẽ bị hư thân mất mạng, sự nghiệp tiêu tan, xã hội khinh chê ruồng bỏ. Ôn lại quá trình lịch sử, từ khi mới có loài người đến nay, có một ai còn dùng tửu sắc mà được thành Tiên hay Phật bao giờ. Thế mà người đời nay cứ mãi đam mê.

          - Đến con ma thứ ba là của tiền vàng bạc, vì nó, con người hành động những tội ác: tham lam, giành giựt, trộm cướp, gạt lường, để lấy tiền của nuôi cả vợ con, rốt cuộc riêng mình chịu tội khổ chẳng ai tiếp được.

          - Thứ tư là con ma thuốc phiện, hơi thơm của nó làm cho người ta nghiện ngập, thân xác dần dần gầy ốm, nóng nảy, khô khan; quanh năm, suốt tháng chỉ xây quanh phòng hút. Bao nhiêu gia tài sự nghiệp lần hồi tiêu sạch, chỉ tồn lại một thân hình bạc nhược, chịu sầu khổ cho đến ngày giã biệt cõi đời.

 

CHÚ THÍCH:

          NGHIỆP CHƯỚNG: Nghiệp là hành động của: thân, khẩu, ý gây tạo. Chướng là ngăn che, trở ngại. Theo Kinh xưa, mỗi chúng sanh đều có ba nghiệp chướng: Phiền não chướng, Nhân chướng và Báo chướng. Phát xuất từ phiền não chướng (tham, sân, si) dấy lên, con người mới tạo nghiệp tức là nhân chướng, rồi bị cái báo chướng trả lại. Cứ thế mà vay trả lên xuống mãi trong sáu đường sanh tử.

          Còn thời nay, Đức Thầy dạy:“Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây trong bài “Luận về Tam nghiệp”:

          - Thân nghiệp (tội lỗi do xác thân gây nên);

          - Khẩu nghiệp (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);

          - Ý nghiệp (tội lỗi do ý tưởng gây nên)”.

          Trước tiên, phát xuất từ ý nghiệp (tham, sân, si) mới phát ra ngôn ngữ (khẩu nghiệp: lưỡng thiệt, ỷ ngôn, ác khẩu, vọng ngữ) và hành động (thân nghiệp: sát sanh, đạo tặc, tà dâm). Ba nghiệp ấy cứ tiếp nối nhau luôn, tạo thành sức mạnh lôi kéo chúng sanh, sau khi chết phải luân hồi qua kiếp khác, rồi kiếp khác nữa…khó mà thoát ly ra được.

          Trong bài “Lời khuyên Bổn đạo” Đức Thầy có dạy: “Trong khi các trò còn ở trong biển mê sông khổ, thường bị những chướng nghiệp nhiều đời mà làm cho linh hồn chìm đắm trong ba cõi sáu đường, xuống xuống lên lên luân hối chuyển kiếp”.

          BỐN MA: Chỉ cho “Tứ đổ ttường”: tửu, sắc, tài, khí. Sở dĩ gọi nó là ma, vì bốn món ấy làm cho chúng sanh đam mê khổ sở (Xem thêm phần CT câu 221, T-2, Q.2)

          BÀN CỔ: Theo sử liệu Trung Hoa, khi mới khai thiên lập địa, Bàn cổ là người đầu tiên xuất hiện làm vua trên quả địa cầu; rồi lần lần mới có loài người và vạn vật. Cho nên gọi Bàn Cổ là thỉ Tổ của loài người. Cổ thơ có câu:“Bàn Cổ khai lò tạo hóa, Tam Hoàng Ngũ Đế lại ra giúp đời”.

          LIÊN MIÊN: (Xem CT câu 319, T-2, Q.2)

          KHÍ HÙNG: Hơi nóng, mạnh của chất thuốc phiện.

 

CHÁNH VĂN

209.- Kẻ nhứt dạ thường sanh ba kế,
Để gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội tình,
212.- Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.
Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,
Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
216.- Trong bá-tánh biết ai hữu chí.
Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,
 Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,
220.- Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.

 

(LƯỢC GIẢI Từ câu 209  đến câu 220)

          - Làm người ai cũng có một tấm lòng, song những kẻ gian ác, thường bày ra trăm mưu ngàn chước, lường gạt công sức của kẻ khác, để họ ngồi không hưởng lợi. Hành động ấy, đã gây rất nhiều tội lỗi về sau, thế mà họ chẳng sớm ăn năn cải sửa.

          - Nhìn thấy bịnh ôn dịch, đang nhiễu hại khắp lê dân, sao dương thế chẳng biết lo âu, kiêng nể ? Đức Thầy cũng tiên tri vào một mùa Hè năm Mùi nào đó, sẽ có cuộc thử thách lớn lao, để xem trong bá tánh, ai là người bền chí trên con đường Đạo đức.

          - Lại nữa, do sự ký thác của Đức A Di Đà và Phật Tổ, Đức Thầy có trọng trách thâu phục con nghiệt long, để cứu an bá tánh. Cho nên Ngài phải lâm phàm Khai Đạo, trước khi sự trạng ấy xảy ra, để dân chúng kịp thời lo cải dữ về lành, tu bồi công đức hầu thoát qua các tai nạn của cơ tận diệt.

CHÚ THÍCH

          NHỨT DẠ: Một lòng.

          BÁ KẾ: Cũng viết là bách kế. Có nghĩa nhiều kế hoạch. Ý chỉ người có nhiều mưu mẹo để lường gạt kẻ khác.

          BỊNH ÔN DỊCH: (Xem CT câu 137, T-2, Q.2).

          NĂM DÊ: Năm Mùi, một trong 12 chi. (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất , Hợi.)

          MÙA HÈ: Mùa hạ, một trong bốn mùa của mỗi năm. Kể từ đầu tháng tư tới hết tháng 6 âl là mùa Hè.

          HỮU CHÍ: Có chí, bền chí, có ý định và quyết đeo đuổi tới cùng. Do thành ngữ “Hữu chí sự cánh thành” (có chí thì sự nghiệp được thành).

          Xưa, Tôn Tẩn theo học Đạo với Thầy Quỉ Cốc, thời gian thấy mình kém hơn Bàng Quyên, bèn thối chí trở về. Dọc đường gặo Bà Lão ngồi bên triền núi, cầm một thanh sắt lớn mài vô đá. Tôn Tẩn bước lại gần hỏi:

          - Bà Lão mài thanh sắt, ý định làm vật chi vậy?

          Bà Lão đáp:

          - Mài cho thành cây kim để xài!

          - Mài như vậy có thể thành được sao?

          - Nếu có chí bền thì vật chi lại không thành!

          Tôn Tẩn ngẫm nghĩ hồi lâu hiểu ý, bèn trở lên núi, tạ lỗi Thầy xin ở lại, từ ấy ông kiên chí tu học, quả sau được thành Đại La Thiên Tiên.

          Ngạn ngữ thường nói: “Làm người có chí thì nên, Có công mài sắt chầy ngày nên kim”. Và Cổ Đức cũng từng bảo:

          “Thế thượng vô nan sự, Nhân tâm sự bất kiên.

          Tạc sơn thông đại hải, Phi vụ đổ thanh thiên

          Tạm dịch: Trên đời mọi việc dễ như chơi,

                           Người chẳng bền lòng mới khó thôi.

                           Xẻ núi kiên tâm thông bể cả,

                           Vén mù thông suốt bốn phương trời.

          Đây có ý dạy người tu có chí bền mới mong kết quả.

          TÂY PHƯƠNG: Xem CT câu 279, T-2, Q.2).

          THỌ KÝ: Do Phạn ngữ (Scr) Vyakarana, phiên âm là Hoacalana, dịch là thọ ký. Có nghĩa trao cho sự ký chứng, hoặc là truyền dạy và ủy thác cho một sự việc gì. Chữ “Tây phương thọ ký” ở đây chỉ cho Đức Thầy được Đức A Di Đà và Đức Thích Ca truyền bảo và phó thác cho nhiệm vụ hàng phục con nghiệt long để cứu an bá tánh.

          NGHIỆT LONG: Con rồng hung dữ. Luận về nội tâm thì lòng độc hại là con rồng dữ. Còn luận theo cơ sấm, thì gần đến ngày tận diệt thế gian, sẽ có con thú (từ sấu tu sắp thành rồng) xuất hiện giết hại người hung dữ:“Chừng ấy nổi dậy phong ba, Có con nghiệt thú nuốt mà người hung”.(Sấm Giảng Q.1)(Xem thêm phần CT câu 446, T-1, Q.1).

          Khi xưa, trên đường độ thế, Đức Thích Ca có hàng phục con nghiệt long tại hang đá gần chỗ Ngài Ca Diếp ở. Lúc đó, Đức Phật vừa đi tới hang đá, độc long liền phun lửa làm hại Phật. Ngài liền dùng lửa tam muội đốt cháy hang đá và thâu độc long vào bình bát.

          Đến thời Đức Lục Tổ Huệ Năng cũng có bắt một con rồng dữ. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh chép rõ truyện đó như sau:

          Thuở ấy, trước điện chùa Bửu Lâm có cái ao lớn, trong ao có một con rồng thường xuất hiện, làm diêu động cả cây rừng. Một ngày kia, rồng hóa hình rất lớn, làm cho sóng dậy nước trào, mây mù tối mịt, các môn đồ đều kinh hãi. Đại sư nghe, bước ra nạt rằng:

          - Ngươi có thể hiện hình lớn, mà không thể hiện hình nhỏ được. Nếu ngươi quả là Thần Long thì biến hóa được: nhỏ biến ra lớn, lớn biến ra nhỏ thử coi.

          Rồng ấy thoạt nhiên hụp xuống, giây lâu hóa hình nhỏ, nhảy lên bờ. Tổ sư đưa bình bát ra nói thách:“Chắc ngươi không dám chung vô bình bát của Lão Tăng ?” Rồng hăm hở nhảy tới trước mặt Tổ, Tổ sư thâu vào bình bát đem về chùa thuyết pháp cho rồng nghe. Nghe xong, rồng thoát xác đi mất. Bộ xương rồng ấy dài tới 7 tấc; đầu, đuôi, sừng, cẳng nguyên hiện, để lưu truyền tại chùa.

          Ngày nay Đức Giáo Chủ ra đời, cũng có trách nhiệm bắt con nghiệt long, đó là thường sự của Chư Tổ, chư sư, khi lâm phàm độ thế.

 

CHÁNH VĂN

221.- Khổ với thảm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,
224.- Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.
Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
228.- Sau danh thể xạ hương khắp chốn. 
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
232.- Chừng khổ não phàn-nàn căn số.
Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
236.- Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 221 đến câu 236)

          - Đoạn giảng trên Đức Thầy cho biết: sự khổ não hiện giờ chưa có là bao, nhưng đến sau nầy, ai trông thấy cũng phải bay hồn khiếp vía ! Đó là do cuộc chọn lọc: hiền còn dữ mất của cơ tận diệt, diễn nên cảnh núi xương sông máu, sự thảm khổ ấy không sao kể xiết.

          - Thế mà, dân chúng hiện giờ, đâu có hay biết để tìm phương giải thoát. Đợi đến chừng cảnh khổ ấy xảy ra, mới rõ là việc có thật thì sự quá muộn. Tuy bấy giờ, thấy sự tu hành Đạo đức quá đơn giản, thông thường, nhưng ngày sau kết quả rất cao quý và danh thơm sẽ bủa khắp thế gian.

          - Ở đời thường thấy nhiều người ỷ mình giàu có, tiêu xài không tiếc của, nên Đức Giáo chủ giác tỉnh họ: hãy tiết kiệm số tiền ấy mà trợ giúp kẻ nghèo khó để gây phúc hạnh sau nầy. Nếu ai mãi lo ăn xài xa xí, thì một ngày kia, cảnh khổ đưa đến, dầu có than thân tủi phận, cũng không sao tránh khỏi.

          - Ngài còn cho biết: những Sấm kinh của Ngài truyền dạy, ví như bài toán đố, nếu ai biết suy tầm tra cứu, cho thấu đạt lẽ cơ huyền và tiến hành y theo đó, tất được kết quả an nhàn: “Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo”.(Giác mê, Q.4) Tất cả  lời khuyến tu của Ngài, là sự thật muốn cứu đời, chớ chẳng phải muốn lừa gạt một ai, mà trong dân chúng cứ mãi e dè ngờ vực.

CHÚ THÍCH

          THA THIẾT: (Xem CT câu 79, T-2, Q.2)

          XẠ HƯƠNG: (Xem CT câu 106, T-3, Q.4).

          PHÀN NÀN: Than thở cho phận mình hay trách móc cách gián tiếp: Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai. (Cổ thi) Đức Thầy cho biết:

                    “Chừng nào ta gặp Hớn Hoàng,

     Chúng sanh mới hết phàn nàn số căn”.(Sám Giảng, Q.3)

            CĂN SỐ: Căn phần số kiếp đã định sẵn theo nghiệp báo luân hồi.

          LỜI TRUYỀN SẤM: (Xem CT câu 484.T-2, Q.3)

          BÀI TOÁN ĐỐ: Một pháp toán do Thầy giáo ra đề cho học trò làm. Người làm toán phải hiểu ý đúng theo phương pháp đã giảng dạy mới đáp số đúng được. Có khi dùng mẹo mà đố, nếu ai chưa hiểu lý ắt khó mà đáp đúng.

          Lúc Đức Thầy lưu trú tại Sai Gòn, có ông xã Bộ và ba nhà học thức miền Bắc đến viếng. Trong câu chuyện bàn luận Sấm Kinh, Ngài có đố các ông ấy:

          - Tôi đố các ông, “hai lần hai là mấy”?

          Ông Xã Bộ lẹ miệng, trả lời:

          - Bạch Thầy hai lần hai là bốn!

          Đức Thầy nói:

          - Toán đố mà các ông ! Nếu tính theo cửu chương thì em học trò tính cũng được.

          Các ông khách suy nghĩ một hồi không ra, đành chịu thua và nhờ Đức Thầy giải thích.

          Đức Thầy liền cầm miếng giấy đưa lên, nói:

          - Các ông coi đây: Một lần hai, rồi Ngài xé miếng giấy ra làm hai, để xuống bàn nửa miếng, còn nửa miếng cầm lại, nói tiếp:

          - Đây, hai lần hai ! Ngài liền xé miếng giấy còn lại và để hết hai mảnh giấy xuống bàn, nói:

          - Đó, hai lần hai là chỉ có ba, chớ đâu phải là bốn. Toán đố mà các ông!

          Ở đây ý Đức Thầy muốn dạy, mỗi ai khi xem đến lời Sấm Giảng của Ngài thì phải:“Chuyên chú nghĩ suy từ nét dấu”.(Kh/thiện, Q.5) Hoặc là:“Coi rồi phải nhận cho hiểu lý”,(Giác Mê TK, Q.4) rồi y cứ theo đó mà thực hành mới được kết quả.

CHÁNH VĂN

237.- Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.
Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,
240.- Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.
Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.
Chừng lao-xao ác thú non Tần,
244.- Thì Nam-Quốc lương dân mới biết.
Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du-thuyết ít hàng.
Ai nói chi Ta cũng chẳng màng,
248.- Sau biết đặng dân đừng có tiếc.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 237 đến câu 248)

          - Bởi hàng hóa của các nước ngoài, bán cho ta càng lúc càng tăng giá, khiến dân ta chịu cảnh lầm than đói rách. Thế nên Đức Giáo Chủ muốn đem lại cho đời cái chân hạnh phúc sau nầy, bằng cách là khai hóa Đạo mầu, nếu ai chịu thực hành theo ắt được toại hưởng.

          - Ngài còn cho biết cả thế giới, rồi đây sẽ xảy ra những tai vạ: chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật.v.v…nên Phật Tiên phải lâm phàm, tùy phương cứu độ. Và đến khi nào tại miền Bảy Núi (Châu Đốc) diễn ra cảnh các loài thú dữ, nhiễu hại sanh linh thì dân chúng Việt Nam mới nhận rõ, lời tiên tri của Ngài là đúng.

          - Hiện nay trong công cuộc dạy đời, Đức Thầy dùng giấy mực viết ra Kinh Giảng, truyền bá Đạo lành để bá tánh tiện bề tu học; dầu cho người đời có khinh chê, Ngài cũng không màng kể. Chỉ e cho dân chúng sau nầy, biết được sự Đạo đức là cao quý, rồi mới hối tiếc thì việc quá muộn !

CHÚ THÍCH

          NGOẠI QUỐC: Nước ngoài, chỉ cho các nước khác.

          HẠNH PHÚC: Được vận may phúc tốt. Mọi việc đưa đến đều như ý. Chính hạnh phúc là cái tốt lành trong luân lý, và lý tưởng trong Đạo đức. Cổ thi có câu:“Tìm chân hạnh phúc thoát đường trái oan”. Đức Thầy từng nói trong bài “Không buồn ngủ”:

                    “Biết làm sao gieo Đạo khắp đại đồng,

                      Đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc”.

          LAO XAO: (Xem CT câu 129, T-1, Q.1).

          LƯƠNG DÂN: Người dân hiền lành. Nghĩa rộng chỉ chung tất cả dân chúng.

          DU THUYẾT: Đi khắp nơi đem học thuyết hay một đề án gì, biện luận cho mọi người nghe. Đây ý nói Đức Thầy đem giáo pháp truyền dạy khắp nơi, để bá tánh biết tỉnh ngộ tu hành.

CHÁNH VĂN

249.- Con phù-du hẫng-hờ nào biết,
Thấy bóng đèn thì quyết chun vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
252.- Nhìn đèn nọ thấy mồ phù-dũ.
Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Đeo danh-lợi như con vật ấy.
Giống xe cát biển Đông thường thấy,
256.- Tên dã-tràng rất uổng công-trình.
Khi nước ròng nhờ lúc bình-minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.
Trần phú-quí thì trần thong-thả,
260.- Chớ còn Ta cứ khổ lao hoài.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 249 đến câu 260)

          - Đức Giáo Chủ sáng tác quyển Giác Mê Tâm Kệ nầy, vào cuối mùa Thu năm Kỷ Mão (1939). Ngài cảnh tỉnh người đời, bằng cách đề cập đến loại phù du, vì ham ánh sáng của bóng đèn mà phải chết thiêu, để ám chỉ hạng người đam mê danh lợi, gây tạo lắm điều tội ác, rồi phải chịu đau khổ chết chóc vì nó: “Phú quí tạo đời thêm mệt xác, Tham danh phế Đạo chí đâu yên”.(Luận việc Tu hành)

            Ngài lại nhắc đến tên Dã Tràng đã hoài công xe cát, ý mong lấp biển tìm châu, để thỏa lòng luyến tiếc, nhưng bị dòng nước lớn cuốn cát trôi đi. Đây cũng chỉ cho những người suốt đời lo chạy theo tiền tài danh vọng, song chẳng hề hưởng được lâu dài, bởi: “Lợi danh chớp nháng như luồng gió, Thấy đó rồi đâu bỗng mất liền”.(Luận việc Tu hành)

            - Lời giác tỉnh trên đây, mặc cho khách trần biết hồi tâm, hay mãi đua tranh theo sự giàu sang, sung sướng. Riêng phần Đức Thầy, vì lòng từ bi độ chúng, nên Ngài chẳng nài sự gian khổ:

                    “Thân ta dầu lắm đoạn trường,

           Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn loài”.(Cảm tác)

 

CHÚ THÍCH

          PHÙ DU: Một thứ côn trùng rất nhỏ, đầu giống con chuồn chuồn, nhưng nhỏ hơn. Sanh từ dưới nước, có cánh bay được, lúc ban đêm hễ thấy người ta đốt lửa, hoặc ánh sáng của ngọn đèn thì tự bay vào, rồi chết. Ý nói kiếp sống của con người quá ngắn ngủi, thấy đó rồi mất đi. Nhà thơ Cao Bá Quát có câu: “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, Kiếp phù du trông thấy cũng nực cười”.

          Loại phù du cũng gọi là con thiêu thân, bởi nó thấy ánh sáng thì cứ lao đầu vào đó, nên bị chết đốt. Ở đây ám chỉ cho những người mãi tham đắm danh lợi, rồi phải chết vì lợi danh.

          HẪNG HỜ: Cũng đọc là hững hờ hay là hờ hững. Có nghĩa thờ ơ, lạnh nhạt, không quan tâm đến, không để ý đến. Đức Thầy từng bảo trong “Khuyến Thiện, Q.5”:

                    “Việc tu thân thiện tín hẫng hờ,

                      Chừng họa đến e cho khó tránh”.

          PHÙ DŨ: Chỉ cho loại phù du vừa giải trên.

          TÊN DÃ TRÀNG: Cũng gọi là Công Dã Tràng tức là một loại còng nhỏ, trên lưng lõm xuống, thường ở theo bờ biển. Hễ nuớc ròng thì chúng dùng càng vít cát, rồi chở xuống mé nước đổ, để lấp biển, nhưng đến khi nước lớn bị sóng đánh vào, cát liền tan rã. Thành ngữ nầy dùng chỉ cho việc làm nào dày công cực nhọc mà không đem lại kết quả gì: “Dã tràng xe cát biển Đông, Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”(Cổ thi). Ở đây ám chỉ cho những người, suốt đời chỉ biết đeo đắm danh lợi ảo huyền, nhưng khi gặp tai nạn đưa đến thì tất cả đều thả trôi theo dòng nước:“Từ rày trần hạ lợi danh trôi”.(Lộ chút cơ huyền) Và ngày rốt cuộc :“Nhắm mắt cũng nắm hai tay”.(Khuyến Thiện Q.5)

          Sau đây là câu chuyện phát xuất thành ngữ Dã Tràng:

          - Ngày xưa, tại tỉnh Sơn Tây (Trung Hoa), có anh thợ săn tên là Dã Tràng, chuyên sống nghề săn bắn. Hôm nọ Dã Tràng đi ngang qua một hang đá, bỗng gặp đôi vợ chồng nhà rắn. Anh chẳng hề đá động đến, nhưng từ độ ấy anh luôn theo dõi cặp rắn, thấy chúng thường sống bên nhau, chừng như hạnh phúc lắm !

          Một hôm, rắn cái tới kỳ lột vỏ, rắn đực đi kiếm mồi về nuôi nấng, chăm sóc. Chẳng bao lâu, tới kỳ lột vỏ của rắn đực, rắn cái chẳng những không làm bổn phận, lại còn đi tư tình với con rắn đực khác, và dắt tình nhân về miệng hang toan hại chồng. Thấy thế, Dã Tràng động lòng nghĩa hiệp, quyết giết con rắn lang chạ ấy; anh liền rút tên, bắn rắn cái chết tốt, tình nhân của nó kinh sợ chạy mất.

          Mấy hôm sau, rắn đực cứng mạnh bò ra miệng hang, gặp vợ bị tên nằm chết, xem lại mũi tên có đề danh Dã Tràng, bèn tìm tới nhà báo thù. Rắn lẻn vô nằm núp dưới giường, bỗng nghe Dã Tràng thuật rõ câu chuyện xảy ra của cặp rắn cho vợ nghe. Bấy giờ rắn đực mới vở lẽ, vợ mình chết là đáng tội. Còn anh thợ săn nầy là ân nhân của ta, nó liền bò ra gật đầu trước mặt Dã Tràng mấy cái và nhả ra một hột ngọc sáng, rồi bò đi mất.

          Từ ngày Dã Tràng được rắn tặng cho viên ngọc, mỗi khi anh để ngọc vào miệng ngậm lại, nghe được tiếng của các loài thú. Hôm nọ, Dã Tràng nghe đàn quạ nói với nhau: “Phía đông, cách đây một dặm đường, có con nai tơ bị thương gần chết”. Dã Tràng đến đó gặp đúng như vậy, anh xẻ nai lấy thịt. Đàn quạ bay theo kịp, kêu nói:“Lấy thịt nai cho chúng tôi bộ đồ lòng, vì công ấy của chúng tôi”. Dã Tràng làm y theo lời quạ. Lần sau cũng thế, nhưng quạ chưa đến kịp, bị chó sói cướp mất bộ đồ lòng. Quạ bay theo trách móc Dã Tràng là kẻ bội ngôn…Dã Tràng biện minh thế nào, chúng cũng không thôi. Thấy quạ hỗn xược, mắng nhiếc đủ điều, Dã Tràng tức giận rút tên bắn quạ. Quạ né khỏi và cắn mũi tên bay đi, nói:“Ta sẽ báo thù, ta sẽ báo thù”, đoạn rồi nó đem mũi tên ấy cắm vào tử thi đang trôi.

          Thế là mấy ngày sau, Dã Tràng bị lính bắt về tội bắn người chết…Anh bị tống giam, chờ ngày lãnh án. Ngồi trong ngục, Dã Tràng nghe bầy chim sẻ nói:“Có nhiều kho lương của Vua để hở, đã bị loài chim ta ăn no nê”, anh bèn cho viên chủ ngục hay điều đó. Lúc đầu họ không tin, nhưng sự việc đúng y như vậy !

          Sau đó, Dã Tràng thấy đàn kiến kéo nhau di chuyển và nói:“Sắp có bão lụt lớn, chúng ta phải lánh nạn”, anh liền báo tin nữa. Lần nầy quan sở tại báo cáo về triều đình để ra lịnh ngừa lụt. Quả nhiên mấy ngày sau lụt lội tơi bời, nhưng nhờ ngừa trước, nên không bị thiệt hại cho lắm.

          Qua cơn lụt, vua ra lịnh tha cho Dã Tràng và vời anh về trào hỏi nguyên do? Dã Tràng tâu rõ tự sự. Vua liền phong tước và cho ở bên Hoàng cung. Từ đó Vua thường mượn viên ngọc của Dã Tràng ngậm vào miệng, để được nghe tiếng của các loài chim nơi vườn thượng uyển.

          Ngày kia, Vua tổ chức du ngoạn vùng biển, cũng để được nghe các động vật dưới nước trò chuyện. Ngồi trên mạn thuyền, vua nghe các bầy cá tâm sự đủ điều, lòng thỏa thích vô hạn nên cười lên ha hả, bỗng viên ngọc rơi tõm xuống nước. Vua rất hối hận, nhưng không kịp, bèn huy động cả thợ lặn, chài, lưới để tìm lại viên ngọc, song vô hiệu.

          Riêng Dã Tràng thì sầu não, biếng ăn, biếng ngủ và sau cùng nảy ra ý “lấp bể tìm châu”, nên hằng ngày anh ra mé biển, xe cát đổ xuống cho đến khi thân cùng lực tận mà vẫn không tìm được ngọc.

          Sau khi Dã Tràng chết, người ta thấy trên bãi biển xuất hiện giống cua nhỏ (còng), cứ mỗi khi thủy triều xuống (nước ròng) thì chúng xe cát đổ thành đống sát mé nước; nhưng khi dòng thủy triều ùa lên (nước lớn) thì cát ấy bị tan đi. Cứ thế mà chúng mãi làm không chán. Thấy vậy, người ta bảo nhau rằng: Có lẽ Dã Tràng chết đi, vì lòng luyến tiếc chưa vẹn nên hóa kiếp làm loại còng nầy, với hoài bão lấp biển để tìm lại viên ngọc quí.

          Điển tích Dã Tràng, xưa nay văn chương thường dùng để chỉ cho sự lấp biển vá trời, là việc sức người không thể làm được, chỉ hoài công vô ích.

          Còn về Phật học thì ám chỉ cho vạn vật trong thế gian, cái gì có hình sắc hay quyền tước, lợi danh, tình ái đều phải đi theo định luật: thành, trụ, hoại, không, nên dù ta có nhọc công gầy tạo và tham luyến cũng chẳng được bền lâu.

          BÌNH MINH: Bình là yên lành phẳng lặng; Minh là biển. Đây chỉ cho mặt biển êm tịnh, không sóng gió.

 

CHÁNH VĂN

261.- Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,
Mặc lê-thứ làm không tự ý.
Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
264.- Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.
Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,
Chớ chẳng phải của người lãng-trí.
Mê với tỉnh nhận ra là lý,
268.- Thấy dương-trần ngủ mãi ngủ hoài.
Thức dậy mà tầm Đạo kiếm bài,
Để thi-cử khỏi mang tiếng rớt.
Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,
272.- Mà nào ai có thức dậy tầm.
Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,
Nên than-thở cùng trần ít tiếng.
Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiến,
276.- Tánh trong như nước bích mùa xuân.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 261 đến câu 276)

          - Đoạn nầy ý cho biết lời kệ cơ khuyên dạy của Đức Thầy, mặc bá tánh có thi hành hay không, tùy ý. Nhưng nếu ai muốn làm theo thì khi xem đến Sấm giảng, cần suy tầm cho thấu hiểu lý thâm sâu trong đó mà thực hành, mới mong kết quả.

          -Tuy nói lời lẽ trong đây là của kẻ Khùng, nhưng toàn lời của bậc Phật, bậc Thầy, chớ chẳng phải như lời của bao nhiêu người lãng trí khác. Vậy hành giả nào có nhận xét và phân tách được, đâu là mê lầm và đâu là giác ngộ, mới rõ được chơn lý nhiệm mầu của Đạo.

          - Bởi thấy chúng sanh mãi ngủ vùi trong cảnh trần thống khổ, nên Đức Thầy kêu gọi họ sớm thức tỉnh tu hành, tìm hiểu cho rõ ràng: Tôn chỉ, mục đích và pháp môn, luật giới của Đạo, rồi cố gắng hành y theo đó, tất được kết quả. Ấy gọi là thi đậu, bằng không đặng vậy là thi rớt. Từ trước tới giờ Ngài đã truyền dạy rất nhiều Kệ Giảng, khuyên bá tánh bỏ dữ về lành, thế mà chưa được mấy người thức tỉnh suy tầm.

          - Do đó, Ngài cũng bắt thẹn thầm, nên không ngớt khuyến tấn người đời sớm tỉnh tâm tu niệm. Ngài còn dạy: Khi người tu hết vọng trần, tâm trí trở nên sáng tỏ như “Đài Nguyệt Kiếng” không một vật nào ngăn che được. Và tánh mình cũng tịch tịnh an nhiên, chẳng còn chút bợn nhơ trần trược.

CHÚ THÍCH

          HUYỀN SÂU: (Xem CT đoạn 1, T-1, bài Sứ Mạng).

          LÃNG TRÍ: Cũng gọi là nhãng trí hay đảng trí. Có nghĩa không định trí, hay quên, nghĩ sai.

          MÊ VỚI TỈNH NHẬN RA LÀ LÝ: Câu nầy ý nói: người tu hành có phân tách và thấu hiểu được thế nào là mê, thế nào là tỉnh; tức là nhận rõ được chân lý của Đạo. Và từ chỗ đó hành giả nương về với tâm tỉnh giác để tiến đến quả Bồ Đề. Tỉnh Thế Ngộ Chơn có câu:

                    “Nhơn nhơn tỉnh ngộ, nhơn nhơn Thánh,

                      Tại tại hôn mê, tại tại luân”.

                    (Người biết tỉnh ngộ, ấy là người Thánh,

                    Kẻ tạo hôn mê, tất phải luân trầm).

          Đức Thầy từng kêu gọi:

                    “Tiếng gọi hồn mê hồn được giác,

                       Phải toan sắm sửa rứt trần ai”.

                                              (Tỉnh bạn Trần gian)

          TẦM ĐẠO KIẾM BÀI: Tìm cho hiểu đường lối, mục đích và tôn chỉ, giáo pháp của Đạo để tu tiến.

          SÁCH KHUYẾN THIỆN: Kinh sách khuyên người làm lành, lánh dữ, Đức Thầy có khuyên:

                    :Ai mà muốn đặng phước duyên,

     Nghe lời khuyến thiện lòng liền phát tâm”.(K/thiện Q.5)

          HỔ THẦM: Tủi thẹn trong lòng. Đây ý nói vì chúng sanh quá mê mờ ít người hồi tâm, làm cho công cuộc giác đời của Đức Thầy chưa mấy kết quả, nên Ngài cũng âm thầm tủi phận.

          ĐÀI NGUYỆT KIẾNG: Nơi cõi U Minh, tại điện thứ nhứt của Tần Quản Vương, có cái đài treo một tấm kiếng, hình mặt nguyệt, gọi là Đài Nguyệt Kiếng; để dành soi ứng việc làm tội lỗi của các linh hồn không chịu cung khai. Nó có công năng diễn lại mọi hành động tội ác của tội nhân như cuồn phim chiếu bóng trên màn ảnh. Ở đây ý nói, tâm của người tu khi được tròn sáng thì thấu suốt vạn vật. Đức Thầy từng cho biết:

                    “Ta chí dốc tầm Đài Nguyệt Kiếng,

                      Cho dương trần rọi chuyện sai lầm”.

          NƯỚC BÍCH: Do chữ Bích Thủy. Có nghĩa: nước biếc, nước trong xanh. Nước bích mùa xuân là nói nước sông vào mùa Xuân rất trong lặng một màu xanh biếc.

CHÁNH VĂN

277.- Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Đừng có trách sao không chỉ bảo. 
Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
280.- Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.
Xuống Diêm-Đình thấy tội hỡi ôi ! 
Đó mới biết có nơi địa-ngục.
Kỳ xá tội nay còn một lúc,
284.- Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.
Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy. 
Địa-ngục cũng tại Tâm làm quấy,
288.- Về thiên-đàng Tâm ấy tạo ra.
Cái chữ Tâm là Quỉ hay Ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.
Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
292.-Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Đạo mầu.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 277 đến câu 292)

          - Theo ý đoạn giảng trên, nếu ai chịu thi hành y lời khuyên dạy của Đức Thầy, thì được chứng Đạo; bằng chẳng tu, đợi khi gặp cảnh khổ đưa đến, phải đành chịu, chớ đừng trách Phật Tiên “sao không chỉ bảo”. Ngài cũng cho biết, khắp chúng sanh trong cõi trần, dầu già, trẻ, trí, ngu, ai cũng phải chịu cảnh chết đi rồi sanh trở lại, và cứ thế mà lên xuống mãi trong sáu đường luân hồi thống khổ: “Luân hồi sáu nẻo khôn lần bước ra”.(Cho Ô. Cò Tàu Hảo)

          - Lại nữa, có nhiều người trong kiếp sống, không tin Phật pháp và luân hồi, nhân quả, nên họ mãi gây tội ác. Kịp khi tử thần gõ cửa, bị đọa vào cảnh giới Địa ngục, phải chịu sự hình phạt đau đớn muôn phần; chừng ấy dầu muốn hối lỗi cũng không sao tránh khỏi. Đức Thầy từng khuyến cáo: thời kỳ “Thiên đình ân xá bớt tội căn…”, chẳng còn bao lâu nữa là hết hạn, sao chúng sanh không sớm thức tỉnh tu hành để được hưởng mọi điều cao quí.

          - Bởi có lắm người không để ý đến lời Kinh, tiếng Kệ, Đức Thầy mới nói rõ lý nhân quả: hễ gieo giống chi tất hưởng trái nấy, để cho mọi người trọn tin nơi việc làm lành hưởng phúc, tạo ác mang tai. Và Ngài cũng cho biết: muôn vật trong thế gian, từ san hà đại địa, đến vạn loại chúng sanh và mọi sự thăng trầm vui khổ, Địc ngục hay Thiên đường, thành Tiên Phật hay làm ma quỉ…cũng đều do tâm mình ra cả. Nghĩa là tùy theo tâm thức của mỗi người, mà có thể tiến lên cảnh siêu thoát an vui, hay bị đọa vào chỗ thấp hèn tội khổ.

          - Vậy ai muốn được cao cả, phải sớm thức tỉnh tu hành, và nếu biết rõ phương cách cũng chẳng khó lắm. Hễ giữ lòng mình được thanh tịnh trừ hết phiền não ngã chấp, tất nhiên được “tỏ ngộ Đạo mầu”.

 

CHÚ THÍCH

          LUÂN HỒI: (Xem CT đoạn 1, T-1, bài Sứ Mạng)

          DIÊM ĐÌNH: (Xem CT câu 319, T-2, Q.2)

          ĐỊA NGỤC: (Xem CT câu 66, T-1, Q.1).

          XẢ TỘI: Cũng đọc là xá tội. Có nghĩa: tha tội, miễn tội, cũng như cuộc ân xá, ân giảm cho các tội nhân. Trong Giảng “Mười Một Hồi” Ngài Huệ Lựu bảo:

“Phật đà cảm động lòng thương,

Nói cho ai nấy muốn còn tu thân.

May mà Trời Phật bố ân,

Xả bớt tội đó thanh nhàn tấm thân”.

          THIÊN ĐÀNG: Cũng đọc là Thiên đường, tức là cõi Trời. Đây chỉ cho cảnh siêu thoát, thường an nhiên tự tại, đối với cảnh Địa ngục, là nơi bị buộc ràng đầy lao khổ. Đức Thầy có câu:

                    “Thiên đường siêu thoát thời thong thả,

                      Địa ngục trầm luân ắt đảo điên”.

                                                  (Tỉnh bạn Trần gian)

          CÁI CHỮ TÂM MÀ QUỈ HAY MA, TIÊN HAY PHẬT CŨNG LÀ TẠI NÓ: Hai câu giảng nầy là nói lên cái lý “Nhứt thiết duy tâm tạo”. Tất cả muôn pháp, muôn cảnh, từ tốt xấu, cao thấp, trí ngu; đến Phật, Tiên, Thần, Thánh hay ma quỉ, cũng đều do tâm tạo ra cả. Trong “Tâm Địa Quán Kinh”, Phật bảo: “Tâm như Họa sư, năng họa chủng chủng sắc cố. Tâm như đồng bộc vi chư phiền não sở sách dịch cố. Tâm như Quốc vương khởi chủng chủng tự đắc tại cố. Tâm như oán tặc, năng linh tự thân thọ đại khổ cố”.(Tâm như thợ vẽ, vẽ được tất cả các thứ hình sắc. Tâm như đứa tớ bé, bị các phiền não thúc hối và sai khiến. Tâm như vị Quốc vương, phát khởi được các việc an vui tự tại. Tâm như cừu thù, khiến tự thân phải chịu các điều thống khổ).

          Và trong “Pháp Bửu Đàn Kinh”, Đức Lục Tổ cũng nói: “Lòng từ bi, tức là Quan Âm, lòng hỉ xả tức là Thế Chí, lòng năng tịnh (trong sạch) tức là Thích Ca, lòng bình trực (bình đẳng và chánh trực) tức là Di Đà”.

          Ngược lại, “lòng nhơn ngã là núi Tu Di, lòng tà vạy là nước biển, lòng phiền não là sóng trào, lòng độc hại là rồng dữ, lòng dối trá là quỉ thần, lòng trần lao là cá trạnh, lòng tham sân là Địa ngục, lòng ngu si là súc sanh”. Đức Thầy hiện nay cũng cho biết:

                    “Làm gian ác là quỉ là ma,

                  Làm chơn chánh là Tiên là Phật”.(Kệ Dân, Q.2)

            TỎ NGỘ ĐẠO MẦU: Thấu đạt cái chơn lý diệu mầu của Đạo, gọi tắt là ngộ Đạo, tức là cái tri kiến chơn thật bừng mở ra, liền chứng ngộ Đạo Bồ Đề mà kinh Pháp Hoa thường gọi “Ngộ Phật Tri Kiến”.

          Xưa, Ngài Huy Sơn đến Giang Tây tham học với Tổ Bá Trượng. Tổ vừa thấy liền biết Ngài là bậc đã học đến chỗ sâu kín, bèn cho làm đầu trong đại chúng.

          Hôm nọ, Huy Sơn đang đứng hầu, Tổ kêu Ngài, bảo:

          - Vào trong nhà lấy lửa!

          Ngài vào trong khươi tro hồi lâu trở ra nói:

          - Bạch Thầy! Trong lò không có lửa.

          Tổ tiên rời chỗ ngồi, bước đến lò lửa bươi sâu xuống, gắp được cục lửa đỏ, đưa lên cho Huy Sơn xem và thốt:

          - Ngươi nói không có lửa, chớ cái gì đây?

          Ngài Huy Sơn nhơn đó mà tỏ ngộ chơn tánh.

          Câu chuyện trên cho ta thấy; Huy Sơn bươi lò tìm không ra lửa, ý nói chưa rõ tâm mình có Đạo (chơn tánh), và cũng chưa biết phương pháp, nên chưa tỏ ngộ. Còn Tổ sư bươi lò được lửa đưa lên, khiến cho Huy Sơn tỏ ngộ. Ý nói nhờ có Thầy chỉ cho phương cách, Ngài mới hoát nhiên trực nhận bản tâm, liễu ngộ chân tánh.

          Xưa, Ngài Thanh Lương Quốc Sư bảo: “Cái chí lý của Đạo vốn nơi tâm, pháp của tâm vốn nơi vô trụ, tâm vô trụ rất mầu sáng, không tối tăm. Tánh và tướng đều yên lặng, trùm khắp muôn đức, muôn dụng, gồm nhiếp trong ngoài rất sâu rộng, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng sanh chẳng diệt, không trước không sau, tìm nó không ra, bỏ nó không mất. Mê đắm hiện cảnh thì khổ não rối ren. Bằng tỏ ngộ được chơn tánh thì rỗng thông sáng suốt”. 

          Hiện nay, Đức Giáo Chủ PGHH cũng nói rõ:“Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo”, mà ai muốn được tỏ ngộ, tức phải lặng tâm: “Nếu lặng tâm tỏ ngộ Đạo mầu”.

CHÁNH VĂN

293.- Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.
Sông với núi trước kia mắt ngó,
296.- Khi chết rồi thấy nó đặng nào.
Ai biết đường hãy sớm tẩu-đào,
Kiếm Đạo-lý mà nhờ mà nhõi.
Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,
300.- Ta thương đời len-lỏi xuống trần.
Đạo vô-vi của Phật ân-cần,
Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.
Câu phú-quí Ngài không màng-ước,
304.- Chữ bồ-đề như cội bá-tòng.
Rán dưỡng-nuôi chữ đó trong lòng,
306.-Thì là được định chừng diệu-quả.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 293 đến câu 306)

          - Đoạn kệ trên Đức Thầy diễn tả lý vô thường, khổ não, vô ngã. Ý chỉ con người sống trong cảnh trần, phải gánh chịu muôn ngàn đau khổ, nào sự sanh, già, bịnh, chết; nào mưu cầu chẳng thành, thương yêu ly biệt, oán ghét gặp nhau, và ưu sầu lo ngại. Tất cả đều dồn vào một chữ khổ. Hơn nữa, trong lúc sống còn, dẫu ta có tạo bao nhiêu của tiền đài các…Cho đến mọi cảnh vật sơn hà đại địa…Nhưng đến ngày giã biệt cõi đời, ta chẳng mang theo được một sự vật nào cả. Đúng là “Phù sanh nhược mộng đời lao khổ”.(Khuyến Thiện, Q.5)

            - Vậy ai rõ được lý trên, hãy sớm tìm con đường Đạo lý hầu thoát ly cảnh khổ. Song trên bước hành Đạo, nhà tu cần rèn luyện đức kiên nhẫn: nhịn tất cả lời cay tiếng đắng và vượt qua mọi khó khăn thử thách, để đạt thành mục đích.

          - Bởi lòng quá thương xót sanh linh, Đức Thầy đã nhiều lần nhập thế, đem chánh pháp vô vi hưng truyền trong đại chúng. Ngài nêu tấm gương hy sinh tầm Đạo của Đức Thích Ca: “Mình vàng Thái tử ngôi còn bỏ, Vóc ngọc Đông Cung tước phế liền”,(Luận việc tu hành) để khuyên nhủ tín đồ nên phát tâm Bồ đề. Bởi có lòng Bồ đề nhà tu mới đủ nghị lực lướt qua mọi gian khổ, cũng như loại tòng bá, chẳng hề bị tuyết sương làm tàn cỗi. Và nếu ai biết nuôi dưỡng hột giống giác ngộ ấy nơi tâm mãi, thì quả vị Chánh giác lo gì chẳng đạt thành.

 

CHÚ THÍCH

          DƯƠNG GIAN: Cũng gọi là nhân gian hay dương thế, dương trần. Chỉ cho cõi đời, nơi loài người sanh sống.

          TẨU ĐÀO: Chạy trốn cho khỏi. Đức Thầy có câu:“Tầm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan”.(Thiên lý ca)

          ĐẠO LÝ: (Xem CT câu 155, T-1, Q.1).

          LEN LỎI: Chen mình vào, cố chen cho vào được. Ví dụ: Dầu gặp cản trở vẫn len lỏi vào. Đây ý nói mặc dù đời có nhiều bạc đãi, đầy khó khăn cản trở, nhưng Đức Thầy cũng đã nhiều lần nhập thế độ dân.

          VÔ VI: (Xem CT câu 290, T-2, Q.2).

          THÍCH CA: (Xem CT câu 390, T-2, Q.2).

          BỒ ĐỀ: Phiên âm của Phạn ngữ (Bodhi) Tàu dịch là Chánh Giác. Có nghĩa: lòng giác ngộ chơn chánh. Đức Thầy đã nói: “Lòng Bồ đề sắt đá dám kình”.(Diệu pháp Quang minh)

          DIỆU QUẢ: Quả vị thù diệu của Bồ đề và Niết bàn, do các thắng nhân tu hành mà được.(Thắng nhân là người có năm sức lực siêu thắng (ngũ lực).

CHÁNH VĂN

307.- Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn-ngã,
Người nào đâu có Phật-tánh là.
Xem kệ này như ngọc như ngà,
310.- Phải nảy nở như cơn mưa thuận.
Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.
Trông chúng-sanh nghĩ tận đuôi đầu,
314.- Về Cực-Lạc mới là hết khổ.
Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.
Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
318.- Thì mới được thân sau cao-quí.
Nhìn Phật-Giáo mà tìm cái lý,
320.- Coi tại sao ta phải tu hành.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 307 tới câu 320)

          - Đức Giáo Chủ cho biết, lời luận giải Đạo đức của Ngài, chẳng hề để tâm phân biệt một cá nhân nào, mà vì lòng từ bi của người đã tìm ra chân lý giải thoát, nay có bổn phận giác tỉnh kẻ trần gian: “Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo”.(Sám Giảng Q.3) Cũng như trời mưa không dành riêng cho loại hoa cỏ nào mà bất cứ nơi đâu, hễ có sẵn hột giống và hạp thời tiết thì tự nhiên nức mầm nẩy tược. Vậy ai là người đã có hạt giống Phật, và hữu duyên cùng Đạo pháp, khi nghe đến lời Kệ nầy, hãy sớm tỉnh ngộ tu hành; bởi hiện tình là hợp thời và đúng lúc, cho các căn lành chớm nở.

          - Đức Thầy rất mong đợi mọi người, khi xem Kệ Giảng của Ngài, hãy sớm nghĩ suy cạn lẽ để thấy rằng: đối với cõi Ta bà thống khổ, chỉ có cõi Cực lạc là nơi an vui trường cửu:

                    “Ta bà khổ, ta bà lắm khổ,

                      Có bao người xét cho tột chỗ.

                      Tịnh độ vui, tịnh độ nhàn vui,

                      Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,

                      Nào ai rõ cái vui triệt đáo”.(Kh/thiện Q.5)

          Nhân đó, Ngài khuyên chư thiện tín, nên nhứt tâm niệm Phật làm lành, để được vãng sanh về Lạc Quốc.

          - Ngài cũng nói rõ, giữa thời nầy có rất nhiều mối Đạo ra đời, tà chánh lẫn lộn: “Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân”. (Thiên lý ca) Vậy ai muốn tu hành, hãy dùng trí sáng suốt của mình mà chọn lọc cho kỹ, xem nền Đạo nào thật sự là giải khổ cho chúng sanh. Và có đủ giới luật, tôn chi, cũng như phương pháp tu hành, để đưa chúng sanh đến mục đích giải thoát mà nương theo, tất tương lai được kết quả cao quí. Bằng ngược lại, sẽ lạc vào tà thuyết, mê tín, rất nguy hại cho đời mạng ta: “Lầm tà đạo nhơn hư bất dụng”.(Kim cổ Kỳ quan của Ô. Ba Thới)   

          - Song muốn cho sự tu hành được kết quả chắc chắn, hành giả phải nghiên cứu sâu vào giáo lý Đạo Phật, coi tại sao ta phải tu, tu với phương pháp nào và được kết quả ra sao ? Có thế ta mới vững đức tin và gắng sức tu tiến đến ngày viên mãn.

CHÚ THÍCH

          LỜI THUYẾT PHÁP CHẲNG VÌ NHƠN NGÃ: Câu giảng nầy ý nói lời thuyết pháp của Đức Thầy, chẳng hề có lòng phân biệt, người và ta trong chỗ cao thấp, trí ngu mà chỉ vì lòng từ mẫn. Ngài có bổn phận đánh thức kẻ còn mê để sớm được tỉnh giác. Trong Hoa Nghiêm, Phật có nói; “Ví như mặt trời mọc, trước tiên chiếu các dãy núi chúa, kế đến chiếu tất cả núi lớn, rồi chiếu núi Kim Cang Bảo, sau rốt chiếu khắp đại địa. Ánh sáng mặt nhựt chẳng nghĩ rằng: trước tiên ta nên chiếu các núi chúa lớn, lần lượt mới chiếu đến đại địa. Nhưng vì núi non đất liền có cao thấp, nên ánh sáng chiếu có trước sau. Tâm của Đức Như Lai cũng y như vậy, Ngài thành tựu vô lượng vô biên pháp giới trí huệ, nhựt luân thường phóng vô lượng trí huệ quang minh vô ngại, trước hết chiếu các vị Bồ Tát,…Kế đến chiếu các bậc Duyên Giác, Thinh Văn, kế nữa chiếu những chúng sanh có thiện căn, quyết định tùy theo chỗ đáng hóa độ. Sau cùng chiếu đến cả thảy chúng sanh, nhẫn đến kẻ tà định, vì họ mà làm nhơn duyên lợi ích cho đời vị lai…”

          Đức Thầy hiện nay cũng từng nói:

                    “Giàu sang nghèo khó cũng người,

                  Nên ta thương hết dầu cười hay khen”.

                                    (Khuyên người giàu lòng Phước thiện)

          CỰC LẠC: (Xem CT câu 28, T-2, Q.2)

          ĐẠO CHÁNH: (Xem CT câu 161, T-2, Q.2).

          NHÌN PHẬT GIÁO MÀ TÌM CÁI LÝ, COI TẠI SAO TA PHẢI TU HÀNH: Hai câu giảng trên có ý khuyên mỗi người hãy nhìn sâu vào Giáo lý của nhà Phật để tìm hiểu coi do đâu mà ta phải tu?

          Thấy rằng, xưa nay số người tu hành rất đông, nhưng trường hợp phát tâm thì ít ai giống ai, xét bởi cơ duyên và trình độ chẳng đồng nhau. Song căn cứ vào giáo lý của Đức Phật, Đức Thầy ta có thể đại lược một ít lý do chánh như sau:

          1/- Vì muốn cứu khổ vạn loại chúng sanh: Bởi lòng từ bi, thấy chúng sanh mãi luân chuyển trong bể trần thống khổ, nên các bậc đại căn đại trí, phát tâm tìm Đạo để giải khổ cho muôn loài. Như trường hợp Đức Thích Ca cùng chư Bồ tát trước kia. Cũng như Ngài Kim Sơn Phật hiện nay cho biết:“Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời”.(Sám Giảng Q.3)

          2/- Vì có duyên lành gặp được Phật pháp: Bởi có gieo sâu duyên lành với Đạo pháp, trong nhiều tiền kiếp, nên kiếp nầy vừa nghe được lời sấm kinh là chúng ta phát tâm tu niệm. Ví như có hột giống sẵn, hễ gặp mưa thì nứt mầm đâm tược:

                    “Duyên lành rõ được Khùng Điên,

            Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          3/- Vì tin nơi luật Nhân quả: Bởi nhận xét sự trả vay của luật nhân quả rất nghiêm minh, hễ gieo giống chi tất hưởng trái nấy; mọi cuộc sống sang hèn vui khổ trên đời, đều do nghiệp nhân của mỗi người đào tạo vừa qua mà bây giờ nó trả lại:“Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy”.(Giác Mê TK, Q.4) Và:

                    “Luật nhân quả thật là cao viễn,

                     Suốt cổ kim chẳng lọt một ai”.(Kh/Thiện, Q.5)

            Do đó chúng ta cải ác tùng thiện.

          4/- Vì nghĩ đến nỗi khổ của xác thân: Xét thấy xác thân là nguyên nhân của sự khổ, hễ có sanh ra tất có già, bịnh, chết và mọi sự ái ân phiền não ràng buộc không ngừng. Khi chết đi chưa phải là hết khổ, thần thức phải tùy theo nghiệp lực, mà tạo thành thân chúng sanh khác, để rồi tiếp tục chịu khổ. Đối với cảnh giả tạm đau khổ nầy, là có Niết Bàn, Cực lạc. Thân người ở cõi ấy: “Không già không bịnh chẳng ngày nào lo”.(Từ giã làng Nhơn Nghĩa) và an lạc trường miên, vì thế chúng ta mới phát tâm tu hành để thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử.

          5/- Vì tin sự chuyển biến của lý Tam ngươn: Bởi nhận xét quả Địa cầu sắp đến ngày biến hoại, nhân sanh phải trải qua cuộc tang thương biến đổi, để lập lại Thượng ngươn, mà bấy giờ chỉ có những phần tử ưu tú, thiện lương mới được tồn tại:

                    “Khắp lê thứ biến vi thương hải,

                    Dùng phép mầu lập lại Thượng ngươn”.

          Và:

                    “Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,

              Người tu niệm sống đời thượng cổ”.(Kệ Dân Q.2)      

          Đại khái 5 lý do vừa kể trên, tùy theo căn duyên của mỗi người mà lý do nào cũng là nguyên nhân khiến chúng ta phát tâm hành Đạo 

CHÁNH VĂN

321.- Vì yêu dân Ta kể ngọn-ngành,
Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,
324.- Về chốn ni xa lánh hồng-trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.
Chừng lập Hội biết ai còn mất,
328.- Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.
Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,
Đền Linh-Khứu sơn trung chịu mạng.
Nền đạo-đức Ta bày quá cạn,
332.- Mà dương-gian còn gạn danh từ.
Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
Khóc là khóc thương người ngu muội.
Thấy Điên Khùng làm như sắt nguội,
336.- Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.
Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,
338.-Cười trần-thế mê-si thái quá.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 321 đến câu 338)

          - Bởi lòng quá thương xót dân sanh, nên Đức Thầy đem nguồn Đạo lý giải bày cặn kẽ, khuyên mọi người sớm hồi tâm hướng thiện, để được tránh khỏi cảnh khổ đau giả tạm. Nếu ai y pháp tu hành, đúng theo đường lối mà Ngài đã vạch, tất được siêu sanh về cõi Tịch tịnh (Niết Bàn). Chính nơi ấy là mức giải thoát cuối cùng của nhà tu. Bằng ai chưa trừ dứt hoặc nghiệp phiền não, chỉ lo tu tròn nhân Đạo, bảo vệ Quốc dân, cũng đặng liệt vào bậc Thần Thánh.

          - Hiện giờ chánh tà còn đang lẫn lộn, nhưng đến ngày Phật Tiên lập hội Long Hoa, sẽ có cuộc chọn lọc, khi ấy sự chơn giả tà chánh rất phân minh:“Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà, Lừa lọc con lành diệt quỉ ma”.(Thức tỉnh một nữ Tín đồ) Đức Thầy còn cho biết: Ngài lâm phàm độ chúng, là vì vâng sứ mạng của Đức Phật Tổ tại Linh Khứu Sơn.

          - Ngài giảng dạy giáo pháp rất đầy đủ, rành mạch cho bá tánh nghe, thế mà có nhiều người mãi còn nghi nan gạn hỏi, làm cho lòng Ngài bắt buồn cười, rất thương xót cho những kẻ quá si mê, mờ ám.

          - Cũng có lắm người thấy Đức Thầy ra đời dạy Đạo, đầy lòng nhu hoà nhẫn nhịn, chẳng hề tranh luận, hơn thua với ai, họ lại khinh chê nhạo báng. Nhưng Ngài lúc nào cũng yên tâm hướng về Đức Phật và nhủ lòng thương xót các chúng sanh đó, vì quá tối tăm nên phải lầm lỗi đáng tiếc !

CHÚ THÍCH

          NIẾT BÀN: Phiên âm của Phạn ngữ (Nirvara) Tàu dịch có nhiều nghĩa như sau:

          a)- Diệt độ: một cõi hoàn toàn an nhiên tịch tịnh, không còn hoặc nghiệp phiền não sanh tử luân hồi.

          b)- Viên tịch: Công đức viên mãn trùm khắp sa trần, gọi là viên; trí huệ cụ túc dứt sạch nghiệp chướng, khổ lụy gọi là tịch. Cũng chỉ trở lại bản tâm viên tịch, để thoát trầm nịch khổ hải.

          c)- Tịch diệt: lặng lẽ, trống không và dứt hết các họa hại của sanh tử.

          d)- Bất sanh bất diệt: Chẳng còn một niệm sanh nên chẳng còn sự chết khổ.

          e)- Vô vi: không có nhơn duyên tạo tác, không có bốn tướng: sanh, trụ, dị, diệt.

          g)- Giải thoát: Chẳng còn các vi tế phiền não ràng buộc.

          h)- An lạc: Yên ổn khoái lạc, dứt hết nghiệp nhân khổ não.

          Lại nữa cảnh trí Niết Bàn có bốn đức, gọi là “tứ đức Ba La Mật” (Giải thoát cõi mê, sang qua bờ giác), tức là: chơn thường, chơn lạc, chơn ngã và chơn tịnh.

          - Chơn thường: Là đạt được cái tánh thể Niết Bàn (Pháp thân thường trụ) chẳng biến đổi, không sanh không diệt; nhưng lại thường tùy duyên ứng dụng không dứt.

          - Chơn lạc: Thường thường an vui, dứt hết khổ lụy, lại vận dụng các pháp, hợp với chơn tâm một cách tự tại.

          - Chơn ngã: Vào tới cái thể chơn thật (đại ngã) và ứng dụng độ chúng không chi ngằn ngại.

          - Chơn tịnh: Được vào cái thể an nhiên trong sạch lại tùy duyên khai hóa chẳng hề bị ô nhiễm trần trược. Trong Pháp Bửu Đàn Kinh, Đức Lục Tổ nói:

                    “Ấy tịch diệt chơn thường lạc hiện,

                      Thế mới là thật diệu Niết Bàn…”

          Đức Thầy hiện nay cũng khuyên:

                “Tầm vô vi kiếm cảnh Niết Bàn”.(Diệu pháp QM)

            Hoặc là:“Niết Bàn tịch tịnh là đường vô sanh”.(Bài nguyện trước bàn thờ Ông Bà)

            Sự chứng đắc Niết Bàn lại chia làm hai thời kỳ:

          1/- Nhà tu nhờ nương theo “Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo”, diệt trừ hết tập nghiệp vô minh phiền não nên được chứng quả A La Hán, tức đắc Niết Bàn; nhưng vẫn tiếp tục hành hóa Đạo mầu, rộng độ chúng sanh, đây gọi là “Hữu dư Niết Bàn”, như trường hợp các Đại đệ tử của Đức Phật.

          2/- Những bậc đã qua thời kỳ tu hạnh “Lục Ba La Mật”(Bố thí, Nhẫn nhục, Trì giới, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ) tiến tới thi hành “Tứ vô lượng tâm”,( Đại từ, Đại bi, Đại hỉ, Đại xả) dẫn đến khi hoàn toàn thanh tịnh: tự giác, giác tha, và giác hạnh viên mãn, tức đạt quả vị Bồ Tát và Như Lai, và đến ngày nhập diệt gọi là đắc “Đại Niết Bàn”. Ấy cũng gọi là “Vô dư Niết Bàn”, như trường hợp Đức Bổn Sư Thích Ca.

          Kinh Đại Niết Bàn, Phật bảo:“Tất cả phàm phu vì nghiệp chẳng thanh tịnh nên chẳng có Niết Bàn. Như Lai vì nghiệp thanh tịnh nên gọi là đại định, do đại định nên gọi là “Đại Niết Bàn”.

          CỨU CÁNH: Phiên âm của Phạn ngữ Utara. Có nghĩa cái kết quả cuối cùng, giải thoát rốt ráo. Đại thừa khởi Tín luận có câu:“Lìa tất cả khổ não, Tất được an lạc cứu cánh”. Và trong “Bát Nhã tâm Kinh” cũng nói:“Bực Bồ Tát nhờ nương theo các đại hạnh trí huệ, tâm không quái ngại, lìa xa những điên đảo mộng tưởng, nên được cứu cánh Niết Bàn”.

          Vậy cứu cánh là chỗ giải thoát rốt ráo của nhà tu Phật.

          CHỐN NI: Chốn nầy, chỉ cảnh cứu cánh Niết Bàn vừa kể trên.

          HỒNG TRẦN: (Xem CT câu 249, T-1, Q.1).

          THẦN: (Xem CT câu 24, T-2, Q.3).

          TRUNG QUÂN ÁI QUỐC: Lòng ngay thật thương yêu Quốc dân (Xem thêm phần CT câu 586, T-2, Q.3 và câu 290, T-1, Q.1).

          NGỌC TÒA: Chỗ an tọa (ngồi) bằng ngọc, chỗ ngai vị cao quí. Đây chỉ nơi Đức Phật Tổ ngự. Đức Thầy thường nói:“Ngọc tòa Phật Tổ nấy sai ta”.(Tối Mùng Một)

            LINH KHỨU: Phạn ngữ Grudhakyta, phiên âm là Kỳ Xà Quật, dịch nghĩa có nhiều danh xưng: Linh Khứu Sơn, Linh Thứu Sơn, cũng gọi là Kê Túc Sơn. Một ngọn núi ở gần thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà, thuộc Trung bộ xứ Ấn Độ. Đứng xa nhìn nó như con chim Khứu (Kên kên) nên gọi là Khứu Lĩnh. Lúc Đức Phật Thích Ca còn trụ thế Ngài thường cu hội đại chúng thuyết pháp. Có lần Ngài thuyết Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa tại đây. Kinh Sách xưa nay thường dùng Linh Thứu Sơn để chỉ cho xứ Phật hay chỗ Phật ngự. Đức Thầy nay cũng từng bảo:

                    “Quyết đưa chúng về nơi Non Thứu,

                      Tạo lư bồng ngỏ hội quần Tiên”.

                                                  (Diệu pháp Quang minh)

          TỪ BI: (Xem CT đoạn 2, T-1, bài Sứ Mạng)

          THÁI QUÁ: Quá chừng mực, quá lắm, vượt hơn mức bình thường.

CHÁNH VĂN

339.- Tranh với luận đặng giành cơm cá,
Khuyến-dụ người đặng kiếm bạc tiền.
Thấy chúng-sanh ghét ngỏ ganh hiền,
342.- Theo chế-nhạo những người tu tỉnh.
Tu không tu cũng không mời thỉnh,
Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.     
Thương lê-dân còn mảng say mê,
346.- Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.
Thấy Ta lại nói cay nói đắng,
Đắng với cay Ta cũng chẳng màng.
Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,
350.- Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.
Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,
Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.
Ai biết tri việc phải cứ làm,
354.- Sau mới biết ai Phàm ai Thánh.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 339 đến câu 354)

                    - Người sống trong thế gian, phần đông mãi lo tranh giành lợi lộc, họ dùng đủ mưu mô xảo quyệt dụ dỗ dân chúng, lợi dụng tiền bạc. Hễ thấy ai có tài năng, đức hạnh hơn mình thì ghét ghen, đố kỵ, khinh chê gièm siểm.

          - Do đó, Đức Thầy cho biết: Lời khuyến tu của Ngài, mặc tình ai kính mộ tu hành, hay chê bai khinh rẻ. Chớ lòng Ngài lúc nào cũng thương hết chúng sanh, mãi còn đắm say trong cảnh đời ảo mộng, nên Ngài dùng đủ phương tiện đánh thức họ sớm tỉnh ngộ tu hành, hầu vượt qua mọi khổ nạn tới dây.

          - Lại có hạng người thấy sự độ dân của Đức Thầy, chẳng những không nhận được, còn dùng đủ lời cay đắng; nhưng dù họ đối xử bất nhã như thế nào, Ngài cũng chẳng màng kể. Ngài còn tiên tri đến chừng nào dân chúng được nghe: “Trên non Tiên văng vẳng tiếng Phụng Hoàng” tất được thấy: “Phật Tiên Thánh an bang cùng định quốc”.(Không buồn ngủ)

          Thêm nữa, trên con đường học Phật và tu Phật để tiến tới mục đích giải thoát, đa số người tu chỉ thấy Đạo lý qua mặt văn tự và lời luận giải, chớ ít ai thấy được chân tánh của mình; bởi nó còn lẫn lộn trong tâm hồn của mỗi chúng sanh, ví như chất vàng còn lộn quặng. Do đó, Đức Giáo Chủ dạy tín đồ hãy:“…tìm kiếm chân tánh của mình”. Muốn thế hành giả cần xoay vào nội tâm, theo dõi tư tưởng từng giây, từng phút, rồi dùng trí huệ thanh lọc hết vọng trần phiền não, tất màn vô minh tan mất, Phật tánh hiện bày: “Trí hiền tâm đức chùi lau, Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng”.(Sám Giảng Q.3)

          Vậy ai là người đã suy tầm thấu rõ chơn lý của Đạo, thì cứ hành y theo Tôn chỉ của Đức Thầy đã vạch cho đến ngày kết cuộc, tất sẽ thấy rõ ai phàm ai Thánh.

CHÚ THÍCH

          GHÉT NGỎ GANH HIỀN: Cũng gọi là ganh hiền ghét ngỏ. Là một thành ngữ để chỉ cho những kẻ thấy ai có tài đức, được nhiều người mến chuộng thì hay ghét ganh đố kỵ. Đức Thầy từng nói:

                    “Thấy Đạo lý còn lu chưa tỏ,

                    Dân ganh hiền ghét ngỏ làm chi”.(Thiên lý ca)

            TRỌNG KỈNH: Cũng gọi là kính trọng. Có nghĩa tôn kính và quí trọng. Ví dụ: Kính trọng Trời Phật hoặc bậc già cả. Đức Thầy có câu:

                    “Rán nghe lời của kẻ Khùng Điên,

            Phật Tiên Thánh hãy nên trọng kỉnh”.(Kệ Dân Q.2)

            PHỤNG HOÀNG: Cũng gọi là Phượng hoàng, tên của một loài chim quí thời xưa, được liệt vào một trong bốn con thú linh: Long, Lân, Qui, Phụng. Con trống gọi là Phụng hay Phượng, con mái gọi là Hoàng. Phụng Hoàng Linh Điểu là chúa các loài chim (đứng đầu 360 giống). Khi nào và nơi đâu có chim Phụng Hoàng xuất hiện, đó là điềm báo trước sẽ có Thánh Nhân hoặc Thánh Vương ra đời. Như thời Nghiêu, Thuấn chim Phụng có mặt khắp đồng nội còn đời Châu Võ Vương thì nghe tiếng chim Phụng gáy trên núi Kỳ Châu, sự trạng nầy Đức Giáo Chủ đã nói:

                    “Xưa mạt Thương, Phụng gáy non Kỳ,

                     Bởi Võ Vương đáng bậc tu mi

                    Nay trở lại khác nào đời trước”.(Kệ Dân, Q.2)

          Và Ngài cũng cho biết về tương lai:

                    “Phải ngóng chờ cho Phụng gặp Kê,

              Ấy thời đại Thánh Tiên trổ mặt”.(Nang thơ cẩm tú)

            Phụng Hoàng còn ám chỉ cho các bậc có tài đức.

          PHẬT THÁNH: (Xem CT câu 149, T-3, Q.4)

          THẤY ĐẠO LÝ CHỚ NÀO THẤY TÁNH. CÒN ẨN NƠI TIM ÓC XÁC PHÀM: Hai câu nầy có nghĩa phần đông người tu chỉ thấy giáo lý của Đạo, chớ ít kẻ được thấy tự tánh của mình. Bởi nó tiềm ẩn nơi tim óc của mỗi người, đây là chỉ cái bản tánh chơn như sẵn có từ vô thỉ, nhưng bị lấp vùi bởi vô minh vọng niệm. Ví như trong ly nước đục vẫn có sẵn thể nước trong, nhưng vì ta chưa lọc được số bùn cặn ra, nên không thấy được nước trong.

          Kinh Di Đà Sớ Sao, có chép:“Linh minh đổng triệt, trạm tịch thường hằng, phi trược, phi thanh, vô bối vô hướng, đại tai chân thể bất khả đắc như tư nghị giả” (Người đời hễ có huyễn thân, tất nhiên có tự tánh. Bản thể của tự tánh là linh thiêng sáng suốt, rổng rang thông thấu, trong trẻo vắng lặng, còn hoài chẳng mất, chẳng phải trược, chẳng phải thanh, không lui, không tới; rất lớn thay cái chơn thể của nó, không thể nghĩ bàn được).

          Vậy hành giả muốn thấy được tự tánh cần phải phản chiếu nơi tâm một cách rõ ràng vi tế, không để một nhân duyên tập khí nào ám ảnh, và lòng cứ luôn như thế, mới hoát nhiên trực kiến được bản tánh. Lúc ấy ta sẽ tự thấy viên minh, tự tại vô ngại, không còn bị trói trăn câu thúc, trong lẽ hư vọng vô minh. Đúc Thầy có dạy:

                    “Tu rèn tâm trí cho minh,

     Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau”.(Sám Giảng Q.3)

          VIỆC PHẢI: Việc đúng lẽ phải. Ý nói cả hành động, ngôn ngữ và ý nghĩ đều đúng theo Đạo nghĩa và chơn lý.

 

CHÁNH VĂN

355.- Đức Lục-Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.
Lựa làm chi cao chữ học hành,
358.- Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.
Việc cổ tích cần chi phải thạo,
Chuyện qua rồi kể lại làm gì.
Nếu ai mà biết chữ tu trì,
362.- Tâm bình tịnh được thì phát huệ.
Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ.
Nghe cạn lời chớ có mờ-hồ,
366.- Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 355 đến câu 366)

          Đoạn giảng trên Đức Thầy nhắc đến cuộc hành hóa Đạo mầu của Đức Lục Tổ khi đến thọ giáo với Đức Ngũ Tổ, Ngài đã rõ tâm mình có đủ Phật Đạo, Pháp mầu. Thời gian ở đây Ngài bị đồ chúng đưa xuống nhà bếp giã gạo, chẳng được lên Giảng đường tham học Kinh văn, song Ngài vẫn chuyên hành pháp kiến tánh. Thế mà khi nghe Ngũ Tổ thuyết kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.(Không nên trụ vào chỗ nào mà sanh tâm) thì Ngài hoát nhiên tỏ ngộ.

          Nay Đức Thầy nhắc chuyện trên, ý để dạy môn đồ, việc tu chẳng đơị phải học giỏi hay thông suốt kinh văn, nếu ai biết xoay về bản tâm của mình, lọc hết các vọng niệm tà quấy, tức được tỏ ngộ chơn tánh: “Lòng ngộ rồi chẳng đợi nhiều kinh, thì cũng thấy bổn lai diện mục”.(Sa Đéc)

          - Còn những chuyện tích từ xưa để lại, với dụng ý của tác giả làm cho người sau biết được những cái: tốt, xấu, hay, dở để rút ta bài học kinh nghiệm, rồi đem áp dụng vào đời sống của mình cho hợp với Đạo lý; bằng như ai xem chuyện cổ mà chỉ hiểu biết suông thì sự thông thạo ấy chẳng bổ ích vào đâu: “Nhiều người kinh sử lảu thông, Mà không sửa tánh bởi lòng còn mê”.(Viếng làng Phú An) Vậy ai biết lo tu hành, điều cốt yếu là phải hành trì cho lòng được bình tịnh. Muốn vậy ta cần hành theo các phép, như: diệt trừ vô minh phiền não hay niệm lục tự Di Đà để đánh chết vọng niệm, hoặc:“Diệt lục căn đừng nhiễm lục trần”.(Giác Mê TK, Q.4) hay ngăn chận các luồng gió tục, đừng để nó len vào tâm thức của mình :“Ngày đêm phải tự mình suy gẫm, Ngăn gió trần cho lặng sóng tâm”(Thần cơ Thật luận của Ô. Thanh Sĩ), tức nhiên cõi lòng thanh tịnh và trí huệ phát khai.

          - Bởi lòng từ bi thương khắp chúng sanh, Đức Thầy mới viết ra Kệ Giảng, khuyên các giới tu hành, từ hàng Tăng Ni đến cả thiện nam, tín nữ. Khi xem đến Sấm Kinh của Ngài, nên nghĩ suy cạn lẽ để tìm hiểu nghĩa lý, cho được rõ ràng chính xác, rồi cố gắng thực hành y theo, chắc chắn sẽ được đắc đạo.

CHÚ THÍCH

          ĐỨC LỤC TỔ: (Xem CT câu 296, T-2, Q.2).

          CAO CHỮ HỌC HÀNH: Kẻ có học nhiều, văn hay chữ giỏi. Đây chỉ cho hạng thế trí biện thông: nhờ sự học mà hiểu rộng về việc đời; nhưng thường hay ỷ tài chê bai Phật pháp.

          TU TRÌ: (Xem CT câu 296, T-2, Q.2)

          TÂM BÌNH TỊNH: Lòng yên lặng trong sạch, không xao động bởi vọng niệm. Trong “Chánh Tư Duy” Đức Thầy có dạy: “Tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái chân lý…”

          Sở dĩ tâm ta chưa được bình tịnh là vì còn vọng niệm phiền não, những tư tưởng xấu xa chưa thanh lọc ra hết. Nay hành giả muốn tâm được bình tịnh, đừng để lục căn ô nhiễm lục trần, đoạn dứt vọng tâm phiền não (tham, sân, si) hoặc đổi hết tư tưởng xấu xa ra tốt lành tức lòng được thanh tịnh và trí huệ sáng tỏ.

          Ông Bàn Công Cư Sĩ có nói:

          “Người đời trọng châu báu, Ta quí một mảy tịnh.

       Tiền lắm lụy lòng người, Tịnh được thấy chơn tánh”.

          TĂNG ĐỒ: Tăng chúng, gồm các nhà sư và những ni cô tu hạnh xuất gia.

          TÍN ĐỒ: Gồm tất cả thiện nam, tín nữ tu tại gia (Xem thêm phần CT đoạn 7, bài Sứ Mạng)

 

CHÁNH VĂN

367.- Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,
Các nhà sư hãy rán sửa mình.
Nếu xuất gia ngũ-giái rán gìn –
370.- Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.
Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,
Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.
Bởi chữ tu liền với chữ hành,
374.- Hành bất chánh người đời mới nói.
Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.
Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
378.-Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.
Việc giả dối từ đây nên lánh,
Bổn-đạo ôi ! hãy rán sửa mình.
Cuộc dạy đời Ta lắm công-trình,
382.- Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 367 đến câu 382)

          Thói đời, hễ thấy ai không thật tu thì người ta hay chê bai cười ngạo, cho nên Đức Giáo Chủ khuyên các Tăng Ni: từ đây nên sửa mình cho đứng đắn. Đã vào hàng xuất gia thì những qui điều Pháp giới của Phật dạy, nhất là năm điều cấm giới, nhà tu cần phải chấp hành nghiêm chỉnh. Xưa Đức Phật dạy: “A Nan ơi! Sau khi Ta tịch diệt rồi các ngươi đừng lo không Thầy, Ta có để lại cái Pháp giới, nó là Thầy của các ngươi, nó ủng hộ và nâng đỡ các ngươi. Một thầy tu chân chánh, phải tôn trọng Pháp giới như trọng Phật vậy”. Và trong Kinh Tâm Địa Quán cũng có chép: “Sự xuất gia khó nhứt là giữ giới; giữ giới được mới thật là người xuất gia”.

          Vì vậy trong hàng tu xuất gia có nghiêm trì giới luật, hành đạo chân chánh mới khỏi bị tiếng đời gièm pha, chế nhạo.

          - Đức Thầy còn cho biết khoảng trên ngàn năm trở lại đây (sau thời Lục Tổ bặt truyền y bát) lòng người rất băn khoăn tự hỏi: Tại sao trong giới xuất gia hành Đạo cũng khá đông, nhưng chẳng thấy bao người chứng đắc? Ấy chẳng qua là kẻ hành đạo không đúng qui điều pháp hạnh của Thầy Tổ đã dạy, hoặc tu hành giả trá, nói làm chẳng hiệp nhứt.

          - Lại có số Tăng chúng quá chú trọng về hình tướng bên ngoài, quên phần nội tâm pháp hạnh, chỉ lo khuyên tởi khắp nơi để xây chùa, tạo tượng cốt, hoặc sơn vẽ hoa hòe lộng lẫy. Xét ra, chư Phật chẳng bao giờ ham muốn các điều đó, thế mà chúng tăng mãi gây tạo làm chi, cho hao tiền tốn bạc của bá tánh?

          - Do đó, Đức Thầy cảnh tỉnh các giới tu hành, nên bỏ hẳn những điều mị dối để lo tu thân lập hạnh đúng theo chánh pháp vô vi của Đạo. Đặng vậy, chúng ta mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Tổ, Thầy đã dày công khai hóa, và cũng chẳng uổng cho một kiếp sanh được làm người 

CHÚ THÍCH

          KIÊU NGẠO: Cười chê, nhạo báng, hay khoe khoang ngạo mạn. Ví dụ: Không nên kiêu ngạo người tàn tật.

          XUẤT GIA: Người ra khỏi nhà, vào Đạo tu hành. Xuất gia có hai cách :

          1- Sự xuất gia: Ra khỏi nhà thế tục, tức hạng người lìa cả gia đình thân tộc, ăn mặc theo hình thức Tăng Ni, nương tựa vào chùa chiền hoặc núi non am cốc; mọi phương tiện sống đều nhờ nơi bá tánh chu cấp.

          2- Lý xuất gia: Ra khỏi nhà lửa tam giới (Ba giới hay 3 cột: Dục gới, sắc giới và vô sắc giới) bất luận ở đâu: chùa am hay nơi nhà, hành giả lúc nào cũng quyết tâm tu các pháp giải thoát sanh tử, để vượt ra khỏi ba cõi sáu đường. (Sáu nẻo luân hồi: Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục.) Thân tuy ở gần kẻ thế, nhưng lòng không nhiễm ô trần trược, và cũng chẳng còn vướng bận một cảnh vật nào trong thế gian:“Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê”.(Kh/thiện, Q.5)

          Trong kinh “Bốn mươi hai chương” Đức Phật có dạy:“Bực xuất gia làm Sa môn thì cắt đứt tình dục ái ân, thấu hiểu nguồn tâm, đạt tới lý thâm diệu của Phật pháp, ngộ được các pháp vô vi, trong chẳng thấy đắc cái gì, ngoài chẳng mong cầu cái chi: lòng cũng chẳng buộc ràng vì Đạo. Chẳng kết thành nghiệp, không động niệm, không tạo tác, tu như không tu, chứng như không chứng, không trải qua các quả mà tự nhiên được cao tột”.

          NGŨ GIỚI: Cũng gọi là Ngũ giái, do Phạn ngữ Panca Pila, tức là năm điều cấm giới:

          - Nhất bất Sát sanh: Một là không được giết hại các mạng sống của loài hữu tình (người và các sanh vật).

          - Nhị bất Đạo tặc: Hai là không trộm cướp gian lừa.

          -T am bất Tà dâm: Ba là không tình tứ với vợ con hay chồng của người khác.

          - Tứ bất Vọng ngữ: Bốn là chẳng nói láo, nói huyễn hoặc.

          - Ngũ bất Ẩm tửu; Năm là không nên uống rượu.

          HỔ TIẾNG: Mắc cỡ vì bị mang tiếng xấu.

          NHƠN TÂM: Lòng người.

          XAO XUYẾN: Náo động. Nghĩa bóng là băn khoăn tự hỏi.

          TỞI KHUYÊN: Cũng viết là quyên tải hay quyên tởi. Có nghĩa đi quyên góp tiền bạc vật thực các nơi, để chở về làm đám hoặc cất chùa.

          BỔN ĐẠO: (Xem CT câu 116, T-2, Q.2).

          CÔNG TRÌNH: Việc làm có tổ chức to rộng, phải tốn công rất nhiều. Ví dụ: Công trình xây cất cầu, đường…

 

CHÁNH VĂN

383.- Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
Mãi lo làm húng-hiếp người hiền.
Mà làm cho Ngọc-Đế thảm-phiền,
386.- Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.
Đức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,
388.- Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần. 
Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,
390.- Mà dương-thế chẳng cần xét đến.
Xác trần-tục như cây cạnh khến,
Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.
Đẽo với bào riết nó cũng tròn,
394.- Đến chừng đó trông vào rất tốt.
Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,
Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.
Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,
398.- Chẳng có sợ mang điều tội phước.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 383 đến câu 398)

          - Kệ giảng của Đức Thầy, toàn là lời khuyên dạy chơn chánh, đúng với lẽ thật (chơn lý). Thế mà nhiều người chẳng để ý nghe theo, mãi tìm đủ uy thế đe dọa, hiếp đáp kẻ hiền lương. Khiến cho Đức Ngọc Đế phải xót xa buồn thảm, nên Ngài muốn ra lịnh răn phạt nhân gian một cách thảm khổ:“Chúng sanh ngang ngược làm liều, Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi”.

          - Do đó Đức Phật Tổ động lòng từ bi, quyết tâu với Đức Ngọc Hoàng cho đình sự trừng phạt một thời gian, để Ngài sắc lịnh cho chư Phật Thánh lâm phàm, khai Đạo thức tỉnh nhân sanh. Thế nên từ độ ấy đến nay, các Ngài truyền bá rất nhiều Kinh Sấm, song chẳng được bao người chịu xem coi cứu xét.

          Vả lại, việc tu sửa thân tâm của mỗi hành giả, ví như một khúc cây mới cưa xuống, còn đầy u nần cạnh khến, người thợ phải dày công đẽo bào, chạm trổ, mới trở thành món đồ khéo đẹp và hữu dụng. Nhà tu có kiên chí miệt mài trong cuộc làm lành, lánh dữ mới mong đạt thành đạo quả.

          - Còn những kẻ hung ác, gian xảo, thường hay thề thốt một cách dối trá, chẳng kiêng nể Thánh, Thần, Trời, Phật; mãi nói bạ làm càn, không sợ nhân quả báo ứng, rồi đây họ sẽ vương mang tội khổ.

 

CHÚ THÍCH

          BỎ LIẾP: Bỏ lấp, không để ý đến, làm như không nghe, hoặc quên đi cho qua việc.

          HÚNG HIẾP: Dọa nạt, hiếp đáp, thường làm ra mặt kẻ cả để bắt nạt, đe dọa người.

          THẢM PHIỀN: (Xem CT câu 108, T-1, Q.1).

          TRỪNG TRỊ: Răn phạt kẻ phạm lỗi cho xứng tội.

          THẢM THIẾT: Đau đớn quá mức. Ví dụ: cảnh đau khổ rất thảm thiết.

          ĐỨC PHẬT TỔ: (Xem CT câu 242, T-1, Q.1)

          NHỨT QUYẾT: Cũng gọi là nhất quyết. Có nghĩa quyết hẳn, định chắc chắn, quyết định làm một việc gì đó. Ví dụ: Nhứt quyết độ đời. Đức Thầy có câu:“Nhứt quyết làm cho chúng thoát sầu”.(Nhức đầu)

          GIẢ DỐI: Cũng gọi là dối trá hay dối giả. Giả vờ như thật để gạt người.

          CHẲNG KIÊNG: Không kiêng nể, không nể sợ ai cả.

          CỐ LỲ: (Tiếng lóng) Có nghĩa: ai khuyên dạy gì cũng không nghe, không sửa đổi; hoặc chịu trận không chối cãi, trốn tránh, vì hết biết xấu hổ.

CHÁNH VĂN

399.-Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,
Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.
Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
402.-Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.
Thấy quyền-quý nó hay dựa mé,
Đặng bợ-bưng những kẻ hung-sùng.
Ta thương đời nói những chuyện cùng,
406.-Chẳng có vị có dung kẻ quấy.
Cuộc sám-hối vô chùa thường thấy,
Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.
Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,
410.-Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.
Chữ tự hối nào ai có lạ,
Là ăn-năn cải sửa tâm lành.
Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,
414.-Chớ nào dụng Hương, Đăng, Trà, Quả.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 399 đến câu 414)

          - Hiện thời có nhiều kẻ tu hành giả dối, không thật tâm hành đạo, chỉ rêu rao ngoài cửa miệng, để cho người đời thấy mình có làm việc phước thiện. Khi có dịp đến chùa am thì vái lạy, xem ra vẻ kính tin lắm. Nhưng lúc ra khỏi cửa, không hề nhường nhịn một ai, có khi vì quyền lợi mà tranh đua cấu xé với mọi người.

          - Chẳng thế, họ còn dua bợ theo những kẻ cường quyền, để bắt nạt, đàn áp dân chúng. Bởi lòng từ bi nên Đức Thầy tỏ bày tận gốc của các việc làm sai trái, để cho những ai còn phạm lỗi, sớm biết ăn năn cải sửa.

          - Lại còn thấy các cuộc “sám hối” được tổ chức trong những ngôi chùa, ai trông vào cũng đều rõ, phần nhiều là giả dối. Họ cũng lễ lộc nhang đèn, cũng cầu khẩn bái lạy; nhưng đến khi trở về thì tiếp tục phạm lỗi như trước; hoặc ỷ có nhiều tiền rồi mang đến chùa, mướn các thầy nhưn bông tụng kinh sám hối thế cho họ, làm như vậy mong gì kết quả ? Bởi nhận thấy những cuộc lừa dối Thánh Thần như thế mà Đức Thầy rất đau xót cho thời Hạ ngươn mạt pháp.

          - Thế nên, Ngài khuyên dạy mọi người, nếu muốn cho cuộc sám hối có hiệu quả, cần phải thật dạ tín thành. Hoặc dùng “Sự sám hối”, thành kính trước ngôi Tam Bảo, nguyện ăn năn những nghiệp cũ và cải sửa các tội ác sắp tới, quyết định không để cho tái phạm; hoặc dùng “Lý sám hối”, tức là tự tâm thức trở về với lý vô sanh bất diệt nơi tánh mình, từ đó sẽ dứt hết nghiệp hoặc vi tế, và những tội trạng không do đâu mà nảy sanh ra nữa.

          - Vả lại, chư Phật chỉ chấp nhận cho kẻ tín đồ nào biết thành tín sám hối, chớ không bao giờ chấp nhận cho những ai không thật lòng, dù kẻ đó dùng đủ món: nhang đèn, bánh trái cúng tế.

CHÚ THÍCH

          BỐC XƯỚC: Giả dối, không kỹ lưỡng, không thật tình.

          CẤU XÉ: Vừa cấu vào, vừa xé ra. Nghĩa rộng là vì quyền lợi mà giành giựt xâu xé lẫn nhau.

          QUYỀN QUÍ: Có quyền thế và sang trọng

          DỰA MÉ: Cũng gọi là dựa hàm mé. Chỉ cho hạng chầu rìa, nương tựa với kẻ có thế lực giàu sang để nhờ nhõi.

          BỢ BƯNG: Cũng gọi là bưng bợ. Có nghĩa bợ đỡ, nịnh hót. Đức Thầy đã viết:“Nghèo a dua bợ đỡ nịnh tà”.(Khuyến Thiện Q.5)

          SÁM HỐI: Do Phạn ngữ Ksamayati, phiên âm là Sám ma, dịch là hối quá:“Sám Giả, sám kỳ tiền khiên; hối giả, hối kỳ hậu quá”(Sám là ăn năn lỗi trước, hối là chừa bỏ lỗi sau). Vậy, sám hối là ăn năn cải sửa, những tội lỗi vừa qua và sắp tới, cố giữ đừng cho tái phạm.

          Theo Kinh Phật thì có ba cách Sám Hối:

          1- Tác pháp Sám: là đến trước ngôi Tam Bảo tố trần mọi tội lỗi của mình, rồi từ đó về sau những sinh hoạt của thân, khẩu, ý đều y theo qui luật chơn chánh mà thi hành. Sám hối như thế là diệt trừ những hình tướng tội phạm.

          2- Thủ tướng Sám: là từ chỗ định tâm khởi ra tư tưởng sám hối những tội lỗi vô lượng kiếp: quá khứ, hiện tại, vị lai của mình một cách chí thành, chí thật. Sám như thế là diệt trừ được tánh tội phiền não.

          3- Vô sanh Sám: là cứ ngồi ngay thẳng nhứt tâm chánh niệm, để quan sát cái lý vô sanh bất diệt của tự tánh. Sám như vậy gọi là diệt trừ vô minh chướng ngại.

          Trong Pháp Bửu Đàn kinh, Đức Lục Tổ có dạy:

                    “Ngó trong tâm gốc lỗi trừ thanh,

                      Tự tánh phải chân thành sám hối.

                      Phép sám hối đại thừa lãnh hội,

                      Cải tà qui chánh tội không sanh,

                      Học Đạo thường xem tánh tịnh thanh

                      Tức cùng Phật cũng đồng nhứt loại”.

          Ba phương pháp vừa kể trên, tùy theo cơ duyên trình độ của mỗi hành giả mà sám hối theo phép nào cũng được kết quả. Ngược lại, nếu người đã phạm lỗi mà không biết tự hối ăn năn, thì các tội trạng ấy dầu trải muôn kiếp, cũng không do đâu tiêu rỗi. Ngài Liên Trì Đại Sư, có làm bài Kệ phân tách điều lợi hại của người biết sám hối và không sám hối như sau:

          “Có lỗi như người đau, tỏ lỗi như gặp thuốc.

            Sợ bịnh mà kỵ thầy, thiệt người quá mê muội”.

          Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật cũng dạy:“Người phạm các điều lỗi mà chẳng tự hối, mau dứt lòng quấy, thì tội lại vấn vào thân, như nước chảy ra biển, dần thành sâu rộng. Bằng người có lỗi, tự nhận biết lỗi, cải ác làm lành thì tội tự tiêu diệt, như bịnh được xuất hạn, lần lần thuyên giảm”.

          Lúc Đức Giáo Chủ cư trú tại Sài Gòn, có kêu gọi một tín nữ đã lỡ phạm lỗi:

                    “…Chẳng sớm về nhà lo sám hối,

                      Cầu trên Phật Tổ giải mê căn.

                      Ắt là hồn trẻ còn chi nữa,

                      Địa ngục trầm luân cách thượng tằng”,

                                                (Cho Cô Võ thị Hợi ở Bạc Liêu)

            SÁM HỐI GIAN LỪA: Là chỉ cho hạng người khi có lầm lỗi điều chi, họ cũng đến trước bàn Phật, để âm thầm tỏ bày việc quấy của mình, đọc tụng một vài thời Kinh và lạy lục. Sau khi đó họ tự cho rằng lỗi trước đã hết và vẫn tiếp tục gây thêm tội khác nữa.

          Hoặc có hạng người đã biết mình sai phạm, tội ác, bèn đem tiền bạc lễ vật đến chùa am, để mướn người tụng kinh sám hối thế cho mình. Đó gọi là Sám hối gian lừa.

          TỰ HỐI: Tự mình ăn năn cải sửa các tội lỗi đã vi phạm.

          Xưa, có gia đình anh Quyền Binh Vệ, chuyên sống nghề gài bẫy chim. Một hôm, phụ thân sắp từ trần bèn kêu Quyền đến bên giường, di chúc:

          “Nếu con thấy không thể tìm được nghề khác sanh nhai, thì từ đây mỗi đêm, con chỉ gài bắt một con vạt, đủ sống trong ngày mà thôi, nếu bắt dư sẽ mang nhiều nghiệp tội !”

          Quyền làm theo y lời cha dặn…nhưng chỉ được thời gian rồi anh tự nghĩ: phải thức hằng đêm mà chỉ bắt một con chim như thế nầy, tốn công nhiều quá ! Chi bằng ta dùng 100 cái bẫy đem gài một lượt, sẽ bắt được 100 chim, tức ta được ở không trên ba tháng. Thế rồi anh thực hành ngay ý định.

          Đêm đó, một bầy chim vạt đáp ngay xuống vùng bẫy anh đã gài, song chỉ mắc được chín mươi chín (99) con. Trong tay Quyền nắm chặt các mối dây, nhưng còn chờ cho đủ số một trăm con mới bắt. Bỗng chốc trời rạng đông, bầy vạt đồng bay một lượt. Quyền nắm dây cố trì lại, nhưng không được nữa, bởi sức mạnh của bầy vạt xách Quyền bay bổng lên hư không. Quyền kêu cứu ầm lên, nhưng chẳng ai nghe, Quyền đành đánh liều cho bầy vạt lôi đi…

          Phút chốc, Quyền thấy tự dưng bị rơi xuống đất, nhưng chẳng nghe đau đớn gì, lòng sanh nghi, anh bèn nhìn kỹ lại thì ra mình đã hóa thành chim vạt. Kế nghe bụng đói Quyền liền rảo bước chung quanh, để tìm cá ăn đỡ lòng. Trong khi bước lang thang, bỗng chân Quyền vướng vào cái bẫy, mà Quyền đã gài còn sót lại hôm qua. Quyền dùng đủ cách gỡ ra, nhưng không tài nào tháo được. Lòng buồn rầu vô hạn, Quyền liền tự hối:

          “Số chim của mình đã bắt từ mấy lúc qua, chúng cũng đã đau đớn, khổ sấu ! Thế mà bấy lâu mình nỡ sống an vui trên sự đau khổ của chúng, chẳng để chút tình thương xót !”        

          Càng nghĩ, Quyền càng hối hận, tự khiển trách mình, khiến đôi dòng lệ tuôn trào ! Nhưng sao rất lạ lùng ? Khi nước mắt anh chảy xuống khắp mình, làm lông cánh đều rụng hết. Bấy giờ thân thể của Quyền được hoàn nguyên như cũ…

          Nhiệm mầu thay ! Cho dòng lệ tự hối ! Quyền vừa tán thán, vừa thành tâm sám hối. Từ ấy anh tự nguyện bỏ dứt nghiệp sát hại, quyết tâm tu hành, chẳng bao lâu anh được chứng quả.

          Câu chuyện trên, giúp ta thấy rằng: hễ ai gieo gió tức gặt bão, sanh nghề thì tử nghiệp; nhưng Phật pháp rất nhiệm mầu, đã dạy cho các giới tu hành một pháp sám hối, nếu ta thật lòng ăn năn cải sửa, tất giải tan được các tội khổ ba đời.

          ĂN NĂN: (Xem CT đoạn 7, Bài Sứ Mạng).

          TÍN THÀNH: Cũng gọi là thành tín. Có nghĩa là tin tưởng thành thật và giữ đúng theo lời nguyện hứa. Ví dụ: hết dạ tín thành Trời Phật. Đức Phật dạy:“Người ta dùng niệm tưởng của một tấm lòng thành tín, mà qua khỏi nguồn sanh tử”. Đức Thầy cũng bảo:“Hữu thành Phật độ ắt qua truông”.( Đức Thầy đáp cho Ô. Nguyễn kỳ Trân) 

 

CHÁNH VĂN

415.- Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
Bay về Tây nói những chuyện gì ?
Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,
418.- Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.
Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,
Mà không không nào có biếm đời.
Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,
422.- Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.
Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
Để lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ !.
Định tâm-thần như mặt nước hồ,
426.- Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.
Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di-Đà.
Thì hiền-lương quên mất điều tà, 
430.- Đặng hạnh-phúc nhờ lòng cố-gắng.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 425 đến câu 430)

          - Thường thấy nghi tiết trong cuộc làm chay ở các chùa, các ông thầy nhưn bông, bày ra sớ phướn lầu kho, xá lạt, xá ngựa.v.v…Tất cả đều đem đốt rồi nói rằng: số hạt ngựa bằng giấy đó sẽ mang số phướn về Tây Phương tâu với Phật, còn các vật kia thì để cho người chết xài. Xét ra những sự việc ấy rất kỳ hoặc, mê tín, nên Đức Thầy đã cảnh tỉnh nhiều lần, thế mà còn số người chưa chịu bỏ dứt.

          - Lời giác tỉnh trên, mới nghe qua hình như có ý xiên xỏ, nhưng đây là điều thành thật của Đức Thầy, vì thấy sự lầm lạc của số người ấy mà Ngài khuyên nhủ họ, sớm trở về với Chánh Đạo vô vi, chớ không hề có ý cười ngạo.

          -Ngài cũng kêu gọi giới tăng đồ, ai muốn khỏi sự lầm lạc đáng tiếc ấy thì hãy xem ngay quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy để tri hành cho đúng với chơn lý của Đạo Phật. Và phải dùng pháp chánh định, để tâm trí trở nên yên tịnh sáng suốt, hầu soi tỏ đường lối tu hành, thẳng tiến tới Niết Bàn Cực Lạc.

          - Còn ai muốn thực hành Pháp môn niệm Phật, không phải đợi tới hai thời công phu chiều sáng mới niệm được, mà trong hằng giờ hằng phút và ngay ở chỗ: đi, đứng, nằm, ngồi; tâm của hành giả luôn tưởng niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, không để gián đoạn “Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu, Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp”.(Kệ Dân, Q.2) Nếu niệm Phật được như thế, thì tâm tánh ta được thuần lương cao khiết, các tư tưởng tà quấy sẽ dứt bặt, bấy giờ tâm trí được quang minh tự tại. Đó là điều hạnh phúc cao siêu sau nầy.

CHÚ THÍCH

          XÁ MÃ: (Xem CT câu 325, T-2, Q.2).

          BIẾM ĐỜI: Nhạo báng khinh chê người đời.

          TÂM KỆ: (Xem CT câu 1, T-3, Q.4).

          ĐỊNH TÂM THẦN: Giữ tâm trí cho được yên lặng, không để chút trần lao phiền não làm xao động, thì sự sáng suốt mầu nhiệm sẽ phát ra. Khế Kinh, Phật có bảo:“Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất hiện”.( Để tâm định lại một chỗ thì không việc gì mà không thành tựu) Đức Thầy nay cũng dạy:

                    “Định thần dẹp hết tà tâm,

      Hườn lai bổn tánh thần khâm quỉ nhường”.(Thu đã cuối)

          SÁU CHỮ DI ĐÀ: (Xem CT câu 241, T-2, Q.3)

CHÁNH VĂN

431.- Việc đạo-đức bất cần thối thắng,
Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi.
Thấy Thiên-cơ khó nỗi yên ngồi,
434.- Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu-dắt nhờ gà.
Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
438.- Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.
Để gặp Phật ngồi mà than khóc,
Gỡ làm sao hết rối mà về.
Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,
442.- Bởi ác đức nên không ai cứu.
Mang thủy ách hồi năm Đinh-Sửu,
Đến năm nay tái lại một lần.
Khổ ách này đặng thức-tỉnh trần,
446.- Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 431 đến câu 446)

          - Đoạn giảng qua, Đức Thầy khuyên dạy tín đồ trên con đường hành đạo: không nên bê trễ, cũng không quá vội vàng mà phải từ từ tiến mãi:“ Đường đạo đức bước đi từ nấc”.(Diệu pháp Quang minh) Xét thấy cơ trời đã biến chuyển khắp chúng sanh sẽ gặp hồi thảm khổ, nên Đức Thầy động lòng từ bi, lâm phàm cứu thế.

          - Sau thời Đức Lục Tổ Huệ Năng bặt truyền y bát, cả môn đồ Phật Giáo phải chịu tình cảnh bơ vơ như mẹ gà con vịt, chưa biết nương tựa vào đâu, bởi tà chánh khó phân, không rõ ai là người kế truyền tâm ấn của Phật:“Từ ngàn xưa Phật pháp gài then, Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo”.(Diệu pháp QM) Ngày nay, Đức Thầy được sắc lịnh của Đức Phật Tổ, hưng truyền chánh pháp vô vi:“ Đạo vô vi của Phật ân cần, Nối theo chí Thích Ca ngày trước”.(Giác Mê TK, Q.4) Và “Ngọc toà Phật Tổ nấy sai ta”.(Tối Mùng Một) Vậy mỗi người hãy suy xét tận tường, nếu nhận đây là chơn lý thì nương theo (nay gặp gốc). Và nên gấp rút trau sửa thân tâm để được kiến diện Phật lòng nơi tự tánh (mau tìm gốc).

          - Bằng ai chẳng tìm ra chơn lý của Đạo Phật không sớm giác ngộ tu hành, đến một ngày kia ắt phải khóc than, vì không giải được nghiệp ác để yết kiến chư Phật. Và giữa giờ phút ấy; nào yêu ma thú dữ, nào chiến tranh giặc cướp tư bề. Chư Phật vốn đầy lòng tử bi, nhưng không thể nào cứu kẻ hung ác, bởi quả dữ của họ đã mùi:“Cứu lương hiền chẳng cứu người hung, Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt”.(Kệ Dân. Q.2)

          - Đức Thầy còn nhắc lại hồi năm Đinh Sửu (1937) đã xảy ra tai nạn lụt lội, khiến chúng dân chịu cảnh đói rách, tài vật tiêu hao…Năm nay (1939) nạn lụt lại tái diễn:“ Đồng khô lúa ngập coi xơ xác, Cảnh đói buông lung nõi giạt bèo”.(Cám cảnh dân nghèo) Ngài cũng nói rõ: Tai ách khổ thảm ấy là cơ thức tỉnh chúng sanh, hiểu rằng cõi đời sắp đến hồi tàn cỗi.

CHÚ THÍCH

          ĐẠO ĐỨC: Đạo có nhiều nghĩa: Đạo là con đường, là bổn phận, là chơn lý (bản thể) tuyệt đối và cũng gọi là chánh pháp hay chơn tánh. Đức là tâm lành, là thể hiện của nhân lành. Việc đạo đức là công việc hiền lành đạo nghĩa đúng theo con đường của chánh pháp và chơn lý. Đức Thầy có nói:“Ơn nhà đạo đức quyết đền ân”.(Tỉnh bạn Trần gian)

            THIÊN CƠ: (Xem CT đoạn 1, T-1, bài Sứ Mạng).

          THẦY LẠC TỚ KHÔNG AI CHỈ BẢO, NHƯ VỊT CON DÌU DẮT NHỜ GÀ: Thường thấy bầy vịt con do vịt mẹ ấp ra thì sự chăm sóc rất đầy đủ, khi ở trên bờ hay lúc lội dưới nước, vịt mẹ đều theo sát bên con để bảo vệ. Trái lại, nếu bầy vịt con bởi gà mẹ ấp ra, thì lúc ở trên bờ gà mẹ theo gìn giữ được, nhưng khi vịt con lội xuống nước thì gà mẹ không thể lội theo. Bấy giờ rủi có gặp quạ diều nhiễu hại, đàn vịt chẳng biết nương vào, vì không có mẹ bảo vệ.

          Tình cảnh tớ thầy xa cách cũng thế, cả môn đồ phải ngơ ngác, vì chẳng còn sự dạy bảo trực tiếp của Thầy mình.

          Đây ý chỉ thời mạt pháp, lại gặp lúc Tổ Thầy vắng mặt, cả tín đồ phải sống trong trạng huống bơ vơ. Tuy Phật, Thầy còn để lại kho tàng pháp giới; nó có thể đưa hành giả tới bờ bến, nhưng cũng không bằng lúc có Tổ, Thầy dạy bảo:“…bởi đời nầy pháp môn bế mạc, Thánh Đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma Vương khuấy rối…”(bài Sứ Mạng).

          ÁC ĐỨC: Thất đức (mất đức), tánh hay làm việc hung ác, không kể đạo đức.Ví dụ: ăn ở ác đức bất nhơn. Đức Thầy có câu:“Kẻ ác đức hậu lai khổ thảm”.(Cho Ô. Tham Tá Ngà)

          THỦY ÁCH: Tai nạn nước lụt. Lụt lớn làm cho người chết, tài vật tiêu hao; lụt nhỏ thì mùa màng thất bát, dân chúng chịu cảnh nghèo đói điêu linh.

          NĂM ĐINH SỬU: Là năm 1937, trước Kỷ Mão hai năm.

CHÁNH VĂN

447.- Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,
Bị văn-minh cám dỗ loài người.
Kể từ rày cười một khóc mười,
450.- Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.
Đạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,
Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.
Để ngày sau đến việc thảm-sầu,
454. -Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.
Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
Tu mà ham cho được giàu sang,
458.- Với quyền tước là tu dối thế.
Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Đế,
Tạo chùa-chiền khắp nước tu hành.
Đến chừng sau ngạ tử Đài-thành,
462. -Phật bất cứu vì tâm còn ác.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 447 đến câu 462)

          - Đức Thầy cho biết trong hàng thanh niên nam nữ thời nay, bị văn minh vật chất cám dỗ, đua theo sự ăn chơi trụy lạc, tánh tình trở nên hỗn láo ngang tàng, chẳng kiêng nể Thánh Thần, Trời Phật. Cho nên sắp tới đây họ phải vương mang tai nạn, khổ nhiều vui ít.

          - Lại thêm,”Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế”, chúng chủ trương bày ra nhiều học thuyết, nhiều ngành, nhiều phái, để mê hoặc chúng sanh. Thế nên Đức Thầy báo tin trước cho mọi người được rõ, hãy dùng trí sáng mà nhận định kỹ càng, kẻo bị rơi vào cạm bẫy của chúng, mà chuốc lấy sự sầu khổ.

          - Bọn Quỉ Vương thường hay khoe khoang cổ võ, để lôi kéo quần chúng về mình, mọi việc đều phỏng tay trên để tranh đoạt tài lợi, vị danh, chẳng khác nào thuyền gặp gió. Nhưng khi đã chạy trớt ngoài biển khơi thì chúng mới hết huênh hoang tự đắc. Còn đối với sự tu hành, nếu kẻ nào tham muốn cao sang quyền tước, tức là kẻ dối tu.

          - Ngài cũng nhắc lại chuyện vua Lương Võ Đế thời xưa, vì chưa nhận được giáo lý thâm huyền của Đạo Phật; tưởng đâu công việc cất chùa, tạo tượng là tu, nên ông chỉ chạy theo các pháp tướng, mong hưởng phúc báo. Chẳng chịu trở về nội tâm mà diệt trừ tội chướng ba đời. Do đó, đến ngày kết cuộc, Võ Đế phải đành chịu chết đói tại Đài Thành để trả cái quả do tiền kiếp ông đã dụng ác tâm làm chết một con khỉ.

CHÚ THÍCH

          LĂNG MẠ: (Xem CT câu 405, T-1, Q.1).

          VĂN MINH: (Xem CT câu 521, T-1, Q.1)

          QUỈ VƯƠNG: Vua Quỉ, Quỉ chúa, kẻ cầm đầu trong hàng Quỉ. Theo Phật học Từ điển thì quỉ có nhiều loại, tựu trung chỉ có hai hạng:

1- Hạng quỉ có tánh lành, hay ủng hộ người tu hiền.

2- Hạng quỉ hung ác thường hay phá khuấy dân chúng và Phật pháp, hiểu nghĩa cũng như Ma vương.

          Nhưng chữ Quỉ Vương ở đây là chỉ cho loài quỉ hung ác, đối với các Đạo giáo, nhứt là Đạo Phật. Chúng bày ra nhiều chi phái, nhiều học thuyết, nhiều hình thức, bùa linh phép thuật, đoán tâm lý, dị đoan mê tín.v.v…để phá hại Phật pháp. Trong Giảng “Mười Một Hồi” Ngài Huệ Lựu đã nói:

“Năm năm sáu tháng cơ hàn,

Quỉ Vương gây loạn nào an thế trần.

Chỗ nào nó cũng muốn giành,

Thương cho Tần Quốc mười phần còn hai”.

          Nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng bảo:“Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân”.(Thiên lý ca) Hoặc là:

         “Tam thiên lục bá giáng lâm trần,
          Khóc tử lang tâm biến họa dân.
           Tà quái hạ ngươn khai ác chiến,
              Ất niên bình thự kiến Quân thần”.
                                               (Đức Thầy đáp họa Ô. Huỳnh Hiệp Hò
 Và:     “Bàn môn tài phép nào tường,
                Kêu Trời giậm đất cũng thì dạ rân.
     Nói cho trần thế liệu toan,
                                       Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn”.(Sám Giảng Q.3)

          MÁCH TRƯỚC: Cho biết trước, báo tin trước, sẽ có việc gì sắp xảy ra.

          HÒ KHOAN: Tiếng hò sau câu hát để cùng nhau theo nhịp mà ra sức: “Ghe bầu dọn dẹp keó neo, Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan”(Hò). Nghĩa rộng: là ra vẻ vui mừng khoe khoang tự đắc. Đức Thầy từng nói:

                    “Kìa kìa anh hố hò khoan,

              Tình lang về mất hổ hang mặt mày”.

                                        (Dặn dò Bổn đạo)

          LƯƠNG VÕ ĐẾ: Vua Lương Võ Đế là Thái Tổ nhà Lương (502-549), tên thật là Tiêu Diễn. Trước lam quan Thứ sử cho nhà Tề, cai trị đất Ung châu; sau diệt Tề lập nhà Lương trị vì được 48 năm. Võ Đế rất sùng ngưỡng Đạo Phật, chính ông đã chấp nhận và ủng hộ các cao tăng Ấn Độ, sang truyền đạo tại Trung quốc.

          Lúc Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền Đạo, có vào yết kiến và đàm luận Phật pháp với Võ Đế: Bởi quá chú trọng hình thức, nên Vua không thấu triệt được nghĩa lý diệu mầu trong lời Pháp giáo của Tổ, sanh tâm nghi ngờ. Thấy vậy, Tổ sư từ giã Vua vào chùa Thiếu Lâm ngồi quay mặt vào vách thiền định…

          Võ Đế cho thiết lập trên 70 ngôi chùa trong khắp nước, để bá tánh có nơi sùng ngưỡng, chiêm bái. Vua có thỉnh chư Tăng soạn thành bộ Kinh sám hối với nhan đề là “Lương Hoàng Sám”, đến nay vẫn còn truyền tụng.

          Sở dĩ Võ Đế được làm Vua và ham mộ Đạo pháp, nhưng lại bị chết đói thảm khốc, là do duyên nghiệp sâu xa từ kiếp trước…

          Tiền thân của Võ Đế, xưa là một tiều phu, thường vào rừng đốn củi đổi gạo. Hôm nọ tiều phu gặp một cốt Phật trơ trọi ngoài trời, nắng chảy mưa chan. Ông động lòng ái truất, liền lột cái nón lá đang đội, đội lên cho cốt Phật. Nhờ công phước của tấm lòng thành kính cúng dường ấy, nên kiếp sau ông được phước báo làm vua và hết lòng kính tin, phụng thờ Tam Bảo.

          Cũng trong kiếp tiều phu ấy, thường ngày ông lên rừng đốn củi, có mang theo gói cơm để trên vồ đá, đợi khi đói lòng lấy ra dùng. Nhưng đã hai lần khi đốn củi xong, trở lại thì gói cơm của ông “không cánh mà bay đâu mất”, ông rất bực tức đành nhịn đói trở về.

          Lần thứ ba ông quyết định tìm ra nguyên nhân vì đâu mà hai lần bị mất gói cơm. Cũng như mọi khi, lần nầy ông để gói cơm trên vồ đá rồi giả vờ xách búa ra đi, nhưng ông núp vào bụi rậm gần đó để rình xem. Một chập sau, thấy một con khỉ lớn đến ôm gói cơm chạy đi. Ông nhảy ra tốc rượt theo quyết đập con khỉ một búa cho hả giận. Khỉ hốt hoảng, song vì mắc ôm gói cơm nên leo lên cây chẳng được, túng cùng thấy cái hang đá gần bên, khỉ liền chun ngay xuống. Tiều phu cậy đá lấp miệng hang. Khỉ ở dưới ăn hết gói cơm lên không được, nên bị đói dần mà chết.

          Bởi nghiệp nhân đó, nên khi Lương Võ Đế làm vua, thì con khỉ ấy đầu thai làm Hầu Kiển, lớn lên làm Quân sư cho Võ Đế. Sau Hầu Kiển sanh tâm muốn cướp ngôi vua nên lập kế hoạch gạt vua lên Đài Thành, rồi cho quân bao vây, cấm không cho ai được mang lương thực cho Vua. Thế là Võ Đế phải chết đói tại Đài Thành, để trả cái nghiệp ác tâm đã gây thuở trước.

          NGẠ TỬ ĐÀI THÀNH: Chết đói tại Đài Thành.

CHÁNH VĂN

463.- Tu biết cách như đươn biết đát,
Đươn đát rành được dựa Xe-Loan.
Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
466.- Để đến việc như người thất nghiệp.
Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
Rán mau chơn mới kịp Đạo-mầu.
Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,
470.- Thì sẽ được Toà-Chương dựa kế.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 463 đến câu 470)

          - Phàm người muốn làm nên cái thúng để xài, nếu chỉ học đươn mà không biết đát thì không thành cái thúng mà chỉ thành cái mê. Còn người tu biết cách thì phải thực hành đúng theo Tôn chỉ của Đức Thầy đã dạy, tức là hai phần “Học Phật” và “Tu Nhân” cần phải thiệt thi cho trọn vẹn. Trước hết lo đền đáp tứ ân, diệt trừ thập ác và rèn luyện các đức tánh tốt đẹp để hoàn thành phần Nhân Đạo, tức là trả xong nợ thế. Ấy gọi là đươn.

          Đồng thời phải nghiêm trì giới luật, thực hành theo các pháp môn tu Phật, như: Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo hoặc trì niệm Lục tự Di Đà v.v…tức gọi là biết đát. Nếu ai thi hành trọn vẹn hai phần kể trên thì chẳng những gần được “Bệ ngọc các lân” của đời Thượng ngươn Thánh đức, mà còn được siêu sanh về Cực lạc, Niết bàn. Có đặng vậy, gọi là người tu biết cách.

          Do đó, Đức Thầy giục thúc nhân sanh hãy nghe lời khuyên bảo của Ngài, để sớm lo tu thân hành Đạo cho kịp với thời kỳ: “ Đời cùng tu gấp kịp thì, Đặng xem báu ngọc ly kỳ năm non”.(Sám Giảng, Q.3) Bằng ai cứ mãi trễ bê lần lựa thì ngày kết cuộc, ắt gặp nhiều thất bại:“Nếu không, gặp cảnh bơ vơ, Thuyền ghe chẳng có bến bờ cũng không”.(Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          - Vậy hỡi ai là người hữu duyên cùng Phật pháp, hãy sớm quay về với gốc lành Đạo cũ:“Cả kêu lớn nhỏ quay vìa, Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân”.(Thiên lý ca) và gấp rút tu sửa thân tâm, trau giồi đức tánh, cộng với hai thời lễ bái: sáng chiều phải chuyên cần, cùng chí tâm khẩn nguyện, chắc chắn sẽ được:“Chầu Phật hòa vui cõi Đại Đồng”.(Cho bà Năm Cò)

CHÚ THÍCH

          XE LOAN: Do chữ Loan xa hay Loan giá. Có nghĩa : xe của Vua đi. Thời xưa xe của Vua đi thường có chạm hình chim Loan, do 4 con ngựa kéo (tứ Mã), trên cổ ngựa có treo lục lạc (chuông); khi chạy đi tiếng chuông vang lên, tượng trưng cho chim Loan kêu. Vậy chữ dựa xe Loan là nói sự được gần vị Thánh Vương đời Ngươn thượng. Cũng có ý chỉ cho sự tu hành khi được kết quả.

          LIỆU TOAN: Cũng gọi là toan liệu. Có nghĩa lo nghĩ trước và chuẩn bị trù liệu mọi việc cho kịp thời:“Chim bay về núi tối rồi, Anh không toan liệu còn ngồi chi đây?”.(Ca dao) Đức Thầy từng khuyên:

                    “Hỡi ai kẻ học hay lo liệu,

                      Rứt bụi trần bận bịu làm chi”.

                                        (Đáp lời Ô. Lương văn Tốt)

          THẤT NGHIỆP: Mất sở làm, không có công ăn việc làm. Ở đây ý nói không có công phước gì để được dự hội Long Hoa và hưởng cảnh đời Thượng ngươn Thánh đức.

          QUI CĂN: Trở về với gốc lành, với Đạo lành. Ý nói người biết qui y Tam bảo để trở về với tánh lành sẵn có từ trước. Đức Thầy kêu gọi:

                    “Quày đầu nghe tiếng chuông ngân,

                    Trở về nơi cũ cho gần Phật Tiên”.(Thu đã cuối)

          ĐẠO MẦU: (Xem CT câu 901, T-1, Q.1).

          TÒA CHƯƠNG: (Xem CT câu 46, T-2, Q.3)

CHÁNH VĂN

471.- Chúng-sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
Thời-kỳ này nhiều quỉ cùng ma,
474.- Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.
Nên Ta mới ra tay cứu-tế,
Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.
Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,
478.- Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.
Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,
Ở ngoài đường nó biết tên mình.
Tin cùng không thì cũng mặc tình,
482.- Chớ Ta lắm công trình dạy-dỗ.
Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,
Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.
Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
486.- Nên cố oán phá đời mãi mãi.
Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,
Rán bền lòng cho được hiền từ.
Hết khổ lao thì đến vui cười,
490.- Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 471 đến câu 490)

          - Bởi kẻ hung ác hiện đang gặp thời, họ dùng đủ cách nhiễu hại lê dân, trước tình cảnh ấy, người tu như con gà bị thất thế giữa trường, nên Đức Giáo Chủ khuyên kẻ thức thời hãy ẩn nhẫn cho qua hồi vận bĩ: “Đấng nam nhi ẩn nhẫn tùy thời, Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí”.(Giác Mê TK, Q.4)

          - Lại nữa, chúng sanh đã gây nghiệp tội ác từ lũy kiếp, nên nay bị luật trời phân xử, mở cửa cho các loài ma quỉ xuống thế, gây tai họa chiến tranh, bệnh chết cho sanh linh. Do đó Đức Thầy phải gấp rút lâm trần mở cơ cứu độ, để chúng sanh kịp thời cải dữ về lành hầu vượt qua cảnh sầu khổ.

          Ngài còn cho biết: bọn quỉ vương ra đời, chúng có đủ tài phép lên trời xuống đất, hiểu rành tên tuổi và tâm lý của cả chúng sanh; chúng dùng đủ thứ bùa ngãi thính linh, ông lên, bà xuống, soi căn, cầu hồn.v.v…số người nào còn mê tín sẽ bị thảm sầu vì chúng. Đức Thầy cũng đã nhiều lần và khổ công nhắc nhở, mặc cho bá tánh có tin nghe hay không tùy ý.

          Đức Thầy còn kể lại, thời gian Đức Thích Ca ngồi tham thiền tại gốc Bồ Đề, gần bờ sông Ni Liên Thiền, bọn Ma Vương Quỉ quái cũng tìm đủ cách theo phá khuấy, nhưng tâm Ngài vẫn an nhiên định tĩnh và dùng thần thông nghị lực hàng phục được chúng. Tuy đã khâm phục Phật, song lòng chúng ma còn căm tức mãi nên phát thệ: “Hiện giờ bọn ta phá Phật không được, nhưng cũng thệ quyết qua đời sau sẽ phá hại Phật pháp và cả đồ chúng cho kỳ được mới nghe”. Vì thế từ độ ấy nhẫn nay, lúc nào cũng có chúng Ma quỉ: hoặc dùng áp lực bên ngoài, hoặc len lỏi vào nội bộ để tìm đủ cách phá hại nền Phật pháp.

          - Do đó, Đức Thầy kêu gọi tất cả môn đồ nhà Phật, trong giới xuất gia hay hàng cư sĩ, từ đây hãy rán kiên tâm bền chí trên đường tu học và gắng sức rèn luyện thân tâm cho được trọn lành trọn sáng; được thế, chẳng những không bị chúng quỉ ma nhiễu hại mà còn đặng chứng thành Đạo quả. Và chúng ta phải tin chắc rằng: hết hồi khổ công hành đạo, dĩ nhiên phải tới lúc giải thoát an vui, và khi đó nhà tu sẽ thỏa lòng mãn nguyện.

 

CHÚ THÍCH

          CHÚNG SANH THỂ NHƯ GÀ THẤT THẾ, PHẢI NẰM CHỜ TỚI NƯỚC BẮT RA: Thường thấy những cuộc chọi (đá) gà, sau khi cáp độ xong, người ta dùng cây nhang phân ra nhiều chặn (?), rồi treo đồng xu ngay chặn phân đó. Khi gà bắt đầu đá thì đốt nhang, nhang cháy đến chặn, xu rớt xuống gọi là một nước gà. Bấy giờ hai bên đều bắt gà ra cho uống nước, săn sóc, o bế ít phút cho gà khỏe, rồi tiếp tục thả ra đá nước khác. Đến khi nào có một con chạy, hoặc chết tại chỗ là biết ăn thua. Trong khi ấy, nếu có một con thất thế, té xuống hay bị thương đá nữa không nổi, nó chỉ nằm đó, không chết, không chạy, thì chưa phải thua. Song nếu nó còn chòi đạp sẽ bị con gà kia cắn đá tất phải chết. Bằng nó biết khôn một chút, giả nằm yên tại chỗ thì con gà kia tưởng đâu đối thủ sắp chết, nên chỉ đứng nghiềm đó, chớ không cắn đá nữa. Nhờ đó kịp khi tới nước, người chủ bắt con gà thất thế ra cho nước, và may các vết thương, gà lấy lại sức khỏe. Bấy giờ chủ thả gà vào trường đá nữa, nhiều khi thắng được gà kia một cách dễ dàng.

          Ở đây Đức Giáo Chủ muốn nói: hiện giờ nhằm lúc thạnh thời của Ma quỉ và kẻ hung ác, chúng dùng đủ cách đàn áp, phá hại người lương thiện: “Quân tử tùy thời hơi sút bước, Tiểu nhơn ỷ sức mạnh pha xông”.(Cho Ô. Chín Diệm) cũng như con gà bị thất thế. Vậy mỗi người nên ẩn nhẫn (chờ tới nước):“Nhẫn nhẫn cho rồi cơn bĩ cực, Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao”.(Mấy đoạn tơ lòng)

          QUỈ VƯƠNG: (Xem CT câu 322, T-1, Q.1)

          CỨU TẾ: Giúp đỡ và độ rỗi người ra khỏi tai nạn khổ não. Cứu tế là một trong nhiều nghĩa của chữ Bồ Tát (Bồ giả phổ dã, Tát giả tế dã cứu nhơn chi cấp, tế nhơn chi nguy, nãi thị Bồ Tát). Đức Thầy từng nói:“Phổ tế chúng sanh qua bể khổ”.(Tỉnh bạn Trần gian)

          THA THIẾT: (Xem CT câu 322, T-1, Q.1).

          CÔNG TRÌNH: (Xem CT câu 381, T-3, Q.4).

          THÍCH CA PHẬT TỔ: (Xem CT câu 390, Q.2 và câu 242, T-2, Q.2).

          THAM THIỀN: Do Phạn ngữ Dhyana. Tham là suy gẫm. Thiền là tịnh lự, là Tư duy. Nói chung là để tâm yên lặng chăm chú vào một chỗ mà suy nghiệm tìm hiểu Đạo lý mầu nhiệm. Tham thiền cũng hiểu như chữ Thiền na, Thiền định hay Nhập định. Đức Thầy từng khuyên:“Phật pháp thiền na dốc thực hành”.(Cho cô Võ thị Hợi)

          BỔN ĐẠO: (Xem CT câu 116, T-2, Q.2).

          SƯ VÃI: Các nhà Sư và Ni cô (Xem thêm chữ Tăng đồ, câu 364, T-3. Q.4).

          PHỈ TÌNH: (Xem CT câu 172, T-2, Q.3).

          NGUYỆN ƯỚC: Cũng gọi là ước nguyện. Có nghĩa thề nguyền ước hẹn, thề hứa với lòng một việc gì. Ví dụ: Nguyện ước tu hành cho đến khi thành quả.

CHÁNH VĂN

491.- Bọn gái mới ra đường tha-thướt,
Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.
Khác tánh-tình người cổ nước ta,
494.- Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.
Trai với gái rán coi sử sách,
Đứng trung thần với kẻ tiết-trinh.
Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
498.- Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.
Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.
Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,
502.- Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.
Đức Thượng-Đế ngự đền Ngọc-Khuyết,
Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.
Thấy chúng- sanh trau-trỉa mặt mày,
506.- Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 491 đến câu 506)

          Nhận thấy một số phụ nữ thời nay đua đòi theo nếp sống mới của Âu Tây, ăn mặc se sua kiểu cách:“Diện áo quần, son phấn lấn chen, Miễn cho mình được lên xe xuống ngựa”.(Trao lời cùng Ông Táo) Vội quên đi phong tục cổ truyền của ông cha ta từ trước. Tánh tình họ trở nên hỗn láo, vô lễ, không còn được như hàng nữ lưu tốt đẹp thời xưa. Đức Thầy thường thống trách hạng người ấy:

                    “Cớ sao chê cổ trọng kim,

           Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con”.(Sám Giảng Q.3)

do thế, mà sắp tới đây họ phải chịu lắm tai nạn khổ sầu.

          - Bởi lý do kể trên, Đức Thầy khuyên dạy trong hàng nam nữ hãy thường xem sử liệu để học đòi theo những tấm gương trung trinh tiết liệt. Và rán lo trau sửa phần tâm đức bên trong, mới là điều đáng quí, chớ chẳng chẳng phải lo ăn diện sắc lịch bên ngoài mà gọi là tốt đẹp được.

          - Đức Thầy cũng sốt lòng, vì đã giác tỉnh chúng sanh nhiều lần, nhưng mãi đến nay, vẫn chưa được ba phần mười thức tỉnh. Cũng vì thế, từ đây sẽ có các đấng Phật, Tiên, Thần, Thánh, cùng với Đức Thầy, dùng đủ phương tiện giác tỉnh quần sanh.

          - Lại nữa, nơi đền Ngọc Khuyết, Đức Ngọc Đế xót thương cho chúng sanh trong cõi trần. Bởi việc khổ sắp kề bên mà họ mãi chạy theo cái đẹp hào nhoáng bên ngoài: lo trang sức vàng ròng son phấn, ăn dọn lụa là…chớ không sớm hồi tâm hướng thiện, để lo tu sửa trí lành, giồi mài tâm đức, hầu sau nầy được thoát qua tai khổ và dựa kề Tiên Phật.

CHÚ THÍCH

          THA THƯỚT: Cũng gọi là thướt tha. Có nghĩa yểu điệu, lả lơi. Ví dụ: dáng điệu tha thướt. Tha thướt ở đây chỉ cho nữ giới có tánh nết ăn dọn kiểu cách lả lơi, theo nếp sống văn vật.

          NỀ NẾP: Cũng gọi là nền nếp. Có nghĩa: Lề lối, kỷ cương trong một gia đình hoặc cả dân tộc, quốc gia. Đức Thầy từng cảnh tỉnh:

                    “Gương Tổ phụ còn roi lại đó,

                 Sao không theo nề nếp gia phong”.(Kh/thiện, Q.5)

          SỬ SÁCH: Sách viết về lịch sử để lưu lại đời sau. Ví dụ: Chuyện ấy có sử sách đành rành.

          TRUNG THẦN: (Xem CT câu 586, T-2, Q.3).

          TIẾT TRINH: (Xem CT câu 22, T-2, Q.2)

          ĐỀN NGỌC KHUYẾT: Một cái đền ở thượng giới (cõi Trời) của Đức Ngọc Đế ngự.

          TRAU TRỈA: Cũng đọc là trau tria. Trau là giồi mài chải chuốc, đánh bóng. Trỉa là tỉa, là xen bớt. Ví dụ: tỉa bớt tóc râu. Trau trỉa ở đây chỉ cho sự trau hình chuốc dạng, cạo sửa mặt mày, tô son đánh phấn.

 

CHÁNH VĂN

507.- Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.
Cõi ta-bà Ta thấy hỡi ôi ! 
510.- Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.
Người tàn-tật đui-cùi đói-rách,
Ít có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
514.- Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.
Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài-các văn-minh.
Mấy ai mà giữ dạ sắt-đinh,
518.- Theo Tông-Tổ của mình thuở trước ?
Đầu với tóc áo quần láng-mướt,
Chữ lanh khôn của quỉ của ma.
Chớ nó không có giống người ta,
522.- Ma với quỉ sanh người hung ác.
Lo tâp luyện những câu đờn hát,
Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu-khờ.
Để cái tâm yên-lặng như tờ,
526.- Coi Ta nói câu nào bất chánh ?
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 507 đến câu 526)

          - Tâm lý kẻ giàu hiện nay, phần đông chẳng lúc nào họ muốn gần gũi người nghèo, nếu trường hợp đặc biệt không thể tránh được, buộc phải tiếp xúc với kẻ nghèo thì họ luôn tỏ vẻ khi dể, né mình, bịt mũi, vì cho là hôi hám khó chịu. Đức Thầy nhìn tâm trạng loài người trong cõi khổ mà bắt hỡi ôi ! Ngài rất buồn thương cho những kẻ quá kiêu căng hống hách.

          - Lại có số người không hề đoái tưởng đến những kẻ tật nguyền cùng khổ, chỉ lo bưng bợ và yêu chuộng hạng cao sang quyền thế.

          - Đối với kẻ nghèo hèn thiếu ăn thiếu mặc họ xem chẳng xứng đáng vào đâu, Đức Thầy buồn thương cho những người quá đam mê xa hoa phung phí theo nền văn minh vật chất. Xét ra, chẳng còn bao người bền gan chặt dạ, ăn ở đúng theo nền nếp, gia phong của Tổ tiên từ trước:“Gan vàng sắt đá lòng son mấy người?”(Giác Mê của Đức Phật Thầy)

          - Họ chỉ lo chưng diện lụa the màu sắc, tập tành theo lối sống gian ngoan, quỉ quyệt, mất cả lòng nhơn. Đức Thầy cho những kẻ thiếu tình nhân loại ấy, chưa xứng đáng là một con người. Bởi từ chỗ khôn ma, khôn quỉ đó, sẽ đưa họ đến hung tàn bạo ác, gây đau khổ cho nhân loài.

          - Cũng có hạng cho mình là kẻ học thức, nhưng họ chỉ biết điêu luyện tiếng đờn giọng hát, để ru hồn tuổi trẻ, chạy theo nếp sống xa hoa trụy lạc, không để tâm chỉ dạy người quê dốt. Đến đây Đức Giáo Chủ kêu gọi mọi người trong xã hội hãy bình tâm suy nghĩ lời luận giải của Ngài, xem có chánh lý hay không?

 

CHÚ THÍCH

          TA BÀ: (Xem CT câu 183, T-2, Q.2).

          KIÊU CÁCH: Cách điệu kiêu hãnh, khi người; hoặc bằng lời nói, bằng dáng điệu ngạo nghễ, lập dị. Ví dụ: Cử chỉ kiêu cách, lời giọng kiêu cách. Đức Thầy hằng răn dạy:

                    “Hãy bỏ dứt tánh tình kiêu cách,

                      Các con lành khá chọn ngay đường”.

                                                  (Nang thơ Cẩm tú)

          VĂN MINH: (Xem CT câu 521, T-1, Q.1).

          DẠ SẮT ĐINH: Sắt và đinh là thứ kim loại, màu xám, chất nó cứng và chắc. Dạ sắt đinh là lòng dạ cứng bền trước sau như một, không hề thay đổi và không ai có thể làm lay chuyển được. Ví dụ: gan vàng dạ sắt. Đức Thầy từng khuyên:

                    “Rèn lòng giữ dạ sắt đinh,

            Đừng phai đừng lợt thân mình thảnh thơi”.

          TÔNG TỔ: (Xem CT câu 143, T-2, Q.3).

CHÁNH VĂN

527.- Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
Nếu thiệt người thì biết thương người.
Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
530.- Nào có lấy lời chi chỉ bảo.
Ta thương xót lo tần lo tảo,
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,
534.- Rất đau xót cho nòi cho giống.
Biết chừng nào được qui nhứt thống,
Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.
Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,
538.- Không nhắc đến biết đâu dân sửa.
Cơm được chín ta nhờ có lửa,
540.- Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 527 đến câu 540)

          - Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ khuyên mọi người nên noi gương và thực hành theo lời giảng huấn của Phật Thánh. Nếu là một con người thì phải có lòng nhân, thương yêu và tận tâm giúp đỡ những kẻ chung quanh. Thấy hạng quê mùa dốt nát, không vội khinh chê mà phải thật lòng chỉ bảo họ, những điều hay lẽ phải.

          - Bởi lòng quá thương xót sanh linh, nên Đức Thầy chẳng ngại sự gian khổ, dùng đủ phương tiện tế độ bá gia, và sáng tác Sấm kinh, luận giải Đạo lý, cho thuốc trị bịnh. Với dụng ý là làm cho mọi người đều biết giác ngộ, quay về con đường Đạo đức; thế mà chưa được bao người, biết xử sự cho đúng với bổn phận, dâu hiền rể thảo. Do đó, khiến cho người xưa phải não lòng xót dạ cho dân tộc ta, cũng là nòi giống tiên rồng, mà nay lại để mất đi những đức tánh hiền lương tốt đẹp:“Giống lành xưa cũng Rồng Tiên, Ngày nay hung ác đảo điên khắp cùng”.(Viếng làng Phú An)

          - Đức Giáo Chủ cũng mong đến một ngày cả nhơn loại trong địa cầu đều biết qui về gốc thiện, mọi người cùng thương nhau như ruột thịt, chẳng còn diễn ra cảnh đau thương tang tóc. Và mỗi khi nhắc đến sự thống khổ của nhân sanh, Ngài cũng bắt đau lòng chua xót. Nếu Ngài không nhắc nhở thì dân chúng biết đâu mà ăn năn hối cải.

          - Vả lại, người sống trong trần nhờ có lửa, mới nấu được cơm chín mà dùng, còn đất nước gặp thuở thanh bình, dân chúng mới hưởng cuộc đời an vui hạnh phúc. Vậy ai muốn sống cảnh ấy, hiện giờ phải lo gieo trồng giống thiện.

CHÚ THÍCH

          PHẬT THÁNH: (Xem CT câu 149, T-3, Q.4)

          LO TẢO LO TẦN: Tảo tần là hai loại rau, do chữ “thái tảo, thái tần”. Nghĩa rộng là chỉ cho sự đảm đang nhiều việc, làm lụng cực nhọc, nào buôn tảo bán tần, nào việc nầy việc nọ để nuôi sống gia đình. Ca dao có câu “Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần, Thức khuya dậy sớm tảo tần với anh”.

          Lo tảo lo tần ở đây ý nói: Vì quá thương xót chúng sanh, Đức Thầy phải dày công cực nhọc, dùng mọi phương tiện cứu độ, như Ngài từng nói:

                    “Tảo tần lo liệu năm ba,

             Biết sao hiệp mặt lòng già mới nguôi”.

                                        (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          RỂ THẢO DÂU HIỀN: Rể thảo, do chữ rể Đông sàng, tức người rể xứng đáng, có lòng hiếu thảo với cha mẹ vợ, cũng như cha mẹ ruột. Người xưa từng nói:“Dâu hiền là gái, rể thảo là trai”.

          Dâu hiền, do chữ dâu Nam gián, cũng gọi là dâu nên, tức là người dâu hiền đức, hết lòng tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ chồng:“Dâu hiền như báu trong nhà, Khác nào như gấm thêu hoa rõ ràng”.(Ca dao)

            Trong văn chương Việt Nam có tác phẩm “Thoại Khanh Châu Tuấn”, đã nói lên tấm gương dâu hiền rất mực: Sống trong gia đình nghèo túng với một mẹ già, Châu Tuấn lại đi thi, Thoại Khanh hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng, hằng ngày bắt ốc hái rau nuôi mẹ…

          Đến Kinh đô, Tuấn thi đỗ cao, nhưng bị nhà vua ép gả Công chúa, Tuấn từ chối vì đã có vợ nhà. Vua nổi giận, đày Tuấn qua xứ khác. Mẹ con ở nhà trông đợi mãi, càng lúc càng bặt tin. Thoại Khanh liền dắt mẹ tìm chồng, trên đường đi, gặp nhiều gian nan vất vả. Khi được tin Tuấn bị đày, mẹ khóc thương mù cả đôi mắt. Thoại Khanh tiếp tục cõng mẹ, băng rừng vượt suối để đến với Tuấn. Thời gian bị lạc trong rừng, vì mẹ đói quá, nàng hy sinh lóc thịt nướng cho mẹ ăn đỡ đói. Một hôm, nàng lại bị hung thần bắt ép phải ưng nó làm chồng, bằng không thì phải chịu móc đôi mắt, thế là nàng đành chịu mất đôi mắt để tròn câu chung thỉ với Châu Tuấn.

          Do lòng trọn thảo với mẹ và trinh tiết với chồng, nên Trời đất cảm động ban phúc cho cặp mắt Khanh sáng lại và cho thần Sơn quân (cọp) cõng hai mẹ con đưa đến gặp Tuấn.

          Bấy giờ Châu Tuấn đã thi đậu lại lần nữa, cả nhà vui mừng sum họp và sống cuộc đời hạnh phúc vinh quang.

          Đó là một tấm gương dâu hiền đáng kính và đáng noi theo. Nhưng nhìn lại hàng phụ nữ thời nay thì quá hiếm, cho nên Đức Thầy thường khuyến tấn:

                    “Hàng phụ nữ gương xưa nối chí,

               Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền”.(Kh/thiện,Q.5)

            NGƯỜI THƯỢNG CỔ: Người thời xưa. Đây chỉ cho Tổ tiên ta, những người đã sản sanh giống Tiên rồng Việt Nam.

          NÒI GIỐNG: Cũng gọi là giống nòi. Chỉ cho nguồn gốc dòng dõi của một dân tộc, như dân tộc Việt Nam là nòi giống Tiên Rồng, con Hồng cháu Lạc:

                    “Giống nòi thiệt cốt Rồng Tiên,

                   Mà nay lạc mất gương hiền nơi đâu ?”

                                                  (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          QUI NHỨT THỐNG: Gom về một mối. Đây ý nói đến thời kỳ mà cả nhân loại đều biết trở về với tánh lành, tánh nhân từ bác ái thì chẳng còn ai gây khổ cho ai nữa. Đức Thầy từng nói trong bài “Thu đã cuối”:

                    “Chấn hưng Phật giáo học đường,

              Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên”.

          HOÀN CẦU: (Xem CT câu 42, T-2, Q.2).

          DẠ NGỌC: (Xem CT câu 496, T-2, Q.3).

          KHẢI HOÀN: (Xem CT câu 54, T-2, Q.2)

CHÁNH VĂN

541.- Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,
Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết. 
Ai chửi mắng thì ta giả điếc,
544.- Đợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,
Thì đâu có mang câu thù-oán.
Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,
548.- Chữ từ-bi ta diệt nó liền.
Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,
Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.
Chữ bạn tác dầu cho đến chết,
552.- Cũng keo-sơn gắn chặt mới là.
Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,
Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.
Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,
556.- Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.
Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
558.- Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 541 đến câu 558)

          - Đức Thích Ca Như Lai đã sắc lịnh cho Đức Thầy truyền dạy khắp môn đệ, nhiều pháp tu hành. Trong đây có pháp nhẫn nhục, nó ví như áo giáp tường đồng để bảo vệ nhà tu, khỏi nổi cơn nóng giận trước sự khiêu khích của kẻ khác. Khi có người đến mắng nhiếc chửi rủa thì ta giả như không nghe, không thấy; tâm xét rằng: vì họ thiếu Đạo nghĩa, mới lấn hiếp mình như thế, vậy đáng thương hại hơn là thù ghét, và luôn giữ lòng nhẫn nhục, tha thứ lỗi lầm của họ. Đợi qua cơn giận dữ, ta sẽ dùng lời dung hòa ra khuyên giải, tức nhiên lòng thù oán giữa ta và họ sẽ tiêu tan.

          - Thêm nữa, nhà tu cần theo dõi lòng mình từ phút giây, hễ thấy một niệm hung dữ vừa chớm nghĩ, lập tức dùng tâm từ bi giải trừ. Còn đối với sự thù oán phải lấy lòng hiền đức ra đối trị, bởi “Dĩ đức báo oán, oán tự tiêu tan”; bằng : “Dĩ oán báo oán thì oán kết thêm mãi”.

          - Đức Thầy cũng dạy về đạo bằng hữu, cần phải giữ lòng thương mến, tương trợ lẫn nhau cho được thỉ chung như nhất. Và về mặt giao tiếp với mọi người hãy nói năng chơn chất, chẳng nên khoe khoang lớn lối, dầu ta có đủ tài trí cũng giả như kẻ thật thà quê dốt, là yên thân nhất.

          - Vì rằng: nếu ta ham đua tranh, giành giựt với mọi người, ắt không tránh khỏi va chạm đến quyền lợi, hay lòng tự ái của kẻ khác; rồi dẫn đến chỗ tranh tụng kiện cáo, nhiều khi phải chuốc lấy sự thất bại, tù tội. Bởi thời nay, người ta xem tiền bạc là trên hết “Đa kim ngân phá luật lệ” chớ ít ai thi thố lòng nhơn nghĩa.

CHÚ THÍCH

          NHƯ LAI: (Xem CT câu 153, T-2, Q.3).

          NHẪN HÒA: Nhẫn nhịn và khoan hòa, dung thứ mọi người. Đây là một đức tánh, cũng là phương pháp, có diệu năng trừ được lòng nóng giận hung ác.

          THẤP THOÁNG: Lấp loáng, vừa nhoáng lên, vừa thoáng qua. Đây ý nói tánh hung ác vừa mới chớm phát.

          TỪ BI: (Xem CT đoạn 2, T-1, bài Sứ Mạng).

          OÁN THÙ: Cũng gọi là thù oán. Có nghĩa thù nghịch oán hận và căm tức trong lòng để chờ dịp làm cho lợi gan. Đức Thầy có câu:

                    “Giận hờn nhau thù oán dẫy tràn

                      Mới có cuộc tranh tài đấu lực”.(Kh/thiện Q.5)

            BẠN TÁC: Làm bạn. Do chữ “Bằng hữu”, tức tình bè bạn. Cũng có nghĩa là kết bạn giữa hai người xuýt xoát tuổi với nhau. Ở đây chỉ cho Đạo bè bạn, một trong “Ngũ luân”, đã kết bạn với nhau thì phải đối xử đứng đắn, trước sau như một. Sau đây là câu chuyện tình bạn tác cho đến chết vẫn còn keo sơn gắn chặt.

          - Thời Chiến Quốc (Tr.Hoa) có đôi bạn thân là Tả Bá Đào và Dương Giác Ai, cùng nhau đến nước Sở để lập công danh. Đường xa diệu vời, tắm nắng dầm mưa. Bá Đào vương phải bệnh, nằm lạnh run, suy tính: số y thực mang theo chỉ đủ một người dùng, mới đi đến nơi, nên anh khuyên Giác Ai: hãy đi một mình để anh ở lại, nhưng Giác Ai không đồng ý.

          Độ ấy, mưa càng lúc càng nhiều, trời rét buốt, Bá Đào kêu Giác Ai nói:

          - Anh mệt mỏi và lạnh quá đi không được nữa !

          Giác Ai liền đỡ Bá Đào nằm trên tảng đá, rồi chạy đi kiếm củi để đốt hơ, nhưng khi trở lại, thấy Bá Đào cởi hết y phục xếp lại, để mình trần nằm đó chờ chết. Giác Ai ngạc nhiên hỏi:

          - Anh sao thế? Bá Đào đáp:

          - Anh sức kém lại học ít, liệu tới nước Sở cũng chẳng làm được gì, nếu không khéo, cả hai ta đều chết đói giữa đường. Vậy em hãy lấy hết y thực mà đi, anh đành chết nơi đây. Nói xong Bá Đào tắt thở! Giác Ai khóc than thảm thiết, toan liều mình chết theo bạn, xong nghĩ làm vậy, tức phụ lòng anh, bèn lo chôn xác Bá Đào, chất đá làm dấu, rồi bùi ngùi ôm gói ra đi.

          Tới nơi, Giác Ai được vua Sở trọng dụng, phong tước Trung Đại Phu. Giác Ai đem sự tình tâu hết cho Vua nghe, và xin phép trở lại xây mộ cho anh. Vua chuẩn y, lại cũng truy phong cho Bá Đào chức Trung Đại phu và cắt quan quân, theo hộ vệ Giác Ai.

          Công việc xây mộ vừa xong, Giác Ai nằm mộng thấy Bá Đào về cho biết: Anh rất cám ơn em lo danh phận và mồ của anh chu đáo, ngặt nơi đây gần mộ Kinh Kha, một thần linh ở đất nầy; bộ hạ y sanh đố kỵ, nên mấy hôm nay xua đuổi và đánh đập anh khổ sở lắm!

          Giác Ai thức giấc, liền đòi làng xóm sở tại đến hỏi. Quả có mộ Kinh kha gần đó. Giác Ai cấp tốc đến miếu phân bày hơn thiệt: bảo Kinh Kha từ rày không được cho bộ hạ đến hiếp anh ta nữa ! Nhưng đêm sau Bá Đào cũng ứng mộng bảo Giác Ai: nên dời mộ anh đi nơi khác, vì Kinh Kha và bộ hạ y chẳng khứng để yên.

          Giác Ai tỉnh dậy, liền viết sớ tâu vua hay và kêu đoàn tùy tùng nói:- Bọn Kinh Kha ỷ mạnh ăn hiếp anh ta đến đỗi, ta phải chết theo anh để trừ kẻ cường nghịch, đoạn rồi anh rút gươm tự tử.

          Đêm đó giữa lúc canh ba, gió mưa sấm sét tưng bừng, nghe tiếng la hét vang dội. Sáng lại người ta thấy mồ Kinh Kha bể nát, xương cốt văng lên mặt đất, cây cối chung quanh tróc gốc ngã lăn. Miễu môn cũng cháy sạch như chỗ đất bằng. Vua Sở được tin, liền sai quan đến nơi ấy lập miễu thờ hai anh em Dương Giác Ai và Tả Bá Đào để tưởng nhớ đôi bạn “Chí thân tử hữu”. Người sau thường dùng điển tích nầy để tỉnh đời:

                    “Thương nhau như gã Ai Đào,

                  Mong chi ai xẻ đồng bào nhiều phe”.

          KEO SƠN: Keo và sơn là hai chất dính khó làm cho tróc ra. Cổ thi có câu:“Cổ giao đầu tốt trung, Thùy năng biệt ly thử”.(Lấy keo bỏ vào trong sơn thì ai chia rẽ cho được). Đây ý nói tình bạn thương yêu, đoàn kết nhau rất khắn khít như keo với sơn dính liền. Đức Thầy nay từng nói trong bài “Viếng làng Mỹ Hội Đông”: “Keo sơn đâu cật liền lưng”.

          TRANH ĐƯƠNG: Tranh đua giành giựt, chống cự lẫn nhau.

          SA CƠ: Bị việc không may, phải thua, phải thất bại. Ví dụ: Sa cơ thất thế,

          XÍCH XIỀNG: Xích là sợi dây bằng sắt, có nhiều khoen móc liền nhau. Xiềng là trói buộc lại. Xích xiềng là bị cột trói bằng dây xích. Nghĩa bóng là bị sự tù tội, ràng buộc khổ sở, Đức Thầy bảo:

                    “Tham chi giả tạm của tiền,

               Như chim vào lưới xích xiềng trói thân”.(Hoài Cổ)

          NHƠN NGHĨA: (Xem CT câu 868, T-1, Q.1).

CHÁNH VĂN

559.- Theo học Đạo mặc ai mai-mỉa,
Ta cũng đừng gây-gổ với người.
Được mấy điều thì đáng vàng mười,
562.- Thiệt hiền-đức có ai mắng chửi.
Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
Ngài nói rằng các việc tại mầy.
Thuận với hòa hay ghét với rầy,
566.- Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.
Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
Lấy tâm thần làm chủ mới mầu.
Cũng chẳng nên theo tánh Võ-hầu,
570.- Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.
Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm,
574.- Nói những chuyện từ-bi bác-ái.
Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,
Coi kệ này mình sửa lấy mình.
Ta không tranh mà cũng không kình,
578.- Cho bá-tánh gièm-pha thoả chí.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 559 đến câu 578)

          - Đã quyết tâm tu học đạo pháp thì dù ai có gièm siểm nhạo chê, ta cũng đừng sân si với họ, hầu để tâm yên tĩnh lo thi hành việc Đạo nghĩa; mỗi người đều biết tu sửa như vậy, ắt được quí báu hơn vàng ngọc. Và nếu ta đã thật tâm tu niệm, tức nhiên mọi kẻ chung quanh đều kính nể, thì đâu còn ai khinh khi mắng chửi.

          - Xưa Thánh nhơn thường răn đời, nên thận trọng lời nói, bởi mọi thành quả thấp cao, tội phước hòa vui hay thù hận, cũng đều do miệng lưỡi mà ra. Cho nên ngày nay Đức Thầy thường chỉ dạy tín đồ:“…phải giữ cho lời nói mình được thành thật chánh đáng, được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ khác”.(Ác lưỡng thiệt)

            - Song muốn trừ tuyệt các lời nói quấy ta phải tự chủ thân tâm, mỗi khi muốn nói hay làm việc gì, trước phải dùng thần trí sáng suốt mà xét suy kỹ lưỡng; nếu thấy điều đó là ôn thuần đạo nghĩa mới thực hiện. Bỏ hẳn những tánh tình thô bạo, những cử chỉ hăm he, nhăn nhện làm cho kẻ khác khó chịu.

          - Và trước khi thi thố điều chi, ta cần phải suy lường cân nhắc, chớ không nên làm càng nói bướng. Còn những lời khuyên dạy trên đây, là tiếng lòng từ ái của Đức Giáo Chủ, chớ chẳng phải là lời nói nhảm, mà bá tánh thờ ơ không lưu ý.

          - Ngài cũng kêu gọi khắp bổn đạo, mỗi người hãy tự kiểm, nếu thấy mình quấy phạm thì xem theo lời dạy trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy, mà tu sửa thân tâm, rèn luyện ngôn ngữ cho được ngay chánh. Riêng phần giáo độ nhân sanh của Đức Thầy, Ngài chẳng hề tranh luận chống kình với một ai, nên dầu cho tiếng đời có nhạo chê gièm siểm cũng mặc:“Cay đắng siểm gièm thân lão chịu, Miễn đời thạnh trị hết cuồng ngông”. (Phòng vắng đêm khuya)

          MAI MỈA: Cũng gọi là mỉa mai. Có nghĩa châm biếm, chế nhạo, nói cạnh khía, nói cười nửa chơi nửa thật, nhưng có ẩn ý khi dể. Ví dụ: nói mỉa mai, cười mai mỉa.

          VÀNG MƯỜI: (Xen CT câu 109, T-2, Q.3).

          CŨNG CÁI LƯỠI LÀM THẦY CÁC VIỆC: Lưỡi là một bổn phận của cơ quan tiêu hóa, bằng thịt nằm trong miệng, có nhiều hạch nước miếng, dùng để nếm, lừa thức ăn và cũng để nói chuyện.

          Sách Tây phương có sự tích:

          Erope, một triết gia, cũng là một nhà thơ nổi tiếng nhất ở Hy Lạp, sống vào khoảng thế kỷ thứ VI và thứ VII, trước Tây lịch. Lúc ông còn làm nô lệ, một hôm chủ bảo ông ra chợ mua thức ăn nào ngon nhất. Ông bèn mua toàn là lưỡi heo, đem về làm các thức ăn, chủ lấy làm lạ hỏi lý do. Ông đáp:

          - Lưỡi là cái chìa khóa của tất cả lý lẽ. Nhờ nó mà con người được địa vị cao sang, nhiều kẻ khác kính nể.

          Ít hôm sau, người chủ muốn thử ý, bèn sai ông đi mua món nào xấu và dở nhất về nấu ăn, ông cũng mua toàn lưỡi heo. Người chủ ngạc nhiên hỏi:

          - Tại sao nay cũng mua lưỡi heo nữa?

          Ông đáp:

          - Nếu nói về cái quí thì không gì quí hơn lưỡi, nhưng tìm cái xấu thì cũng không gì xấu hơn nó. Chính cái lưỡi đã khiến con người ưa tranh biện, gây chia rẽ, vu cáo, nói những lời bất nghĩa, bất nhân. Tài hùng biện của Erope khiến người chủ phải chịu thua.

          Đây ngụ ý lời nói (lưỡi) là nguồn cội của sự chân thật hay là điêu ngoa xảo trá. Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Thánh Khổng Tử cũng bảo: “Nhất ngôn bất đúng, vạn sự bất thành”. Và “Cổ ngôn chi bất xuất, Sĩ cung chi bất đãi dã” (Người xưa chẳng dám khinh dễ lời nói, sợ e chẳng theo kịp lời nói mà hổ ngươi). Bởi mọi việc hư nên tốt xấu gì, cũng do nơi lời nói mà ra cả.

          TÂM THẦN: Phần tinh thần của thể xác, tức là sự linh diệu sáng suốt của tâm trí mình. Đức Thầy có câu:“Tâm thần hoài tưởng chuyện xa xôi”.(Thi Xuân)

          VÕ HẦU: Loài khỉ, tánh võ hầu là tánh hay nhảy nhót, bực dọc, nhăn nhướng.

          LIỆU LƯỢNG: Toan tính, suy lường, cân nhắc đâu đó chu toàn. Ví dụ: Việc đó đã liệu lượng xong rồi.

          BÁC ÁI: (Xem CT câu 40, T-1, Q.1).

          GIÈM PHA: Đặt chuyện nói xấu người với một kẻ khác, hoặc nói vô nói ra cho hư chuyện người.

 

CHÁNH VĂN

579.- Ai làm phước in ra mà thí,
Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy.
Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,
582.- Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.
Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.
Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
586.- Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.
Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,
Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
590.- Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.
Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,
Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.
Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
594.- Đời văn-vật khôn ma khôn quỉ.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 579 đến câu 594)

          - Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ khuyến dạy chư thiện tín, nếu ai muốn tạo nhân từ thiện, hãy xuất tiền in kệ giảng, truyền bá trong quảng đại quần chúng, vì đó là công tác pháp thí (một trong 3 món bố thí) thì sau nầy được hưởng nhiều phúc hạnh sáng mầu. Bởi đầy lòng từ bi đối với cả chúng sanh, nên lúc còn an trú nơi rừng núi, Đức Thầy đã độ rổi các loài cầm thú, nay lâm phàm Ngài có bổn phận hướng dẫn nhân sanh, tiến lên đường Đạo đức.

          - Vậy ai muốn qui đầu Phật pháp, khi đến với Ngài, khỏi phải bận tâm dùng lễ vật, chỉ cần có sự thật lòng thành tín là được. Bởi những lễ lộc như: nhang, đèn, bánh trái.v.v…của trần gian, Ngài và chư Phật chẳng hề màng đến:“Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham”.(Hai mươi chín tháng Chạp) Ngài mong sao mọi người đều biết trở lại với tâm lành, hối cải những lầm lỗi vừa qua và tự quyết không còn tái phạm.

            - Đến như những kẻ ở quá cách xa, không đủ phương tiện tới gặp Đức Thầy, song họ có lòng thành, kính mộ đạo đức thì cứ ở ngay tại nhà, xem theo lời dạy trong Kệ nầy mà phát nguyện qui y Tam Bảo, cũng được Ngài và Tam Bảo ứng chứng cho.

          - Về qui tắc của PGHH, mỗi tín đồ khi mới đặt chân vào cửa đạo, cần giữ đúng Tám điều răn cấm và phải ăn chay mỗi tháng bốn ngày (Ngày 14, rằm, 29 và 30, tháng thiếu thì 29 và mùng Một)  rồi tùy theo lòng nhân và trình độ của mỗi hành giả mà tiến dần lên. Đức Thầy còn dạy rằng: đã tự nguyện làm tôi con của Phật thì sự nói năng phải giữ cho được chân thật hiền hòa, không nên đua chen, tập nhiễm theo nếp sống văn vật kim thời mà ăn nói khôn lanh xảo quyệt.

          HẠNH PHÚC: (Xem CT câu 240, T-3, Q.4)

          THÀNH LÒNG: (Xem CT câu 27, T-2, Q.2).

          HỐI NGỘ: Ăn năn và tỉnh ngộ, tức là tự tỉnh biết mình đã làm quấy mà ăn năn cải sửa. Đây là nghĩa của chữ Sám Hối (Xem thêm phần CT câu 407, T-3. Q.4).

          ÁI MỘ: Yêu chuộng, ưa thích và kính tin. Ví dụ: ái mộ Đạo đức, ái mộ việc lành.

          TU TỈNH: (Xem CT câu 342, T-2, Q.2).

          THỜI KHẮC: Giờ khắc. Một ngày có 24 giờ, một giờ gọi là một thời và có 60 phút, cứ 15 phút là một khắc. Vậy một khắc là một phần tư của một giờ. Người ta căn cứ vào thời khắc mà phân định thời gian làm việc, tu hoặc ăn nghỉ (xem thêm phần CT câu 42, T-1, Q.1).

          QUI TẮC: Do chữ “Qui tắc chuẩn thằng”. Qui là cái đồ vẽ hình tròn (compa), tắc là cây thước của người thợ dùng để đo góc vuông (thước vuông). Chuẩn thằng là dây chuẩn dây tiêu dây mực. Nhờ các món ấy mà người thợ làm nên món đồ ngay thẳng, khéo đẹp. Nghĩa rộng là chỉ cho luật lệ phép tắc. Ở đây ý chỉ cho qui luật, nghi thức của Đạo mà mỗi tín đồ phải hành trì, cho đúng theo đó.

          VĂN VẬT: (Xem CT câu 89, T-2, Q.3).

CHÁNH VĂN

595.- Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,
Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.
Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,
598.- Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.
Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
Đặng xuê-xang đài-các xe-tàu.
Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
602.- Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.
Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,
Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.
Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,
606.- Hay sửa-đổi tùy lòng hưu-hỷ.
Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,
Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.
Đặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,
610.- Với báu-quí đài-lầu tươi-tốt.
Xác Ta vốn là người quê dốt,
Nên mở mang chưa được mấy rành.
Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,
614.- Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 595 đến câu 614)

          - Con người thời nay hay tập nhiễm theo sự ăn xài chưng diện, trang sức lụa là v.v…vội quên đi phong tục tốt đẹp của nước ta từ xưa. Lòng họ luôn chứa chấp điều ác gian tà vạy, chẳng hề để tâm thương xót một ai.

          - Lại nữa từ ngày có làn sóng văn vật của Tây Âu tràn ngập vào, phần đông dân ta đua đòi theo lối học mới, ai cũng muốn lo cho mình văn hay chữ giỏi, song chỉ để tranh đoạt lợi danh, tiêu xài xa xí. Về sự giao thiệp họ tỏ vẻ ngọt ngào óng chuốt bên ngoài, nhưng trong thâm ý thì đủ đầy mẹo mưu để lường gạt mọi người.

          - Riêng phần Đức Thầy còn phải rày đây mai đó, dạo qua 6 tỉnh miền Nam nước Việt, để đánh thức vạn dân sớm giác ngộ tu hành. Và dù bá tánh khi xem đến Kệ Giảng của  Ngài, chỉ biết ngâm nga tiêu khiển hay vui vẻ thực hành theo, tùy ý; chớ Ngài chẳng hề nài ép một ai.

          - Bởi quá thương xót chúng sanh nên Ngài giải bày cặn kẽ để mỗi người nhận thức được lẽ tội phước mà qui y đầu Phật, gấp rút tu rèn tâm trí, bòn mót phước nhân hầu sau nầy thấy sự diệu mầu trong Đạo pháp, và cảnh quí báu đền vàng điện ngọc của nước Việt Nam.

          - Đức Giáo Chủ cũng khiêm nhượng cho biết: Ngài là người ít học quê mùa, việc Đạo đức chưa rành mấy, nhưng vì nhận thấy cõi đời Hạ ngươn sắp đến ngày tàn cỗi, như chỉ mành treo chuông. Vốn sẵn lòng từ bi, Đức Thầy đâu nỡ yên nhìn chúng sanh đang vướng vòng khổ lụy, nên Ngài không ngần ngại ra tay tế độ. Vậy mỗi người trong bổn đạo, muốn vượt qua truông khổ, phải thật lòng tu thân, hành thiện mới mong kết quả:“Tu thật tâm thì được thảnh thơi”.(Kệ Dân Q.2)

                              CHÚ THÍCH
          TRANG SỨC: Ăn mặc lụa là và đeo đồ nữ trang để chưng diện cho đẹp.

          KIM THỜI: Thời đại hiện giờ, sự mới mẻ.

          HUÊ MỸ: Cũng gọi là hoa mỹ. Có nghĩa đẹp đẽ lộng lẫy.

          PHỤ PHÀNG: Bỏ bê khinh bạc, không kể đến.

          TỤC CỔ: Những phong tục lễ nghi của ông cha từ xưa để lại.

          THÔNG THÁI: Hiểu biết rộng rãi hơn người. Đây chỉ cho sự thông hiểu về việc đời (thế trí biện thông).

          XUÊ XANG: (Xem CT câu 600, T-3, Q.4).

          MƯU MÔ: Mưu mẹo khôn xảo quỉ quyệt.

          PHIÊU LƯU: Phiêu là gió thổi bay; lưu là trôi đi. Ví như con thuyền bị trôi giạt theo sóng gió, linh đinh vô định. Đây ý nói vì muốn rộng độ chúng sanh, Đức Thầy phải lưu hành khắp nơi, rày đây mai đó, như Ngài từng nói trong bài “Đến làng Nhơn Nghĩa”:

                    “Thân Khùng vận bĩ trớ trêu,

               Phiêu lưu trôi giạt danh nêu khắp cùng”.

          LỤC CHÂU: (Xem CT câu 56, T-2, Q.1).

          HƯU HỶ: Vui vẻ.

          PHẬT PHÁP: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng).

          NHIỆM MẦU: Cũng gọi là mầu nhiệm. Có nghĩa sự cao sâu huyền diệu khó nghĩ lường. Ý nói lý nghĩa trong Phật pháp sâu kín mầu nhiệm, không thể dùng ngôn ngữ hay bút mực mà diễn tả cho hết được. Chỉ có kẻ tu hành khi trực nhận được bản tâm mới thông đạt mà thôi.

CHÁNH VĂN

615.- Dầu cực-khổ thân này chẳng nại,
Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.
Bỏ dị-đoan mới thấy Đạo-mầu,
618.- Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.
Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
Đâu có bày dối-mị như vầy.
Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
622.- Dân rán kiếm mà truy thì biết.
Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,
Mà nào ai có biết để lòng.
Chuyện Thiên-Cơ nói rất não-nồng,
626.- Câu hữu lý bá tòng khó sánh.
Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
Vì lời xưa có dặn rạch-ròi.
Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
630.- Thì lao-lý tấm thân vô ích. 
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 615 đến câu 630)

          - Trên con đường độ chúng của Đức Giáo Chủ, dầu có gặp nhiều gian khổ, Ngài cũng chẳng nệ hà, và không hề mong mỏi một ai cung phụng bái quì. Ngài còn kêu gọi mọi người, hãy bỏ dứt các điều kỳ hoặc, mê tín để thật lòng tu niệm, mới mong thấu đạt lý thâm huyền của Đạo pháp và được kiến diện người xưa, trong ngày lập hội.

          Bởi từ căn nguyên ông cha ta cũng từng sùng ngưỡng Đạo mầu, song chẳng hề có hành động mị dân dối chúng. Vậy ai muốn rõ thông con đường chánh tín, hãy tìm xem những sấm kinh của Đức Phật Thầy xưa kia truyền lại.

          - Vì trong đó Ngài giải bày rành mạch, vế chánh Pháp vô vi của Đạo Phật, và cho biết trước những tai nạn khổ sầu của chúng sanh sau nầy. Các lời tiên tri ấy, ai xem đến cũng bắt buồn thảm cho cảnh khổ chung của nhơn loại. Còn những lời dạy Đạo, đúng với chơn lý, nếu ai chịu thực hành theo sẽ được kết quả cao diệu. Cho nên nói loại tòng bá đều có sức vững bền, chịu đựng với thời gian, sương tuyết, nhưng cũng không thể sánh được một câu hữu lý !

          - Đức Thầy cũng đã hằng khuyên mọi người, chẳng nên bén mảng đến các nơi tựu hội đông đảo, để ăn chơi xa xí, hoặc hành động điều vô liêm bất nghĩa và cũng chẳng chạy theo một hội nhóm nào, có tánh cách phụ rải Tổ Tiên nòi giống, bởi giảng xưa đã từng giáo huấn minh bạch điều nầy:

                    “Đạo nhà chẳng tưởng, tưởng Đạo xa,

                      Đạo gốc Nam bang Đạo nước nhà.

                      Đạo của Phật thầy truyền kim cổ,

                      Đạo trung Đạo hiếu Đạo nhơn hoà”.

          Nếu ai chẳng tuân theo lời chỉ dạy trên, ắt sau nầy khó tránh khỏi cảnh khổ sầu lao lý.

 

CHÚ THÍCH

          DỊ ĐOAN: (Xem CT câu 73, T-2, Q.2).

          ĐẠO MẦU: (Xem CT câu 901, T-1, Q.1).

          NHỮNG SẤM TRUYỀN XƯA CỦA PHẬT THẦY Phật Thầy là Đức Phật Thầy Tây An (xem CT chữ “Đức Thầy Bửu Sơn”, câu 38, T-1, Q.1).

          Ngài đã tiên đoán về thiên cơ thời cuộc, từ đó nhẫn nay, mọi việc đều xảy ra rất đúng. Những sấm truyền ấy còn để lại khá nhiều; ngoài bài “Tứ Bửu Linh Tự” và các đoạn trong phần CHÚ THÍCH từ ngữ “Những chuyện lạ kỳ”(câu 122, Q.1). Ở đây chúng tôi trích dẫn thêm ít đoạn.

          - Về cuộc đổi đời:

Thế nay cạn sự đã rồi,

Mở mang dời đổi lập đời Thượng ngươn.

Chuyển luân thiên địa tuần hườn,

Hội nầy thấy lửa tàm lam cháy mày”.

                                            - Về các tai biến xảy ra:

Nghĩ trong cuộc thế chơi vơi

Khổ tăng gia khổ trong đời gian nan

Kìa kìa quỉ mị khởi loan,

Xà thương hổ giảo đa đoan hội nầy

Phần thời giặc giả phủ vây.

Phần thời đói khát thân rày chẳng yên

Lăng xăng nhiều cuộc đảo điên,

Sợ trong thế sự như thuyền chạy khơi”.

                                         - Về thời gian:

Mèo kêu vang, mèo kêu vang

Rắn rồng sợ chạy vào ngàn ẩn thân”.

           Hoặc là:
                    “Cuộc đời càng gắt lại càng gay
                      Ngặt nỗi thiên cơ chẳng dám bày
                      Rắn núp dưới hang coi ngựa chạy
                      Khỉ ngồi trên ngọn ngó gà bay
                      Đông Tây chộn rộn trời che xác
                      Nam Bắc ê hề đất chở thây
                      Nhơn vật mười phần hao bảy tám,
                      Thần Tiên thấy vậy cũng châu mày.
- Về lập hội và cuộc thái bình:
                    “Long Hoa thắng hội tiêu diêu
                    Dữ lành đến đó mai chiều sẽ hay”.
          Và:
                    “Bao giờ hưởng thọ kỳ hương,
              Tuế tăng vạn tuế lưu phương lâu dài”.

          NÃO NỒNG: Cũng đọc là não nùng. Có nghĩa buồn thảm, xót xa đau đớn.

          CÂU HỮU LÝ BÁ TÒNG KHÓ SÁNH: Ý dạy rằng một câu nói đúng với lý nghĩa Đạo đức, thì cao cả quí báu vô cùng, vẫn được truyền tụng mãi mãi, dù thời đại nào cũng được mọi người học theo. Cổ nhân từng bảo:“Nhứt ngôn đắc ngữ thắng thiên kim”.( Được người nói cho nghe một lời lành, quí báu hơn ngàn lượng vàng). Cho nên loại tòng bá là thứ cây sống lâu, có đặc tánh không thay đổi, dù vậy chớ không sánh được lời hữu lý.

          CHỐN TỰU HỘI: Những nơi hội họp đông đảo vui chơi trái với đạo nghĩa hoặc các đảng nhóm có tánh cách hại dân phản nước, bội bạc phong tục tốt đẹp của nòi giống Tiên Rồng.

          LÉO HÁNH: Bén mảng đến gần. Ví dụ: nơi đó nguy hiểm, ta không nên léo hánh đến.

 

CHÁNH VĂN

631.- Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,
Phật với Trời phân định cho Ta.
Người xưa tuy ít chữ nôm-na,
634.- Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.
Dạy bổn-đạo lấy câu trung đẳng,
Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
Đấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,
638.- Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.
Ta ra sức viết câu huyền-bí,
Chúng dân ôi! Rán kiếm rán tầm.
Giống thú kia là loại sanh cầm,
642.- Mà còn biết kiếm tầm đạo-đức.
Thú-vật biết tu-hành náo-nức,
Còn người sao chẳng rứt hồng-trần ?
Việc tu-hành phải vẹn nghĩa ân,
646.- Kinh với sấm chúng dân thường thấy.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 631 đến câu 646)

          - Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ khuyên tín đồ, nên nhẫn nhịn tu hành cho qua thời gian khó khăn, thử thách để chờ người xưa trở lại, và chờ sự phân định của Phật Trời, tất hưởng được mọi điều cao quí. Nhắc lại ông cha ta thuở xưa, tuy ít người thông minh chữ nghĩa, nhưng tấm lòng rất thật thà ngay chánh.

          - Bởi muốn rộng độ các tầng lớp nhân sanh trong thời mạt hạ, nên Đức Thầy dùng những lời lẽ trung hòa giản dị mà giáo hóa, để mỗi ai khi xem, nghe đều được thấu hiểu. Và Ngài còn khuyên: bổn phận nam nhi phải biết tùy thời xử thế, lúc gặp nghịch cảnh, cần nên ẩn nhẫn để nuôi chí, chờ thời. Pháp Nhẫn ví như tánh của nước (Quân tử tánh như thủy), tuy nó rất mềm yếu, nhưng cũng cứng mạnh vô cùng. Bởi nó có thể xói mòn cả sắt đá. Và cũng ví như con rồng, có khi phải nép mình nơi vực sâu kín đáo, rồi có lúc nó tung bay theo mây gió, dạo khắp bốn phương. Cho nên người có ý chí cao cả cũng phải thức thời như thế.

          - Đức Thầy còn cho biết trong Sấm Kinh của Ngài đã hàm chứa  nhiều lý nghĩa, thâm huyền diệu pháp, vậy mỗi người hãy tìm hiểu cho chính xác để thi hành theo. Lại nữa, từ xưa đến nay, Kinh sách thường ghi chép: các loại cầm thú còn biết quày đầu hướng thiện, huống chi ta là loài người, có tánh linh hơn muôn vật mà chẳng sớm xa lánh trần ai, tầm đường giải thoát thì so với loài vật chẳng thẹn lắm sao ?

          - Do đó, Đức Thầy khuyên khắp tín đồ, đã là người tu hành thời những nghĩa ân mà ta đã thọ cần phải lo đền đáp cho tròn vẹn, vì đó là điều căn bản, xưa nay sách kinh nào cũng dạy như thế.

CHÚ THÍCH

          NHẪN NHỤC: Do chữ Phạn Kshâti, phiên âm là Sẵn đề, dịch là Nhẫn nhục. Có nghĩa: Nhẫn là nhịn chịu; nhục là xấu xa hèn kém. Là một pháp tu, hành giả nén lòng chịu đựng với những sự khó khăn, từ mọi cảnh vật bên ngoài, đến các vọng tâm phiền não bên trong và thời gian dày đặc, để hoàn thành Đạo hạnh..

          Nhẫn nhục là một trong sáu pháp “Ba La Mật” mà chư Bồ Tát thường hành, gồm có ba phần như sau:

          1- Sanh nhẫn: Khi có kẻ khác dùng quyền lực, áp bức hay đánh đập hoặc chửi mắng, trêu tức, ta vẫn nhẫn nhịn không chống trả, không chứa chấp oán hờn.

          2- Pháp nhẫn: Nhà tu cam chịu với mọi hoàn cảnh khó khăn, do các tai nạn xảy đến cho mình, như: lạnh nóng, gió mưa, đói rách, bịnh tật.v.v… mà lòng không hề than buồn thối chí trên đường Đạo đức.

          3- Vô sanh pháp nhẫn: Đã nhịn được các tai họa do chúng sanh khác và mọi cảnh vật đưa đến mà mình chẳng hề còn chút động tâm phân biệt. Vì đã quán xét rằng: thân chúng sanh và vạn pháp, vạn cảnh đều không thật thể (vô ngã), không sanh khởi và cũng không còn thấy, có pháp chi để nhẫn diệt.

          Xưa, Đức Phật có kể lại rằng: Vào thời quá khứ, trong một tiền kiếp Ngài mang tên là Xằn Đề Ba La, chuyên tu hạnh nhẫn nhục trên một hòn núi.

          Hôm nọ, vua Ca Lợi Vương dắt quan quân và cung nữ lên núi du ngoạn. Lúc trời trưa nắng, vua dừng lại một nơi, truyền căng lều nghỉ. Bấy giờ các cung nữ tản mát chung quanh, hái hoa ngắm cảnh; bỗng gặp Đại Tiên đang ngồi trên tảng đá, dáng vẻ trang nghiêm, tịch tĩnh, cả bọn đem lòng kính tin, bèn dâng hoa cúng dường cầu được nghe pháp. Đại Tiên liền xuất định thuyết pháp cho đám cung nữ nghe.

          Khi Ca Lợi Vương tỉnh giấc, thấy các cung nữ vắng mặt hết, liền cùng quan cận vệ đi tìm. Đến nơi, gặp bọn cung nữ đang quì nghe Đại Tiên thuyết pháp. Vua sanh lòng đố kỵ, liền bước lại với dáng điệu tự kiêu, hỏi:- Ông ở đây tu hành có rõ được pháp tứ không thiền định chăng? Hãy giải cho Trẫm nghe thử?

          Đại Tiên thưa:

          - Rất hổ thẹn cho phận tôi, chưa thấu đạt pháp ấy.

          Vua đổi giọng, nói:

          - Những điều đó ngươi chưa thông hiểu vậy mà dám thuyết pháp cho cung nữ nghe, ai mà tín nhiệm cho ? Vậy ngươi ở đây tu pháp gì ?

          - Thưa, tôi ở đây tu pháp nhẫn nhục.

          - À! Vậy để ta làm coi ngươi có nhẫn nhục được không? Vua liền rút gươm chặt đứt tay chân của Đại Tiên quăng ra, rồi hỏi tiếp:

          - Ngươi ở đây tu pháp gì?

          Lúc ấy Đại Tiên vẫn an nhiên, mặt không đổi sắc, ôn tồn đáp:

          - Tôi ở đây tu pháp nhẫn nhục.

          Vua giận thêm liền cắt tai, thẻo mũi của Đại Tiên nữa!

          Bấy giờ các vị Lôi thần thấy lòng của Vua Ca Lợi quá độc ác, bèn kéo mây nổi sấm toan đánh chết nhà vua, nhưng vị Đại Tiên ngước mặt lên trời van xin:

          - Các Ngài ơi! Các Ngài nên vì tôi mà tha tội cho người nầy đi! Tức thời mây tan sấm tạnh.

          Lúc ấy, vua Ca Lợi khiếp sợ, nhưng còn gượng hỏi:

          - Ngài nhẫn nhục như vầy, biết lấy chi làm bằng chứng cho Ngài thật lòng?

          - Đại Tiên liền phát nguyện: Nếu tôi thật tâm nhẫn nhịn, không hề có chút hờn oán nhà vua thì xin Trời Phật chứng minh cho các vết thương của tôi đều lành lại như cũ và máu chảy ra được trở thành sữa. Linh nghiệm thay! Đại Tiên vừa nguyện xong thì thân thể và máu của ông đều chứng nghiệm như ý.

          Vua quá cảm phục liền quỳ lại Đại Tiên, cầu được ăn năn sám hối và qui y thọ giáo. Ít hôm sau vua Ca Lợi lập pháp tòa, rước Đại Tiên về thuyết pháp cho cả thần dân cùng nghe.

          Xét ra, nhờ pháp “Nhẫn nhục” mà Đại Tiên Xằn Đề Ba La cảm hóa được Ca Lợi Vương và Thần dân trong nước, biết tỉnh ngộ tu hành.

          Thêm nữa, trong văn chương Việt Nam, có tác phẩm “Quan Âm Thị Kính” đã nói lên đức nhẫn nhục của nhà tu, qua hai câu thơ:

                    “Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa

                Nhẫn điều khó nhẫn, mới là chơn tu”.

          - Song chữ nhẫn nhục ở đây, ý Đức Thầy dạy phải nhịn chịu với thời gian dày dặc, khó khăn cho qua cơn vận bĩ. Cũng như Hàn Tín xưa kia, tuy có đủ tài thao lược, nhưng phải nhẫn bọn thiếu niên, để chờ đến thời Hán Bái Công mới trổ tài làm nên danh phận:

                    “Gương trước Hớn, Tần Hàn Tín nhẫn

                      Đã không khổ nhục khỏi ưu phiền”.

                                                  (Nhẫn đợi Thời cơ)

          NGƯỜI CỔ TÍCH: (Xem CT câu 662, T-1, Q.1 và câu 553, Q.2)

          CHƠN CHẤT: (Xem CT câu 409, T-2, Q.2).

          TRUNG ĐẲNG: Cấp giữa, bực giữa (trung dung) chẳng cao quá, cũng không thấp quá, cũng gọi là “con đường trung Đạo”. Ở đây chỉ cho lời luận giải giản dị rõ ràng, người nghe dễ lãnh hội. Đức Thầy có câu:

                    “Quyết dạy trần nên nói lời thường,

                        Cho sanh chúng đời nay dễ biết”.(Giác Mê, Q.4)        
            HỮU CHÍ: (Xem CT câu 216, T-3, Q.5).

            HUYỀN BÍ: (Xem CT câu 30, T-3, Q.4).

          SANH CẦM: Chỉ chung cho hai loài vật, là thượng cầm và hạ thú.

          THÚ VẬT BIẾT TU HÀNH NÁO NỨC, CÒN NGƯỜI SAO CHẲNG RỨT HỒNG TRẦN: Dầu loài người hay loài vật đồng có Phật tánh như nhau:“Nhứt thiết chúng sanh, Giai hữu Phật tánh”, nhưng vì nghiệp mê quá nặng, nên chúng sanh phải đầu thai làm thú, đến khi nghiệp thú trả gần hết và gặp bậc Đạo đức cao cả khai hóa thì biết tu hành. Trong Tây Qui trực chỉ có chép:

          Đời Trinh ngươn nhà Đường có Bùi thị ở đất Hà Đông, nuôi một con két, thường học theo người mà niệm Phật. Một hôm trời quá ngọ mà nó bỏ ăn, lúc gần chết, nó niệm lên 10 tiếng Phật thì dứt hơi. Người chủ đem xác nó ra thiêu thì được hơn 10 hột ngọc xá lợi chiếu sáng lòa cả mắt. Ông Huệ Quang thấy vậy mới dựng tháp thờ.

          Lại ở đất Đàm Châu có người nuôi một con Cưởng, cũng học nói được tiếng người và thường niệm Phật. Khi nó chết, bỗng có một hoa sen từ trong miệng mọc ra. Nhơn đó Ngài Liên tri Đại sư có lời rằng:“Giống chim Két, chim Cưởng dạy nó còn biết niệm Phật, huống chi người lại không biết niệm Phật, há chẳng thẹn lắm ru?”

          Còn gần đây, trong chuyện chung quanh Đức Phật Thầy Tây An được nhiều người kể lại:

          Lúc còn ở trại ruộng Thới Sơn, một hôm Ngài kêu các đệ tử, đem xấp vải màu đỏ ra xé nhỏ cỡ ngón tay, dài năm sáu tấc, vì mai nầy có người ta đến thọ giáo rất đông.

          Sáng lại, ai cũng trông xem lễ qui y ấy ra sao? Bỗng thấy đủ loại thú rừng, từ từ kéo đến sắp hàng trước cửa trại càng lúc càng đông. Đức Phật Thầy liền bảo các môn đồ, đem số vải đã xé hôm qua, cột trên cổ, trên sừng của mỗi con thú một sợi. Nhiều người trông thấy quá sợ sệt, chỉ có các đại đệ tử, đạo pháp cao siêu mới dám thi hành. Cột xong, Đức Phật Thầy bèn thuyết pháp cho chúng nghe và dặn dò, từ đây hãy ẩn ánh tu hành.v.v…

          Nghe xong, cả đoàn thú đồng cúi đầu, tỏ vẻ vâng lời dạy bảo, rồi lui ra tản mát vào rừng núi mất dạng. Từ độ ấy, người ta ít gặp chúng lai vãng phá vườn rẫy nữa và những người đi viếng non, thỉnh thoảng cũng bắt gặp vài lọai thú ẩn trong hang vắng, tánh tình chúng đã đổi lại rất hiền từ.

          NGHĨA ÂN: Cũng gọi là Ân Nghĩa, tức là tình nghĩa và ân đức, như ân nghĩa giữa cha con, thầy trò, chồng vợ.v.v… ”Tình xưa ân trả nghĩa đền”(Tr.Kiều). Nghĩa ân ở đây chỉ cho những ân đức, mà con người đã thọ như: “Tứ Đại Trọng Ân”, giờ đây ta có bổn phận đền đáp. Đức Thầy từng nói:

                    “Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn

                    Cảnh non bồng kỳ hẹn ngày kia 

CHÁNH VĂN

647.- Chữ Bát-Chánh rõ-ràng trong giấy,
Là chơn truyền của Đức Thích-Ca.
Người tu hành cần phải tìm ra,
650.- Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.
Trí linh-mẫn nhìn xem các chuyện,
Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.
Dầu việc người hay việc của ta,
564.- Nên phán-đoán cho tường cho tận.
Tội với phước xét coi nhiều bận,
Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.
Chánh Tư-Duy mục ấy thanh-cao,
658.- Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.
Trên cùng dưới dầu thầy hay tớ,
Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.
Việc vui say mèo-mả đâu đâu,
662.- Hãy dẹp gác nhớ câu Lục-Tự.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 647 đến câu 662)

          - Bát Chánh là pháp tu căn bản, trước tiên do Đức Thích Ca truyền dạy, các kinh xưa đều có ghi chép rạch ròi. Ngày nay Đức Kim Sơn Phật cũng thuyết giáo môn đồ :“Diệu thâm Bát Chánh lời truyền giáo”.(Cho Ô. Chín Diệm) và:“… Vì đó là quyển Kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường giải thoát”.(Luận về Bát Chánh) Vậy người tu cần phải tìm học cho thông suốt để thật hành theo.

          - Đứng đầu hết là Chánh Kiến, dạy hành giả lúc nào cũng lấy trí thông minh mà phán xét mọi việc cho đặng ngay chánh đúng với sự thật (chơn lý). Bất cứ việc chi dù đời hay Đạo, từ cá nhân đến xã hội, ta phải tận tâm suy cứu, cân nhắc nhiều lần để thấy rõ tận gốc của các việc chánh tà, tội phước rồi sẽ quyết đoán. Có thế, ta mới khỏi bị tà kiến ám ảnh, nhận định sai lầm.

          - Đến thứ nhì là Chánh Tư Duy, chánh nầy khuyên ta nên giữ tư tưởng cho được chân chánh trong sạch, lọc bỏ tư tưởng xấu xa, tà vạy và những ý nghĩ bông lơn, dục lạc; dù là nghĩ việc hiện tại, quá khứ hay vị lai cũng đều trừ sạch. Thay vào những ý tưởng đạo đức cao siêu, từ bi hỉ xả, hoặc trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” không để sơ hở, gián đoạn. Đặng vậy, tâm trí ta sẽ đặng bình tĩnh sáng suốt mà tiến thẳng theo con đường chơn lý giải thoát.

 

CHÚ THÍCH

          BÁT CHÁNH: Nói cho đủ là Bát Chánh Đạo, do Phạn ngữ Aryatanga-marga. Có nghĩa tám con đường chơn chánh, đối trị với Bát tà (tám điều tà vạy). Bát Chánh Đạo cũng gọi là Bát Thánh Đạo (tám nẻo ra), vì pháp nầy có diệu năng đưa hành giả giải thoát sanh tử, đạt đến Thánh quả A La Hán và chứng đắc Niết Bàn. Bát Chánh là nghĩa của Đạo Đề, một trong “Tứ Diệu Đề”(bốn pháp thẩm xét mầu nhiệm chơn thật).

          Xưa, lần đầu tiên Đức Phật đã thuyết Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo tại rừng Lộc Giả, gần thành Ba La Nại, cho năm anh em Kiều Trần Như nghe. Nghe xong, năm vị nầy đều chứng quả A La Hán. Cho nên Bát Chánh Đạo được xem là pháp tu căn bản của Đạo Phật. Có lần các môn nhơn hỏi Phật, qua đời sau lấy chi làm chứng cứ để biết đâu tà, đâu chánh ? Phật liền đáp:

          - “Nơi nào có Bát Chánh Đạo là Chánh Đạo, nơi nào không có Bát Chánh Đạo là tà Đạo”. Do đó, nên Đức Thầy nói Bát Chánh “Là chân truyền của Phật Thích Ca”.

          Ngày nay, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng nhắc lại:

                    “Thiền lâm Phật Thích thuở xưa kia,

                      Non tuyết rèn ra Bát Chánh kìa.

                      Phổ hóa dân lành trong khắp chúng,

                      Hoàn cầu bốn biển khắc bia chung”.

          CHÁNH KIẾN: Cũng viết là Chánh tri kiến, do Phạn ngữ Samyak-droti. Có nghĩa nhận thấy xét đoán chân chánh đúng với sự thật (chơn lý). Chánh kiến có hai bực:

          1- Chánh kiến hữu lậu thế gian: Cũng gọi là Chánh kiến Tiểu thừa, tức là bực nhận thấy thế gian và vạn vật đều là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh của các pháp hữu vi, rồi tự tu giải thoát cho chính mình.

          2- Chánh kiến vô lậu xuất thế gian: Cũng gọi Chánh kiến Đại thừa, tức là nhận thấy tất cả chúng sanh và vạn pháp đều có Phật tánh, nên không chỉ riêng tu đạt chơn lý giải thoát cho mình mà còn cho cả vạn loại chúng sanh và quyết định tiến tới Phật quả (Đại Niết bàn).

          TRÍ LINH MẪN: Trí linh diệu sáng suốt, thông minh hoạt bát.

          PHÁN ĐOÁN: Xem xét và định đoán coi phải trái thế nào ?

          TÀ KIẾN: Ý kiến Tà Khúc, nhận thấy lầm lạc. Không nhận có, có nhận không chẳng tin nhân quả báo ứng, cho rằng sau khi chết là mất, thấy ngược lại chơn lý và chánh kiến. Tà Kiến là một trong “Ngũ lợi sử”(Năm cái thấy biết lầm lạc mê chấp danh lợi). [Ngũ lợi sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm kiến thủ].

          Niết Bàn Kinh có chép:“Bồ Tát tu hành theo lý Kinh Đại Niết Bàn, vì quả chánh giác, vì độ khắp chúng sanh, tự mình rời xa tà kiến”.

          CHÁNH TƯ DUY: Do Phạn ngữ Samyak Samkagia .Có nghĩa: Suy gẫm và tư tưởng chơn chánh. Là một cách hành đạo trong Bát Chánh, chỉ chuyên suy xét nghĩ tuởng về Đạo lý, và chiêm nghiệm các pháp môn thoát khổ, dứt sạch phiền não, vọng tưởng danh, lợi, tình v.v…Đức Thầy từng dạy trong bài “Dặn dò Bổn đạo”:

                    “Thứ ba Tư Duy bằng nay,

              Các điều tưởng nhớ thẳng ngay mới mầu”.

          TRUNG CHÁNH: Ngay thẳng chân chính, không thiên vị.

CHÁNH VĂN

663.- Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,
Dầu nghề chi làm việc ngay đường.
Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
666.- Học ngón xảo để lừa đồng loại.
Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,
Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.
Dầu cho ai phá rối đức tin,
670.- Ta cũng cứ một đàng đi tới.
Mục Chánh-Mạng chúng sanh ơi hỡi,
Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.
Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,
674.- Mới có thể mong về Cực-Lạc. 
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 663 đến câu 674)

          - Chánh Nghiệp là phương cách quan trọng của nhà tu giải thoát, bất cứ việc làm nào cũng giữ ngay chánh thiện lương và hằng an vui cứu khổ cho vạn loại chúng sanh. Bỏ hẳn những hành động gian ác, xảo quyệt, gây tai hại cho kẻ khác.

          - Đến Chánh Tinh Tấn, Đức Giáo Chủ dạy ta rèn luyện cho mình có một đức tánh dõng mãnh, một ý chí sắt đá kiên trinh. Dù ai có dùng quyền lực áp bức, hay tà thuyết vô thần cám dỗ, cũng không thể làm lay chuyển được lòng mình, để vững tiến trên con đường chánh Đạo, hầu đạt quả Niết bàn và rộng độ quần sanh.

          - Còn phần Chánh Mạng dạy ta tạo một nếp sống thanh khiết về tinh thần, lấy chơn thân linh diệu điều khiển lục căn đừng để duyên nhiễm lục trần, và trừ sạch những tư tưởng trần tục thường tình. Đặng vậy, tâm hồn ta sẽ được nhập vào thể thanh tịnh (liên hoa), chơn trí sáng mầu mà chứng đắc “Niết Bàn tự tánh”.

 

CHÚ THÍCH

          CHÁNH NGHIỆP: Do Phạn ngữ Samyak Karmanta.

Có nghĩa: việc làm ngay chánh, lương thiện, tức nhà tu dùng thân xác làm những việc có lợi ích cho mình và cả chúng sanh. Chánh Nghiệp là một cách hành Đạo trong Bát Chánh, kẻ xuất gia hay cư sĩ đều tu được cả. Hành Chánh Nghiệp tránh được ba điều tội: Sát sanh, Đạo tặc, Tà dâm; không làm việc nào có tai hại cho Quốc dân và cả chúng sanh. Lại còn hay bố thí, phóng sanh và hoằng pháp độ muôn loài, như Đức Thầy có dạy trong bài “Dặn cò Bổn đạo”:“Thứ tư Chánh nghiệp mặc dầu, Nghề chi thì cũng ngõ hầu làm ngay”.

          BẤT LƯƠNG: Tánh gian xảo hung ác, không hiền từ, không có lương tâm, Đức Thầy có câu:

                    “Có đâu như thể bây chừ,

               Loạn luân cang kỷ bất từ bất lương”.(Cảm tác)

          NGÓN XẢO: Mánh khóe, xảo trá cách khéo léo để gạt người.

          CHÁNH TINH TẤN: Cũng viết là Chánh Tin Tấn, do Phạn ngữ Samyak Vyayama. Có nghĩa tín ngưỡng chơn chánh, trong sạch và mạnh mẽ lướt tới, tức là siêng năng dõng mãnh diệt trừ phiền não để hoàn thành Đạo hạnh giải thoát. Đây là một cách hành Đạo trong Bát Chánh, đối trị tánh giải đãi, yếu ớt, tà vọng mê tín. Đức Thầy hằng khuyên (trong bài “Dặn dò Bổn đạo”):

                    “Thứ năm Tinh Tấn hội đàm,

              Sạch trong kỹ lưỡng mà làm mới ngoan”.

          TÍN NGƯỠNG: Lòng tin tưởng và hướng theo một Tôn giáo hay một chủ nghĩa, học thuyết. Tín ngưỡng khác với mê tín.

          ĐỨC TIN: Lòng tin tưởng tốt lành chánh đáng.

          CHÁNH MẠNG: Do Phạn ngữ Samyak Ajiva có nghĩa: Sanh mạng chơn chánh trong sạch, tức là cuộc sinh hoạt đời sống của nhà tu lúc nào cũng lấy giới hạnh làm căn bản. Cả tư tưởng, hành động, ngôn ngữ luôn giữ được thuần chánh cao khiết; chẳng hề để lục trần cám dỗ làm mờ đục trí huệ. Đây là một cách hành Đạo trong Bát Chánh, có hiệu năng đối trị Tà mạng.

          CHO HỒN LINH CAI QUẢN CHÂU THÂN: Theo Đạo giáo thì mỗi người có ba hồn: Linh hồn, Giác hồn và Mê hồn. Giác hồn thì thường khiến linh hồn làm điều phải, còn Mê hồn hay xúi linh hồn tạo việc quấy. Hồn linh ở đây chỉ cho Giác hồn. Đức Thầy dạy người tu đừng để linh hồn bị Mê hồn lôi cuốn làm việc quấy ác, mà luôn luôn lấy Hồn linh chỉ huy mọi việc. Cho đến khi tâm được hoàn toàn giác ngộ thì ba hồn ấy không còn nữa mà chỉ còn lại một là “Giác tánh”(Phật tánh). Như Đức Lục Tổ có nói:“Hội giả xưng vi Phật tánh, bất hội giả hoán tác linh hồn”.(Người tỏ ngộ thì xưng là Phật tánh, người chưa tỏ ngộ thì gọi là Linh hồn).

                CHƠN NHƠN: (Xem CT câu 20, T-3, Q.4).

 

CHÁNH VĂN

 675.- Câu Chánh-Ngữ lòng son ghi tạc,
Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,
678.- Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.
Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,
Lời xảo ngôn do đó mà ra.
Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
682.- Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.
Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm bướng làm càn,
686.- Trong lúc ấy niệm cho lấy có.
Mục Chánh-Định thiệt là rất khó,
Giữ tâm lòng bất động như như.
Cho hồn-linh yên-lặng an-cư,
690.- Thì mới được huờn-nguyên phản-bổn.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 675 đến câu 690)

          - Đức Thầy dạy cả môn đồ nên chạm khắc phần chánh ngữ vào tâm khảm của mình, để mỗi khi thốt ra lời chi đều được ngay chánh đúng với sự thật và nói toàn những việc đạo đức hiền từ, có ích lợi cho quần sanh. Hãy dứt bỏ các tiếng lừa dối, thêm bớt, những lời láo khoét huyễn hoặc, gây xáo trộn hoặc làm chướng tai kẻ khác, để mình chẳng còn vương mang tội lỗi về khẩu nghiệp. Đó là điều Đức Thầy đã thực nghiệm rồi, mới đem ra giáo hóa chúng sanh.

          - Đến phần Chánh Niệm, Ngài dạy nhà tu nên trừ sạch các niệm tưởng xấu xa tà mị, ích kỷ tổn nhơn mà phải luôn nhớ nghĩ đến việc chánh chơn cao khiết. Và mỗi khi lễ bái nguyện cầu, đều cần được thành tâm khẩn thiết, chẳng nên làm chiếu lệ cho qua thời.

          - Còn mục đích Chánh định, tuy thấy khó hành nhưng nó giúp cho hành giả được giải thoát rốt ráo hơn hết. Miễn là đối với vạn cảnh, vạn pháp tâm mình vẫn giữ như như bất động, chẳng hề khởi lòng phân biệt câu chấp hay thiên lệch, thủ xả. Bấy giờ tâm thần được an định mà trở về với chơn như thật tướng của mình, ấy gọi là chứng đắc Niết Bàn tịch tịnh.

CHÚ THÍCH

          CHÁNH NGỮ: Do Phạn ngữ Samyak Vae. Có nghĩa: lời nói chơn chánh thành thật, chẳng hề dùng tiếng: Lưỡng thiệt, ỷ ngôn, ác khẩu, vọng ngữ. Mỗi khi mở miệng đều nói những lời ngay chánh, dung hòa, chơn thật và trong sạch hiền từ; và còn dùng phương tiện lợi ích giáo hóa kẻ khác. Đây là một cách hành Đạo trong Bát Chánh Đạo mà bất luận kẻ tại gia hay xuất gia, tiểu thừa hay đại thừa đều phải giữ hạnh Chánh ngữ. Kinh Kim Cang, Phật có nói:“Như Lai thị chơn ngữ giả, bất dị ngữ giả”.(Lời nói của Như Lai là lời nói chơn thật, lời nói như một, không nói dối, không nói khác).

          Chánh ngữ còn là danh từ dịch nghĩa của phiên âm Át Bệ, tên của một trong năm vị Tỳ Kheo, được Đức Phật độ trước hết tại rừng Lộc Giả. Át Bệ là vị tăng sư rất đoan chánh trong mọi oai nghi, cử chỉ và ngôn ngữ. Chính vì nhờ cảm phục đức độ và ngôn hạnh của sư Át Bệ mà Ngài Xá Lợi Phất bỏ tà sư ngoại đạo, để đến qui y với Phật.

          GHI TẠC: Khắc chạm, in sâu vào trí nhớ:“Ghi lòng tạc dạ chớ quên”.(Cổ thi)

          ĐỨC HẠNH: (Xem CT câu 384, T-2, Q.2).

          TRÁO CHÁC: Lừa dối gạt gẫm, điêu ngoa xảo trá. Ví dụ: Con người đó tánh hay tráo chác lắm. Đức Thầy thường khuyên:“Nói với ai cũng phải lựa điều, Đừng tráo chác cho người khinh dễ”.(Kh/thiện, Q.5)

          XẢO NGÔN: (Xem CT câu 142, T-3, Q.4)

          KINH NGHIỆM: (Xem CT đoạn 1, bài Sứ Mạng).

          DIỄN CA: Cách trình bày, viết ra một vấn đề gì theo lối thi ca (điệu văn vần). Như “Việt Nam Quốc Sử diễn ca” chẳng hạn. Kinh giảng của Đức Thầy hiện nay, phần nhiều Ngài viết theo điệu thi ca (văn vần).

          CHÁNH NIỆM: Do Phạn ngữ Samyak-Snoti. Có nghĩa: Nhớ tưởng chơn chánh, nhứt tâm suy xét về chánh Đạo, nó có hiệu năng đối trị Tà niệm. Chánh Niệm là cách hành đạo thứ bảy trong Bát Chánh, người hành theo đây, tư tưởng trở nên chân chánh hiền lành, diệt sạch phiền não mà chứng Đạo giải thoát.

          CHÁNH ĐỊNH: Do Phạn ngữ Samyak-Samadhi. Có nghĩa suy gẫm chơn chánh (hiểu nghĩa cũng như chữ Thiền định). Người hành Chánh định diệt được vọng tưởng mê lầm, thấu đạt chơn lý của vạn pháp, đối trị được tà định. Chánh định là con đường giải thoát rốt ráo của Bát chánh Đạo. Song tùy theo công hạnh của mỗi hành giả mà sự chứng đắc có hai bực:

          1- Bực chứng đắc lần lần từ quả Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán hay Duyên giác (phần Tiểu thừa).

          2- Bực chứng đắc từ quả vị trong thập địa của hạnh Bồ Tát cho đến quả rốt ráo của Phật Thế Tôn (phần Đại thừa).

          NHƯ NHƯ: Lý thể của Pháp tánh. Thể của nó vốn bình đẳng, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng phải có, chẳng phải không. Đới với vạn pháp vạn cảnh đều xem như nhau, không nhiễm ô thiên chấp. Như như cũng có nghĩa là Trung đạo (đệ nhất nghĩa của Niết Bàn).

          Vô lượng Thọ Kinh, Phật có nói:“Các hàng Bồ Tát sanh qua cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà, hiểu rằng các pháp đều là như như”. Và trong Trung luận cũng chép:“Chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng một, cũng chẳng khác, chẳng lại, cũng chẳng đi.v.v…Những tướng, những pháp như vậy, tức là như như, cũng gọi là Như Lai”.

          Đức Thầy nay cũng có câu:

         “Cảnh như như chẳng có đổi thay,

         Không màng biết phân chia nhơn ngã”.(Kh/thiện, Q.5)

          AN CƯ: Ở yên. Đây chỉ cho người tu khi được trở về với Pháp thân thanh tịnh (Niết Bàn).

          HƯỜN NGUYÊN PHẢN BỔN: Trở lại nguồn gốc xưa, tức trở lại bản tánh Chơn Như của mình từ trước.

 

CHÁNH VĂN

691.- Tà với chánh còn đương trà-trộn,
Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.
Tứ-Diệu-Đề ai có mến ưa,
694.- Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.
Chữ Tập-Đề nay đà mở cửa,
Để đem vào khuôn-khổ người hiền.
Rán cực lòng một bước đầu tiên,
698.- Sau mới được làm nên Phật-Thánh.
Về Thượng-Giái cõi Tiên mới bảnh,
Đến Diệt-Đề trừ vật-dục xưa.
Cõi hồng-trần các việc mến ưa,
702.- Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.
Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,
Thì Khổ-Đề phải chịu nhọc-nhành.
Lòng dục tu thì phải thiệt-hành,
706.- Chớ đừng có ham điều sung-sướng.
Đức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,
Chịu nhọc-nhằn mới rõ Đạo-Đề.
Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,
710.- Ôi chừng đó mới là mầu-nhiệm.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 691 đến câu 710)

          - Đoạn nầy Đức Giáo Chủ cho biết từ trước tới giờ đã có nhiều mối Đạo ra đời, song giữa tà chánh đang lộn lạo, khó mà phân biệt được. Vậy ai muốn tu hành cần phải lọc lừa cho kỹ, để:“Chọn nơi nào Đạo chánh phượng thờ, Thì mới được thân sau cao quí”.(Thức tỉnh một nữ Tín đồ) Còn người nào đã qui y Phật, nay muốn thực hiện theo pháp Tứ Diệu Đề, Đức Thầy cũng lược giải ra đây, để mỗi hành giả nghiệm xét và tu tập.

          - Thứ nhứt là Tập Đề: là khi đặt chân vào cửa Đạo, nhà tu cần khép mình trong khuôn khổ luật nghi và lo trau sửa thân tâm, cho đúng theo lời chỉ giáo của Tổ Thầy. Với công hạnh tu sửa nầy, dầu gặp nhiều khó khăn, chặt buộc, ta cũng phải cố gắng trì hành:

                    “Qui y thì phải làm y,

          Giữ lòng thanh tịnh từ bi giúp đời”.

Có được vậy, sau nầy mới chứng quả Phật Thánh và siêu sanh về cảnh Niết Bàn cực lạc.

          - Thứ nhì là Diệt Đề: Có nghĩa đồng thời với sự khép mình vào qui điều giới luật, nhà tu phải cương quyết diệt trừ các tập nghiệp vô minh phiền não, như: tham, sân, si hay thất tình lục dục.v.v…những phiền não dục tình ấy đã kết thành ác nghiệp từ lũy kiếp, làm cho tâm trí mê mờ mà luân chuyển mãi trong sáu đường sanh tử, nên nay ta phải cố gắng tiêu trừ tận nguồn gốc của nó, mới mong kết quả.

          - Còn phần thứ ba là Khổ Đề: tức từ lâu ta đã quen theo việc làm quấy, nói quấy, tưởng quấy (tam nghiệp, thập ác). Giờ đây muốn đổi lại việc phải (thập thiện) là một điều rất khó. Ngoài việc khó nầy còn có bao nhiêu điều khó khác, khêu động, thử thách hoặc tai nạn, dễ làm cho lòng mình thối chuyển; song ta phải kiên nhẫn để lướt qua các trở ngại ấy, hầu tiến tới mục đích.

          - Thứ tư là Đạo Đề: Ý dạy rằng, đồng thời với sự kiên trì vượt qua mọi khó khăn thử thách ấy, ta phải thật tâm thành ý, tiến thẳng theo con đường Bát Chánh Đạo của Tổ Thầy đã vạch, tất được hốt ngộ chỗ quang minh vi diệu vô cùng, vô tận của Đạo tâm, ấy gọi là đắc thành Đạo quả.

CHÚ THÍCH

          TỨ DIỆU ĐỀ: Cũng gọi là Tứ Thánh Đế hay Tứ Chơn Đế, do Phạn ngữ Aryasatiâni hay Catvariaryasa. Có nghĩa: Bốn pháp thẩm xét mầu nhiệm chơn thật.

          Theo Kinh xưa thì Đức Phật đã thuyết pháp Tứ Diệu Đề cho năm anh em Kiều Trần Như nghe trước hết, bốn pháp ấy đại lược như sau:

          1- Khổ Đề: Gồm có các sự khổ trong đời (bát khổ).

          2- Tập Đề: Gồm có các tập nhơn (vô minh phiền não) sanh ra quả khổ.

          3- Đạo Đề: Phương pháp diệt khổ để hưởng quả Niết Bàn.

          4- Diệt Đề: Gồm có tám đường chánh (Bát chánh đạo).[Căn cứ bài “Sơ giải Tứ Diệu Đề” Đức Thầy có giải theo ý Đức Phật.]

          Còn căn cứ theo quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy thì Đức Thầy lược giải Tứ Diệu Đề gồm có:

          1/- Tập Đề: Có nghĩa tập sửa mình đúng theo qui luật pháp giáo của Đạo.

          2/- Diệt Đề: Trừ diệt nghiệp nhân phiền não và lòng ham muốn vật chất, danh lợi tình.v.v…

          3/- Khổ Đề: Chịu khó tu hành cho kỳ được các qui điều pháp giáo và diệt trừ những phiền não dục tình như đã kể trên.

          4/- Đạo Đề: Thực hành theo con đường Bát chánh Đạo để hoàn thành đức giải thoát…

          Sở dĩ, giữa Tứ Diệu Đề của Đức Phật và của Đức Thầy giảng dạy, có thay đổi thứ tự và phương cách một vài chỗ; là vì thời chánh pháp Đức Phật phương tiện cho chúng sanh biết: các nỗi khổ hiện tại là do chúng sanh tạo nghiệp phiền não vô minh ở quá khứ. Bây giờ muốn khỏi các quả khổ ở vị lai thì phải diệt trừ các phiền não vô minh hiện tại, bằng cách hành đúng Đạo Bát Chánh, tất nhiên các nỗi khổ sau nầy sẽ dứt sạch và tự tại vào cõi Niết Bàn.

          Còn vào đời mạt pháp nầy Đức Thầy phương tiện cho chúng sanh biết: hiện kiếp ta phải tập làm các nhân lành, diệt trừ các nghiệp ác, và chịu khổ tu hành đừng thối chí, tất sẽ tỏ ngộ Đạo mầu, khỏi vòng sanh tử mà đến cõi giải thoát (Niết Bàn).

          Xem đây, thấy rằng hai cách giải bày Tứ Diệu Đề của Đức Phật và của Đức Thầy, chỉ khác nhau ở phương tiện sửa cho thích ứng với trình độ và căn cơ của chúng sanh, chớ chỗ qui túc cũng đồng mục đích giải khổ và thành Đạo như nhau.

          Khi nhận được chỗ tương đồng và phương tiện như thế, người tu Phật cần khảo nghiệm cả hai cách giải bày của Đức Phật và Đức Thầy để dung hội lại hầu thật hành cho đến khi nào đạt được Đạo quả vô thượng Đại Bồ Đề. Đức Thầy khuyên:

                    “Câu Bát Chánh rán mài chạm dạ,

                      Tứ mục điều người khá hành y”.(Thiên lý ca)

          THƯỢNG GIÁI: Cõi trên, ý chỉ cõi siêu thoát, đối với hạ giái (cõi trần chúng ta đang ở).

          VẬT DỤC: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng).

          SỰ GIẢ TẠM: Sự vật không thiệt, không bền chắc, chỉ có được thời gian rồi mất. Ý chỉ cho vạn vật trong thế gian, những cái gì thuộc về hình tướng, như: gia tài sự nghiệp, vợ đẹp con ngoan hay xác thân của ta, đều đi theo định luật “Thành, trụ, hoại, không”, chẳng có một vật nào giữ còn mãi mãi, nên gọi là giả tạm. Cổ nhân từng bảo:

                    “Thương bấy người đời không vẫn không,

                      Ruộng vườn nhà cửa có như không.

                      Vợ con cha mẹ lâu rồi chết,

                      Danh lợi giàu sang rốt cuộc không.

                      Trăm khéo trăm khôn đều giả tạm,

                      Ngàn mưu ngàn kế cũng hườn không.

                      Suốt đời lo lắng gầy cơ nghiệp,

                      Nhắm mắt hai tay vẫn phủi không”.

          Kinh Kim Cang, Đức Phật đã dạy:

                    “Nhất thiết hữu vi pháp,

                      Như mộng huyễn bào ảnh.

                      Như lộ, diệc như điển,

                      Ưng tác như thị quán”.

          Tạm dịch:- Phật rằng muôn pháp trong đời,

                      Ví như sương bọt giữa vời dễ tan.

                            Chiêm bao điện chớp tiếng vang,

                      Đến như thân xác hơi tàn còn đâu?

          Đức Thầy nay hằng cho biết “…Cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái sanh, cái bịnh, cái lão, cái tử được đặt lên cuộc đời của người nầy rồi đến người khác…rồi đến người khác nữa… ”(Luận về Bát chánh - Chánh định)

            NHỌC NHÀNH: Cũng viết là nhọc nhằn. Có nghĩa vất vả, nhiều việc khó khăn cực nhọc: “Kẻ ăn người ở trong nhà, Sớm khuya công việc giúp ta nhọc nhằn”.(Ca dao)

CHÁNH VĂN

711.- Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.
Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,
Thì muôn việc đều an bá tuế. 
715.- Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,
Là người hiền khó kiếm trong đời.
Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
718.- Chờ thời-đại mới là khôn khéo.
Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,
Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,
722.- Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.
Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn xóm-chòm cô bác mới cao,
726.- Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.
Nhịn tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.
730.- Chữ Nhẫn-Đức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình an.
Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,
734.- Khắp bá-tánh được câu hòa-nhã. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 711 đến câu 734)

          - Đoạn giảng trên, ý Đức Thầy kêu gọi toàn dân hãy rán tìm cho ra lý thâm huyền trong Đạo pháp hầu sớm lo tu sửa, nếu để trễ thời kỳ, ắt khó gặp đặng Ngài. Và sau khi thông hiểu được pháp Tứ Diệu Đề, cần phải hành thêm tám điều nhẫn nhịn, thì trên đường tu tiến sẽ được vững bền đến khi thành đạt mục đích.

          - Trước nhất, là mặt xử thế tiếp vật, ta phải biết nhẫn nhịn để đem lại sự hòa khí cùng mọi người, mọi giới trong xã hội. Cũng như bước lập thân hành Đạo ta cần phải biết tùy thời thích trung mà xử sự:“ Đấng nam nhi ẩn nhẫn tùy thời, Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí”.(Giác Mê TK, Q.4)

          - Còn sự nghiêm trì giới luật, dĩ nhiên là phải gặp nhiều khó khăn, nhưng lòng nhẫn nại sẽ giúp ta gìn giữ thân tâm sớm được trọn lành trọn sáng. Chính đó là bổn phận trước hết của nhà tu. Ngoài ra, còn việc giao tiếp với thôn xóm, ta phải dùng sự dung hòa đối xử với mọi người, khiến ai nấy đều được an vui, chẳng còn muốn gây thù kết oán với nhau nữa.

          - Phần trong gia đình đối với cha mẹ, phận làm con phải hết lòng tôn kính bảo dưỡng, đôi khi có bị rầy la xử ép cũng phải nhịn chịu để cha mẹ được vui lòng. Giữa cô bác, anh em, chồng vợ cần nhường nhịn lẫn nhau, hầu đem lại sự hòa vui hạnh phúc và luôn biết kính nhường, lễ độ đối với các bậc cao niên kỷ trưởng.

          - Về việc trau tâm sửa tánh muốn được an toàn vĩnh cửu, Đức Giáo Chủ dạy người tu cần có kiên trì trong công cuộc tẩy trừ vọng tâm phiền não. Từ lâu những sự nóng giận tham lam, gây thù kết oán đều phát xuất từ nơi đó và kết thành thói quen lâu đời. Nay muốn gội rửa tâm tánh cho được trong sạch, thì đức tánh kiên trì, nhẫn nại là một trong các phương tiện chính yếu sẽ giúp ta được an thân và thành công viên mãn.

          - Đến phần thứ bảy, Đức Thầy dạy nhà tu nên kiên nhẫn để rèn luyện các đức độ:“Từ bi, bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ” để đối với quần sanh và vạn loại. Dầu đặng vậy, nhưng lòng chẳng hề có ý nghĩ vui mừng, tự đắc…cón đức nhẫn thứ tám là khuyên hành giả phải nhịn chịu mọi sự khó khăn để hoàn thành tám điều nhẫn nhịn vừa kể trên, nhưng lòng không còn thấy có tu, có chứng. Nhờ đó, ta thể hiện được tình hòa hảo với mọi người chung quanh hầu cảm hóa họ hướng về nẻo Đạo và sớm đạt đến giác hạnh viên mãn 

CHÚ THÍCH

          BÁT NHẪN: Tám điều nhẫn nhịn, gồm có: Nhẫn năng xử thế, Nhẫn Giái, Nhẫn Hương lân, Nhẫn Phụ mẫu, Nhẫn tâm, Nhẫn tánh, Nhẫn đức, Nhẫn thành.

          Tám điều nhẫn nầy, khởi nguyên từ Đức Phật Thầy Tây An (1807-1856), Ngài viết ra trong một bài thi Bát cú bằng Hán văn để cho ông Đạo Thắng một đệ tử của Ngài gìn giữ và truyền lại cho con cháu. Đồng thời Đức Phật Thầy cũng mật ký thêm cho ông Đạo Thắng một bài thi khoán thủ bát cú, trong đó có tám chữ “Đạt Đạo, Ngao Du, Châu Di, Viễn Cận” đều thuộc về bộ Xước. Ngài còn dặn rằng: nếu sau nầy có ai viết được bài thi đúng y văn tự như vầy, đó là Ngài chuyển kiếp trở lại. Ông Đạo Thắng giữ kín bài thi ấy mãi, đến khi sắp từ trần mới truyền lại cho con ông, rồi con ông truyền lại cho cháu nội là Nguyễn Phước Còn ở xã Long Kiến, Chợ Mới (An Giang). Bài thi ấy coi như là vật gia bảo, ngoài ba người ấy, không hề có một ai được biết tới.

          Đến năm 1939, Đức Giáo Chủ khai sáng PGHH tại xã Hòa Hảo, quận Tân châu (Châu Đốc), thì ông Còn được chư thần kêu cho biết: Đức Phật Thầy đã tái sanh tại làng Hòa Hảo con của ông Cả Bộ. Kêu hai lần như vậy, ông Bảy Còn cũng chưa tin, đến lần thứ ba ông mới chịu ra đi.

          Đến nơi, vừa giáp mặt với Đức Thầy, Ngài liền ngó ngay ông Bảy Còn, nói:

          - Dữ hôn! Đợi chư thần đòi ba lần ông mới chịu đi à ? Thôi, mời ông vào nhà!

          Nghe thế ông Còn cũng chưa tin thật. Đức Thầy liền bước lại bàn, viết hai bài thi bằng Hán văn nói trên đưa ra, ông Bảy Còn mới chịu nhìn nhận và qui phục. (Xem thêm quyển “Đức Huỳnh Giáo Chủ” của Vương Kim có kể rõ câu chuyện và hai bài thi cả văn Hán và Việt)

          Dưới đây là y văn bài thi Bát Nhẫn của Đức Thầy viết ra (dịch lại chữ Việt):

                    “Nhẫn năng xử thế thị nhơn hiền,

                      Nhẫn giái kỳ tâm thận thủ tiên.

                      Nhẫn giả hương lân hòa ý hỉ,

                      Nhẫn hòa phu phụ thuận tình duyên.

                      Nhẫn tâm nhựt nhựt thường an lạc,

                      Nhẫn tánh niên niên đắc bảo truyền.

                      Nhẫn đức bình an tiêu vạn sự,

                      Nhẫn thành phú quới vĩnh miên miên”.

          BÁ TUẾ: Trăm tuổi (trăm năm). Ý chỉ thời gian lâu dài.

          NHẪN NĂNG XỬ THẾ: Đức nhẫn thường hay nhịn nhục, hầu đối xử với đời và nhẫn đợi thời cơ để làm nên danh phận của bực hiền nhơn.

          LẬP THÂN DANH: Gầy dựng thân danh cho mình do câu:“Lập thân hành Đạo dương danh ư hậu thế, Dĩ hiển kỳ Phụ Mẫu hiếu chi chung giả”.(Lập thân thi hành Đạo lý để danh thơm về sau, làm vẻ vang cha mẹ, ấy là điều sau cùng của Đạo hiếu). Đức Thầy cũng từng kêu gọi:

                    “Cuộc biến động nay mai nguy ngập,

                      Một hội nầy rán lập thân danh”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          NHẪN GIÁI: Đức kiên nhẫn mọi sự khó khăn để giữ tròn giới luật.

          NHẪN HƯƠNG LÂN: Nhẫn nhịn đối với mọi người chung quanh để giữ được sự hòa khí trong thôn xóm.

          Ý HỈ: Vui và vừa ý tầt cả.

          NHẪN PHỤ MẪU: Đức nhẫn để trọn lòng hiếu kính đối với cha mẹ.

          XƯỚNG TÙY: Do câu “Phu xướng Phụ tùy”(chồng xướng lên thì vợ nghe theo). Đây ý nói về Đạo chồng vợ, cư xử với nhau rất hòa thuận. Đức Thầy có câu:“ Đạo chồng vợ thuận hòa cho đến thác”.(Không buồn ngủ)

          NHẪN TÂM: Đức nhẫn để diệt hết lòng dục vọng tham lam, để tâm được thanh tịnh an vui.

          AN LẠC: Bình yên vui vẻ.

          NHẪN TÁNH: Đức nhẫn nhịn để thay đổi tánh ý sân si, hung ác của chúng sanh, hầu được trở lại tánh hiền lành giác ngộ của Phật Thánh.

          YÊN TỊNH: Trong sạch yên lặng.

          BẢO TOÀN: Gìn giữ đâu đó được trọn vẹn lâu bền.

          NHẪN ĐỨC: Đức nhẫn rèn luyện cho mình có những đức độ: hiền hòa, từ bi cao cả và khi có được các hạnh đức đức ấy, lòng chẳng hề tự mãn hoặc khoe khoang đắc ý.

          NHẪN THÀNH: Đức nhẫn do sự thật tâm thành ý để viên mãn pháp Bát nhẫn mà tâm không còn thấy có chỗ được để tiến thẳng đến mức giải thoát, cứu cánh.

          HIỂN VANG: Cũng gọi là hiển vinh hay vinh hiển. Có nghĩa sang trọng vẻ vang.

          HÒA NHÃ: Ôn hòa nhã nhặn.

CHÁNH VĂN

735.- Câu Đạo-đức bay mùi thơm lạ,
Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,
738.- Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.
Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,
Dùng phép mầu loè mắt chúng-sanh.
Ai ham linh theo nó tập-tành,
742.- Sa cạm-bẫy khó mong sống sót. 
Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,
Mà làm cho dân-chúng say mê.
Nẻo chánh tà biện-luận nhiều bề,
746.-Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.
Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
Đừng để lầm thợ khéo sơn da.
Thì sau này đến lúc phong-ba,
750.- Dông gió lớn cột kèo khỏi gãy.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 735 đến câu 750)

          - Đoạn nầy ý nói trong lời lẽ Đạo đức, vốn có mùi vị thơm tho ngào ngạt, không sao kể xiết “Tiếng lành như thể hương bay nực nồng”.(Cảm tác) Song ai muốn nếm được hương vị ấy cần phải chí tâm tìm hiểu và thực hành theo Kệ giảng chớ chẳng phải nhìn qua loa bên ngoài mà được. Đức Giáo Chủ còn cho biết: hiện nay có rất nhiều Tà đạo ra đời, mỗi người hãy nhận định cho sáng suốt để xa lánh, kẻo bị lạc lầm theo chúng mà phải mang khổ về sau: “ Đừng bạ đâu tin tưởng nghe càn, Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp”.

          - Các tà Đạo xuất hiện nhiều nơi và dựng đặt nhiều lý thuyết, để cám dỗ nhân sanh. Ngoài ra, chúng còn bày vẽ: nào luyện bùa trao phép, ơn trên nhập xác, nào phong tước đặt tên, soi căn đoán tâm lý v.v... nếu ai ham linh thính hoặc còn mến tríu lợi danh, chạy theo tập tành với chúng, chẳng khác nào loài chim bị sa vào cạm bẫy, mong gì được thoát khổ.

          - Đức Thầy còn cho biết: Ở đây không phải Ngài dùng lời ngọt ngào, chuốt ngót để lôi kéo quần chúng về mình mà chỉ vì lòng từ bi, chẳng nỡ ngồi nhìn chúng sanh bị lạc vào tà Đạo, nên Ngài phải luận giải phân tách rõ ràng, để mỗi người nhận được đâu là tà ngụy mà xa lánh, và đâu là chơn lý giải khổ để nương theo, hầu trở về với gốc lành tự tánh của mình.

          - Vậy từ nay trở đi, ai muốn tu theo Đạo nào, trước hết phải cẩn thận dò xét về tôn chỉ, luật giới và mục đích của mối đạo ấy, xem họ sẽ đưa nhân loại đi đến đâu, và có đúng chân lý không? Nhứt là phần hạnh đức, trí năng của kẻ hướng Đạo có xứng đáng cho ta tôn trọng làm Thầy hay không? Nếu chánh lý ta sẽ nương theo, bằng họ chỉ tô phết một lớp sơn đạo đức bên ngoài, còn thực chất chẳng có đường lối rõ rệt thì ta nên xa lánh. Cũng ví như người muốn kiến tạo ngôi nhà, trước phải lựa thứ cây danh mộc (chắc chắn) để làm kèo cột mới bảo đảm lâu dài bởi các thứ cây đó mối mọt không thể ăn được và sau nầy dầu có gặp bão tố, nhà cũng không bị hư sập.

 

CHÚ THÍCH

          ĐẠO ĐỨC: (Xem CT câu 431, T-3, Q.4).

          SƯU TẦM: Tìm tòi lục kiếm để được thấu hiểu. Ví dụ: Sưu tầm kinh điển, sưu tầm tài liệu. Đức Thầy hằng khuyên trong bài “Tối mùng Một”:

                    “Sớm tỉnh Kệ kinh tìm hiểu lý,

                      Một ngày hiệp mặt hết mờ lu”.

          ĐẠO TÀ: (Xem CT câu 77, T-2, Q.2).

          TẬP TÀNH: Học tập rèn luyện theo một cách thức gì, do người khác bày ra. Đây chỉ cho sự tập luyện theo các tà thuyết và bùa phép của tà đạo.

          CẠM BẪY: Những đồ dùng gạt cầm thú sa vào mà bắt. Ở đây chỉ cho các Đạo tà hay bọn giả tu, thường dùng đủ mưu chước khéo xảo, hoặc bùa phép thính linh.v.v… để lừa gạt bá tánh tin theo một cách mù quáng, rốt cuộc cả Thầy trò đều chuốc lấy tai hại.

          Xưa, có một Tỳ kheo đã xuất gia tu hành mà tánh hay lười biếng, không lo học hỏi kinh pháp, tâm ý buông lung, thường vi phạm giới luật nên bị trong Đạo trục xuất, bá tánh thấy vậy không ai cúng dường nữa, Tỳ Kheo rất buồn thẹn, ôm gói ra đi.

          Cùng thuở ấy có một con quỉ cũng phạm tội, bị Tỳ Sa Môn Thiên Vương đuổi đi. Quỉ xuống trần gian tìm nơi nương tựa kiếm ăn, bỗng gặp Tỳ kheo đang đi thơ thẩn bèn hiện hình người, đón hỏi duyên do?

          Tỳ kheo tỏ thiệt đầu đuôi. Quỉ an ủi Tỳ kheo: Ông đừng lo nữa, tôi có đủ phép thần thông giúp ông lấy lại uy tín, nhưng khi ông được người tặng vật thực chi, phải cúng vái tôi. Tỳ kheo đồng ý, quỉ liền cõng Tỳ kheo bay về chỗ cũ. Những người ở tụ lạc chỉ thấy Tỳ kheo, chớ không thấy được quỉ, ngỡ rằng: Tỳ kheo đã đắc Đạo biết đằng vân, bèn cùng nhau lễ bái thỉnh về chùa, lại còn trách trong Đạo xét đoán không công minh, nỡ đuổi oan một thầy tu đã chứng quả.

          Từ ấy tiếng đồn vang dội, bá tánh đồng đem lễ vật đến dâng cúng. Tỳ kheo cũng nhớ lời hứa, mỗi món đều vái cúng cho quỉ trước.

          Họm nọ, Quỉ đang cõng Tỳ kheo du hành trên không, để biểu diễn lòe mắt thiên hạ, chẳng may gặp quan thuộc hạ của Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Quỉ thất kinh ném Tỳ kheo và tận lực đào tẩu. Tỳ kheo bị rơi từ không trung xuống đất nát thây…

          Lại nữa, gần đây (1940) có vụ Đạo Quốc cầm đầu phong trào Đạo Tưởng ở chùa Long Châu, gần Quận lỵ Tân châu (Châu Đốc). Y giả xưng là Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương nhưng y chủ trương theo tà thuyết: lên xác, tập luyện phép linh, bùa chú để nuôi mộng tranh đoạt lợi danh. Dân chúng ham linh mê tín theo y, rèn tập hằng đêm. Chẳng bao lâu bị nhà đương cuộc bao vậy, bắn chết một số, cón lại bao nhiêu đều bị bắt cho đi ngồi tù.

          Xuyên qua hai câu chuyện chứng minh cho Đạo tà, thấy rằng: người muốn tu cần phải thận trọng trong việc lựa chọn mối Đạo mà nương theo. Nếu không khéo sẽ bị rơi vào cạm bẫy của tà giáo mà nguy khốn cả thể xác lẫn linh hồn.

          Đức Giáo Chủ thường căn dặn tín đồ:

“Ra đi dặn lại ít lời,

Khuyên trong bổn đạo vậy thời rán nghe.

Dầu ai tài phép bày khoe,

Ham linh, ham nghiệm sợ e mang nghèo.

Lựa cho phải cột phải kèo,

Phải vai phải vế mà theo kẻo lầm.

Ngọc kia ẩn dạng khó tầm,

Chọn nơi chơn chánh khỏi lâm khổ hình”.

                                                  (Dặn dò Bổn đạo)

          CHUỐT NGÓT: Nói tốt, quảng cáo. Ý chỉ lời ngọt ngào khéo léo.

          BIỆN LUẬN: Cũng gọi là luận biện. Có nghĩa bàn bạc, luận giải cho ra lý lẽ phải trái. Đức Thầy có câu:

                    “Ta là kẻ tu hành thiển kiến,

                  Xét thế trần luận biện đôi điều”.(Nang thơ cẩm tú)

          DANH MỘC: Các loại cây tốt, thịt chắc, có danh tiếng, dùng làm nhà hay đóng bàn ghế, xài lâu hư, như: cẩm lai, trắc, bên, thao lao, căm xe.v.v…Đây ý chỉ chánh Đạo, nơi có pháp giới tu hành đúng theo chân lý của Đạo Phật và đưa người giải thoát sanh tử. Không dùng thinh âm sắc tướng hay bày trò mê tín dị đoan. Đức Thầy thường cho biết:“Vô vi chánh Đạo hỡi người ơi !”(Cho Ô. Tham tá Ngà)

            PHONG BA: (Xem CT câu 2, T-1, Q.1) 

CHÁNH VĂN

751.- Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,
Chẳng biết gìn phong-hóa lễ-nghi.
Nên ta đem đạo đức duy-trì,
754.- Gìn tục cổ để người chẳng rõ.
Còn chậm-chạp Đạo-mầu chưa tỏ,
Như rừng hoang mới dọn một đường.
Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
758.- Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.
Thương quá sức nên Ta bịn-rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân.
Nếu thế-gian còn chốn mê tân,
762.- Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 751 đến câu 762)

          - Đức Giáo Chủ nhận thấy chúng sanh hiện nay, phần đông quá mê khổ, đắm say dục lạc và chạy theo lối sống văn vật tân thời, vội quên đi phong hóa cổ truyền. Do đó, Ngài khai hóa Đạo mầu, kêu gọi bá tánh hãy hồi tâm thức tỉnh, tập sửa cách ăn ở đúng theo lễ nghi, phong tục tốt đẹp của ông cha ta từ trước.

          - Sở dĩ thời nay chưa được bao người, thấu rõ lý mầu của Đạo pháp, là vì Đức Thầy mới vừa khai sáng nền Đạo. Cũng như khu rừng hoang vu từ trước, mà nay mới dọn được một lối đi…Ngài còn cho biết: trên con đường giác chúng độ đời, dầu có gặp nhiều khó khăn, thử thách hoặc tiếng đời nhạo chê phỉ báng, song Thầy trò Ngài chẳng chút ngại ngùng: “Tớ thầy nào nệ cần lao, Thương dân dạy dỗ xiết bao nhọc nhằn”.( Để chơn đất Bắc)

          Bởi lòng Đức Thầy quá thương xót sanh linh, nên Ngài phát thệ suốt quãng đời: “Có sông có núi cùng cây cỏ, Độ tận chúng sanh khỏi dại khờ”.( Đầu năm) Chẳng những thế, Ngài còn hứa nguyện: nếu chúng sanh còn mãi đắm chìm trong sông mê bể khổ, thì Ngài chẳng nỡ yên vui nơi Phật cảnh:

                    “Nếu chừng nào khai thông nền Đạo Đạo,

                      Đuốc từ bi rọi khắp cả nhơn gian.

                      Bể trầm luân khô cạn sáu đàng,

                      Tăng sĩ mới trở về nơi thanh tịnh”.

                                        (Trao lời cùng Ông Táo)

CHÚ THÍCH

          PHONG HÓA LỄ NGHI: (Xem CT câu 186, T-2, Q.3).

            DUY TRÌ: Cầm giữ lại, không để hư mất.

          GÌN CỔ TỤC: Giữ gìn những phong tục, lễ nghi tốt đẹp của Ông Cha ta từ xưa để lại. Đức Thầy từng khuyên:

                    “Nhắc nhở con hiền noi tục cổ,

                Kêu chừng trẻ thảo gốc trời Đông”.(Chí thanh cao)

            ĐẠO MẦU: (Xem CT câu 901, T-1, Q.1).

          NÀO QUẢN: Đâu nài hà, chẳng ngại chi.

          BÙN TRỊN: Cũng viết là bùn sình. Bùn là chất đất nhão, trịn (sình) là chất bùn lỏng, chất đất bẫy lầy ở đáy nước. Nghĩa bóng là chỉ cho sự nhọc nhằn, khổ nhục đủ cách.

          BỊN RỊN: Bận bịu, không nở rời đi được !

          CHUNG THÂN: Suốt đời mình, đến khi từ biệt cõi đời. Đức Thầy có câu:“Chung thân quyết chí dốc làm lành”.(Thiên lý ca)

          MÊ TÂN: Bến mê. Chỉ cho phía chúng sanh đang ở, nơi còn luân hồi sanh tử, đầy thống khổ. Đối với giác ngạn (bờ giác) chỗ chư Phật ngự, nơi giải thoát an vui. Đức Thầy từng nói (trong bài Viếng làng Mỹ Hội Đông):

                    “Làm sao khỏi chốn mê tân,

             Đào nguyên vạn lượng tỏ phân kính sùng”.

 

CHÁNH VĂN

763.- Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,
Mà chẳng tu là bởi không ưa.
Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
766.- Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.
Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
Đem Đạo-mầu như hạn cho mưa.
Đặng tố-trần tâm ý Người Xưa,
770.- Chữ thậm thâm trong kinh Phật-Giáo.
Nền chơn lý chúng chê rằng láo,
Mà nào Ta có lợi-dụng ai.
Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,
774.- Để giữ trọn trong nền Phật-Pháp.
Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,
778.- Dầu làm lụng cũng là trì chí.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 763 đến câu 778)

          - Lời khuyên dạy của Đức Giáo Chủ rất rõ ràng chính xác, thế mà người đời chẳng chịu hồi tâm hướng thiện, là vì lòng họ không thích Đạo đức. Vả lại, một cái hầm sâu, nước rất nhiều, chiếc gàu lại thưa thì bảo làm sao tát cho mau cạn được. Cũng như lời thuyết giáo của Ngài, trong cấp thời chưa ban đều hết vạn dân.

          - Thế nên Ngài phải tạm dùng giấy mực, sáng tác Kệ kinh, để làm cho nguồn giáo pháp mưa rãi khắp nơi. Chính đó là phương tiện cho Ngài, vừa tỏ bày tâm ý và vừa luận giải giáo lý thâm huyền trong Đạo Phật.

          - Ngài giảng dạy cách thức tu hành rất thật tế, đúng theo chân lý Phật giáo, chẳng hề có ẩn ý lợi dụng một ai; lại có số người cho đó là lời không thiệt. Ngài còn bảo: Trên đường tu học Phật pháp, ai muốn được kết quả phải thật lòng trì chay, hoặc nhiều hoặc ít. Nghĩa là tùy theo trình độ và lòng nhân ái của mỗi hành giả, mà từ chỗ ăn chay kỳ, sẽ tiến đến trường chay một cách trọn vẹn.

          - Còn phần giới luật, mỗi người cần nghiêm giữ chính chắn, lọc sạch các vọng tâm đen tối. Đồng thời phải nhiếp tâm trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”; để diệt trừ những ý nghĩ tà khúc, xấu xa. Song muốn cho sự niệm Phật có hiệu quả, mỗi khi: đi, đứng, nằm, ngồi hoặc nói, làm, ăn uống đều phải kiên trì niệm Phật như vậy: “Tu uống nước niệm Phật uống vào, Ăn cơm niệm Phật chỗ nào cũng tu”.(Kim Cổ Kỳ Quan của Ô. Ba Thới)

 

CHÚ THÍCH

          LỜI CHÍNH XÁC: Lời nói chính xác, rõ ràng, thật đúng. Ví dụ: Luận giải rất chính xác.

          TỐ TRẦN: Bày tỏ ra. Đức Thầy có câu:“Bút nghiên tạm lấy tờ hoa tố trần”.(Viếng làng Phú An).

          THẬM THÂM: Rất cao sâu mầu nhiệm. Chữ thậm thâm là lời pháp giáo có nghĩa lý sâu mầu khó tả. Kinh Phật xưa có câu:“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”. Đức Thầy nay cũng nói:“Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền”.(Kh/thiện, Q.5)

          CHƠN LÝ: (Xem CT câu 301, T-1, Q.1)

          LÒNG CHAY: Do chữ “Tâm chay”. Chay cũng viết là Trai (theo Hán tự), tức là chỉ sự ăn chay. Xưa nay, trong giới tu hành dù ai cũng phải trì chay. Song vì hoàn cảnh và trình độ của mỗi người mà sự ăn chay hoặc nhiều hoặc ít chẳng đồng nhau.

          Đại khái có hai cách:

          1- Chay trường: cũng gọi là tố thực, tức ăn toàn những thứ không phạm tội sát sanh, như: muối, dưa, tương đậu, rau cải.v.v…và cứ ăn luôn như vậy cho đến mãn kiếp hoặc thành Đạo.

          2- Chay kỳ: là mỗi tháng chỉ ăn bốn ngày chay, hoặc sáu hay mười ngày; hoặc mỗi năm ăn chay luôn ba tháng có các ngày rằm lớn, như: Thượng ngươn (tháng giêng), Trung ngươn (tháng bảy), Hạ ngươn (tháng mười).

          Song dù ăn chay cách nào cũng phải giữ tâm chay mới được kết quả quí báu. Nghiã là phải tăng trưởng lòng nhơn, diệt tâm tham sát, tránh sự sát sanh vô cớ. Trong cửu khúc của ông Nguyễn Văn Thới có câu: “Tu biết thương vốn thiệt chay trường”. Và Đức Thầy nay cũng từng bảo:

                    “Chữ Nam mô trì giái giữ chay,

                    Chay được tánh chay tâm mới quí”.(Sa Đéc)

            PHẬT PHÁP: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng).

          GIỚI CẤM: Cũng đọc là giái cấm. Phạn ngữ là Sila, phiên âm là Thi la, dịch là giái cấm, hoặc gọi là cấm giái, Phạn ngữ: Protimôksha, dịch là Ba la đề mộc xoa; tức là “giái ác cấm phi”. Có nghĩa: răn chuyện dữ, cấm điều quấy. Hai chữ giới và cấm đồng một nghĩa, nhưng viết ghép lại cho rõ nghĩa thêm. Giới cấm do Tổ Thầy lập ra để răn cấm môn đồ không cho quấy phạm.

          Theo Kinh Phật từ xưa thì gồm có: Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, Cụ túc giới và Tam Tụ giới của hạnh Bồ Tát.

          Còn theo Sấm kinh PGHH, hiện nay gồm có Bát giới (tám điều răn cấm) và Thập giới (diệt thập ác v.v…). Nhưng trong đây gồm nhiếp cả Ngũ giới và Tam Tụ giới của hạnh Bồ Tát.

          Tóm lại, người tu hành có giữ gìn giới cấm, thân tâm mới được an định trong sạch, và tâm có định trí tuệ mới phát khai, chứng thành Đạo quả. Kinh Phật gọi ba món ấy là tam học (giới, định, huệ), nó có diệu năng trừ được tam độc (tham, sân, si).

          Xưa, Đức Phật từng phán dạy:“Giới là kho diệu pháp, là của xuất thế. Giới là tàu bè lớn, đưa người qua biển khổ sanh tử. Giới là pháp vô úy phá tan tà kiến độc hại. Giới là tướng dõng mãnh dẹp hết ma quân. Giới là hào, thành ngăn che được giặc phiền não. Giới là đất bằng, để kiến tạo lầu đài định huệ”.

          Ngài Đàm Nhứt Luật Sư cũng bảo:

                    “Tam Thế Phật Pháp, giới vi căn bổn.

                      Bổn chi bất tu, Đạo viễn hồ tai”.

(Chư Phật ba đời thuyết Pháp đều lấy giới luật làm căn bản, căn bản không tu thì xa Đạo lắm rồi!).

          Đức Thầy hiện nay hằng dạy tín đồ:“…cần nhứt ở chỗ giữ giới luật hằng ngày…”(Lời khuyên Bổn đạo). Và phải:“…Tôn trọng giới luật của Đạo, rán sửa mình cho trong sạch để gây quả phúc tốt cho linh hồn và xác thịt”.(Lời tâm huyết)  

          TÂM Ô TẠP: Lòng hỗn loạn đen tối, thường nghĩ tưởng và ô nhiễm việc nhơ xấu tội ác.

          LÒNG TÀ: Tâm vọng tưởng việc tà vạy, tội ác.

          TRÌ CHÍ: (Xem CT câu 116, T-2, Q.2).

CHÁNH VĂN

779.- Chờ Thiên-Địa châu-nhi phục-thỉ,
Như đời xưa có gã Tử-Phòng.
Xem thời cơ người đã rõ thông,
782.- Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.
Đời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,
Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.
Động lòng hiền chư Phật đớn-đau,
786.- Cho kinh sấm dạy-răn trần-thế. 
Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.
Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
790.- Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.
Vì bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,
Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa.
Mong cho đời gặp lúc khải-ca,
794.- Trong bốn biển thái bình mới toại.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 779 đến câu 794)

          Hiện thời dân tộc Việt Nam đang bị sự kềm kẹp, dưới chánh sách độc ác của bạo quyền (Pháp), nên Đức Thầy khuyên mọi người hãy kiên trinh nhẫn nại để chờ định luật xoay vần của trời đất:“Xây vần trời đất tiết thì, Hết cơn bĩ cực tới kỳ thới lai”.(Khuyên người giàu lòng Phước thiện) Cũng như trường hợp của Trương Tử Phòng xưa kia, bấy giờ dân chúng liên tiếp gánh chịu hai chế độ tàn ác, của Tần Thủy Hoàng và Hạng Võ. Tử Phòng phải lánh mình tầm sư học Đạo, sau khi thông đạt thời cơ, ông theo phò Hán Bái Công và vận dụng đủ cơ mưu, trước đánh đổ bạo Tần; và sau cùng, ông chỉ dùng khúc tiêu thổi lên mà phá được quân binh của Hạng Võ tại Cửu Lý Sơn, chấm dứt cuộc “nắng Sở mưa Tần”, đem lại sự hoà bình an lạc cho dân chúng.

          - Bởi nhân loại thời nay chạy theo văn minh vật chất, lòng tham vọng dẫy đầy, gây nên cuộc chiến tranh tàn khốc, khắp năm châu. Do đó, chư Phật đầy lòng Từ Bi, sắc lịnh cho Đức Thầy, lâm phàm truyền bá kệ kinh, khuyên dạy người đời sớm cải ác tùng thiện.

          - Ngài tiên tri sắp tới đây, bá tánh phải chịu cảnh nghèo đói:“Gạo lúa kém là đồ sản thổ, Hàng hóa cao ấy của ngoại bang vào”.(Trao lời cùng Ô. Táo) Sự nghèo túng về vật chất, như: Gạo lúa vàng bạc đã đành, song phần tinh thần Đạo đức, trong bá tánh cũng ít người tầm cầu tu sửa. Và công cuộc độ thế của Đức Thầy cũng bị lắm kẻ khinh khi nhạo báng:“Hung đồ cường nghịch một hồi cười reo”. (Để chơn đất Bắc)

          Hơn nữa, vì lòng thương xót vạn loại sanh linh nên Đức Giáo Chủ chẳng nài sự gian khổ, giả dạng điên khùng, len lỏi khắp nơi để tùy phương giáo hóa. Ngài hằng mong đến một ngày kia, toàn dân Việt Nam hát khúc khải hoàn và cả thế giới đều vui sống cảnh thanh bình:

                    “Mong tạo hóa sắp xong tuồng cổ điển,

                    Đặng nhơn sanh kiến cảnh thái bình hòa”.

                                                    (Không buồn ngủ)

CHÚ THÍCH

          CHỜ THIÊN ĐỊA CHÂU NHI PHỤC THỈ: Do câu: “Thiên địa tuần hườn châu nhi phục thỉ”. Có nghĩa luật xoay chuyển trong trời đất, hễ giáp vòng rồi phải trở lại mối đầu và cứ thế mà xoay mãi. Ý nói cuộc đời hết suy tới thạnh, hết nhục tới vinh, hết chiến tranh loạn lạc, đến hồi yên ổn thái bình. Đức Thầy từng nói:“Tuần hườn Thiên địa đổi xây”.(Sám Giảng Q.3) Và:

                    “Nam thức Quân thần cuồng lão sĩ,

                  Châu nhi phục thỉ cổ đồng lân”.(Tỏ câu Huyền bí)

            TỬ PHÒNG: Ông tên tộc là Trương Lương, hiệu là Tử Phòng, người ở nước Hàn (Tr.Hoa), con của Nguyên Soái Trương Xa. Khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu sáu nước: Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề, Sở thì Trương Lương gặp cảnh nước mất nhà tan, muôn dân bị kềm kẹp dưới chế độ bạo Tần. Ông cảm thấy mình có trách nhiệm phục thù cho Quốc dân; nên thường giao du khắp thiên hạ, tìm liên kết các dũng sĩ để đánh đổ bạo Tần. Thời gian ông cùng với Thượng Hải Công hành thích vua Tần, song việc bất thành, ông lánh nạn qua xứ khác.

          Trên đường lưu vong, Trương Lương gặp Tiên Ông Huỳnh Thạch Công, cho ba quyển Thiên thơ đồ trận, ông liền xem đó mà học tập; sau thấy Lưu Bang (Hán Bái Công) là người tài đức gồm đủ, nên theo phò. Chính nhờ mưu kế của Trương Lương mà Bái Công chiếm được Kinh đô nhà Tần, buộc con vua Tần là Nhị Đế (Tử Anh) ra hàng. Đoạn rồi lui về Bao Trung để chuẩn bị binh lương, đốt Sạn đạo khiến Hạng Võ dời đô về Bành Thành.v.v…

                  Trương Lương còn tìm được Hàn Tín, tiến cử làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, đánh lấy Tam Tần, nhanh chóng khiến quân Sở trở tay không kịp. Điểm quan trọng là khi Hàn Tín và tướng sĩ nhà Hán bao vây Hạng Võ tại Cửu Lý Sơn. Thấy vây lâu ngày mà chưa hạ được Hạng Võ, nên đêm nọ Trương Lương lên núi Kê Minh cầm tiêu thổi lên, tiếng tiêu phát ra âm điệu vừa du dương, vừa buồn bã tha thiết ! Bản tiêu ấy trong truyện “Hán Sở tranh hùng” có dịch:

Đêm thu mù mịt trời sương,

Có người thiếu phụ quê hương lạnh lùng.

Sa trường vó ngựa,

Trẩy gót binh nhung,

Con thơ nheo nhóc mịt mùng dặm xa!

Cơ hàn đau đớn mẹ cha,

Canh khuya vò võ tuổi già đợi con !

Chí trai vạn dặm,

Hồ thỉ bốn phương,

Nhưng con đi đã lầm đường,

Giúp người tàn bạo không thương dân lành.

Mơ màng nửa giấc ba sinh,

Một đi, một nhớ, một mình canh thâu”.

          Khúc tiêu trổi giọng, muôn vạn cung sầu len vào tâm hồn của binh tướng Sở, khiến người người đều nhớ quê hương, con vợ, mẹ cha…Trong đêm ấy có hai phần ba tướng sĩ, mất hết tinh thần chiến đấu, bỏ ngủ ra đi; tám ngàn học trò trước kia, nay chỉ còn lại vài trăm. Cuối cùng Hạng Võ cắt đầu tuẫn tiết tại bến Ô Giang.

          Khi Lưu Bang thống nhất sơn hà, lên ngôi xưng là Cao Tổ nhà Hán thì Trương Lương từ quan, theo thầy là Huỳnh Thạch Công, về núi tu hành và sau được thành Tiên.

          THỜI CƠ: (Xem CT đoạn 1, T-1, bài Sứ Mạng).

          TÔI THIỂU: Theo văn tự thì nghĩa là tôi ít, nhưng chữ Tôi thiểu ở đây nói lái lại là “tiêu thổi”(lối văn lộng ngữ).

          Lúc Đức Thầy còn ở Tổ Đình Hoà Hảo, có ông Cả Đô ở làng Tân An (Tân Châu). Ông đến gặp Đức Thầy nhiều lần để nghe Ngài thuyết pháp. Ông để ý thường thấy Đức Thầy chỉ ngồi trên hai cái ghế trong số tám cái để hai bên chiếc bàn dài, nên thừa lúc Ngài đi ra đường, ông liền đổi cái ghế mà Ngài thường ngồi (cũng giống hệt như mấy cái kia). Xong rồi ông đi theo Đức Thầy ra ngoài lộ, hỏi:

          - Bạch Thầy ! xưa nay người ta phải dùng nhiều tôi lương đống mới tế thế an bang được. Tại sao Ngài lại nói dùng tôi ít trong câu giảng:“Dùng tôi thiểu mà an bá tánh ?” Đức Thầy liền đáp:

          - Tôi nói lái đấy ! Tôi thiểu là tiêu thổi !...

          Thầy trò nói chuyện một chập rồi trở vô nhà, đi lại hai hàng ghế, Đức Thầy vừa nhìn ông Đô nói chuyện và cũng vừa nhắc cái ghế mà Ngài thường ngồi, đổi lại cái ghế mới thay vào khi nãy. Sau khi dứt câu chuyện Ngài ngồi trên cái ghế đã ngồi từ trước một cách tự nhiên, như không có gì xảy ra. Bấy giờ ông Cả Đô và mọi người có mặt đều thì thầm thán phục.

          Chữ “tôi thiểu” tức là  “tiêu thổi” trên đây, ý Đức Thầy muốn nhắc lại chuyện Trương Lương dùng tiếng tiêu phá được binh Sở, chấm dứt tai vạ “nắng Sở mưa Tần”. Từ đấy dân chúng được hưởng cảnh thái bình an lạc, như Ngài từng nói (trong bài Thu đã cuối):

                    “Còn một đoạn mưa Tần nắng Sở,

                      Trải qua rồi việc dở hóa hay.

                      Thế gian sẽ biết Thánh tài,

                      Bế bồng con dại hát bài khải ca”.

          VẬT CHẤT VĂN MINH: (Xem CT câu 89, T-2, Q.3).

          LỢI QUYỀN: Tài lợi và quyền tước vị danh, hai điều trong lục dục.

          GẠO CHÂU CỦI QUẾ: Cũng gọi là “củi quế gạo châu”. Đây là một thành ngữ. Ý nói thời chiến tranh hoặc gặp lúc thất mùa thì gạo củi mắc như châu như quế (giá sinh hoạt quá đắt đỏ).

          KHINH BỈ: Khi dể, khi thị, coi không ra gì.

          BÁC ÁI: (Xem CT câu 40, T-1, Q.1).

          CUỒNG SĨ: Cũng gọi là sĩ cuồng. Có nghiã là người có chí khí lớn và hăng hái tiến thủ. Cuồng sĩ còn có nghĩa là kẻ sĩ không thiệt tánh.

          Nhưng chữ cuồng sĩ ở đây có ngụ ý ẩn danh, và đối lại hạng người khôn lanh quỉ quái. Cũng như hai chữ khùng điên mà Đức Giáo Chủ dùng làm danh hiệu, Ngài đã từng thốt (trong bài “Tỏ câu Huyền bí”):

                    “Nam thức quân thần cuồng Lão sĩ,

                      Châu nhi phục thỉ cổ đồng lân”.

          Ngài cũng đã từng dùng biệt hiệu “Sĩ Cuồng” để ký tên cho tác phẩm:“Hồi chuông cảnh tỉnh những kẻ trông Tây hững hờ với nạn đói Bắc Kỳ”.

          KHẢI CA: (Xem CT câu 54, T-2, Q.2).

          BỐN BIỂN: Do chữ Tứ hải, tức bốn biển lớn bao quanh lục địa, gồm có: Thái Bình Dương, Nam Băng Dương, Bắc Băng Dương, Đại Tây Dương. Đây có ý chỉ cho khắp thế giới, khắp thiên hạ. Đức Thầy có câu:“Khắp bốn biển liên dây Hòa Hảo”.(Diệu pháp Quang Minh)

CHÁNH VĂN

795.- Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà-hải,
Những ước-ao thế-giới hòa-bình.
Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,
798.- Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.
Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,
Là những câu trong sách Minh-Tâm.
Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
802.- Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý. 
Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ?
Mãi ỷ tài chê bướng chê càn.
Thì ngày sau đừng có trách than,
806.- Những tội lỗi của mình tạo lấy.
Bị háo-thắng việc người không thấy,
Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.
Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
810.- Đâu gần-gũi mà tường diệu lý.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 795 đến câu 810)

          - Lòng thương xót của Phật Tiên Thánh bao la như sông dài biển rộng, lúc nào cũng mong ước cho bá tánh được sống cảnh thanh bình an lạc. Cho nên các Ngài thức tỉnh người đời, bằng cách quảng truyền Kinh Giảng khắp nơi, để mỗi hành giả xem theo đó mà tu sửa, cho thân tâm sớm trở nên trong sạch tốt lành.

          - Nhìn lại loài người sống trong xã hội hiện thời, ít ai ăn ở theo luân thường Đạo nghĩa, vì lòng quá tham giàu sang quyền tước mà những cuộc thay vợ đổi chồng, bạn bè không thành tín, thường thấy xảy ra liên tiếp. Từ trước các bậc Thánh Hiền đã cảnh giác người đời bằng những câu danh ngôn, được ghi lại trong sách “Minh Tâm Bửu Giám”. Xét ra toàn là những câu hữu lý, thế mà dân chúng thời nay ít ai chịu học theo.

          - Số người ấy, chẳng những họ không suy xét để cải hối các điều sái quấy, lại ỷ tài ỷ tận chê bai Kinh Sách. Đức Thầy còn cho biết những kẻ đã gieo nhân tội ác, trái với tinh thần đạo đức thì sau nầy họ sẽ gặt lấy hậu quả đau khổ; chừng đó dầu có trách than cũng không sao thoát khỏi.

          Tai hại nói trên, phần lớn là do lòng háo thắng, lúc nào cũng chỉ thấy có mình là hay giỏi hơn hết, chẳng hề để tâm xét kỹ hạnh đức của người khác, và cũng chẳng tìm hiểu coi lời lẽ trong Kinh Sách dạy chỉ như thế nào; có đúng chơn lý hay không ? Hễ mỗi khi nghe ai nhắc đến việc Đạo, hoặc vừa thấy quyển Kinh là họ gièm pha đủ cách. Do đó, càng ngày càng cắt đứt duyên lành, tình cảm với những nhà Đạo đức và lần lần xa lánh Sấm Kinh. Ấy là duyên cớ làm cho họ không hiểu được lý mầu nhiệm trong Kệ Giảng.

CHÚ THÍCH

          LÒNG NHƠN HÀ HẢI: Tâm nhơn đức thương xót khắp chúng sanh rộng lớn như sông biển.

          TRUYỀN BÁ: (Xem CT 452, T-2, Q.2).

          GIÀU ĐỔI BẠN, SANG ĐỔI VỢ: Do câu “Phú dịch giao, quới dịch thê” và câu “Tiểu nhân sạ phú tiện khi bần”(Kẻ tiểu nhân bỗng trở nên giàu có thì hay khi thị kẻ nghèo hèn). Trong đời có lắm người như thế.

          Xưa, vào thời Đông Châu (Tr.Hoa) có Ngô Khởi người nước Vệ, rất giỏi về việc cầm binh, được vua Tề gả công chúa, nhưng sau bỏ Tề đầu Lỗ. Ngô Khởi đành giết vợ để được vua Lỗ tin dùng và đặng lấy vợ khác là công chúa Lỗ Lâm. Tuy đánh Tề có công và được phong tước cao, song cũng không được Lỗ tin cậy. Túng thế phải bỏ Lỗ sang đầu Sở và sau cùng bị chết ở Sở, khi nước nầy có loạn. Cổ thi có câu:

                    “Kìa Ngô Khởi tấm gương còn đó,

                      Giết vợ hiền chẳng rõ nhục vinh”.

          - Lại một hành động phản bạn của Bùi Kiệm và Trịnh Hâm trong tác phẩm Văn học Việt Nam (Lục Vân Tiên) của cụ Đồ Chiểu. Ngày nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng nhắc lại (trong bài Diệu pháp Quang minh):

                    “Được vinh hoa khinh bỉ kẻ hèn,

                      Bạn phản bạn như người Bùi Kiệm.

                      Trên mặt đất hạng người ấy hiếm,

                      Thấy Tiên mù xô xuống giữa dòng.

                      Nhìn Trịnh Hâm lão bắt mũi lòng,

                      Than cặn kẽ kêu dân sớm tỉnh”.

          Ngược lại, cũng có những tầm gương tình bạn rất tốt, như: Lưu Bình, Dương Lễ và Tống Hoằng, đã chứng tỏ cho việc giàu không đổi bạn, sang không đổi vợ. (Xem thêm CT chữ Bố Kình, câu 11, Q.1).

          SÁCH MINH TÂM: Quyển sách viết bằng chữ Tàu, thâu lượm trong các sách thời xưa mà kết tập lại, nhan đề là “Minh Tâm Bửu Giám”. Có nghĩa: tấm gương quí báu, sáng sủa để soi tỏ lòng người. Giảng xưa có câu:“Minh Tâm là sách Hớn đàng, Hiếu chỉ rõ ràng sao chẳng học coi ?” 

          ĂN NĂN: (Xem CT đoạn 7, T-1, Bài Sứ Mạng).

          HÁO THẮNG: Thích tranh đua, muốn ra mặt hơn người, kiểu cách không khiêm nhượng.

          DIỆU LÝ: Diệu là tốt đẹp, sáng suốt, ngon ngọt, sạch sẽ, tinh tế, nhiệm mầu. Những đức tính ấy diễn tả không kể xiết, suy nghĩ cũng không cùng. Tức là cái lý của chơn tâm diệu minh. Diệu còn đối với thô trược, là thoát khỏi phiền não, ngũ dục của phàm phu, chứng đắc thánh quả (diệu quả). Lý là lẽ phải, không biến đổi, không sai chạy, là điều suy luận bằng tinh thần trí tuệ. Lý cũng là cảnh giới giác ngộ thuộc phần của tâm tánh; cho nên lý là đối với sự tướng.

          Vậy chữ diêu lý, nói cho đủ là “diệu huyền chơn lý”. Nghĩa gọn của nó là giáo lý mầu nhiệm chơn thật của Đạo. Nó chính là nghĩa của chữ “Niết Bàn diệu tâm”. Đức Giáo Chủ thường nói:“Say câu diệu lý hỡi người ơi !”(Say). Và:

                    “Diệu huyền chơn lý noi đường sáng,

                   Ảo thuật tà tâm kiếm nẻo ra”.(Tỉnh bạn trần gian)

 

CHÁNH VĂN

811.- Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,
Mau thức thời tìm Đạo nhiệm-sâu.
Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,
814.- Phải hợp tác gieo trồng giống quí.
Coi rồi phải thân mình tự-trị,
Chẳng độ xong Phật khó dắt-dìu.
Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,
818.- Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống. 
Việc trải qua như mây gió cuốn,
Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
822.- Năm cũ đó rồi qua năm mới.
Mười hai tháng mà còn mau tới,
Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
Chữ phù-vân phú-quí nay mai,
826.- Luân với chuyển dời qua đổi lại.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 811 đến câu 826)

          - Đức Giáo Chủ kêu gọi khắp sáu tỉnh miền Nam, ai là người trí thức hãy sớm biết thời cơ, suy tầm lẽ cao sâu, mầu nhiệm trong Đạo lý. Toàn dân nên quay về nẻo Đạo, thương yêu đoàn kết lẫn nhau trong công cuộc gieo trồng giống thiện.

          - Song ai muốn cho sự tu hành được kết quả như ý thì khi xem đến kệ kinh phải tự sửa trị các điều sái quấy của thân, khẩu, ý. Có đặng vậy mới mong được sự tiếp độ của chư Phật; bằng ngược lại, ắt khó đặng sự gia hộ của tha lực. Con thuyền từ bi (Đạo) của Đức Giáo Chủ, lúc nào cũng chực rước chúng sanh đưa sang bờ giác. Vậy ai là người có duyên lành và thông hiểu Đạo pháp hãy sớm hành y theo lời chỉ giáo của Ngài. Ấy là người đã được đứng trên thuyền từ, nhứt định sớm muộn gì cũng đến bờ bên kia (giác ngạn).

          - Xét lại cuộc đời thay đổi như làn mây trước gió, ngày giờ, năm tháng trôi qua, qua mãi không dừng và rất lẹ như thoi đưa. Từ năm cũ sang năm mới nào khác bóng ngựa qua song cửa.

          - Trong mười hai tháng mà còn xem lẹ như chớp mắt, thì sự vinh nhục của tuồng đời cũng chóng tợ sao băng. Đến như cảnh giàu sang phú quí và gia tài, sự nghiệp cũng thay đổi từ tay người nầy sang người khác, rất mau lẹ như gió thoảng mây bay.

CHÚ THÍCH

          LỤC TỈNH: (Xem CT câu 56, T-1, Q.1).

          HỢP TÁC: Góp sức cùng làm chung với nhau một việc gì.

          GIỐNG QUÍ: Giống Bồ Đề, tức là giống giác ngộ, cũng gọi là giống Đạo. Đức Thầy từng nói:

                    “Chí toan gieo giống Bồ Đề,

            Kiếm người lương thiện dắt về Tây phang”.(K/thiện)

          - Lúc Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền phó chánh Pháp cho Lục Tổ Huệ Năng, Ngài có kệ rằng:

                    “Hữu tình lai hạ chưởng,

                      Nhơn địa quả hườn sanh.

                      Vô tình diệc vô chưởng,

                      Vô tánh diệc vô sanh”.

          - Đại ý nói: Kẻ hữu tình gieo trồng hạt giống thì nhân đó phải nhờ nơi đất, quả mới phát sanh. Còn là vô tình thì hạt giống đã không gieo tất nhiên nó không có tính và cũng không có cái gì để phát sinh ra nữa.

          TỰ TRỊ: Mình tự trừng trị những điều tội ác nơi thân tâm của mình, đừng cho phát sanh ra nữa. Đây là cách tu tự lực (Thiền Tông), trước kia do mình tạo tội, bây giờ cũng tự mình chừa bỏ; trước do mình mê đắm trần ai sanh tử, giờ cũng tự mình tỏ ngộ giải thoát.

          THUYỀN TỪ: Nói cho đủ là Thuyền Từ Bi. Cũng gọi là thuyền Đạo. Ý nói vì lòng Từ bi, Đức Thầy mới khai truyền Đại Đạo để cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử. Cho nên Đạo pháp ví như chiếc thuyền, có diệu năng đưa hành giả rời bờ mê, sang bến giác, như Ngài từng nói:

                    “Thuyền từ bi thẳng cánh lướt sang,

                Qua Đông độ vớt người hữu đức.”(Diệu pháp QM)

          BẾN GIÁC: Do chữ “Giác ngạn”, tức bờ giải thoát của Phật. Đối với bờ mê (mê tân), bờ mê khổ của chúng sanh đang ở. Đức Thầy có câu (trong “Để chơn đất Bắc”):

                    “Bến giác bờ mê, mê phải tránh,

                      Ly biệt hồng trần hỡi ai ơi !”.

          NÂNG NIU: Săn sóc vỗ về, cưng dưỡng. Ý nói Đức Thầy dùng thuyền Đạo rước đưa chúng sanh sang qua cõi Phật (giác ngạn).

          PHÙ VÂN PHÚ QUÍ: Do thành ngữ “Phú quí như phù vân”. Có nghĩa giàu sang quyền tước như đám mây nổi, mới họp kế tan, thấy đó rồi mất đó, không bền chắc lâu dài. Đức Giáo Chủ đã từng nói:“Vinh hoa phú quí chòm mây bạc”.(Hai mươi chin tháng Chạp) Và Ngài cũng thường cảnh tỉnh người đời:“…họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân trước gió, nước bọt mây bèo. Những cái sanh, cái bịnh, cái lão, cái tử được đặt lên cuộc đời của người nầy rồi đến người khác…rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả nhân loại không thiếu sót một ai. Thế mà, họ vẫn cuống cuồng tâm trí theo bả lợi danh, mùi phú quí, đi theo những vặt vụn, tiểu ti eo hẹp”.  

 

CHÁNH VĂN

827.- Cõi Ta-Bà mấy ai tồn-tại,
Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
Đời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,
830.- Như thuở trước Nhan-Hồi còn trẻ.
Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
Buổi bần hàn đặng có tu thân.
Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
834.- Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.
Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,
836.- Thưởng những người trung-nghĩa vẹn toàn. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 827 đến câu 836)

          Tất cả chúng sanh hiện sống trong cảnh trầm luân thống khổ, ít ai bảo tồn được sanh mạng lâu dài, như Bành Tổ xưa kia mà hầu đeo đắm lợi danh tài sắc. Hơn nữa, thời Hạ ngươn mạt pháp phần đông nhân loại bị chết lúc tuổi còn xuân như Nhan Hồi thuở trước.

          - Đã nhận được kiếp sống của con người quá ngắn ngủi, kẻ thức thời nên an phận thủ thường; vui sống với cảnh nghèo để tu thân lập hạnh: “Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh”.(Bát chánh – Chánh Tư duy) Nếu ai hành trì như thế, sẽ được Trời Phật độ qua các tai nạn và đặng chứng kiến cảnh phong thần tại thế tới đây: “Thời rõ việc phong thần trở lại”.(Xuân Hạ tác cuồng thơ)

          - Cuộc phong thần ấy là một sự tuyển chọn rất công minh. Trời đất căn cứ vào nghiệp nhân của mỗi chúng sanh mà trừng trị kẻ tà gian hung ác, và ban thưởng cho những ai vẹn lòng hiếu trung tiết nghĩa “Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu, Người tu niệm sống đời thượng cổ”.(Kệ Dân, Q.2)

CHÚ THÍCH

          CÕI TA BÀ: (Xem CT câu 183, T-2, Q.2).

          LÃO BÀNH: Cũng gọi là Bành Tổ. Căn cứ theo sách Ấu Học thì Lão Bành sống vào đời Đường Nghiêu (Tr.Hoa), tên thật là Tiền Kiên, con của Trưởng Lão Lục Chung. Tương truyền mẹ ông mang thai 12 năm, hôm nọ bỗng nhiên nứt hông bên hữu sanh ra 6 người con, mà Ông là người thứ ba.

          Thuở nhỏ Ông học rất thông minh, lớn lên được Vua Nghiêu phong làm quan trấn giữ đất Bành Thành. Ông sống tới 880 tuổi (cũng có sách chép Bành Tổ sống 800 hoặc 700 tuổi), có 49 người vợ và 54 người con. Do sự sống lâu nên người đương thời gọi Ông là Bành Tổ hay là Lão Bành.

          Ông làm quan rất liêm chính, hết lòng giúp đỡ lương dân. Tuy làm quan, song Ông thường tìm nơi thanh tịnh, di dưỡng tánh tình, không hề để cho lợi danh chi phối. Ông phò luôn cả bốn triều vua: Đường, Ngu, Hạ, Thương.

          Đức Thầy nhắc chuyện trên, ý muốn nói ở đời mấy ai sống được lâu như Bành Tổ mà mong hưởng danh lợi:

                    “Mấy ai trăm tuổi ở đời,

              Được như Bành Tổ mà rời lợi danh”.

                                        (Viếng làng Phú An)

          ĐỜI HẠ NGƯƠN: (Xem CT đoạn 5, T-1, Bài Sứ Mạng)

          NHAN HỒI: Cũng gọi là Nhan Uyên, Nhan Tử hay Tử Uyên, sanh tại nước Lỗ, thời Đông Châu (Tr.Hoa), khoảng 514-483 trước Tây Lịch.

          Ông là học trò của Đức Khổng Tử, bản tánh thông minh và hiếu học, hỏi một thì luận ra tới mười. Ông có tiếng là người đức hạnh và không bao giờ ông phạm lỗi hai lần. Nhà Ông nghèo, chỗ ở chật hẹp, ăn uống khắc khổ, một giỏ cơm, một bầu nước lã; theo người khác đã không chịu nổi, nhưng ông vẫn vui vẻ và an phận như thường (tri túc thường lạc).

          Khổng Tử thường nói:“Từ ngày có Nhan Hồi, học trò ta càng đông”. Và Ngài từng khen ngợi ông:“Anh ấy thật là người tốt, ăn cơm gạo sô, uống nước lã, ở nơi chật hẹp, nếu là người khác đã ngã lòng thối chí; thế mà vẫn an phận vui vẻ, thật là người đáng quí”.

          Năm Nhan Hồi 29 tuổi, tóc đã bạc hết và ông mất vào năm 31 tuổi. Đức Khổng Tử vô cùng thương xót, tiếc than !

          Lúc đầu Nhan Hồi được liệt vào hàng Thập nhị hiền triết trong Nho giáo, nhưng sau đặng xếp vào bậc Tứ Phối, kế Đức Khổng Tử và được tôn làm Phục Thánh.

          Đức Giáo Chủ nhắc tích Nhan Hồi là ý nói con người sanh thời ngươn Hạ hay bị chết lúc còn trẻ như Nhan Hồi vậy.

          BAN BỐ: (Xem CT câu 174, tập 1, Q.1).

          PHONG THẦN: Vua ban chức tước và cấp vàng bạc, đất vườn cho bầy tôi trung nghĩa có công. Phong Thần còn có nghĩa phong tặng chức phận cho các vị Thần Thánh.

          Trong truyện Phong Thần có kể rằng: Vào thời Mạt Thương, sắp chuyển sang nhà Châu, chư Tiên có hội nghị, lập bảng Phong Thần. Giao trọng trách cho Ngươn Thỉ Thiên Tôn, truyền lịnh cho học trò là Khương Thượng Tử Nha, xuống giúp nhà Châu, hưng binh phạt Trụ và dựng đài Phong Thần. Các trận chiến trong cuộc diệt Trụ hưng Châu, những người chưa đủ phước đức để chứng quả Phật Tiên hoặc sống hưởng cuộc thái bình, thì bị chết hồn bay vào đó. Chờ xong việc, Khương Thượng y theo danh sách đã lập sẵn, gọi từng tên các hồn ấy ra mà phong đặt địa vị. Kế đó Võ Vương ban thưởng chức vụ và cấp đất cho các quan viên tướng sĩ có công trận.

          Đức Giáo Chủ cho biết cuộc Phong Thần tại thế tới đây, tức là việc chọn lọc hiền còn dữ mất để lập lại cảnh đời Thượng ngươn an lạc:

                   “Như thuở xưa trời sắp cuộc Phong Thần,

        Diệt kẻ quấy lọc lừa dân lương thiện”.(Không buồn ngủ)

            TRUNG NGHĨA: Trung hiếu tiết nghĩa. Đức Thầy có câu:“Gương trung nghĩa Thánh Thần cảm động”.(Tặng Đoàn thanh niên ái quốc)

CHÁNH VĂN

837.- Ra Kệ này hai chữ bảo-an,
Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.
Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,
840.- Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
Thấy dân tình luống những ước-mong,
Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.
Ai có nói Ta là người quấy,
844.- Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.
Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
846.- Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.
                    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 837 đến câu 846, hết)

          -Sắp chấm dứt quyển “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Giáo Chủ bảo: Trong đây có đủ phương pháp giúp cho mọi người gìn giữ kiếp sống được an lành. Nhứt là về mặt tâm trí, nếu ai biết tu sửa đúng theo lời dạy của Ngài tức được bình tịnh sáng mầu. Ngài còn mách cho khách trần hiểu rõ, biết bao ngọc ngà châu báu còn ẩn dấu trong dãy Thất Sơn tại miền Nam đất Việt:

                    “Trên năm non rồng phụng tốt tươi,

                      Miền bảy núi mà sau báu quí”.(Kệ Dân, Q.2)

            Vậy ai muốn đặng thừa hưởng cảnh ấy, cần gắng công bền chí tu sửa thân tâm cho được trọn lành trọn sáng. Cũng như kẻ bòn vàng phải lặn xuống biển sâu, đãi từng rổ bùn, lượm từng mảnh vụn rồi đem nấu lọc mới thành khối vàng y, tốt đẹp:“Tu như lọc cát thành vàng, Việc đâu phải dễ chớ toan ngã lòng”.(Lời Vàng Trong Mộng của Thanh Sĩ) 

          - Mỗi khi nghe nhắc đến điều quí báu nói trên thì ai cũng mong ước đặng gặp, đó là tâm trạng chung của bá tánh. Song kẻ nào muốn được cái ân huệ tốt lành ấy, điều thực tế là ngay bây giờ ta hãy gieo trồng hạt giống Đạo mầu đi. Và trên con đường khai hóa nhân sanh, dù đời có lắm tiếng gièm pha chế nhạo, Đức Thầy cũng cam lòng!

          - Sau cùng là Ngài có lời cầu chúc cho khắp vạn dân sớm hồi tâm hướng thiện “Giải thoát mê ly”.

          Tóm lại, chủ đích của quyển “Giác Mê Tâm Kệ” là Đức Thầy dùng trí tuệ siêu mầu khai vạch một lối đi, và đưa nhiều phương tiện, để giúp hành giả tiến thẳng qua bờ giác với sức tự lực của chính mình (Thiền tông). Hay nói cách khác là “Trực nhận nhân tâm, Kiến tánh thành Phật”.

CHÚ THÍCH

          BẢO AN: Giữ gìn và đem lại sự yên lành tốt đẹp.

          THANH TỊNH: Cũng gọi là tịnh thanh hay thanh tĩnh. Có nghĩa: yên lặng trong sạch, không còn phiền não, vọng niệm, thô ác. Thanh tịnh cũng chỉ cho cõi vô vi Niết Bàn. Vậy tâm thanh tịnh là lòng bình lặng trong sáng. Trong A Hàm Kinh. Phật dạy rằng:“Thanh tịnh tâm thoát dâm, nộ, si, thành tựu ư tam minh”.(Người tu hành tâm được thanh tịnh, mới diệt được lòng dâm dục, sân hận, mê si; lại còn thành tựu ba điều thông suốt: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tân minh).

          Trong loạt bài “Những câu chú thường Niệm” Đức Thầy có dịch:

                    “Đắc được thân tâm thanh tịnh lạc,

                      Điều hòa chẳng nhiễm nghiệp mê linh”.

          Hoặc là:

                      “Trổi bước tìm cuộc vô sanh,

                Đến nơi sang suốt tịnh thanh Niết Bàn”.

          NAM ĐỈNH: Đỉnh núi ở miền Nam nước Việt Nam. Đây ý chỉ cho miền Thất sơn (Châu Đốc).

          MUỐN TÌM KIM ĐÁY BIỂN GẮNG CÔNG: Câu nầy có ý nói người muốn tìm vàng thì phải thì phải xuống đáy biển xúc từ rổ bùn lên mà đãi mới được, còn kẻ tu hành có dày công cực khổ mới mong thành Đạo giải thoát, kiến diện Phật tâm:“Trí hiền tâm đức chùi lau, Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng”.(Sám Giảng Q.3)

            Xưa, Đức Phật từng nói:“Hết ngày nầy sang qua ngày khác, hết giờ nọ sang giờ kia, anh thợ vàng phải tốn nhiều công phu mới lọc ra được vàng ròng, người tu muốn cho thân tâm mình trở nên trong sạch cũng phải cố gắng khó nhọc rèn luyện như thế”.(Pháp cú)

          TIẾNG LỜI: Lời ra tiếng vào. Ý nói chê bai gièm siểm đủ cách. Đây chỉ cho người đời, thường dùng lời tiếng thị phi chê cười ngạo nghễ kẻ tu hành. Đức Thầy hằng thốt:

                    “Thêm nhiều tiếng thấp cao nhẹ nặng,

                      Làm cho người tu tỉnh phải xót xa”.

                                                  (Trao lời cùng Ô.Táo)

          Nhưng đối với Ngài thì:

                    “Mặc tình tiếng nọ lời kia,

              Chẳng màng thế sự đặt bia nhiều lời”      

                                        (Viếng làng Phú An)

          GIẢI THOÁT: (Xem CT câu 117, T-3, Q.2 (?)) 

(Hết quyển Tư, xin xem tiếp quyển Năm)

 _____________________________________________

                                                                         CHÚ GIẢI QUYỂN NĂM
KHUYẾN THIỆN
 

XUẤT XỨ - VĂN THỂ

          Đây là quyển thứ Năm, trích trong phần nhứt “Sấm Giảng Giáo Lý” trong Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ. Đức Giáo Chủ PGHH sáng tác vào năm Tân Tỵ (1941), lúc Ngài còn bị người Pháp an trí tại nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn). (Đức Thầy vừa viết xong quyển Khuyến Thiện thì được trả tự do. Khi về tới bạc Liêu, Ngài mới cho tín đồ in ra nên có người chép là Ngài viết tại Bạc Liêu, chớ kỳ thật là Ngài viết tại nhà thương Chợ Quán. Vì ông Trần Văn Tâm, người cai quản nhà thương nầy còn giữ nguyên bản chánh và xác nhận là Đức Thầy viết lúc còn ở đây.)

            Ngài viết bằng vận văn lối biến thể, đoạn đầu và cuối thể Lục bát, nhưng đoạn giữa là Thất ngôn trường thiên và có xen vào một ít bài thi, thuộc loại khuyến tu và tự thuật, dài 776 câu. Khởi đầu bằng câu:

                    “Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,”

          Và chấm dứt bởi câu:

                    “Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên”.

TIÊU ĐỀ - DANH HIỆU

          Khuyến Thiện: Khuyến là khuyên lơn chỉ bảo. Ý dùng lời nói dung hòa êm dịu khuyên nhủ khiến cho mọi người nghe theo. Thiện là việc lành, việc phải và tốt đẹp, có ích lợi cho mọi người. Nghĩa chung là ý dùng lời pháp giáo khuyên nhắc mọi người trở lại con đường lành. Làm việc từ thiện, tránh xa những điều hung ác.

          Kinh Kim Cang, Phật dạy:“Tu cả thảy pháp lành thì chứng bực Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.(Tu nhứt thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

          Ngài Kim Sơn Phật hiện nay cũng nói:

                 “Rung chuông lành bằng muôn tiếng Kệ.

                   Gọi hồn người hành thiện truy Kinh”.

                                                  (Nang thơ Cẩm tú)

          VÔ DANH: Không có tên. Đây có ý dấu tên (ẩn danh). Đức Thầy đã nói:“Lánh thế chẳng bày danh Lão Sĩ”.(Cho Ô. Tham tá Ngà) Trong Trang Tử tiêu dao cũng có viết:“Bực chí nhân thì không vì mình, bực Thần nhân thì không kể công, còn bực Thánh nhân thì không cầu danh”.(Chí nhân vô kỷ, Thần nhân vô công, Thánh nhân vô danh).

          CƯ SĨ: Người tu tại gia. Huệ Viễn Duy Ma Kinh có câu:“Cư sĩ hữu nhị: Nhứt quản tích tư tài, cư tài chí sĩ, danh vi cư sĩ. Nhị tại gia tu Đạo, cư gia Đạo sĩ, danh vi cư sĩ”.(Cư sĩ có hai hạng: Một là người có chứa nhiều tiền của mà không trước nhiễm; hai là những người tại gia tu hành, hoặc xứng là bậc Đạo sĩ, nhưng không xuất gia). Như trường hợp Đức Phật Thầy Tây An và Đức Huỳnh Giáo Chủ, tuy các Ngài là Cư sĩ, nhưng đã viên thành Đạo quả “Cư gia Tịnh Độ tâm viên mãn”.

          Vậy bốn chữ  “Vô Danh Cư Sĩ” là người tu tại gia có ý ẩn danh.

          Sở dĩ Đức Thầy đề bút hiệu cho quyển Khuyến Thiện như vậy là có 3 dụng ý:

          1- Chính Ngài và hầu hết tín đồ hành Đạo và truyền Đạo đều mang hình thức Cư sĩ, nhưng chủ trương thực thi Bồ tát hạnh (Bố thí vị tha).

          2- Từ 18/5 năm Kỷ Mão (1939) đến tháng Tư năm Canh Thìn (1940) Ngài còn được tự do sáng tác và in ấn Sấm Giảng, nhưng hiện tình 1941 Ngài đang bị người Pháp quản thúc tại nhà thương Chợ Quán, sự sáng tác và in ấn không còn được tự do như trước, nên Ngài phương tiện huyền biến thay tên bút hiệu để dễ bề in ấn và truyền bá.

          3- Bởi giữa thời mạt pháp có nhiều tà Đạo ra đời, họ xưng hô toàn là Phật Thánh, gạt người lạc vào tà kiến dị đoan. Thêm có lắm phần tử cũng trong phạm vi Phật Giáo, song là kẻ giả tu, hành động sai chơn lý. Chỉ khoát bên ngoài cái vỏ đạo mạo, lợi dụng lòng tín ngưỡng của bá tánh.

          Tóm lại bởi các lý do kể trên, nên Đức Giáo Chủ đề tên tác giả cho quyển Khuyến Thiện“Vô Danh Cư Sĩ”.

 

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

          (Xem Lược sử Đức Huỳnh Giáo Chủ trang 7, Tập 1, quyển Thượng, cũng trong bộ Chú giải nầy).

         

NỘI DUNG

          Trước hết Đức Thầy xác định hạnh tu của Ngài và cả môn đồ. Đồng thời sơ lược lịch sử của Đức Phật Thích Ca; rồi phân tách tám nỗi khổ và năm điều uế trược của mỗi chúng sanh trong cõi Ta Bà với tám điều vui cùng mọi sự thanh khiết ở cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Để rồi Ngài khuyến khích mọi người nên trì hành môn Tịnh Độ, hầu được vãng sanh về đó. Tiếp theo là Ngài dạy hành giả chừa mười điều ác và tu mười điều lành. Sau rốt là một bài Kệ Giảng tổng quát về sự tu đứng theo tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” của Ngài đã đề vạch.

 

BỐ CỤC

          Toàn quyển Khuyến Thiện gồm có 3 phần chánh và nhiều tiểu đoạn:

          I- Phần nhứt, cũng là phần khai đề: Đức Thầy cho biết về hình thức hành Đạo của Ngài và hầu hết môn đồ rất bình thường giản dị; không xuất gia bằng hình tướng mà chỉ chú trọng về nội tâm. Tuy vừa làm ăn vừa tu, nhưng không nghiêng nặng về vật chất phù hoa, lúc nào cũng giữ lòng thanh tịnh sống theo chánh nghiệp: “Cư trần bất nhiễm, Lẫn tục đừng mê”, từ câu 1: “Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,” tới câu 8: “Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê”.

          II- Phần hai, cũng là phần chánh đề: Ngài nói lên chí nguyện cao cả là đem lòng Từ bi Giác ngộ ban rải khắp nơi khuyến hóa chúng sanh sớm thoát ly cảnh tục. Kế tiếp, Ngài lược kể lịch sử Đức Phật Tổ và khai triển pháp tu Tịnh Độ (niệm Phật làm lành). Mỗi hành giả phải có đủ “Tín, Nguyện, Hành” và nhận rõ Tám điều khổ ở cõi Ta Bà và Tám điều vui ở cõi Cực Lạc, để vừa lo niệm Phật, vừa xa tránh mười điều ác và tu mười điều lành, để được trọn lành trọn sáng, vãng sanh Cực Lạc. Từ câu 9:“Chí toan gieo giống Bồ Đề,” tới câu 768:“Rán trau đức hạnh ngày sau sẽ tường”.

          III- Phần ba, cũng là phần kết: Đức Thầy khuyến khích tín đồ đã qui Phật tu hành tất phải trau giồi hạnh đức cho tinh minh. Khi kết quả chẳng những cứu mình còn độ được Cửu Huyền Thất Tổ thoát nẻo luân hồi. Cuối cùng là một bài thi khoán thủ đề danh cho bút hiệu và thố lộ sự chứng đạt tâm ấn với pháp môn Thiền Tịnh song tu của Ngài. Từ câu 679: “Ngôn từ Đạo hạnh ý Thầy khuyên,” tới câu: “Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên”.

 

CHỦ ĐÍCH

          Chủ yếu của quyển Năm (Khuyến Thiện) Đức Giáo Chủ giải rõ nguyên nhân phát xuất Đạo Phật và khai triển Pháp môn Tịnh Độ (tha lực cứu cánh). Một pháp tu rất thích hợp với mọi tầng lớp chúng sanh, dễ hành và dễ chứng đắc.

CHÁNH VĂN

          1.- Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,
     Theo đòi nghiên-bút luận bàn Tục, Tiên.
          Ta là cư-sĩ canh điền,
     4.- Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.
          Xa nơi tranh-đấu lợi-danh,
     Giữ lòng thanh-tịnh tánh lành trau-tria.
          Gắng công trì niệm sớm khuya, 
     8.- Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 1 đến câu 8)

          - Thời gian Đức Giáo Chủ còn ở Nhà thương Chợ Quán, nhân lúc rảnh rang, tâm thần quang tịnh, bỗng nhiên Ngài cảm kích đến chúng sanh đang lăn lộn trong bể trần thống khổ. Động mối từ tâm nên Ngài mượn bút mực viết ra quyển Giảng nầy. Trong đây Ngài phân tách rõ hai đường Tiên, tục và luận giảng các phương pháp tu hành hầu giác tỉnh chúng sanh sớm hồi tâm hướng thiện.

          - Ngài cho biết, là người tu hạnh tại gia vừa sanh sống với nghề ruộng rẫy và vừa lo trau giồi đạo hạnh, giải thoát thân tâm. Cho nên lòng Ngài lúc nào cũng thanh tịnh, thản nhiên trước mọi cảnh vật tài sắc vị danh. Tuy còn phải mang thân phàm tục như bao nhiêu người khác, song đã dày công tu niệm từ lâu, nên nay lòng Ngài đã giác ngộ, dứt hết mê lầm. Đây là Ngài nêu gương hạnh cho tín đồ noi theo.

 

CHÚ THÍCH

          BĂNG TÂM: Băng là giá; tâm là lòng. Nghĩa chung là lòng trong như giá tuyết, không còn chút bợn nhơ trần cấu…Cổ thi, Vương Linh Xương có câu:“Lương dương thân hữu như tương vấn, Nhứt phiến băng tâm tại tại ngọc hồ”.(Lạc dương bạn hữu như cùng hỏi, Một tấm lòng băng tợ ngọc hồ). Đây là chỉ cho cái tâm của bậc đã rời rứt lợi danh, chẳng còn nhiễm ô thế tục.

          NGẪU HỨNG: Thình lình mà cảm kích, bỗng nhiên khởi mối hoài cảm giác tỉnh nhân sanh.

          THỪA NHÀN: Nhân lúc rảnh rang. Giảng xưa Đức Phật Thầy Tây An có câu:

                    “Thừa nhàn gẫm sự giác mê,

             Phàm trần thoát khỏi mọi bề mới ngoan”

          THEO ĐÒI: Học theo, tập tành theo hoặc cùng làm theo như mọi người:“Theo đòi cùng thể bút nghiên, Thua em, kém chị cũng nên hổ mình”.(Ca dao) nhưng chữ học đòi ở đây là tiếng khiêm cung của Đức Thầy.

          NGHIÊN BÚT: (Xem CT câu 25, T-2, Q.3).

          LUẬN BÀN TỤC TIÊN: Ý nói luận giảng việc đời của người thế tục và việc Đạo đức của bực siêu thoát, để chỉ rõ đâu là cao khiết chánh chơn và đâu là thấp hèn tội khổ. Đức Thầy từng nói (trong “Viếng làng Phú An”):

                    “Quyết lòng tầm kiếm cõi thanh,

               Lánh nơi trần tục học hành đường Tiên”.

          CANH ĐIỀN: Người cày ruộng. Nghĩa rộng là người chuyên gieo trồng ruộng phước (canh tác phước điền).

          CHUYÊN: Chú ý, chăm chỉ, để hết ý tứ và ngày giờ vào một việc gì. Ví dụ: chuyên cần hay chuyên chú. Ngài Mạnh Tử có nói: Phàm khi làm việc gì mà chẳng chuyên tâm gắng chí thì không thể đắc thành được (Bất chuyên tâm trì chí, tất bất đắc dã). Cho nên Đức Thầy thường dặn dò, trong “Dặn dò Bổn đạo”:

                    “Sớm khuya bá tánh cần chuyên,

                   Nghe lời dạy bảo cảnh Tiên dựa kề”.

          TU HÀNH: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng).

          LỢI DANH: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng).

          TRAU TRIA: (Xem CT câu 253, T-2, Q.2).

          TRÌ NIỆM: Gìn giữ và nhớ tưởng mãi, không quên lãng, chẳng lúc nào dừng nghỉ. Ví dụ: Trì niệm chánh pháp hoặc trì niệm Lục tự Di Đà.

CHÁNH VĂN

          9.- Chí toan gieo giống Bồ-Đề,
     Kiếm người lương thiện dắt về Tây-Phang.
          Dạy khuyên những kẻ ngỗ-ngang,
     12.- Biết câu Lục-tự gìn đàng Tứ-ân.
          Ở trần xử trọn nghĩa-nhân, 
      Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên-Đài.
          Cầu cho mối Đạo hoằng-khai, 
      16.- Cầu cho trăm họ Bồng-Lai được gần.
          Sớm về cõi Phật an-thân,
      Kẻo kiếp phong-trần dày gió dạn sương. 
          Phật-đài phưởng-phất mùi hương, 
      Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.
          Từ-bi oai-lực nhiệm sâu, 
      22.- Độ con thoát chốn ưu-sầu trần-ai. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 9 đến câu 22)

          - Vốn sẵn lòng từ bi, bác ái, nên Đức Giáo Chủ quyết đem Chánh pháp vô vi ban rải khắp nơi, khiến cho những hạt giống giác ngộ có cơ nảy nở. Các người ấy tự sớm quay về nẻo Đạo để kiến diện Phật tâm hoặc được Ngài đưa về Tây Phương Cực Lạc. Còn hạng người ngang tàng ngỗ nghịch, Ngài cũng phương tiện khuyên dạy, để họ biết lo làm lành niệm Phật và đền đáp Tứ đại Trọng ân, rồi cũng lần tiến lên đường giải thoát như nhau.

          - Với Tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” mà Ngài đã vạch rõ để mọi tín đồ cùng nương theo. Nghĩa là khi ta phát nguyện qui y và thệ quyết làm tôi con chư Phật cần phải nhắm hướng liên đài Phật Quốc mà thẳng tiến, vì đó là mục đích của người :“Học Phật và tu Phật”. Song con đường đi đến đó, trước nhất là phải “Tu Nhân”, tức là thi thiết điều nhân nghĩa:“Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân, Muốn về cõi Phật lập thân cõi trần”.(Thu đã cuối) Bởi có lập thân cõi trần, có thiệt thi điều nhân nghĩa, mới vẹn tròn nhân đạo và trả xong nợ thế; tất nhiên đài sen báu sẽ chực đón chúng ta:“Tu đền nợ thế cho rồi, Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen”.(Sám Giảng, Q.3)

          -Đồng thời với giáo điều căn bản nói trên, nhà tu còn phải thương xót đến bá tánh, nên hằng cầu nguyện cho họ được về Tiên cảnh, để cùng chung hưởng sự an nhàn, hoặc được vãng sanh về Phật Quốc, chẳng còn luân chuyển trong kiếp sống trần gian đầy gió bụi.

          -Đức Thầy còn căn dặn toàn thể tín đồ khi đến trước ngôi Tam Bảo, mỗi người cần phải “Tỉnh tâm đốt nén tâm hương”(Phụ nữ Ca Diêu) mà lễ bái vọng cầu, để nhờ oai đức từ bi mầu nhiệm của mười phương chư Phật, cứu độ cả chúng sanh sớm thoát khỏi cảnh trần ai sầu khổ.

CHÚ THÍCH

          BỒ ĐỀ: (Xem CT câu 304, T-3, Q.4).

          TÂY PHƯƠNG: (Xem CT chữ Cực lạc câu 28, T-2, Q.2)

          NGỖ NGANG: Ngang trái, ngạo ngược. Cũng có nghĩa là ngỗ nghịch.

          LỤC TỰ: (Xem CT sáu chữ Di Đà, câu 241, T-2, Q.3).

          LIÊN ĐÀI: Đài sen, chỗ chư Phật và các Bồ Tát phu tọa (ngự). Người trì hành pháp môn Niệm Phật, khi vãng sanh về cõi Cực lạc cũng đồng ngự trên đó. Ngài Huệ Lựu đã bảo:“Ai mà gắng chí trau giồi, Chí công tu niệm đặng ngồi tòa sen”.Đức Thầy nay cũng có câu:

                    “Cầu cho già trẻ gái trai,

                Rủ nhau niệm Phật liên đài ắt lên”.

                               (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          HOẰNG KHAI: Mở mang cho được rộng ra. Ví dụ: Hoằng khai Đạo pháp.

          BỒNG LAI: (Xem CT câu 192, T-1, Q.1).

          PHONG TRẦN: (Xem CT câu 17, T-2, Q.3).

          DÀY GIÓ DẠN SƯƠNG: Dài là nhiều, lâu. Dạn là quen chịu. Gió sương là lạnh lẽo vất vả. Nghĩa chung là từng chịu đựng nhiều nỗi gian truân thống khổ mà chẳng ngán ngao, e ngại. Ý nói kiếp sống con người phải trải qua nhiều nỗi gian nan vất vả:“Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”.(Tr. Kiều) Đức Thầy hằng nói, trong “Để chơn đất Bắc”:

                    “Phong trần dày dạn gió sương,

              Chư bang tham báu hùng cường đua tranh”.

          PHẬT ĐÀI: Đài Phật ngự hoặc chỗ thờ kính chư Phật. Đây chỉ ngôi Tam Bảo, Đức Giáo Chủ khuyên:

                    “Trót đã qui y giữa Phật đài,

                      Nguyện rằng đệ tử rứt trần ai”.

                               (Thức tỉnh một nữ Tín đồ)

          MÙI HƯƠNG: Mùi thơm của nhang, gồm có ba thứ:

          a)- Mộc hương: Do các loại cây có chất thơm, như: Trầm hương, Giáng hương.v.v…Người ta dùng mạt của nó làm thành nhang mà đốt trên các bàn thờ, hoặc chẻ nhỏ đem đốt xông dưới Phật đài, để bán mùi uế trược.

          b)- Hoa hương: Do những loại hoa hoặc dầu mỡ (nước hoa) có mùi thơm, dùng để chưng dọn trong các nghi lễ hoặc trang sức.

          c)- Tâm hương: Phần tinh thần trong tâm trí của người tu: “Tỉnh tâm đốt nén tâm hương, Nguyện rằng đệ tử một đường lo tu”. Kinh Pháp Bửu Đàn gọi là Ngũ hương, đại lược như sau:

          1- Giới Hương: là giữ trong tâm mình chẳng còn tham, sân, si; không lòng tà quấy, sát hại trộm cướp.v.v…

          2- Định Hương: Đối với các trần cảnh (lục trần) hoặc các hiện tượng lành, dữ, tâm mình vẫn an nhiên không loạn động.

           4-Giải thoát Hương: là tự tâm mình không chỗ vịn níu, chẳng chấp lành, chẳng nghĩ dữ, tự tại không ngăn ngại.

          5-Giải thoát tri kiến Hương: Tự tâm mình đã không chỗ vịn níu theo đường thiện, đường ác mà cũng chẳng đắm theo cái không, và chấp giữ cái yên lặng. Cần phải học rộng nghe nhiều, biết bổn tâm mình, suốt cả lý Phật, hòa sáng tiếp người, không tướng nhơn ngã, tâm không dời đổi, vẫn tiến thẳng đến quả vị Chánh đẳng Chánh giác.

          Ở đây, Đức Thầy dạy mỗi khi lễ bái vọng cầu, ngoài nghi thức nhang đèn, còn cần có tâm hương, tức là phải có tâm thành và chánh niệm mới kết quả: "Thứ bảy chánh niệm vậy thì, Khi cầu khi nguyện chuyện gì thành tâm”.(Sám Giảng, Q.3)

          ĐẢNH LỄ: Cũng đọc đỉnh lễ. Có nghĩa cúi đầu sát đất để làm lễ. Kinh Viên Giác có dạy:“Dĩ kỷ tối thắng chi đảnh, lễ Phật tối ti chi túc, Kính chi chí giả”.(Dùng cái đầu là chỗ rất cao của mình mà lễ đến chơn là chỗ rất thấp của Phật. Đó là lòng tôn kính tột bực vậy).

          ĐỨC MẦU: Do chữ “Diệu Đức”. Có nghĩa công đức mầu diệu cao thắng hơn hết, khó nghĩ lường được, chỉ cho bậc Bồ Tát và Như Lai. Kinh Tư Ích có giải: Tuy nói các pháp mà chẳng chấp vào pháp tướng, cũng chẳng chấp phi pháp tướng, nên gọi là diệu đức.(Tuy thuyết chư pháp nhi bất khởi pháp tướng, bất khởi phi pháp tướng cố danh diệu đức). Kinh Niết Bàn cũng nói: Phật có ba đức:

          1- Pháp thân đức: Pháp thân của Phật là pháp tánh thường trụ bất diệt.

          2- nhã đức: Biết rõ chơn như thật tướng của các pháp.

          3- Giải thoát đức: Dứt sạch các sự trói buộc, chứng đặng tự tại.

          Chữ Đức mầu ở đây chỉ cho oai đức của Đức Thích Ca Như Lai “Công đức Phật từ bi vô lượng”.

          OAI LỰC: Oai thần và nghị lực rất linh diệu, mạnh mẽ, do sức thần thông huyền diệu của Phật. Đức Thầy có câu:“Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi”.(Sám Giảng Q.3)

          ƯU SẦU: Buồn rầu lo lắng, một trong 8 điều khổ ở cõi Ta bà (Ưu sầu lo ngại).

          TRẦN AI: Bụi bặm. Ý chỉ cõi đời đầy sự khổ sở vất vả. Đức Thầy từng kêu gọi trong “Tỉnh bạn Trần gian”:

                        “Tiếng gọi hồn mê hồn được giác,

                        Phải toan sắm sửa rứt trần ai”.

CHÁNH VĂN

          23.- Nam-mô Thích-Ca Như-Lai, 
      Ta-Bà Giáo-Chủ xin Ngài chứng-minh.
          Dưới đây lược tả sách kinh,
      Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
          Lời lành của Phật truyền roi,
     28.- Đọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 23 đến câu 28)

          - Viết đến đây, Đức Thầy cầu nguyện với Đức Thích Ca Như Lai, tức là vị Giáo Chủ Phật Giáo trong cõi Ta Bà, xin Phật chứng minh cho công cuộc biên Kinh giác chúng của Ngài. Vậy những thiện nam tín nữ nào, sẵn có hột giống Phật và hữu duyên cùng Đạo pháp, hãy xem quyển Khuyến Thiện và tu hành theo, ắt sẽ chứng thành Đạo quả.

          - Ngài còn cho biết những pháp mầu lý diệu trong đây, là do Đức Phật khi xưa lưu truyền lại, nay Ngài có bổn phận rút tỉa những điểm quan yếu lược giảng ra. Vậy mỗi ai khi đọc đến cần bình tâm nghiệm xét cho chính chắn, để được thấu hiểu những điều tà mê tội ác mà diệt trừ và thực hành theo điều chơn chánh hiền lương.

 

CHÚ THÍCH

          NAM MÔ: (Xem CT câu 29, T-1, Q.1).

          THÍCH CA: (Xem CT câu 390, T-1, Q.1).

          NHƯ LAI: (Xem CT câu 135, T-2, Q.3).

          TA BÀ GIÁO CHỦ: Ta Bà tức thế giới Ta bà (Xem CT câu 183, T-2, Q.2). Giáo chủ là vị sáng lập một nền Đạo hay một Tôn Giáo. Đây chỉ cho Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, bởi Ngài là Giáo chủ Đạo Phật (Phật Giáo) trong cõi Ta bà (Xem phần Lược sử Đức Thích Ca, sẽ giải tới cũng trong Quyển nầy).

          CHỨNG MINH: Chứng là soi xét, nhận thật; Minh là sáng suốt. Chứng minh là soi xét đến việc gì một cách rất rõ ràng và nhận chứng cho. Đây là Đức Phật chứng minh cho việc cầu nguyện và sáng tác Sấm Kinh của Đức Thầy.

          LƯỢC TẢ: Viết ra hoặc bày tỏ một cách sơ lược. Đây có ý nói những cương yếu cần thiết chớ không diễn tả chi tiết dài dòng. Lược tả còn dùng để nói lời khiêm nhường.

          SÁCH KINH: Sách là xấp giấy có in chữ và đóng lại thành tập. Đây là quyển sách đã ghi chép những gương hạnh hoặc lời lẽ của các bậc Hiền nhân Thánh triết, hoặc luận giải những lời hay ý phải để dạy đời, nên gọi chung là Kinh sách hay sách sử. Kinh là Kinh điển hay Kinh Kệ. (Xem CT chữ Kinh Kệ câu 259, T-2, Q.1).

          HỮU TÌNH: Do Phạn ngữ Satra, phiên âm là Tát đỏa, dịch là Chúng sanh hay Hữu tình, tức các loài có tri giác, có tình thức và mạng sống. Nhưng chữ Hữu tình ở đây là chỉ cho những người có duyên lành với Phật pháp. Ý nói tâm của mỗi chúng sanh đều có hột giống Phật (giác ngộ), nay lại hữu duyên gặp được lời giáo pháp của Đức Thầy, nếu ai xem theo đây mà tu hành, ắt sẽ đắc Đạo.

          Khi xưa, lúc Tổ Già Da Đa Xá truyền phó Chánh pháp cho Ngài Cưu Ma La Đa, Tổ có Kệ rằng:

                    “Hữu chủng hữu tâm địa,

                      Nhân duyên đương phát manh.

                      Ư duyên bất tương ngại,

                      Đương sinh, sinh bất sinh”.

          Có nghĩa: đã có hột giống, có đất đai (tâm địa), nhưng phải nhờ gặp mọi duyên lành đầy đủ thì hột giống kia mới phát sinh nảy nở được. Đối với mọi duyên đã không bị ngăn ngại thì quyết định sẽ phát sanh quả vô sanh. Ý nói người tu hành khi được đầy đủ mọi duyên và không bị cái gì làm chướng ngại thì quyết định đời đời chứng quả vô sanh. Đức Thầy hiện nay cũng bảo:“Duyên trước ngày nay mới có phần”.(Cho Ô. Hương bộ Thạnh)

          TRUYỀN ROI: Cũng đọc là roi truyền. Có nghĩa trao dạy lại. Chỉ cho việc gì có hệ thống từ trước roi truyền lại và cứ tiếp tục mãi mãi. Như Đức Phật khi xưa truyền tâm ấn và y bát cho Tổ Ca Diếp, rồi Tổ Tổ roi truyền mãi đến đời sau.

CHÁNH VĂN

THI

29.- Tiếng kệ từ-bi quá diệu-trầm, 
Diệt lòng tham vọng diệt thinh-âm. 
Trần-gian say-đắm theo màu-sắc, 
32.- Tịnh-độ giác-thuyền trị dục-tâm.
Phải rõ nghiệp-duyên trần cấu tạo, 
Nghe rành chánh-pháp thoát tà-dâm. 
Phù-sanh nhược mộng đời lao khổ,
36.- Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 29 đến câu 36)

          - Bài thi Bát cú nói trên, qua cặp đề (1 và 2) Đức Thầy cho biết lời Kệ của Phật truyền dạy mà Ngài khai hóa nhân sanh ở đây, nó rất cao sâu mầu nhiệm. Có đủ diệu năng giúp cho hành giả diệt sạch tâm tham lam vọng chấp và lìa bỏ sắc tướng thinh âm để trở về với Chánh Đạo vô vi.

          - Đến cặp trạng (3 và 4) là nhận thấy con người sanh ra cõi trần, thường bị đắm đuối theo cảnh màu sắc mà phải chuốc lấy sự đau buồn cay đắng. Vậy chúng sanh nào muốn thoát khỏi thì phải hướng về: “Cõi Tịnh độ lắm điều thanh nhã”.(Tỉnh bạn Trần gian) và trì hành Pháp môn Niệm Phật. Chỉ có sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, nếu ai quyết tâm trì niệm tất trừ đặng gốc khổ (dục vọng). Cũng như người cỡi được con thuyền vừa to lớn, vừa vững chắc, vượt khỏi sông mê bể khổ: “Cứu khổ Nam mô vô lượng phước, Diệt nàn tu rị hữu thiên Kinh”.(Tỉnh bạn Trần gian)   

          - Phần cặp luận (5 và 6) Ngài dạy người tu phải xét rõ nguyên nhân cấu tạo của hột giống sanh tử, từ đâu phát khởi và những gì trợ duyên cho nó để dẫn đến kết quả sầu khổ đau thương. Song muốn thấu đạt lý ấy, hành giả phải học rành chánh pháp, chính nhờ đó giúp ta phá được vô minh, khai thông trí tuệ, bấy giờ ta mới hiểu tận nguồn gốc của sanh tử là lòng ái dục. Như Đức Phật đã nói :“Hải trung sanh tử dâm dục đệ nhứt”, đoạn rồi ta dùng gươm trí tuệ cắt đứt nó, ấy là giải thoát:“Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp, Phật tiền hữu nhựt vĩnh an nhiên”.(Hiếu nghĩa vi tiên)

          Qua hai câu kết (7 và 8), thấy rằng muốn trợ duyên việc tiêu diệt mầm mống sanh tử, nhà tu cần quán xét kiếp sống của con người, như chiêm bao bóng bọt, dễ rả, dễ tan. Dù ta có gây tạo ruộng vườn nhà cửa, vợ đẹp con đông hay mọi cuộc vinh sang phú quí, một khi tử thần gõ cửa, thì:“Nhắm mắt cũng nắm hai tay”.(Khuyến Thiện, Q.5) Nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã diễn tả cái nhân sinh quan đó:

                    “Ôi! Nhân sinh là thế,

                      Như bóng đèn, như mây nổi,

                      Như gió thổi, như chiêm bao,

                      Ba mươi năm  hưởng thụ biết chừng nào?

                      Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín”.

          Thế mà con người mãi say mê đắm đuối, phí biết bao tâm cơ trí lực đua đòi theo vật chất phù hoa rồi chuốc lấy vô vàn hận khổ:

          “Gẫm cuộc đời chẳng qua tuồng mộng ảo,

         Cuộc truy hoan thường giết khách tài hoa”.(Cảm tác)         

          Khi ta nhận thức được cuộc đời là ảo ảnh, hãy sớm lo bề tu thân sửa tánh để khỏi bị lầm lạc mãi trong vòng chuyển luân sanh tử:

                    “Dương gian mau tỉnh trong tràng mộng,

                      Tầm kiếm nơi nào Đạo siêu cao”.

                                        (Hai mươi Chín tháng Chạp)

 

CHÚ THÍCH

          KỆ: (Xem CT câu 259, T-1, Q.1).

          DIỆU TRẦM: Diệu là mầu nhiệm, do Phạn ngữ Manjia, phiên âm là mạn nhũ, dịch là diệu. Trầm cũng viết là thẩm (thâm), có nghĩa sâu kín. Diệu trầm là tiếng để ca ngợi lời Kinh pháp rất cao sâu mầu nhiệm. Trong Pháp Hoa Huyền nghĩa có câu:“Diệu giả bao mỹ bất khả tư nghị khi pháp dã”.(Diệu ấy là khen các pháp rất hay, tốt không thể nghĩ lường được). Pháp Hoa Du Lý cũng nói: Chữ Diệu gọi là thật cao sâu mầu nhiệm (Diệu thi tinh vi thậm viễn xưng).

          Đức Thầy nay cũng bảo:

                    “Xả thân tầm Đạo vô vi,

              Nhiệm mầu thâm diệu nan tri Lão bày”.

                                        (Cho Ô. Tham tá Ngà)

          THAM VỌNG: Nghĩ tưởng và ham muốn việc xấu xa tà khúc.

          THINH ÂM: Những thứ tiếng có năng lực làm kích cảm và ru nhiễm lòng người. Có hai thứ thinh âm:

          1- Cảnh trực thinh âm: là các thứ tiếng thuộc về vô tình, như: nước chảy, gió mưa, sấm sét…

          2- Khuất khúc thinh âm: là các thứ tiếng thuộc về hữu tình, như: Ca hát, đờn sáo (âm nhạc) hoặc tiếng người và các cầm thú…

          Nhưng chữ “DIỆT THINH ÂM” ở đây có ý khuyên người tu nên lìa cả âm thinh sắc tướng để trở về với vô vi thật tướng. Như Kinh Kim Cang Đức Phật từng nói:“Nhược dĩ sắc kiến ngã, Di âm thinh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”.(Nếu lấy màu sắc mà thấy ta, lấy tiếng tăm mà tìm ra; thật là người hành tà đạo, chẳng khi nào thấy được Phật - Như Lai).

          Đức Thầy nay cũng hằng khuyên:

                    “Nền Đạo đức sắc thinh chớ mến,

                      Có thuyền từ đưa đến non Tiên”.

                                        (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          MÀU SẮC: Hình tượng bên ngoài của vạn vật. Kể cả sắc: xanh, đỏ, trắng, vàng…và sắc đẹp của người hoặc sắc tướng (hình thức).

          TỊNH ĐỘ: Cũng gọi là Tịnh Thổ, là cõi đất thanh tịnh an nhiên, không hề có ngũ trược, bát khổ; đối với cõi uế độ Ta Bà của chúng sanh đang ở. Tịnh độ còn là một Pháp tu, dạy người chuyên tâm niệm Phật, làm lành để nhờ tha lực của Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực Lạc (Tịnh độ).

          Tịnh Độ có bốn cõi, tùy theo công năng tu tập của mỗi người mà chứng đắc:

          1/- Phàm Thánh đồng cư Tịnh Độ: Cõi Tịnh Độ nầy chúng sanh do tu tịnh hạnh (niệm Phật làm lành) mà cảm chứng đặng. Nhờ thế, được đồng cư cùng Tam Thừa Thánh Hiền, tức là cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà.

          2/- Phương tiện hữu dư Tịnh Độ: Cõi nầy do bực Nhị thừa, tuy tu đã dứt được kiến hoặc, tư hoặc ra khỏi tam giới, nhưng còn lại hai phần: vô minh hoặc và trần sa hoặc chưa trừ hết, nên gọi là “hữu dư”. Do đó, chưa được hoàn thành cứu cánh.

          3/- Thật báo trang nghiêm Tịnh Độ: Cõi nầy do hành giả tu bậc Đại Thừa, đã tích lũy công đức phước báo nhiều đời mà chứng đắc trí vô lậu và có vô lượng tướng hảo, trang nghiêm chơn thật. Đây là cõi Tam Hiền Bồ Tát.

          4/- Pháp tánh Tịnh Độ: Cũng gọi là “Thường Tịch Quang Tịnh Độ”. Cõi nầy chỉ an trụ nơi Pháp Thân Phật (bản lai Thanh Tịnh), nên không có hình sắc. Do bậc tu hành đã giải thoát rốt ráo, cũng gọi là đắc “Viên Giác Tánh” hay “Chơn không diệu hữu”. Gồm đủ các đức: Chơn thường (không sanh diệt) Chơn tịnh (sạch hết vọng nhiễm, phiền não) và Chơn Bát Nhã (trí quang minh chiếu khắp mười phương).

          Trong Kinh Duy Ma có nói:“Dục tắc Tịnh độ, đương tịnh kỳ tâm, tùy kỳ tâm tịnh, tức quốc độ tịnh”.(Muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm mình thanh tịnh, hễ tâm được thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh).

          - Vậy chữ Tịnh độ ở đây, vừa chỉ cho cõi Tịnh độ vì đối với hai chữ trần gian của câu thi trên; vừa chỉ cho Pháp môn niệm Phật. Đức Thầy từng cho biết:“Cư gia Tịnh độ tâm viên mãn”.(Khuyến thiện, Q.5)

          GIÁC THUYỀN: Cũng gọi là Thuyền Gác. Giác là chánh Đạo hay chánh pháp, cũng đồng nghĩa với trí huệ. Thuyền là chiếc ghe để chuyên chở mọi vật, do chữ “Diệu Pháp Thuyền”. Ý nói người nương theo Chánh pháp của Đạo mà tu hành, chẳng còn nhiễm ô, vướng mắc việc thế tục, tức được tự tại giải thoát, ví như người cỡi thuyền vượt khỏi sông mê sang bờ giác.

          - Đức Thầy đã từng “Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng”.(Khuyến Thiện Q.5) Và Ngài hằng khuyên tín đồ:

          “Phật Đạo trau giồi tâm tánh lại,

       Giác thuyền chuyên chở lúc can qua”.(Ai người Tri kỷ)

            DỤC TÂM: Lòng ham muốn việc trần tục, vật chất: danh, lợi, tình.v.v…

          NGHIỆP DUYÊN: Nghiệp là hột giống, là hành động tạo tác đầu tiên. Duyên là các trợ duyên giúp cho hột giống hay việc làm ấy mau kết quả. Nói chung là “Nhân duyên hạnh nghiệp”. Hễ nghiệp duyên chơn chánh thiện lương thì kết quả tốt lành, cao khiết, bằng nghiệp duyên xấu ác, nhơ đục thì sau sẽ kết quả tối tăm hung dữ:“Sư rằng: song chẳng hề chi, Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều”.(Tr. Kiều)

            TRẦN CẤU TẠO: Trần cấu là bụi bặm nhơ nhớp, tức là các dục vọng, tà kiến, phiền não làm cho tâm trí mờ ám quay cuồng; Tạo là làm ra. Cho nên, hễ người tu khi dứt sạch duyên trần cấu đừng tạo ra nữa, tức là trừ xong mọi kiến hoặc, tư hoặc (thấy lầm, nghĩ lầm) mà chứng được thanh tịnh Niết Bàn. Như hoa sen tuy gần bùn mà chẳng ô nhiễm vì bùn. Đức Thầy từng khuyên:“Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không”.(Giác Mê Tâm Kệ)

          CHÁNH PHÁP: Đạo pháp chơn chánh, lý nghĩa không sai chạy. Đây chỉ cho lời giáo pháp của Đạo Phật, do diệu dụng của Pháp tánh Phật thuyết ra.

          Kinh Cu Xá Luận có nói:“Năng trì tự tánh, vị nhứt thiết pháp các thủ tự tánh, như sắc đẳng tánh thường bất kiến cải”.(Giữ được pháp tánh của mình thì cả thảy pháp đều ở trong tự tánh, cũng như tánh của các sắc thường không thay đổi).

          Đức Thầy nay cũng khuyên:“Sớm, tối, đi, nằm, y chánh Pháp, Thầy nguyền dắt đến cảnh Long Hoa”.(Cho Ô. Hạnh)

          TÀ DÂM: Một trong 10 điều ác, cũng là một trong năm giới cấm. Có nghĩa thông dâm với vợ con, hoặc chồng của người khác. Người đam mê sắc dục quá độ cũng gọi là tà dâm. Còn có nghĩa rộng là cái gì cong vạy, quái kỳ là ; cái gì không chánh đáng là dâm. Trong “Luật Sa Di” có lời kệ:

          “Dâm vi bất tịnh hạnh, - Mê hoặc thất chánh Đạo.

     Hình tiêu hồn phách Kinh, -Thương mạng nhi tảo yểu.

            Thọ tội ngoan si hoang, - Tử phục đoa ác đạo.

            Ngô dung úy thị cố, - Khí gia nhạo sơn tẩu”.

          (Dâm là hạnh bất tịnh, Mê lầm mất Đạo chánh.

           Hình gầy hồn phách sợ, Giảm thọ và chết non.

           Mắc tội ngu, dại, ngốc, Chết đọa trong đường ác.

           Ta vì sợ, quá sợ, bỏ nhà thích núi non).

          Do đó, Đức Thầy khuyên môn đồ phải giải thoát tà dâm ái dục:

                    “Nghe chuông linh sớm dứt bể ái hà,

                    Kẻo vật dục cuốn lôi vào bể khổ”.(Cảm tác)

          PHÙ SINH: Kiếp sống nổi trong chốc lát, như chòm mây, bọt nước, mới nổi kế tan. Cổ nhân từng bảo :“Ký sinh phù nhược hề, tử nhược hưu”.(Kiếp sống đã chịu lắm cảnh trôi nổi, dù có tranh danh đoạt lợi, khi chết cũng phủi sạch thôi).

                    “Tuồng huyễn hóa ai bài ra đấy,

                      Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                              Trăm năm còn có gì đâu,

                  Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì”.

                                                  (Cung oán Ngâm khúc)

          Đức Thầy nay cũng từng thốt:

                    “Sầu chung ta cất tiếng than,

                 Phù sinh kiếp có đoạn tràng thì thôi!”(Tự thán)

            NHƯỢC MỘNG: Giấc chiêm bao quá yếu ớt, ngắn ngủi. Ý nói kiếp sống của con người mau lẹ như giấc mộng. Cổ nhân bảo:“Nhơn sanh bá tuế như xuân mộng, Ly hiệp bi hoan tợ hí văn”.(Người sanh trăm tuổi như đêm mộng, Buồn vui tan hợp tợ trò chơi). Và “Kỳ sinh nhược mộng vi hoan hỷ hà”.(Kiếp sống trôi nổi ví như trong giấc mộng, dầu có vui sướng cũng chẳng bao lâu – Thái Bạch Văn).

          Đức Thầy nay cũng cho biết:

   “Giấc mộng Nam Kha chốn thế trần”.(Tỉnh bạn Trần gian)

            Hoặc là:

       “Trần thế lợi danh giấc mộng trần”.(Lộ chút Cơ huyền)

            TU THÂN: (Xem CT câu 80, T-2, Q.3).

 

CHÁNH VĂN

         37.- Hào-quang chư Phật rọi mười phương, 
         Đạo pháp xem qua chớ gọi thường. 
         Chuyên-chú nghĩ suy từ nét dấu,
         40.- Cố công gìn giữ tánh thuần-lương.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 37 đến câu 40)

          - Đại ý bài thi tứ cú trên đây, Đức Giáo Chủ dạy rằng: Chư Phật có đủ pháp thần thông, huyền diệu, thường phóng ánh từ quang soi suốt khắp mười phương để tiếp độ những người có thiện căn, trở về với cảnh an nhàn tự tại:“Tìm con lành dắt lại Phật đường”.(Giác Mê TK, Q.4)

          - Được rõ hào quang của Phật là linh diệu khôn lường thì giáo pháp của Ngài cũng sâu mầu khó nghĩ. Vậy người tu mỗi khi đọc đến Sấm Kinh, chẳng nên xem thường lời giáo pháp mà phải chuyên tâm, chú ý nghiệm suy từ nét dấu trong đó; vì có lắm khi: Lời nói gần mà nghĩa lý rất sâu xa (Ngôn cận chi viễn).

          Đức Thầy từng dạy trong “Giác Mê Tâm Kệ”:

                    “Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,

                      Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

                      Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,

                      Chớ chẳng phải của người lãng trí”.

          -Khi được rõ nghĩa lý trong Kệ giảng, nhà tu cần phải gắng công gìn giữ giới luật và lo trau tâm luyện tánh cho đặng trọn lành trọn sáng đến khi thành Đạo giải thoát.

CHÚ THÍCH

          HÀO QUANG: Hào là lông mày; Quang là tia sáng, ánh sáng. Nơi chơn mày của Phật có những sợi lông trắng, thường phóng ra ánh sáng chung quanh mình (vầng hào quang). Đây là một trong 32 tướng hảo của Phật.

          Trong Quán Phật Tam Muội Kinh có chép:“Thời Phật my gian, tức phóng bạch hào, đại nhơn tướng quang. Kỳ quang phân vi bát vạn tứ thiên chi”.(Khi ấy nơi chơn mày của Phật liền phóng hào quang sắc trắng của đấng đại nhân. Trong đó chia ra làm tám muôn bốn ngàn đạo).

          Đức Thầy nay cũng có câu:

                    “Mắt nhìn thấy thần thông biến hóa,

                      Đức Di Đà hiện chóa hào quang”.

                                        (Xuân hạ tác cuồng thơ)

          MƯỜI PHƯƠNG: Do chữ Thập phương. Có nghĩa: Tám hướng chung quanh và hai hướng trên, dưới; tức là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng phương và Hạ phương. Mười phương là tiếng chỉ chung cho khắp thế giới hoặc khắp cả chư Phật và chúng sanh. Ví dụ:“Thập phương Phật hay thập phương bá tánh”.

          Đức Thầy thường viết:“Nguyện mười phương chư Phật đáo lai”.(Khuyến Thiện) Hoặc:“Mười phương đều rõ máy anh linh”.(Những câu chú thường niệm)

          ĐẠO PHÁP: Phép tắc chân chánh của Đạo Phật. “Đạo pháp thường hay dung với hòa”.(Lời khuyên Bổn đạo)

          CHUYÊN CHÚ: Chuyên tâm chú ý vào một việc gì. Đây ý nói dồn hết tâm trí, gom hết tư tưởng vào công việc nghĩ ngợi, suy xét Kệ Kinh, để thấu hiểu lý nghĩa cho tường tận.

          THUẦN LƯƠNG: Thuần là ròng rã, không tạp nhạp xen lộn; Lương là hiền lành. Có nghĩa chung là ròng rã việc hiền lành, tức trọn lành, chẳng có một điều quấy ác nào xen lộn. Đức Thầy nói:

                    “Tánh thuần lương vẻ mặt vui tươi,

                 Vậy mới đáng tín đồ Phật Giáo”.(Kh/Thiện, Q.5)

CHÁNH VĂN

KỆ

        41.- Lòng quảng ái xót thương nhân chủng, 
        Buổi lố-lăng Phật-Giáo suy đồi.
        Kẻ tu hành ai nỡ yên ngồi,
        44.- Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.
        Mình đã gặp con thuyền Bát-Nhã,
        Có lý nào ích-kỷ tu thân?
        Phật-Tổ xưa còn ở nơi trần,
        48.- Ngài gắng sức ra công hoằng-hóa. 
        Nền Đại-Đạo lưu thông khắp cả, 
        Bực tiên hiền đều trọng Phật-gia.
        Rèn dân bằng giáo-thuyết bình-hòa, 
        52.- Giống bác-ái gieo sâu vô tận. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 41 đến câu 52)

          - Lòng từ bi của Đức Giao Chủ bao la như sông biển, xót thương khắp vạn loại chúng sanh, hằng tùy phương cứu độ:“Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sanh”.(Tình Yêu) Nhứt là giữa thời Hạ ngươn mạt pháp, làn sóng vật chất áp đảo tinh thần, khiến cho nền Đạo Phật phải suy yếu theo đà xuống dốc. Trước trạng huống ấy, những người biết giác ngộ tu hành, không thể an ngồi chốn chùa am, sống cuộc đời nhàn nhã với lời Kinh tiếng Kệ.

          - Huống chi, những người đã tỏ Đạo mầu đạt thông trí tuệ, hoặc đã được đứng trên con thuyền Đại Đạo, vốn đầy lòng từ ái, vị tha có lý nào chuyên lo tự độ. Thế nên dầu giữa “Bể trần sóng cuộn lao xao”, Đức Giáo Chủ cũng cương quyết “Xông thuyền Bát Nhã lướt vào một phen”(Tự thán), để cứu vớt sanh linh đang chìm đắm trong bể khổ.

          - Đức Phật Tổ xưa kia, với lòng từ bi vô lượng vô biên, nên sau khi đắc Đạo, Ngài chẳng nỡ nhập Niết bàn sớm, vẫn trụ thế hoằng pháp, lợi sanh suốt 49 năm. Ngài đã từng thốt:“Ta vì muốn cứu khổ chúng sanh mà tu thành Phật, chớ không phải vì ngôi Phật cao lớn mà thành”. Rồi từ độ ấy Phật Giáo càng lúc càng lan rộng, khiến cho các bậc Tiên, Hiền, Thánh, Triết đều phải kính trọng tùng qui. Ngài còn đem giáo pháp bình đẳng trung từ chan hòa trong quảng đại quần chúng. Những người có đại căn đã sớm giác ngộ và thành Đạo trước. Còn hạng thiểu căn chậm tiến, Ngài cũng dùng mọi phương tiện làm cho họ kính tin Trời Phật, ấy là đã gieo sâu vào tạng thức họ hột giống Đạo; để rồi thời gian sau chúng sanh đó sẽ hồi tâm hướng thiện, qui y Phật Pháp.

CHÚ THÍCH

          LÒNG QUẢNG ÁI: Lòng thương yêu rộng lớn đối với tất cả chúng sanh. Sách Luận ngữ nói:“Phiếm ái chúng nhi thân nhân”.(Người tu học phải thương yêu mọi người và gần gũi các bậc hiền đức).

          NHÂN CHỦNG: Giống người, chỉ chung cho loài người. Đức Thầy thường thốt:

                    “Năm canh luống những sụt sùi,

        Cám trong nhân chủng lắm người dở dang”.(Tự thán)

            LỐ LĂNG: Cũng gọi là nhố nhăng. Có nghĩa quá mực thường, làm chướng tai gai mắt kẻ chung quanh. Ví dụ: ăn mặc lố lăng, nói năng lố lăng.

          SUY ĐỒI: Lụn bại, sụp đổ, hư nát.

          THUYỀN BÁT NHÃ: (Xem CT câu 39, T-2, Q.2).

          ÍCH KỶ: Chỉ biết lợi ích riêng cho mình, không hề giúp đỡ ai. Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,

                    Thì hãy dẹp tánh tình ích kỷ”.(Kệ Dân, Q.2)

          HOẰNG HÓA: Khai mở Đạo mầu sâu rộng trong quần chúng và giáo hóa tiếp độ toàn thể chúng sanh.

          ĐẠI ĐẠO: Nền Đạo rộng lớn cao sâu. Đây chỉ cho Đạo Phật. Đức Thầy nói:

                    “Đại Đạo giáo dân, dân bất trị,

                  Khai năng bạch phát đãi hà thi”.(Không không)

            TIÊN HIỀN: Các bậc Tiên gia, Hiền Thánh thuở trước.

          PHẬT GIA: Nhà Phật. Ý chỉ Đạo Phật. Đức Thầy có câu:         
                  “Tới đây cạn lẽ phân minh,

                Quyết đem chơn lý đặng gìn Phật gia”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          BÌNH HÒA: Bình đẳng và hòa hợp. Ý nói lời pháp giáo của Phật chỉ dạy không phân biệt cá nhân đẳng cấp, luôn hòa hợp với các chủng tộc và căn cơ trình độ của mọi giới chúng sanh. Thời xưa, trước sự phân chia bất bình đẳng của bốn giai cấp ở Ấn Độ, Đức Phật đã dạy:“Không có giai cấp, trong nước mắt cùng có chất mặn, trong dòng máu cùng đỏ như nhau”.

          Ngày nay Đức Thầy cũng bảo:“Lời thuyết pháp chẳng vì nhơn ngã”.(Giác Mê TK, Q.4) và:

                    “Tùy phong hóa dân sanh phù hợp,

                    Chấp bút thần tả ít bổn Kinh”.(Diệu pháp QM)

          Giáo thuyết bình hòa cũng còn chỉ cho giáo lý “Trung Đạo” (Con đường trung Đạo). Kinh Kim Cang, Phật nói:“Thị Pháp bình đẳng, Vô hữu cao hạ”.(Pháp nầy là bình đẳng đối với tất cả, không có chi cao hơn nó, cũng không chi thấp hơn nó). Đức Thầy đã cho biết:

                    “Dạy bổn đạo lấy câu trung đẳng,

                    Chẳng nói cao vì sắp rốt đời”.(Giác Mê TK)

          BÁC ÁI: (Xem CT đoạn 6, T-1, bài Sứ Mạng).

          VÔ TẬN: Không hết, không cùng tột.

CHÁNH VĂN

        53.- Sau nhằm buổi phong-trào tân-tấn, 
        Đua chen theo vật-chất văn-minh. 
        Nên ít người khảo xét kệ-kinh,
        56.- Được dắt chúng hữu-tình thoát khổ.
        Thêm còn bị lắm phen giông-tố,
        Lời tà-sư ngoại-đạo gieo vào. 
        Cho nhơn-sanh trong dạ núng-nao, 
        60.- Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.
        Dùng thế-lực dùng nhiều mánh-khoé, 
        Cám-dỗ người đặng có khiến sai. 
        Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài, 
        64.- Để khốn-khổ mặc ai trối kệ. 
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 53 đến câu 64)

          - Trước kia Đạo Phật rất thạnh hành, sự tin tưởng Tam Bảo của toàn dân vô cùng mạnh mẽ, nhưng vào thời mạt pháp cũng nhằm buổi tân tiến cạnh tranh, phần đông nhân loại chạy theo văn minh vật chất, nên ít người chịu gia tâm nghiên cứu Kinh Kệ, để tìm ra chơn lý hầu dìu dắt chúng hữu tình, thoát vòng đau khổ.

                   “Bày ttường tân trước sau chung thủy,

                    Đời văn minh vật chất bỏ gương xưa.

                    Nghiệp tổ tiên con cháu giày bừa,

                    Học thói mới lăng loàn theo sở dục”.

                                                  (Trao lời cùng Ô.Táo)

          - Tình thế đã vậy, lại còn tà sư, ngoại Đạo thừa cơ quấy nhiễu chánh pháp, bày trò mê tín, làm sai lạc chơn lý. Những kẻ có uy quyền thì dùng thế lực đàn áp Tôn giáo (Pháp nạn), khiến cho những người nhẹ dạ phải nao núng ngã lòng, không còn mạnh tin những gương hạnh cao cả trong Phật Giáo từ xưa.

          - Thêm có nhiều chủ thuyết ra đời, không kiêng sợ tội phước, hay nhân quả báo ứng; họ dùng đủ mưu mô xảo quyệt, thế lực uy quyền để cưỡng bách, cám dỗ dân chúng làm tay sai. Riêng họ chỉ ngồi không thủ lợi, miễn sao được sống cuộc đời sung sướng, vinh thê ấm tử, mặc tình cho kẻ khác chịu nỗi đói lạnh chua cay !

 

CHÚ THÍCH

          PHONG TRÀO: Phong là gió; trào là triều nước dâng lên. Ý chỉ cho sự đua nhau làm việc gì ồn ào vang dội trong một thời, như gió thổi sóng dậy hay nói về khuynh hướng nhiệt liệt trong một lúc.

          TÂN TẤN: Cũng gọi là tân tiến. Có nghĩa cuộc tiến hóa mới mẻ hiện nay.

          VẬT CHẤT VĂN MINH: (Xem CT câu 29, T-2, Q.3).

          KHẢO XÉT: Khảo là tra cứu, thí nghiệm; Xét là tìm tòi phân đoán. Nghĩa chung là phương pháp nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm hiểu một việc gì cho chính xác. Ví dụ: Khảo xét kinh điển.

          CHÚNG HỮU TÌNH: Chúng là số nhiều; hữu là có; tình là tình thức hay hữu duyên. Nghĩa chung là các giống động vật có tri giác và mạng sống.

          Trong vũ trụ vạn hữu có hai giới: vô tình và hữu tình.     
          a/- Giới vô tình gồm những loài không cựa quậy và hiểu biết, như: Kim thạch, đất nước, cây cỏ…

          b/- Giới hữu tình thì gồm những loài có mạng sống và tri giác, nhưng chưa thoát khỏi sanh tử luân hồi.

          GIÔNG TỐ: Mưa to gió lớn. Nghĩa bóng là sự biến đổi hay cuộc đàn áp dữ dội. Đức Thầy có câu:

                    “Cơn giông gió mịt mù bụi cát,

                    Chẳng nao lòng của Đấng từ bi”.(Sa Đéc)

          TÀ SƯ NGOẠI ĐẠO: (Xem CT câu 77, T-2, Q.2).

          NHƠN SANH: Cũng viết là nhân sanh, tức chỉ cho loài người sống chung trong thế giới, không phân biệt màu da, tiếng nói.

          DẠ NÚNG NAO: Cũng gọi là tâm nao núng. Có nghĩa lòng bối rối lo lắng trong tâm hồi hộp bán tín bán nghi, muốn lùi bước.

          GƯƠNG XƯA: Những thành tích vẻ vang sáng lạn và hiền đức tốt đẹp của các đấng Thánh Hiền hoặc của ông cha ta đã thi thố từ trước, như tấm gương sáng nêu lại cho hậu thế noi theo. Đức Khổng Tử có dạy:“Minh kính khả dĩ sát hình; vãng cổ khả dĩ tri kim”(Tấm gương sáng để soi được mình, xét việc xưa qua để biết được việc nay).

          Đức Thầy thường thống trách hạng người phụ bỏ gương xưa:   
               “Gương Tổ Phụ còn roi lại đó,

                Sao không theo nề nếp gia phong”.(Kh/Thiện)

          THẾ LỰC: Sức mạnh của quyền oai hay tiền bạc. Ví dụ: Người ta dùng thế lực áp bức kẻ khác, khiến họ phải phục tùng theo.

          CÁM DỖ: Tìm đủ cách quyến rũ làm cho người ta mê theo.

          CỦA HOẠNH TÀI: Tiền bạc và đồ vật không do sức mình làm ra cách hợp pháp, lương thiện mà chỉ tạo ra bằng cách tà vạy không chánh đáng. Của làm ra như thế chẳng những không được giàu lâu mà còn vướng phải nhiều tai nạn:“Của hoạnh tài bất phú hoạnh tai”.(Kim cổ Kỳ quan) Cho nên của hoạnh tài cũng gọi là của phi nghĩa:“Của phi nghĩa làm chi xong chuyện”.(Khuyến Thiện)

          KHỐN KHỔ: Khốn cùng khổ sở. Chỉ cho người khi gặp lúc nghèo túng khó khăn.

          TRỐI KỆ: Trối là không bảo bọc; Kệ là mặc tình. Nghĩa chung là không bảo bọc giúp đỡ được, để mặc tình ai chịu lấy các điều cay đắng.

CHÁNH VĂN

65.- Mắt thấy rõ những điều tồi-tệ, 
Tai thường nghe lắm giọng ru người. 
Thêm thời nầy thế kỷ hai mươi, 
68.- Cố xô sệp thần (thánh) quyền cho hết.
Người nhẹ dạ nghe qua mê-mết, 
Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh-tranh. 
Được lợi-quyền lại được vang danh, 
72.- Bài-xích kẻ tu hành tác phước.
Làn sóng ấy nhiều người đón rước, 
Dục dân tâm sôi-nổi tràn-trề.
Cổ tục nhà phỉ-báng khinh-chê,
76.- Cho tôn-giáo là mùi thuốc phiện.
Ai nếm vào ắt là phải nghiện, 
Chẳng còn lo trang võ đấu chinh. 
Lấy sắc-thân dẹp nỗi bất-bình, 
80.- Bỏ đức-tính của câu nhơn-quả.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 65 đến câu 80)

          - Những hành động điêu xảo của kẻ chuyên dùng bạo lực, những cuộc lợi dụng Tôn Giáo để làm lợi khí nuôi thân của tà đạo; toàn là những việc làm xấu xa nhơ nhuốc mà hiện giờ ai ai cũng đều nghe thấy. Lại thêm giữa thế kỷ 20, phái vô thần cố tình chèn ép, đè bẹp lòng tín ngưỡng Phật Trời của các Tôn Giáo.

          - Họ chủ trương “Ưu thắng liệt bại”(Mạnh được yếu thua), để lừa phỉnh số người nhẹ dạ mê theo và phủ nhận tất cả những gì thuộc về tinh thần cao đẹp. Chỉ biết dùng sức mạnh đấu tranh quyền lợi là trên hết, nên họ tìm đủ cách bài bác những ai lo tu hành tác phước.

          - Trước làn sóng vật chất ấy đã có nhiều kẻ đón tiếp và kích động quần chúng hưởng ứng theo. Tạo nên phong trào khinh rẻ, bác bỏ những phong tục của Ông Cha từ trước.

          Họ còn kịch liệt đả kích các Tôn giáo, cho rằng Tôn giáo hay làm mê nhiễm lòng người như mùi thuốc phiện. Ai theo Tôn giáo là sống cuộc đời tiêu cực, mất hết nghị lực đấu tranh, bởi họ quan niệm vật chất hiện tại là trên hết, chỉ có uy lực của xác thân mới đánh tan được những nỗi bất bình trong xã hội, nên chẳng hề tin có luân hồi quả báo. Họ không ngờ với chủ trương ấy càng tiến mạnh chừng nào, càng gây thêm nạn chiến tranh đau khổ cho nhơn loại chừng ấy.

 

CHÚ THÍCH

          TỒI TỆ: Hư nát, nhơ xấu. Đức Thầy có câu:

                    “Xử những kẻ hung hăng tồi tệ,

 Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn”.(Giác Mê TK)

            GIỌNG RU NGƯỜI: Dùng tiếng xướng ca, hò hát hoặc lời ngọt ngào óng chuốt làm cho người mê mết tin theo.

          THẾ KỶ HAI MƯƠI: Tính theo Dương lịch thì một thế kỷ là 100 năm. Hiện nay (1900-1975), tức là trong vòng Thế kỷ thứ 20.

          CỐ XÔ SỆP: Gắng sức xô đẩy, đè ép cho xẹp xuống.

          THẦN QUYỀN: Những oai lực công nhiên tuyệt đối của Thần Thánh, hay là quyền thống trị sai sử và sắp đặt mọi sự việc ở thế gian của các đấng thiêng liêng. Thần quyền ở đây chỉ cho sự tin tưởng Phật Trời, Thần Thánh của các Tôn Giáo.

          NHẸ DẠ: Lòng dễ tin theo người khác, thuyết khác.

          MÊ MẾT: Quá mê, say chết, không còn hay biết đến việc gì khác nữa. Ví dụ: Xem, nghe mê mết, ngủ mê mết.

          LỢI QUYỀN: (Xem CT câu 784, T-3, Q.4).

          BÀI XÍCH: Bài bác, chỉ trích thậm tệ, chê bai kịch liệt.

          TÁC PHƯỚC: Làm phước, tức làm những việc có ích lợi cho nhân loại chúng sanh. Đức Thầy có câu:“Thiện duyên tác phước ý như hà”.(Viếng làng Phú An).

          LÀN SÓNG: Lớp sóng ở mặt nước, hết lượn nầy đến lượn khác, từng đợt, từng đợt. Đây chỉ cho phong trào duy vật tiến lên ồ ạt như làn sóng trên mặt nước.

          SÔI NỔI: Náo động, hào hứng, được để ý nhiều. Ví dụ: dư luận sôi nổi, khiến thiên hạ sôi nổi. Sôi nổi cũng có nghĩa trong bụng đầy hơi chuyển động ra thành tiếng hứng thú hoặc giận dữ.

          CỔ TỤC: (Xem CT câu 596, T-3, Q.4).       

          PHỈ BÁNG: Chê bai, nói xấu; dùng lời lẽ làm mất danh giá người khác, bằng cách vạch chuyện xấu xa của người ấy ra, dù là có thật hay không.

          TÔN GIÁO: Tiếng dùng để gọi chung các nền Đạo, có tín ngưỡng và đường hướng dẫn dắt nhân sanh hành thiện tránh ác.

          Thời xưa, người ta lấy sự thờ kính một vị thần (Độc Thần Giáo) hay nhiều vị (Đa Thần Giáo) làm chủ đích để tín ngưỡng. Thuở loài người chưa tiến bộ họ lấy cục đá, khúc cây…làm vật thờ cúng, sau mới thờ các vị Thần. Tôn Giáo thời đó cho rằng các vị Thần cũng có linh thể tâm tánh như con người, nhứt là ở Ai Cập, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã…Bấy giờ người ta chỉ chú trọng về phần tín ngưỡng thôi.

          Lần lượt nhân loại tiến bộ, các vị Thánh Triết ra đời mở rộng con đường Đạo lý. Vào đầu Tây lịch Kỷ nguyên Chúa Gia Tô xuất hiện, lập nên Tôn giáo Cơ Đốc truyền bá ở Âu Châu.

          Riêng về Á Châu có Phật Giáo là nền Đạo thuần nhứt, do Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập, đem Giáo lý từ bi, bình đẳng giáo hóa chúng sanh, đến nay có trên 2.500 năm mà nhơn loại khắp cả thế giới càng lúc càng phụng hành đông đảo.

          Xét cho kỹ Phật Giáo không thể gọi là Tôn Giáo như các Đạo nói trên. Vì Phật Giáo có Giáo lý thực tế áp dụng vào đời sống thiết thực cho nhân sanh. Nói rõ hơn Giáo lý Phật Giáo gồm đủ “Tâm Vật Lý”, và lúc nào Phật Giáo cũng đi trước khoa học. (Trước đây 25 Thế kỷ, Phật đã biết trong nước có vi trùng và ngoài địa cầu ta ở còn có vô số địa cầu và hành tinh khác. Còn khoa học mới phtá minh và thấy được thời gian sau đó rất lâu.)

          THUỐC PHIỆN: Cũng gọi là a phiến, do một thứ nhựa lấy ở mủ cây thẩu nấu thành, đốt lên có mùi thơm, người ta dùng để hút. Trong thuốc phiện có chất thường làm cho người say nghiện. Ai hút nó lâu ngày thành ghiền, tiều tụy con người từ tinh thần lẫn thể xác. Thế nên cả Tam giáo (Phật Thánh Tiên) đều cho thuốc phiện là một trong “Tứ đổ tường”(Bốn vách tường đổ: tửu, sắc, tài, phiến). Đức Giáo Chủ PGHH nói:

                    “Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,

                     Nào trùm đĩ, ma cô nghề hút máu”.

                                                  (Trao lời cùng Ô.Táo)

          NGHIỆN: Ghiền, chỉ cho sự ô nhiễm say mê, khó bỏ được. Ví dụ: nghiện rượu, nghiện á phiện.

          TRANG VÕ ĐẤU CHINH: Trang là sắp đặt chuẩn bị; Võ là sức mạnh hay chỉ cho khí giới, như nói nghề võ hoặc võ khí. Võ còn đối với Văn. Vậy trang võ là chỉ cho sự sửa soạn, trang bị cho việc võ, việc quân sự.

          Đấu là tranh hơn thua, xâu xé giành giựt. Chinh là đánh dẹp, thâu lấy (chinh phục). Nói chung là tranh giành đoạt lấy sự hơn thua với nhau, giữa hai hoặc nhiều Quốc gia dân tộc hay phe nhóm..v.v…

          SẮC THÂN: Phần xác thể của con người, đối với tinh thần.

          BẤT BÌNH: Không bằng lòng, không ngang hàng giai cấp, giá trị như nhau.

          ĐỨC TÍNH: Cũng viết là đức tín. Có nghĩa: đức tính tốt đẹp của con người đã tin tưởng vào một sự việc gì cao cả. Ví dụ: tin Phật Pháp hay tin nhân quả…Phật học Thuật ngữ có viết: Sở dĩ có công đức là do chỗ tín tâm, lại nữa công đức ấy cũng do tin Phật pháp mà được vậy. (Tín tâm chi công đức dã, hựu tín Phật pháp chi đức giả dã). Đức Thầy từng khuyên:

                    “Dầu cho ai phá rối đức tin,

                    Ta cũng cứ một đàng đi tới”.(Giác Mê, Q.4)

          NHƠN QUẢ: Cũng gọi là Nhân quả. Nhân là nguyên nhân, là hột giống. Quả là sự kết quả, hay trái bông. Đây là luật quả báo (Xem thêm phần CT câu 865, T-1, Q.1).

CHÁNH VĂN

          81.- Dầu ai có bền gan sắt-đá, 
        Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng. 
        Đạo diệu-mầu gặp lúc truân-chuyên, 
        84.- Phận môn đệ phải lo vun quén.
        Tằm sức nhỏ còn làm nên kén, 
        Người không lo có thẹn hay chăng?
        Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng, 
        88.- Với tín-nữ thiện-nam Phật-Giáo. 
        Nên cố-gắng trau thân gìn Đạo, 
        Hiệp cùng nhau truyền-bá kinh lành. 
        Làm cho đời hiểu rõ thinh-danh, 
        Công-đức Phật từ-bi vô lượng.
        Đồng dẹp bớt âm-thinh sắc-tướng, 
        94.- Lo chấn-hưng Phật-Pháp mới là. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 81 đến câu 94)

          - Trước hoàn cảnh xáo trộn do thuyết duy vật tạo nên, khiến nhiều kẻ nhẹ dạ ồ ạt chạy theo một cách mù quáng. Đến như số người đã từng hấp thụ thuần phong mỹ tục và có kiên nhẫn cũng muốn nao núng ngã lòng. Do đó, con thuyền hướng thượng của các Tôn giáo cũng như Đạo Phật đương nhiên phải gặp nhiều khó khăn trở ngại. Cho nên Đức Giáo Chủ khuyến tấn, mỗi môn đồ cần có bổn phận tô bồi, xây đắp nền Đạo, nhứt là về tinh thần giác ngộ được vững chắc, để ngọn đèn chơn lý Phật Giáo càng lúc càng thêm rạng rỡ.

          - Xét lại, loại tằm là một giống sâu nhỏ bé, kém trí giác; thế mà chúng còn biết nhả hết cuộn tơ lòng để đền ơn cho chủ. Còn chúng ta là nhân loại, đã tự hào là có linh tri hơn muôn vật, lại được hồng ân Tam Bảo khai hóa, nếu ta chẳng lo tròn bổn phận thì so với loài tằm kia, há chẳng thẹn lắm ư ?

          - Thế nên Đức Giáo Chủ kêu gọi khắp tín đồ Phật Giáo (không phân biệt Tôn phái), từ hàng Tăng sư đến các thiện nam tín nữ, hãy gắng sức vừa lo tu thân sửa tánh, nghiêm trì giới hạnh; vừa hiệp tác trong cuộc phổ truyền chánh pháp, như Ngài từng dạy:“Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm kẻ sa cơ và nhứt là phải tiếp tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh. Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy”.(Tứ Ân: Ân Tam Bảo)

          Bởi có quảng truyền chánh pháp thì bá tánh mới hiểu được đức độ từ bi, bình đẳng và lòng vị tha cứu khổ chúng sanh vô bờ bến của Phật. Nếu cả nhân loại đều hấp thụ được tinh thần giáo lý ấy thì khỏi cần phải đấu chinh cũng san bằng được nỗi bất bình, và đem lại sự an vui cho khắp thế giới. (Trước đây 25 thế kỷ, Phật đã dùng thuyết từ bi, bình đẳng phá tan 4 giai cấp chênh lệch ở Ấn Độ thời ấy.)

            - Song muốn cho việc chấn hưng Phật Pháp được kết quả như ý, thì ngay bây giờ các Tăng Ni Phật tử nên dẹp bớt âm thinh sắc tướng, vì những sự việc ấy không phải là hướng đi đến chơn lý (đạt Đạo) “Sắc tướng thinh âm chư ngoại giáo, chơn truyền cụ thất Đạo nan thành”.(trích Tỉnh Thế Ngộ Chơn)

 

CHÚ THÍCH

          DIỆU MẦU: Cao sâu mầu nhiệm, khó mà nghĩ lường hay diễn tả cho hết ý.

          TRUÂN CHUYÊN: Khó khăn gian khổ, không thuận lợi.

          MÔN ĐỆ: Gồm chữ Môn đồ và Đệ tử. Ý chỉ chung những người cùng qui y một Thầy hay cùng tu học một cửa Đạo.

          VUN QUÉN: Xây đắp và chăm nom bảo vệ cho vững chắc.

          TẰM: Một loại sâu, người ta nuôi được và cho chúng ăn bằng lá dâu. Khi chúng lớn, tằm nhả tơ kết thành kén, chủ đem ươm lấy tơ, dệt thành hàng lãnh. Ví dụ: Nghề tằm tơ.

          CHƯ TĂNG: Do chữ Tăng Già (Samgha), tức là những đệ tử của Đạo Phật, tu hạnh xuất gia, giới hạnh tịnh nghiêm và thường đem Giáo lý của Phật giảng dạy cho Đại chúng nghe. Song, Chư Tăng có nhiều hạng, trong Trí Độ Luận, Ngài Long Thọ Bồ Tát đã phân như sau:

          1)- Á Dương Tăng: Cũng gọi là Ác dương Tăng, là hạng người cũng mang hình thức xuất gia, nhưng còn tối tăm chẳng phân rõ điều thiện ác nên dễ phạm tội. Khi phạm tôi lại chẳng biết hối trừ, như dê câm đến bị chết không kêu vang được.

          2)- Vô tu Tăng: hạng Tăng tuy biết đã phạm lỗi mà trong tâm ý không biết hổ thẹn để hối trừ.

          3)- Hữu tu Tăng: hạng Tăng đã biết việc lầm lỗi và sốt sắng để thanh trừng, không vi phạm nữa.

          4)- Chân thật Tăng: hạng Tăng đã giác ngộ hoàn toàn và liễu thông Đạo lý một cách minh bạch, gần bực Thánh Đức vậy.

          TÍN NỮ THIỆN NAM: (Xem CT đoạn 7, bài Sứ Mạng).

          CÔNG ĐỨC: Công là dùng trí năng diệt hết vọng tâm phiền não. Đức là lòng luôn được thanh tịnh, từ bi và bình đẳng; hoặc là người hành đạo đến khi được trọn lành trọn sáng cũng gọi là công đức.

          Trong Thắng Mang Kinh có giải:“Ác tận ngôn công, thiện mãn viết đức”.(Tu hành diệt trừ không còn điều ác gọi là “Công”, và tu hành đến chỗ toàn thiện kêu là “Đức”).

          Pháp Bảo Đàn Kinh, Đức Lục Tổ cũng giảng: Một niệm không rời chánh Đạo là Công, lòng luôn bình đẳng ngay chánh là Đức. Không lìa tự tánh chơn như diệu minh của mình là Công, đối xúc tất cả mọi việc, mọi cảnh mà không nhiễm ô dính mắc là Đức.(Niệm niệm vô gián thị Công, tâm hành bình trực thị Đức. Bất ly tự tánh thị Công, ứng dụng vô nhiễm thị Đức).

          Bởi tùy theo công năng tâm hạnh của mỗi cấp bực hành đạo mà sự biện giải “Công, Đức” có cao thấp. Chớ thật ra thì công đức từ bi của Phật có vô lượng vô biên, không thể đo lường, tính giải cho hết được (Bất khả tư nghị).

          VÔ LƯỢNG: Không thể đo lường. Ý nói những số nhiều quá, lớn quá, không thể nào đo lường nghĩ đếm được. Đây chỉ cho công đức từ bi hỉ xả của Phật thật là vô lượng, vô biên.

          Theo Phật học, vô lượng là một trong 10 con số lớn nhứt không đếm được: 1= vô số, 2= vô lượng, 3= vô biên, 4= vô đẳng, 5= Bất khả sổ, 6= Bất khả xưng, 7= Bất khả tư nghị, 8= Bất khả lượng, 9= Bất khả thuyết, 10= Bất khả thuyết bất khả thuyết. (Hoa Nghiêm Kinh)

          ÂM, THINH, SẮC, TƯỚNG: (Xem CT câu 30, T-3, Q.5 và câu 418, T-3, Q,4).

          CHẤN HƯNG: Mở mang cho thịnh vượng. Ý nói làm cho nền Phật pháp được hưng thạnh và lan rộng khắp nơi để mọi giới chúng sanh đều được nương nhờ tu học. Đức Thầy hằng khuyên trong bài “Thu đã cuối”:

                    “Chấn hưng Phật giáo học đường,

             Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên”.

          PHẬT PHÁP: (Xem CT đoạn 5, bài Sứ Mạng).

CHÁNH VĂN

        95.- Nói cho đời hiểu Phật Thích-Ca,
        Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.
       Ta cũng chẳng hoàn-toàn thông-thạo, 
        Nhưng phân cùng bổn-đạo xa gần. 
        Có một điều già trẻ ân-cần, 
        100.- Là phải biết nguyên-nhân Phật-Giáo.
        Hồi thế-kỷ khoảng trong thứ sáu, 
        Trước kỷ-nguyên tây-lịch thời xưa.
        Pháp Giáo chưa biệt-lập tam thừa,
        Thuở Trung-Quốc nhà Châu Chiêu-Đế.   
        Bên Ấn-Độ thành Ca-Tỳ-La-Vệ,
        Có đức vua Tịnh-Phạn nhơn từ.
        Khắp thần dân lạc nghiệp an-cư,
        108.- Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 95 đến câu 108)

          - Đến đây Đức Giáo Chủ nhắc lại cho mọi người hiểu rõ về lược sử Đức Thích Ca. Xưa, lúc xuân thời Ngài đã giác ngộ kiếp sống con người đầy sự bi thương thống khổ.Và:“Công danh phú quí chung hườn mộng”.(Không không) Chúng sanh chỉ lo phân biệt xâu xé lẫn nhau, rốt cuộc tất cả đều đi theo con đường sanh, già, bệnh, chết; nên Ngài cương quyết từ bỏ ngôi cao, duyên thắm…để tìm ra chánh Đạo hầu giải khổ cho vạn loại chúng sanh. Ngày nay Đức Thầy cũng khiêm tốn cho biết: Tuy chưa hoàn toàn thông suốt, nhưng vì lòng vị tha nên Ngài có bổn phận thuyết minh cho khắp tín đồ được rõ về lịch sử của Đức Phật.

          - Điều thứ nhất là mỗi Phật tử cần hiểu rành về nguồn gốc Đức Phật đã phát xuất từ đâu ? Có thế, ta mới vững niềm tin nơi gương hạnh và lời giáo huấn của Ngài. Thuở trước Tây lịch Kỷ nguyên khoảng 6 Thế Kỷ, tức là trước Chúa Jésus giáng sanh 563 năm. (Từ trước có nhiều thuyết chép về năm Đản sanh của Đức Phật như: 658, 626, 624, 566, 561.v.v…đều trước Thiên Chúa giáng sanh. Trong đó có hai thuyết thường được chú ý là 563 và 566. Nhưng đến kỳ Đại Hội Phật giáo Thế giới lần thứ 11, tháng 11-1952 tại Tokyo (Nhật Bản) thì Đại hội đã xác định và thừa nhận thuyết nói năm Phật Đản là 624 Tr.Tây lịch và năm Phật nhập diệt là 544 Tr. Tây lịch) Bấy giờ nước Trung Hoa thuộc về nhà Châu vua Chiêu Đế. Còn tại xứ Trung Ấn Độ có Tịnh Phạn Vương đang ngự trị tại kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Vốn là nhà vua rất minh chánh, đầy lòng nhân ái đối với toàn dân, nên dưới triều được lắm tôi trung giúp đỡ, dân chúng đều vui sống trong cảnh lạc nghiệp an cư. Cũng nhờ đó mà nước của Tịnh Phạn Vương thời ấy rất phong phú cường thịnh.

 

CHÚ THÍCH

          TỰ GIÁC: Tự mình tỉnh ngộ, tự mình xét biết những điều hay dở tội phước của mình. Tự giác là một trong ba điều tỉnh giác: Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn. Đức Thầy nói:

                    “Tực giác, giác tha Ta phải nói,

                    Hỡi người dương thế bớt xa hoa”.(Thi Xuân)

            XẢ THÂN TẦM ĐẠO: Không nghĩ tiếc gì về bản thân để tìm ra Đạo lý, hoặc là dốc hết tâm chí về việc tầm cầu Đạo pháp, cũng như câu “Xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo”. Đức Giáo Chủ hằng khuyên:“Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc đạo an bần xả thân tu tỉnh”.(Bát chánh: Chánh Tư Duy) Và:

                    “Xả thân tầm Đạo vô vi,

              Nhiệm mầu thâm diệu nan tri lão bày”.

                                        (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          HOÀN TOÀN THÔNG THẠO: Hiểu biết rõ ràng mọi lẽ mọi vật không hề thiếu sót.

          ÂN CẦN: (Xem CT câu 586, T-2, Q.3).

          NGUYÊN NHÂN: Nguồn gốc đầu tiên hay là cái duyên cớ sanh ra một kết quả gì. Đây nói cái căn nguyên xuất phát Đạo Phật.

          KỶ NGUYÊN TÂY LỊCH: Kỷ là ghi; nguyên là đầu, tức là cái tiêu chuẩn để tính năm. Nước Tàu và nước ta lấy năm mỗi nhà vua lên ngôi làm Kỷ nguyên.

          Các nước Tây phương thì lấy năm Chúa Jésus giáng sanh làm Kỷ nguyên, nên gọi là Tây lịch hay Dương lịch.

          TAM THỪA: Cũng gọi là Tam Thặng, do Phạn ngữ (Trujana) có nghĩa là 3 cổ xe, tức là ba khoa giáo lý để độ ba hạng người tu Phật.

          Sở dĩ Đức Phật phân làm Tam thừa là vì sau khi Phật thành Đạo, Ngài thuyết Kinh Hoa Nghiêm trọn 21 ngày mà các hàng Thinh Văn không lãnh hội được. Phật mới quán xét căn cơ của các giới chúng sanh chẳng đồng nhau, nên dùng phương tiện thuyết ra Tam thừa, gồm có:

          1/- Đại Thừa: (Đại Thặng), cũng gọi là Bồ Tát thừa để độ bậc đại căn đại trí đến quả Diệu Giác và hóa độ  chúng sanh vô số mà không biết mỏi. Ví như xe trâu có sức mạnh chuyên chở được nhiều người

          2/- Trung Thừa: (Trung Thặng), cũng gọi là Duyên Giác thừa để độ bực trung căn trung trí đến quả đẳng giác, nhưng phần giác tha không được rộng lớn. Ví như xe nai, có thể chở được một ít người.

          3/- Hạ Thừa: Cũng gọi là Thinh Văn Thừa để độ bực hạ căn hạ trí đến quả Thánh Đạo, chỉ tự độ chớ chưa được phần độ tha. Ví như xe dê có sức chở được một người.

          Theo thời nay ta có thể ví ba xe ấy, như: Xe lửa, xe xích lô máy và xe đạp. Trong ba thừa kể trên, tuy có cao thấp khác nhau, nhưng thừa nào cũng đưa hành giả ra khỏi Tam giới (giải thoát sanh tử), và các bậc tu học ấy, cũng lần lượt tiến lên tối thượng nhứt thừa (Phật thừa) như nhau.

          TRUNG QUỐC: Trước cũng gọi là Trung Hoa hay nước Tàu. Toàn nước nằm trên lục địa, Thủ đô tại Bắc Kinh, Đông giáp Hoàng hải, Trung hải và Triều Tiên; Tây giáp các xứ Cộng Hòa Xô Viết, Kazaki và Kingir; Nam và Đông Nam giáp Hy Mã Lạp Sơn và Việt Nam; Bắc giáp Tây Bá Lợi Á. Diện tích 9.736.000 Km vuông, dân số trên 700 triệu (số dân còn đang lên)

          NHÀ CHÂU CHIÊU ĐẾ: Tức vua Chiêu Vương, tên là Hà, con vua Khương Vương đời nhà Châu nước Trung Quốc. Theo sách “Châu Thơ Ký” thì Chiêu Vương làm vua nhà Châu đến năm thứ 24 là Đức Thích Ca đản sanh tại Ấn Độ. Bấy giờ nước Việt Nam nhằm đời Hùng Vương (Thượng Cổ thời đại).

          ẤN ĐỘ: (Inde), hiện thời là một nước thuộc Châu Á. Đông giáp vịnh Bangale, Đông Hồi và Miến Điện; Tây giáp biển Oman; Tây Bắc giáp Tây Hồi; Bắc giáp Tây Tạng, Nê ban và Bu Tan. Diện tích 3.162.000 Km vuông; dân số có trên 400 triệu. Thủ đô là Tân Đề Ly, người thuộc giống da đen, chia làm nhiều Tiểu bang.

          Theo Phật học, thời xưa nước Ấn Độ cũng gọi là Thiên Trước hay Tây Thiên, Tây Vức. Vị trí nằm miền Bắc Á Châu, nơi sinh trưởng của Đức Thích Ca và cũng là nơi phát tích Đạo Phật. Thuở ấy Ấn Độ chia ra nhiều nước nhỏ, trong đó, nước Ma Kiệt Đà là lớn hơn hết, ở về phía Nam sông Hằng, làm trung tâm toàn cõi xứ Ấn Độ.

          THÀNH CA TỲ LA VỆ: Cũng gọi là Điệu Đức Thành do Phạn ngữ Kápilavastou, phiên âm có nhiều tên: Ca Tỳ La, Ca Tỳ La Tô Đô, Tuy Vệ La, Ca Tuy La. Có nghĩa Kinh Đô màu vàng. Thành nầy cũng thuộc về Trung bộ xứ Ấn Độ, nơi Phật Đản sanh, bây giờ là nước Népal.      

          VUA TỊNH PHẠN: Phạn ngữ Soudhodana, phiên âm: Thủ đô Đà Na hay Du Đầu Đàn, dịch là Tịnh Phạn Vương. Có nghĩa Nhà Vua hay làm việc bố thí một cách trong sạch. Họ Ngài là Thích Ca, thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ (Kshatriya), ngự trị tại kinh thành Ca Tỳ La Vệ, phụ hoàng của Thái tử Sĩ Đạt Ta,

          LẠC NGHIỆP AN CƯ: Đời sống rất yên ổn và vui vẻ với công ăn việc làm.

          PHÒ TÁ: Giúp đỡ.

CHÁNH VĂN

        109.- Đức Hoàng-Hậu Ma-Da phong-nhã,
        Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
        Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
        112.- Đến trước bệ tâu cùng thánh thượng.
        Rằng : Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
        Của hoàng-gia cũng được vinh-quang. 
        Kể từ nay thiếp muốn an nhàn, 
        116.-Dưỡng tâm-trí lần xa thế trược. 
        Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước, 
        Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
        Xin một điều ở chốn long lâu,
        120.- Tập đức tánh khoan-dung đại độ. 
        Tránh tất cả những điều thô-lỗ,
        Chẳng ưa gần kẻ bạo ngang-tàng. 
        Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên-nhan,
       124.- Phê cho thiếp những điều xin ấy.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 109 đến câu 124)

          - Hoàng hậu Ma Da là vợ chính của Vua Tịnh Phạn, người có đức hạnh hiền hòa, thông minh tót chúng, phong nghi cốt cách đoan trang thùy mị; miệng tươi như hoa, lời thanh tợ ngọc, thật đáng là bậc Mẫu Nhi thiên hạ. Bà gồm đủ sắc tài và đức độ, ai được kiến diện cũng đều khởi tâm vui thích.

          - Sáng hôm nọ, bà tắm gội và trang phục sạch sẽ, rồi thân hành đến trước sân chầu của Vua Tịnh Phạn quì tâu: Từ thần thiếp được lịnh Vua ban ân huệ, cùng hưởng mọi sự vinh hạnh, thật chẳng thiếu điều chi. Nhưng từ nay xin Vua cho phépThần thiếp, sống cảnh nhàn thanh để lo tịnh dưỡng thân tâm, xa lần sự thường tình thế trược.

          - Thiếp chẳng muốn làm bận các vệ hầu tỳ nữ như trước, chỉ cần một vài kẻ ý hiệp tâm đầu là đủ. Với mục đích được ở nơi thâm cung thanh tịnh là để lo tu tập các đức tánh cao đẹp chớ không chi khác. Đây cũng là phương tiện cho Thần thiếp bớt nghe, thấy những tiếng tục tằn thô lỗ, những cách ở ăn vô lễ, tàn bạo ngược ngang. Vậy ngưỡng mong lịnh Vua hoan hỉ, chuẩn phê cho Thần thiếp những điều cầu xin ấy.

 

CHÚ THÍCH

          HOÀNG HẬU: Người vợ chánh của vua.

          MA DA: Do Phạn ngữ (Mâyâ), phiên âm là Ma Da hay Ma Ha Ma Da: Có nghĩa đại, đa thắng hay là đại thuật, đại huyễn. Bà Ma Ha Ma Da là vợ chánh của Vua Tịnh Phạn, nói cho đủ là Ma Da Phu Nhơn, và là Mẹ của Thái tử Sĩ Đạt Ta. Người đời thường tôn xưng bà là Thánh Mẫu hay Phật Mẫu (bậc sanh ra Đại Thánh).

          Sau khi sanh Thái tử bảy ngày thì Ma Da phu nhơn thác sanh lên cõi trời Đao Lỵ làm vị Tiên. Đến khi Đức Thích Ca thành Phật, Ngài có lên Đao Lỵ Thiên, giảng đạo cho Thánh Mẫu và chư Thánh Tiên nghe trọn ba tháng. Chính nơi đây Phật giảng Kinh Địa Tạng.

          PHONG NHÃ: Phong lưu tao nhã. Ý chỉ người có đức hạnh văn chương và cốt cách sang trọng. Truyện Kiều có câu:“Phong tư tài mạo tuyệt vời, Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”.

          NGỌC THỐT HOA CƯỜI: Ý nói người rất xinh đẹp, miệng cười tươi tắn như hoa nở, và nói ra lời trong trẻo như tiếng ngọc khua.

          TRƯỚC BỆ: Trước bực thềm, do chữ bệ rồng. Trước bực chỗ Vua ngự.

          THÁNH THƯỢNG: Lời tôn xưng ông Vua, như là bực Thánh cao cả.

          THẦN THIẾP: Tiếng khiêm tốn của người vợ đối với Vua.

          HOÀNG GIA: Nhà Vua.

          VINH QUANG: Vẻ vang rực rỡ.

          AN NHÀN: Cũng viết là nhàn an. Có nghĩa bình yên thong thả. Đức Thầy có câu:

                    “Người tu hành phải trừ nghiệp chướng,

                   Với bốn ma mới đặng an nhàn”.(Giác Mê, Q.4)   

          THẾ TRƯỢC: Cõi đời đầy sự xấu xa nhơ uế.

          CHẲNG PHIỀN: Không muốn làm nhọc công bận rộn ai. Ví dụ: Tôi chẳng muốn làm phiền anh.

          Ý HIỆP TÂM ĐẦU: (Xem CT câu 177, T-2, Q.2).

          LONG LÂU:Lầu rồng, tức cung điện của nhà Vua.

          KHOAN DUNG ĐẠI ĐỘ: Người có đức độ rộng lớn, thườnh hay tha thứ những kẻ lầm lỗi. Đức Thầy từng dạy:“Hãy lấy lòng khoan dung mà đối đãi lẫn nhau, hãy lấy lòng bác ái nhân đạo mà cư xử với mọi người…”(Lời khuyên Bổn đạo)

          THÔ LỖ: Thô tục lỗ mãng. Ví dụ: nói năng thô lỗ, cử chỉ thô lỗ. Đức Thầy hằng khuyên:“…Hãy bỏ những tiếng tục tằn thô lỗ, làm cho đời sống được êm dịu thanh bai hơn…”(Thập ác: Ác khẩu)

          NGANG TÀNG: Ngang ngược ngông nghênh, không biết lễ nghĩa liêm sĩ. Ví dụ: ăn nói ngang tàng bạo ngược.

          NGƯỠNG VỌNG: Trông lên mà cầu mong cho được một sự việc gì. Đức Thầy có câu:

            “Đầu ngưỡng vọng Đất Trời minh chứng,

            Tấm lòng thành quyết dựng Đạo đời”.(Thu đã cuối)         

          THIÊN NHAN: Theo nghĩa chữ một là mặt trời có sức sáng chói cả thế gian, được ấm áp đượm nhuần vạn vật, không sót chỗ nào, nên khi nói đến Thiên Nhan là để tôn xưng vị Vua có đức hạnh ban ân huệ cho vạn dân được no ấm, như mặt trời chiếu soi vậy. Sách Xuân Thu có câu “Thiên oai bất vi nhan chỉ xích”.(oai đức của Trời dù gang tấc cũng không sai chạy). Nghĩa bóng là chỉ cho nhà Vua (mặt Vua).

          PHÊ: Bằng lòng, ký nhận vào văn kiện của người khác được phép thi hành theo lời cầu xin.

CHÁNH VĂN

        125.- Vua nghe xong vội-vàng đứng dậy,
        Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
        Bà tâu thêm ở trước đền rồng, 
        128.- Xin Thánh-thượng bao-dung kẻ khó.
        Lòng yêu dân ví như con đỏ, 
        Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
        Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,         
        132.- Lấy đức rộng bủa trong bá-tánh.
       Vua hứa chịu giúp người đói lạnh, 
        Bà lui về cung điện nghỉ-ngơi.
        Đêm trăng thanh gió mát thảnh-thơi,
        136.- Tiết hòa-thuận khắp nơi hoa nở.
        Đức Hoàng-hậu trong lòng hớn-hở, 
        Giấc chiêm-bao Bà thấy lạ-lùng. 
        Bạch-tượng từ ở chốn không trung, 
        140.- Bỗng sa xuống mình Bà hối-hả.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 125 đến câu 140)

          - Khi Hoàng Hậu Ma Da tâu xong, Vua Tịnh Phạn liền đứng lên với vẻ mặt hân hoan ngỏ lời chấp nhận. Bà vôi tâu thêm: Xin lịnh Hoàng Thượng từ nay nên mở lòng nhân ái rộng lớn, thương giúp, đùm bọc số người lâm cảnh nghèo đói cô quả.

          - Với tấm lòng yêu mến, chở che cho toàn dân như tình thương của cha mẹ, lo cho đứa con mới sanh. Còn đối với các tội nhân cần cứu xét phân minh, xem kẻ nào tội nặng giảm bớt, bằng nhẹ nên tha bổng. Đồng thời ra lịnh xuất kho, trợ cấp cơm áo cho dân nghèo, phát thuốc cho những người có bịnh. Lúc lê dân gặp tai nạn khó khăn, lịnh Vua nên dùng mọi phương tiện bảo vệ, cứu giúp và lấy đức độ vị tha, rộng bủa khắp nơi để người người được gội nhuần ân huệ.

          - Nghe xong, Vua Tịnh Phạn xét lời cầu xin của Hoàng Hậu, toàn là điều Đạo đức cao cả và ích nước lợi dân, nên một lần nữa Vua tuyên hứa sẽ thực hiện y theo các khoảng ấy. Tâu xong Hoàng Hậu liền trở về cung an nghỉ.

          Hôm nọ, chính Bà cũng đến ngọ môn để chẩn tế gạo tiền, thuốc vải cho dân nghèo, mãi say sưa công tác từ thiện, đến quá trưa Bà mới lui gót. Tối lại, Hoàng Hậu cùng kẻ tâm phúc dạo xem kiểng vật, nhằm lúc mùa tiết điều hòa, ngàn hoa khoe sắc, dưới cảnh trời trong gió mát, ánh trăng soi sáng cả vườn, nhìn hoa lá lấp lánh như muôn ngàn mảnh gương phản chiếu. Bấy giờ lòng Hoàng Hậu tràn ngập nỗi hân hoan, thơ thới, vài phút sau Bà trở lại phòng an giấc.

          - Đêm ất Bà mộng thấy bốn Thần lực đến khiêng long sàng Bà, đem thẳng lên chót núi Hy Mã Lạp Sơn, đặt xuống. Bỗng thấy từ giữa trời một con voi trắng có sáu ngà, miệng ngậm hoa huệ bay xuống đứng bên long sàng. Voi liền dùng ngà vạch hông bên hữu của Bà mà chui vào. Chính giờ phút ấy Hoàng Hậu Ma Da bắt đầu thụ Thánh thai. (Nhân quả Kinh có chép: Bấy giờ Bồ Tát Hộ Minh từ cung Trời Đâu Xuất, quán biết thời kỳ giáng sanh đã đến mà Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da là bậc nhân từ đức hạnh, có túc duyên làm cha mẹ Ngài trong nhiều tiền kiếp, nên Ngài thị hiện giáng trần bằng cách hóa hình Bạch Tượng 6 ngà là tiêu biểu cho pháp Lục độ vạn hạnh. Bốn chân của Tượng là tiêu biểu cho bốn pháp như ý túc. Ngoài ra cũng có thể nhận: Sắc trắng và hoa huệ là tiêu biểu cho sự thanh tịnh, bất nhiễm của bậc Đại trí huệ, còn tượng là tượng trưng năng sức mạnh mẽ của Đại Sĩ Bồ Tát.)

CHÚ THÍCH

          VỘI VÀNG: Mau lẹ.

          CHUẨN Y: Chấp nhận y theo lời cầu xin.

          ĐỀN RỒNG: Chỗ Vua ngự, chạm phết toàn hình rồng.

          BAO DUNG KẺ KHÓ: Tha thứ và trợ giúp, chở che cho những người nghèo đói.

          CON ĐỎ: Do chữ “xích tử”. Có nghĩa đứa con mới sanh còn đỏ, rất cần sự đùm bọc chở che của cha mẹ.  Ý nói bậc Vua hiền, lòng hằng thương yêu bảo vệ dân chúng, như cha mẹ thương lo cho đứa con mới sanh (còn đỏ).

          GIẢM THA: Giảm là chiết bớt năm bảy phần; tha là tha bổng. Đây là nói luật khoan hồng của Quốc gia đối với các tù nhân.

          ĐẢO ĐIÊN: Ngửa nghiêng lộn xộn. Ý chỉ gặp cảnh truân chuyên, nghèo đói, tai nạn.v.v…

          CUNG ĐIỆN: Đền đài dinh thự của nhà Vua ở.

          TIẾT: Theo âm lịch (Á đông) căn cứ vào thời gian và khí hậu mà phân ra mỗi năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và Tam tiết lớn: Lập Xuân, Xuân phân; lập Hạ, Hạ chí; lập Thu, Thu phân; lập Đông, Đông chí. Trong đó còn chia ra nhiều tiết nhỏ…

          Chữ Tiết hòa thuận là nói thời tiết xây đúng lúc, mưa nắng điều hòa, khiến hoa kiểng, cây trái đều tốt tươi sum mậu.

          HỚN HỞ: Vui mừng.

          CHIÊM BAO: Trong giấc ngủ thấy các cảnh lành dữ hiện ra. Rất nhiều nguyên nhân sanh ra; đại khái có ba phần:

          1/- Do nơi tạng thức (A Lại Da Thức) chứa những nghiệp duyên và các tư tưởng xấu hoặc tốt ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai); giờ đây nó diễn lại, như cuộn phim chiếu bóng, không thiếu sót.

          2/- Do ảnh hưởng xác thể và lục căn hiện tại, như: đau ốm, sợ hãi, vui mừng hoặc nghe tiếng động bên ngoài, hay nằm cấn gân máu chuyển vận không đều mà sanh ra.

          3/- Do nơi thần mộng: Khi người tu hành tâm đức gần đồng hòa và cảm ứng với chư Phật, Thánh hoặc lòng quá tha thiết mà được các thần linh báo mộng, cho thấy những điềm tốt lành, hay đặng truyền Đạo pháp.v.v…như trường hợp giấc chiêm bao của Hoàng Hậu Ma Da ở đây và bảy điềm mộng của ông A Nan. (Xem Tòng Lâm cổ tích của Như Sanh) Được truyền Đạo như Vương Hiếu Liêm đời Tống. (Xem Thất Chơn Nhơn quả truyện) Và ông Trần Văn Nhu, đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An, nhưng trường hợp nầy ít khi được gặp. (Xem Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu và Dật sĩ).

          LẠ LÙNG: Rất kỳ lạ, không thường thấy biết.

          BẠCH TƯỢNG: Con voi trắng.

          KHÔNG TRUNG: Giữa khoảng không (ngay trên trời).  

          BỖNG SA: Thình lình bay rơi xuống.

          HỐI HẢ: Gấp rút.

CHÁNH VĂN

        141.- Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,    
        Khắp phòng huê thơm nức mùi hương. 
        Bà rảo chơn bèn bước ra vườn,
        144.- Truyền thị-vệ thỉnh vua lai đáo.
        Vua y lời đến nơi hoa thảo,
        Lại gần Bà sao rất quái-kỳ.
        Tay chơn bèn run-rẩy một khi, 
        148.- Muốn quì xuống mắt dường tăm-tối.
        Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
        Rằng ta mừng vua hữu thiện căn. 
        Sắp có con thế giới chẳng bằng, 
        152.- Sau người ấy lập nên Đạo cả.
        Vua nghe xong cúi đầu bái tạ, 
        Liền phán cùng Hoàng-hậu Ma-Da. 
        Có việc chi vội-vã dời ta, 
        156.- Khá nói lại đầu đuôi tường tất.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 141 đến câu 156)

          - Hoàng Hậu vừa tỉnh giấc, cảm thấy trong người khoan khoái lạ thường và khắp phòng đều có mùi hương nồng nặc. Một thứ hương thơm mà từ trước tới giờ Bà chưa lần nào được ngửi. Bà lẹ làng bước đến vườn hoa, ra lịnh cho thị vệ thỉnh vua Tịnh Phạn tới ngay giờ ấy.

          - Vua được tin đi thẳng đến huê viên, nhưng có điều kỳ lạ, khi bước đến chỗ Hoàng Hậu, bỗng nhiên tâm nhà vua bắt hồi hộp, đôi mắt hoa lên và tay chơn đều rung chuyển; hình như bị ánh điện quang rọi đến, khiến Vua tự muốn quì xuống.

          - Liền theo đó, Vua ngửi được mùi hương thơm, tai nghe tiếng ca nhạc vang dội khắp nơi. Đó là lời nhạc của các Thần Tiên chúc mừng, Vua và Hoàng Hậu sắp sanh đặng người con mà cả thế giới chưa một ai sánh kịp. Bởi vị Thánh Nhân ấy, sau nầy sẽ sáng lập nền Đại Đạo và mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho muôn loài.

          Nghe lời chúc tụng xong, Vua Tịnh Phạn vui mừng chi xiết, liền cúi đầu lễ tạ. Đoạn rồi Ngài bước tới phán hỏi Hoàng Hậu, có điều chi hệ trọng, Phu nhơn hãy trình bày hết cho Trẫm nghe.

 

CHÚ THÍCH

          GIẤC MƠ TIÊN: Cũng gọi là giấc Tiên. Có nghĩa giấc ngủ của người đẹp, ý dùng để diễn tả cho đẹp câu văn. Cũng có nghĩa giấc mộng thấy cảnh quí báu. Đây là giấc mơ của Hoàng Hậu thấy điềm sắp được thọ thai, do một vị Bồ Tát giáng trần. Đức Thầy có câu: “Mơ Tiên hồn bướm vụt bay”.(Tự Thán)

          PHÒNG HUÊ: Cũng gọi là phòng hoa. Ý chỉ phòng của người đàn bà ở, có trang diện bông hoa cho tăng thêm vẻ đẹp.

          THỊ VỆ: Người theo hầu và bảo vệ nhà Vua.

          LAI ĐÁO: Lại đến.

          HOA THẢO: Cỏ và bông. Nơi vườn hoa của Hoàng Hậu Ma Da, có trồng đủ kiểng vật, hoa thơm cỏ lạ.

          QUÁI KỲ: Lạ lùng khác thường.

          CA TRỔI: Tiếng ca hát và nhạc sáo vang lên.

          THIỆN CĂN: (Xem CT đoạn 4, T-1, Bài Sứ Mạng).

          THẾ GIỚI: (Xem CT đoạn 5, T-1, Bái Sứ Mạng).

          ĐẠO CẢ: (Xem CT câu 231, tập 2, Q.2).

          ĐẦU ĐUÔI TƯỜNG TẤT: Phân kể hết mọi việc trước sau rành rẽ:“Bày tường tận trước sau chung thỉ”.(Trao lời cùng Ô. Táo)

CHÁNH VĂN

        157.- Bà thuật rõ chiêm bao trong giấc, 
        Xin vua vời ít kẻ bàn giùm.
        Các thầy bàn được lịnh vào cung, 
        160.- Nghe xong-xả tâu rằng điềm quí.
        Ngày thắm-thoát đông qua hạ chí, 
        Bà trổ sanh Thái tử đẹp tươi. 
        Mặt trang-nghiêm khí-phách hơn người, 
        164.- Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ. 
        Họ Thích-Ca từ đây cũng ngỡ,
        Sẽ có người nối nghiệp hoàng-gia. 
        Liền đặt tên là Sĩ-Đạt-Ta, 
        168.- Cả triều chính treo hoa yến ẩm.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 157 đến câu 168)

          - Bấy giờ Hoàng Hậu tường thuật các hiện cảnh trong chiêm bao cho Vua Tịnh Phạn nghe, và yêu cầu Vua mời các Thầy chuyên đoán điềm mộng vào, để bàn xem hung kiết. Vâng lịnh Vua, các người ấy vào cung bàn đoán một hồi, họ tâu rằng: theo điềm mộng của lịnh Bà vừa thấy rất quí báu; tương lai cả Hoàng tộc và dân chúng sẽ gặp nhiều diễm phúc.

          - Ngày tháng trôi qua rất mau lẹ, phút chốc đã đến mùa Khánh Đản, hốm ấy nhằm mùng Tám tháng Tư năm Bính Dần trước Tây lịch 563 năm, tính đến nay (1975) là 2.538 năm - gần 26 thế kỷ.(Có thuyết chép ngày ấy vào Rằm tháng Tư, trước Tây lịch 624 năm.) Đức Hoàng Hậu đang ngoạn cảnh trong vườn Lâm Tỳ Ni, khi Bà bước đến cội Vô ưu (Ưu Đàm hoa), bỗng thấy một đóa hoa vừa tươi nở, xinh đẹp khác thường, hương thơm ngào ngạt; Bà vội vói tay hái cành hoa, thoạt Đản sanh Thái Tử. (Theo lược truyện kể: Lúc Hoàng Hậu vói tay hái hoa Vô Ưu thì Thái Tử khai hông mẹ mà ra và lúc ấy có nhiều hoa sen lớn đỡ gót Thái Tử. Cũng có chỗ chép Thái Tử vừa sanh ra liền bước tới 7 bước và bước lui 7 bước, mỗi bước đều có hoa sen đỡ chân. Mộy tay chỉ Trời, một tay chỉ Đất và nói:“Thiên thượng Địa hạ duy ngã độc tôn”.(Trên trời dưới đất chỉ có một mình ta - Đại ngã). Tuy mới sanh ra, song tướng trạng của Thái Tử lộ đầy vẻ uy nghiêm tốt đẹp, khí phách phi thường.

          - Tin Hoàng Hậu hạ sanh Thái Tử được loan đi từ nội cung đến ngoại thành, lẹ như tiếng dội. Riêng cả Hoàng tộc Thích Ca ai cũng vui mừng, và nghĩ rằng: Từ đây chẳng còn bận lo thiếu người kế nghiệp cho quốc gia nữa. Liền theo đó, Vua và Hoàng Hậu chọn đặt cho Thái Tử một cái tên đầy ý nghĩa là Sĩ Đạt Ta, và cả triều chính từ Vua quan đến thứ dân, cũng đều treo hoa kết tụi, mở tiệc ăn mừng.

CHÚ THÍCH

          CÁC THẦY BÀN: Những người chuyên bàn đoán về các điềm mộng để hiểu sự hung kiết ở tương lai.

           NGÀY THẤM THOÁT: Ngày là chỉ cho thời gian. Thấm thoát: cũng viết là thấm thoắt. Có nghĩa rất mau lẹ. Ý nói chung là ngày giờ trôi qua rất mau chóng. Đức Thầy có câu:

                    “Thiều quang thấm thoát dường tên,

                   Mắc vòng sanh tử có bền được đâu”.(Hoài Cổ)

            ĐÔNG QUA HẠ CHÍ: Hết mùa Đông kế sang mùa Xuân rồi đến mùa Hạ, ý nói mùa tiết đi qua rất mau lẹ. Đây chỉ từ ngày Bà Ma Da thọ thai đã qua ba mùa (9 tháng), nay sắp đến ngày sanh nở.

          THÁI TỬ: Con trưởng của Vua, hoặc người con trai của Vua, được lập nên để sau nối ngôi, và được ở cung phía Đông nên gọi là Đông Cung Thái Tử. Đức Thầy đã viết trong “Luận việc Tu hành”:

                    “Mình vàng Thái Tử ngôi còn bỏ,

                    Vóc ngọc Đông Cung tước phế liền”.

          TRANG NGHIÊM: Đoan trang nghiêm chỉnh, dáng điệu điềm đạm, tươi tắn, oai nghi đàng hoàng.

          KHÍ PHÁCH: Chí khí đởm lược và tinh thần nghị lực mạnh mẽ.

          THẦN DÂN: Tôi dân. Ý chỉ tất cả quan viên công chức và dân chúng trong nước.

          HỌ THÍCH CA: Do chữ Thích Chủng (dòng họ Thích), tức là họ của Vua Tịnh Phạn. Ở Ấn Độ thời ấy dòng họ Thích đông đảo lớn lao hơn hết.

          NGỠ: Tưởng lầm, đoán sai. Ca dao có câu:

                    “Thế gian lắm kẻ mơ màng,

               Thấy hòn son thắm, ngỡ vàng Trời cho”.

          SĨ ĐẠT TA: Do Phạn ngữ (Siddaxrtha). Cũng phiên âm là Tất Đạt Đa hoặc Tất Bà Tất Đạt, Tất Đa, Tất Đà…Có nghĩa: bậc đắc đến quả vị hoàn toàn. Tàu dịch là Nhứt Thiết, nghĩa thành tựu: Thành tựu cho mình và cho vạn loại chúng sanh. Đây là tên của Đức Thích Ca lúc chưa thành Phật, và Ngài có hiệu Thánh riệng trong gia tộc là Cồ Đàm (Gautama).

          TREO HOA YẾN ẨM: Chưng diện bông hoa và mở tiệc ăn uống vui mừng.

 

CHÁNH VĂN

        169.- Có nhà sư cách thành mấy dặm, 
        Thường ở ăn trong sạch hiền-từ. 
        Lòng thẳng ngay chẳng có vị tư, 
        172.- Đời thanh tịnh gìn theo Đạo-lý.
        Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ, 
        Hiểu thiên-cơ thấu mối diệu-huyền. 
        Ông là người Bà-la-môn tiên,
        176.- A-Tư-Đà tiên hiền tên lão.
        Thời buổi ấy vua ưa người Đạo, 
        Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng. 
        Xin vua cho ông bước vào trong, 
        180.- Được yết-kiến tử-hoàng luôn thể.
        Ông xem xong bỗng liền sa lệ, 
        Vẻ mặt buồn chẳng thốt ra lời. 
        Thấy lạ-lùng vua bước đến nơi, 
        184.- Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 169 đến câu 184)

          - Bấy giờ gần thành Ca Tỳ La Vệ có vị Đạo sĩ tên A Tư Đà, tu theo Bà La Môn Giáo, một nền Đạo cổ truyền ở Ấn Độ, do Kriskna sáng lập trước đó 4.000 năm. Nhờ quyết tâm hành đạo, giữ lòng ngay chánh, đúng theo giáo lý, sống trọn cuộc đời thanh tịnh, nên ông A Tư Đà sớm thấu đạt lẽ cơ huyền và được chứng đắc quả Tiên.

          Thuở ấy vua Tịnh Phạn rất kính mến các nhà tu, nên khi nghe tin Hoàng Hậu sanh được Thái Tử, A Tư Đà liền đến chúc mừng trước sân chầu, và xin với Vua cho ông được ra mắt Hoàng Tử.

          - Được lịnh Vua chấp nhận, ông tiến thẳng đến nội cung. Khi nhìn qua toàn thân Thái Tử, A Tư Đà lặng yên đăm chiêu suy nghĩ, đôi mắt từ từ rơi lệ. Thấy thế, Vua Tịnh Phạn rất ngạc nhiện, liền phán hỏi Tiên Ông:- Vì sao lại khóc?

CHÚ THÍCH

          NHÀ SƯ: Ông thầy tu theo Đạo Phật. Chữ Sư có nhiều chỗ dụng khác nhau, như; Giáo sư = Thầy dạy học, Y sư = thầy thuốc…Về phương diện tu hành, như: Thiền Sư: gọi chung các cao Tăng tu Phật, hoặc là ông Thầy dạy tu Thiền. Luật sư: Thầy lảu thông về Tạng Luật. Pháp sư: Thầy chuyên dịch và giảng giải các Tạng Kinh. Luận Sư: Thầy thông minh biện bác về Tạng Luận.

          Tóm lại, nhà sư là danh từ thông dụng để gọi chung trong giới Tăng đồ đã tu hành và thường giảng dạy Đạo pháp.

          DẶM: Khoảng đường bề dài do nhà nước ấn định. Tùy theo đường bộ, đường thủy, mỗi xứ, mỗi nước có khác nhau. Như nước ta thời xưa thì một dặm đường bộ có 1.350 thước mộc. Nước Tàu 1.800 thước, các nước Âu Tây là 4.000 m, còn mỗi dặm biển có 1.852 m, v.v…

          VỊ TƯ: Cũng viết là Tư vị. Vị có nghĩa là vì, thiên về, ngã về một bên. Tư có nghĩa: riêng, nghịch với lẽ công. Vị tư là thiên về một bên nào để xét đoán hay xử sự, chớ không lấy lẽ công bằng đoan chánh. Đức Thầy bảo:

          “Nền đạo đức vị tư bất nhã,

      Ta đừng phân nhân ngã mới hay”.(Cho Ô. Tham tá Ngà)

            THANH TỊNH: (Xem CT câu 838, T-3, Q.4).

          ĐẠO LÝ: (Xem CT câu 155, T-1, Q.1).

          THẦN TIÊN: (Xem CT câu 24, T-2, Q.3).

          THIÊN CƠ: (Xem CT đoạn 7, T-1, bài Sứ Mạng).

          DIỆU HUYỀN: Sâu kín mầu nhiệm, ngoài sức hiểu biết của thế gian. Chỉ có người nhứt tâm hành Đạo mới thấu đạt. Đức Giáo Chủ hằng dạy:

                    “Diệu huyền chơn lý noi đường sáng,

                   Ảo thuật tà tâm kiếm nẻo ra”.(Tỉnh bạn Tr/gian)

            BÀ LA MÔN: Phạn ngữ: Brahmana, là một tôn giáo thờ kính Phạm Thiên, Tàu dịch là Tịnh hạnh, vì người tu theo Đạo nầy giữ hạnh rất thanh tịnh.

          Theo quan niệm của Bà La Môn Giáo thì trước khi trời đất và vạn vật chưa sanh, có vị trời Phạm Thiên, sanh ra nhơn loại và vạn vật. Trong lúc sanh có dòng từ miệng sanh ra, có dòng từ bụng, từ tay, chơn sanh ra; đó là nguyên nhân tạo thành bốn giai cấp ở Ấn Độ:

          1/- Bà La Môn (Brahmana) giai cấp Tăng lữ.

          2/- Sát Đế Lỵ (Ksatriya) giai cấp Vua Chúa.

          3/- Phệ xá hay Tỷ xá (Vaisya) giai cấp Nông, Công, Thương.

          4/- Thủ Đà La (Sudra) giai cấp Nô lệ.

          A TƯ ĐÀ: Phạn ngữ (Asita), ông là người tu theo Bà La Môn Giáo, được quả Tiên nhơn.

          TIÊN HIỀN: Bậc hiền triết thuở trước, tức chỉ vị tiên A Tư Đà.

          YẾT KIẾN: (Xem CT câu 144, T-3, Q.4).

          SA LỆ: Rơi nước mắt.

          PHÁN: Lời của Vua nói với bề tôi ở dưới.

CHÁNH VĂN

        185.- Trước cung-điện ông liền bày tỏ, 
        Rằng tử-hoàng chừng được thành nhơn. 
        Lìa đền-đài khổ-cực chẳng sờn, 
        188.- Tìm Đạo-lý dắt-dìu sanh-chúng. 
        Ngài sẽ được thế-gian ca tụng, 
        Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.  
        Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn, 
        192.- Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.
        Cả hồng-trần đau-thương thống-thiết, 
        Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân-hồi. 
        Vô phước nên tủi bấy phận tôi, 
        196.- Chớ chẳng có điều chi lo ngại.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 185 đến câu 196)

          - Trước sự ngạc nhiên, chờ đón của Vua và mọi người, Tiên nhơn A Tư Đà trình bày tự sự: Theo Ông đã nhìn rõ toàn thân của Thái Tử có đủ 32 tướng hảo khác thường, xưa nay chỉ có Chuyển Luân Thánh Vương và Phật mới được như vậy. Ông đoán rằng: Nếu sau nầy Hoàng Tử nối ngôi sẽ làm đến bậc Chuyển Luân Thánh Vương, bằng đi tu ắt đạt thành quả vị Chắnh đẳng Chánh giác. Nhưng phần chắc là tới tuổi trưởng thành Hoàng Tử sẽ lìa bỏ cung vàng ngôi báu, chẳng núng nao  trước sự gian khổ nơi rừng thiêng, nước độc để tìm ra chánh Đạo hầu giải khổ cho chúng sanh.

          - Với khí tuợng ấy chắc chắn Ngài sẽ chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, khi đó khắp dương gian đều được gội nhuần Pháp nhũ và cả Tam giới chúng sanh, cũng hết lời ca tụng công đức Ngài.

          - Từ đó Ngài sẽ ban vui cứu khổ cho khắp nhân gian; biết bao người nhờ nương theo pháp nhiệm cùa Ngài mà giải thoát sanh tử. Xét lại, hạ thần quá thiếu phước, kém duyên nên tự tủi lòng rơi lệ, chớ chẳng có điều chi khác lạ, xin Hoàng Thượng an lòng !

CHÚ THÍCH

          THÀNH NHƠN: Cũng viết là thành nhân. Có nghĩa nên người. Phàm giới Nam từ 18 tuổi, Nữ từ 16 tuổi trở lên là đến tuổi thành nhơn.

          CHẲNG SỜN: (Xem CT câư89, T-1, Q.1).

          CA TỤNG: Khen ngợi xưng tụng, tức dùng thi văn hoặc bài ca, bài hát để khen tặng, chúc tụng những bậc có công ích cho đời hoặc Đạo. Ví dụ: ca tụng công đức của Phật. Trong loạt bài “Những câu chú thường niệm”, Đức Thầy có dịch:

“Ngài là Vua Pháp tột cao,

Khắp trong ba cõi chẳng sao sánh tày.

Tiên, người đồng kính Đạo Thầy,

Cha lành hết cả bốn loài chúng sanh.

Nay tôi qui mạng thiệt hành,

Ngỏ mong trừ dứt nghiệp sanh ba đời.

Tỏ ra khen ngợi những lời,

Dù cho ức kiếp chẳng nơi nào cùng”.

          QUẢ PHẬT VẸN TRÒN: Thành Phật trọn vẹn hay hoàn toàn giác ngộ. Đây là ý nghĩa của chữ “Giác hạnh Viên mãn”, bởi bực có đủ Tam giác: Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn (tròn đầy hạnh Phật).

          PHẬT THUYẾT: Lời Phật nói ra hay Kinh Pháp mầu diệu của Phật truyền dạy. Đức Thầy từng nói:“Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại”.(Khuyến thiện Q.5) Hoặc là:

                    “Lời Phật dạy từ bi bác ái,

                 Dạy nhơn từ quảng đại mở mang”.

                              (Bài nguyện trước Bàn thờ Ông bà)

          LUÂN HỒI: (Xem CT đoạn 1, T-1, Bài Sứ Mạng).

          VÔ PHƯỚC: Không có phước. Đây là lời than tiếc của ông A Tư Đà, vì thiếu phước nên ông mắc phải một trong 8 cái nạn là sanh trước Đức Phật ra đời nên không được nghe lời Phật dạy.(Tám nạn: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh: Trường thọ Thiên, Bắc cư lư châu, Thế trí biện thông, sanh trước và sau Phật, đui, điếc, câm ngọng. Ai mắc một trong 8 hoàn cảnh nầy, khó mà nghe pháp và tu được.)

          TỦI THÂN: Tự hổ thẹn xót xa và than trách cho phận mình.

CHÁNH VĂN

        197.- Đức Hoàng-hậu đến ngày thứ bảy, 
        Dứt nợ trần nên vội qui tiên. 
        Có bà dì thay thế mẹ hiền, 
        200.- Giùm săn-sóc trông-nom Thái-tử.
        Khi lớn lên cho người dạy chữ, 
        Lúc vào trường chẳng học mà thông. 
        Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong, 
        204.- Cho Thái-tử đừng lìa cung-điện.
        Hội triều-đình các quan lựa tuyển, 
        Nàng Du-Gia được chọn kết hôn. 
        Vua nghĩ rằng muốn tâm yên-ổn, 
        Chọn cung-phi mỹ-nữ làm trò. 
        Cất đền-đài lộng-lẫy đẹp to, 
        210.- Ngày ca múa đêm bày lơi-lả.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 197 đến câu 210)

          - Sau khi sanh Thái Tử được bảy ngày, thì Hoàng hậu Ma Da từ trần, thần thức Bà được siêu sanh lên Cung Trời Đao Lợi hưởng quả Tiên. Vua Tịnh Phạn bèn giao Thái tử cho Bà Ma Ha Bà Xa Bà Đề, tức là em ruột của Hoàng Hậu lo dưỡng nuôi chăm sóc.

          - Càng lớn lên, diện mạo Thái Tử càng khôi ngô, Ngài có sức khỏe hơn người, tài năng xuất chúng. Lịnh Vua cho mời các Giáo Sư danh tiếng nhứt trong xứ, về các môn văn tài, võ thuật đến dạy Thái Tử, song Thái Tử sáng suốt dị thường bất luận môn học nào, hễ nghe qua một lượt Ngài đều thông hiểu hết ý nghĩa, khiến cho các Giáo Sư phải ngạc nhiên khiếp phục. Dầu vậy, nhưng Thái tử không bao giờ tỏ ra ngạo mạn, nơi Ngài luôn có những đức độ ôn hòa nhã nhặn, bình đẳng vô tư và đầy lòng thương người mến vật.

          - Bởi nhớ lời tiên đoán cùa A Tư Đà, Vua Tịnh Phạn rất lo sợ cho Thái Tử lớn lên đi tu; nhứt là thấy cử chỉ của Ngài không hề vui đùa theo thế sự như bao nhiêu Công tử khác. Lại thường có vẻ trầm tư, nên Vua tìm đủ cách cản ngăn không cho Thái tử ra khỏi điện đền.

          - Đến năm Thái Tử 16 tuổi, Vua hội hết Hoàng tộc và các quan văn võ, để chọn người làm lễ thành hôn cho Thái Tử. Sau khi lựa tuyển thì được con gái của Vua Thiện Giác, tức là Công Chúa Da Du Đà La, người có sắc đẹp và hạnh đức đầy đủ hơn hết, cho sánh duyên cùng Thái Tử và về sau nàng sanh đặng người con trai là La Hầu La. Đã thế, song Vua cũng chưa an tâm, liền truyền lịnh xây cất cho Thái Tử ba tòa lầu nguy nga tráng lệ: một cái để nghỉ trong  mùa nóng, một cái nghỉ trong mùa lạnh, và một cái nghỉ trong mùa không nóng không lạnh. Ngoài ra Vua còn cấp thêm cho Thái Tử 500 mỹ nữ tuyệt đẹp, để ngày đêm hát múa đờn ca và bày các thứ vui say, khơi gợi lòng Ngài phải đắm đuối theo đó, quên nghĩ đến việc xuất gia.

CHÚ THÍCH

          NỢ TRẦN: Cũng gọi là nợ đời, nợ trần tục, do chữ Túc trái. Theo thuyết nhân quả luân hồi: con người sanh ra cõi đời là để trả những nghiệp nợ đã tạo ra từ nhiều kiếp trước. Nếu dứt nợ thì không còn trở lại. Song chữ dứt nợ trần ở đây ý nói hết kiếp sống trong cõi trần.

          QUI TIÊN: Trở về cảnh Tiên. Do câu “Sanh ký tử qui”(sống ở thác về). Theo quan niệm Tam giáo thì cõi đời nầy là cảnh giả tạm, con người sanh ra như kẻ ở trọ, để rồi một ngày kia mãn nghiệp trở về quê xưa cảnh cũ (Phật, Thánh, Tiên). Đức Giáo Chủ có viết:

                    “Ngày kia được trở gót hài,

              Về nơi Tiên cảnh ngàn ngày đẹp tươi”.

                                  (Khuyên người giàu lòng Phước thiện)

          BÀ DÌ: Người dì ruột của Thái Tử, tên là Ma Ha Bà Xa Bà Đề (Mâhâ Gôtamide) em ruột của Hoàng Hậu Ma Da. Sau Bà xuất gia tu hành được chứng quả A La Hán, và đứng ra đỡ đầu cho hàng phụ nữ vào Đạo. Bà rất có công trong việc hoằng hóa đạo mầu đối với hàng phụ nữ. Trong Hội Pháp Hoa, Đức Phật có thọ ký cho Bà, sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Nhứt thiết chúng sanh Hỷ Kiến Như Lai.

          THÔNG: Hiểu suốt, biết rộng. Trường hợp thông suốt của Thái Tử Sĩ Đạt Ta là do khiếu thông minh sẵn có, trong bản tánh từ nhiều tiền kiếp tu hành mà được (sinh nhi tri) chớ chẳng phải nhờ sự học hỏi mà thông như người đời (học nhi tri).

          TRIỀU ĐÌNH: Nơi Vua và các quan viên họp nhau để bàn việc nước.

          LỰA TUYỂN: Chọn lọc.

          GIA DU: Nói cho đủ là Gia Du Đà La (Yacôdharâ) con gái Vua Thiện Giác. Vốn là một Công Chúa có đầy đủ đức hạnh thuần mỹ và sắc đẹp hơn hết, trong các Công Chúa thời ấy.

          Theo Lược Truyện, lúc Đức Thích Ca tu khổ hạnh 6 năm nơi Khổ Hạnh Lâm thì Công Chúa  Gia Du ở Hoàng Cung cũng nghiêm trì giới hạnh, và sau bà xuất gia tu hành chứng quả Thánh.

          Trong Pháp Hoa Hội, Phật có thọ ký cho Bà: Sau khi Bà thờ phụng nhiều Đức Phật, sẽ thành Phật hiệu là: Cụ Túc Thiên Vạn Quang Minh.

          KẾT HÔN: Kết có nghĩa là buộc, thắt; do điển tích ông Tơ bà Nguyệt dùng xích thằng (chỉ đỏ) buộc chân của đôi trai gái có duyên nợ với nhau. Hôn có nghĩa là gả cưới; cũng có nghĩa là ban đêm, vì theo tục xưa, cuộc gả cưới thường cử hành ban đêm. Cho nên kết hôn có nghĩa sánh duyên chồng vợ.

          CUNG PHI: Những phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh được chọn vào cung, để hầu hạ Vua và Hoàng Hậu.

          MỸ NỮ: Người con gái có sắc đẹp.

          LÀM TRÒ: Bày tuồng, đóng lớp. Như ca hát, nhảy múa cùng các thú vui.v.v…

          LỘNG LẪY: Rực rỡ nguy nga.

          LƠI LẢ: Cợt nhả, bỡn hớt, có ý khêu gợi dục tình, trêu ghẹo việc bướm ong.

 

CHÁNH VĂN

        211.- Lòng Thái-tử cũng không xiêu-ngả,
        Ra khỏi đền du ngoạn một khi. 
        Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì, 
        214.- Gặp cụ lão tay nương gậy chống. 
        Ngài xem qua lòng bèn cảm-động,
        Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.
        Xét cõi trần trong dạ héo xào, 
        218.- Chi xiết nỗi núng-nao cõi tạm.
        Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm, 
        Được trông nhìn kẻ chết đang khiêng. 
        Về đền-đài cảm xúc buồn riêng, 
        222.- Hằng để trí tầm phương giải-thoát.
        Lần thứ tư vừa đi dạo mát, 
        Bỗng gặp người tốt đẹp trang-nghiêm. 
        Nào dè đâu Trời đã ứng điềm, 
        226.- Giả tăng-sĩ gợi lòng Thái-tử.
        Ngài hiểu rõ ấy là phận-sự, 
        Phải xuất gia tầm Đạo mau mau.
        Liền quày xe trở lại lai trào, 
        230.- Xin Vương-phụ lánh xa mùi thế.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 211 đến câu 230)

          - Mặc dù sống trong cảnh lầu đài danh vọng múa hát đờn ca, con ngoan vợ đẹp, nhưng lòng Thái Tử chẳng hề nhiễm trước, lại thường lộ vẻ u buồn trước cảnh đau khổ giả dối của chúng sanh. Ngài thấy mình cần phải tìm một lối thoát, một nếp sống chơn thật và có ý nghĩa cao đẹp, trường tồn.

          - Hôm nọ Thái Tử thấy lòng buồn bả, liền đến tâu với Phụ Vương, cho phép Ngài ra ngoài thành du ngoạn. Vua Tịnh Phạn quá yêu Thái Tử, nay lại thấy con không vui nên chấp thuận, nhưng Vua mật lệnh cho quan dân dẹp tất cả những gì coi là cực khổ, đau thương và cấm không cho một bóng dáng nhà tu nào lai vãng trong các con đường mà Thái Tử sắp đi qua.

          - Được phép Vua cha, lần đầu tiên Thái Tử cho xe tiến ra cửa thành phía Đông. Đi vừa đặng một khoảng đường, Ngài bắt gặp cụ lão mắt lờ, tai điếc, má cóp da nhăn; tuy tay có chống gậy, song cụ bước đi trong sự run rẩy, xem rất là khổ sở khiến Ngài động mối từ tâm.

          - Lần thứ hai, Ngài du ngoạn cửa thành phía Nam, bỗng thấy người tật bịnh đang ngồi dựa lề đường; thân thể ốm gầy, da vàng mặt bủn, miệng nhai thức ăn mà nuốt không vô, rên rỉ khóc than, trông thật là thảm não!

          - Lần thư ba Thái Tử cho xe ra cửa thành phía Tây. Đi được một đoạn đường, bỗng gặp cái thây chết, đoàn người đang khiêng đi, phía sau thân nhân theo kêu réo, khóc than thảm thiết. Ngài liền quay lại hỏi người đánh xe: Những cái già, cái bịnh mà ta đã thấy hai hôm rồi và cái chết hôm nay, có ai tránh khỏi chăng?       

          Người đánh xe đáp:

          - Thưa Ngài: Tất cả con người sanh ra cõi đời, đều cũng phải già, bịnh rồi chết mất, chớ không một ai tránh khỏi cả. Thái Tử nghe xong lòng chan chứa nỗi buồn, khi trở lại Hoàng Cung, Ngài vận dụng hết tâm trí để tìm phương giải thoát.

          - Lần thứ tư Thái Tử cùng người đánh xe ra cửa thành phía Bắc; dưới ánh bình minh trời trong gió mát, Thầy tớ vừa đi vừa ngắm xem cảnh vật. Bỗng gặp vị Sa Môn, đứng đi khoan nhã, dung mạo đoan nghiệm ra vẻ người thanh tĩnh. Thái Tử khởi lòng kính mộ, bước tới bái vị Sa Môn và hỏi: - Ông là ai vậy?

          Sa Môn đáp:

          - Tôi là người đã thoát khỏi mọi nỗi sanh, già, bịnh, chết vì tôi chẳng còn luyến ái một sự vật nào trong thế gian.

          -Nghe câu trả lời ấy, Thái Tử liền hiểu ngay mình phải mau mau tầm Đạo, mới mong giải khổ cho mình và cả vạn loại chúng sanh. Ngài liền chào vị Sa Môn, lập tức bảo Xa Nặc quay xe trở lại thành, để tâu xin với Phụ Hoàng cho Ngài lên đường tìm Chánh Đạo.

 

CHÚ THÍCH

          XIÊU NGÃ: Nghiêng chiều theo, thuận xuôi khuất phục theo, sa ngã theo. Ví dụ: xiêu ngã theo dục lạc.

          DU NGOẠN: Đi đạo chơi, lấy sự ngắm xem phong cảnh làm thú tiêu dao hay giải khuyây.

          CẢM ĐỘNG: Cảm xúc mà động lòng, đối cảnh sanh tình. Do thấy các cảnh tượng mà khởi lên lòng thương mến.

          DẠ HÉO XÀO: Lòng se thắt lại, ủ rũ dã dượi, như hoa héo lá xào. Đức Thầy có câu:

                    “Nhưng nghĩ lại héo xào tim phổi,

                    Biết gốc lành sao cội không gìn”.(Thu đã cuối)

            CHI XIẾT: Không sao kể xiết.

          CÕI TẠM: Nói đủ là cõi tạm giả. Có nghĩa không thật, không bền chắc lâu dài, tức chỉ cho cõi trần chúng ta đang ở. Ý nói tất cả từ thân quyến, của tiền đến xác thân của ta cũng đều giả tạm, không thật có. Cổ nhân từng bảo:                  
                     “Thế thượng vạn bang độ thị giả,

                     Nhơn gian Đạo đức quả duy chơn”.

                      (Trên đời không vật chi là thật,

                      Chỉ có Đạo mầu mới thiệt chơn).

          Đức Thầy (Kim Sơn Phật) nay cũng nói:“Thế trần tạm giả gạt đời ta”.(Tỉnh bạn Trần gian) Hoặc là:“Tạo duyên giả phàm gian thân giả”.(Cho Ô. Tham tá Ngà)

          TRẠM: Nơi xe đậu, xe ngừng, hoặc nhà để xe hay nơi nghỉ tạm rồi đi nữa.

          CẢM XÚC: Nghĩa như chữ Cảm động đã giài trên.

          GIẢI THOÁT: (Xem CT câu 117, T-3, Q.4).

          ỨNG ĐIỀM: Bày lộ ra, hiển hiện ra cho thấy. Đây là trường hợp lúc Thái Tử du ngoạn. Vua Tịnh Phạn đã ra lệnh cấm: không cho một Tăng Sư, Đạo Sĩ nào lai vãng đến con đường Thái Tử sắp đi qua, nhưng bỗng nhiên hôm ấy lại có một Tăng Sĩ xuất hiện. Đó là do Phật Trời hóa hiện để gợi chí xuất gia của Thái Tử.

          TĂNG SĨ: Thầy tu (Xem thêm phần CT chữ Chư Tăng câu 87, T-3, Q.5).

          XUẬT GIA: (Xem CT câu 369, T-3, Q.4).

          VƯƠNG PHỤ: Vua cha, tức Tịnh Phạn Vương.

          MÙI THẾ: Mùi đời, mùi tục lụy. Vì đời có vui buồn, sướng khổ, cũng như vật thực có đủ mùi: chua, cay, đắng, mặn, ngọt. Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

                    “Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ,

                      Bước thế đồ gót rỗ kỳ khu.”

          Đức Thầy cũng từng bảo trong “Thức tỉnh một nữ Tín đồ”:       
                     “Nếu mãi mê man mùi tục lụy,

                      Linh hồn chìm đắm chốn nê hà”.

CHÁNH VĂN

        231.- Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
        Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai. 
        Khuyên con nên ở chốn điện-đài, 
        234.- Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
        Lòng Thái-tử quyết theo ý muốn, 
        Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.        
        Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng, 
        238.- Thân chẳng sá xông-pha bờ bụi. 
        Ngài thuở ấy nên mười chín tuổi, 
        Tâm đại-hùng cương-quyết tu-trì.
        Trải bao phen lao-khổ xiết chi, 
        Sau Ngài đến Rạch-Ni Liên-Thuyền.
        Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham-thiền, 
        244.- Ngồi khổ-hạnh sáu năm bên ấy.
        Đạo gần đắc Ma-Vương theo khuấy, 
        Dùng thần-thông nghị-lực dẹp tan. 
        Ấy mới vừa đắc Đạo hoàn-toàn, 
        248.- Và lần bước phô-trương độ chúng.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 231 đến câu 248)

          - Nghe Thái Tử xin xuất gia tầm Đạo, Vua Tịnh Phạn rất sầu não, nên dùng đủ lời khuyên lơn: Cha đã già yếu chỉ hy vọng một mình con, sau nầy sẽ thay cha mà trị vì thiên hạ. Vậy hiện giờ con nên ở lại, vừa lo giữ gìn cơ nghiệp và vừa tu tập lần lần, rồi sau sẽ xuất gia, cũng chẳng trễ lắm đâu!

          Thái Tử tâu tiếp: Nếu Phụ Vương muốn con nối nghiệp thì xin giúp con ba việc:
1- “Làm sao cho con trẻ hoài không già;
2- Mạnh hoài không đau;
3- Sống hoài không chết và cứu khổ được chúng sanh thì con sẽ vâng lời mà ở lại”.

Nghe qua, Vua Tịnh Phạn lấy làm bối rối, vì không thể làm sao cho Thái Tử thỏa mãn các việc ấy; nhưng Vua cũng cố tình ràng buộc Thái Tử. Ngài liền cho tăng thêm các cuộc vui chơi luôn cả ngày đêm trong cung điện.

          - Riêng lòng Thái Tử đã nhứt quyết nên vào một đêm nọ, sau cuộc múa hát của các cung nữ, mọi người đều an giấc. Thái Tử muốn vào từ giã vợ con lần cuối, nhưng e gặp trở ngại, nên nén lòng lui ra; Ngài kêu Xa Nặc thắng yên ngựa; rồi Thầy trò cùng lên lưng ngựa Kiền Trắc vượt khỏi thành. Hôm ấy là ngày mùng Tám tháng Hai âl, đúng năm Ngài 19 tuổi.

          Phi ngựa đến sông A Nô Ma trời vừa rạng đông. Thái Tử xuống ngựa lấy gươm cắt tóc và lột áo mão cùng đồ trang sức, trao hết cho Xa Nặc, bảo mang về Hoàng Cung, để Vua Cha thấu rõ chí xuất gia của Ngài. Bấy giờ Thái Tử chỉ còn một hình một bóng, chẳng quản trước núi cao rừng thẳm, thú dữ chông gai. Ngài đem bộ nhung phục đổi cho anh thợ săn để lấy bộ đồ dà mặc vào, cho không còn vướng chút mùi vương giả nào trong thân nữa.

          - Trước hết Thái Tử đến Vấn Đạo nơi ông Bạc Già, nghe giáo lý nầy không đưa người đến chỗ giải thoát nên từ giã ra đi. Kế Ngài gặp hai ông A La Ra và Uất Đầu Lâm Phất, ở tu Thiền định với hai ông nầy 6 năm. Khi nhận ra pháp tu nầychỉ đắc đến cọi Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, chớ chưa ra khỏi Tam giới, Ngài liền giã từ đi nữa.

          - Sau rốt Ngài đến khu rừng già Ưu Lâu Tần Loa, phía Nam núi Tượng Đầu, gần bờ sông Ni Liên Thuyền. Thấy phong cảnh tốt đẹp nên Ngài trụ tại đây tu khổ hạnh 6 năm nữa. Với lối tu ép xác hành khổ của Ngài vượt bực hơn năm người bạn cùng tu, khiến họ vô cùng kính nể. (Năm người: Kiều Trần Như, Át Bệ, Bạt Đề, Ma Nam Câu Ly và Thập Lực Ca Diếp.). Hôm nọ vì quá kiệt sức nên Ngài đang đi bỗng ngã xỉu, chừng tỉnh lại Ngài mới nhận ra lối tu như vầy quá lầm lạc, vì trí tuệ chưa mở, Đạo quả chưa thành mà đã bỏ thân thì làm sao cứu độ được ai, nên Ngài quyết định ăn uống lại như thường (đường trung Đạo).

          Gần nơi ấy có thiếu nữ Tu Xá Đề, cùng một tỳ nữ đi ngoạn cảnh, vừa gặp Thái Tử thì nàng biết ngay là người bị lao vì nhịn đói. Nàng bước nhanh về nhà, lấy thứ sữa hảo hạng, đựng trong cái bát vàng đem đến dâng cho Ngài. Ngài dùng sữa xong, sức lực dần dần bình phục, liền xuống sông Ni Liên Thuyền tắm rửa sạch sẽ, rồi Ngài đi thẳng đến cội Bồ Đề (Tất Bát La) ngồi thiền định luôn 49 ngày và Ngài có phát đại thệ:“Nếu Ta không thành Đạo chứng quả, nguyện trọn đời chẳng rời gốc Bồ Đề nầy”.

          - Lúc Thái Tử sắp thành Đạo, bọn Ma Vương hiện đến dùng đủ cách phá Ngài: đầu tiên chúng giả vờ kính phục, yêu cầu Ngài nhập Niết Bàn ngay, nhưng bị Ngài bác bỏ. Chúng liền dùng binh ma khí giới, hoán võ hô phong, song cũng chẳng hại được Ngài. Ma Vương liền trở cách, cho ba đứa con gái đến, dùng hình vóc lả lơi khêu gợi, lời lẽ ngọt ngào quyến rũ, nhưng tất cả đều phải khuất phục dưới thần lực của Ngài.

          - Sau khi chiến thắng bọn Ma Vương (ngoại ma) và các vi tế phiền não (nội ma), Thái Tử Sĩ Đạt Ta đắc quả  “Vô Thượng Bồ Đề”(Chánh đẳng Chánh giác), hiệu là “Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, và hôm ấy vào ngày mùng Tám tháng Chạp. Đắc đạo xong, Đức Phật thực hiện ngay chí nguyện đại Từ Bi, lần chuyển Pháp luân trước hết là Ngài đến rừng Lộc Giả (Khổ Hạnh Lâm), thuyết pháp “Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo” cho năm anh em Kiều Trần Như nghe. Nghe xong, năm người ấy đều tỏ ngộ và chứng quả A La Hán, từ đó Phật, Pháp Tăng có đủ (Phật là Đức Thích Ca Mâu Ni, Pháp là Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo, Tăng là năm anh em Kiều Trần Như), cũng từ độ ấy Phật cùng chư Tăng du hành khắp nơi, khai hóa Đạo mầu để rộng độ các tầng lớp chúng sanh.

CHÚ THÍCH

          NỐI NGHIỆP: Tiếp kế của Ông Cha từ trước. Đây nói sự nối ngôi Vua.

          CHẲNG SÁ: Không nệ hà, không kể, không quản. Ví dụ: Chẳng sá sự gian lao, cực khổ. Cũng dùng như chữ chi sá, đâu sá hay sá gì, như Đức Thầy có viết:“Anh hùng đâu sá cảnh gian lao”.(Quyết rứt cà sa)

          XÔNG PHA: Lướt tới, sấn tới, dấn thân vào chịu đựng mọi sự gian nan gai gốc. “Nước non ngàn dặm xông pha cũng đành”.(Lục Vân Tiên) Đức Thầy từng nói:

      “Xông pha chiến địa gian nan sá gì”.(Gọi đoàn Th/niên) 

            ĐẠI HÙNG: Sức dũng cảm mạnh mẽ to lớn. Tâm đại hùng là lòng dũng mãnh dứt bỏ được sự nhiễm ô luyến ái. Đây là một trong ba chí đức mà thế gian thường ca ngợi Phật Thích Ca:

          1/- Ngài đoạn tuyệt được cảnh đời vương giả: vợ đẹp, hầu xinh là tâm Đại hùng.

          2/- Tự dùng sức mạnh của tinh thần hàng phục được nội ma (dục vọng) và ngoại ma (Ma Vương) dưới cội Bồ Đề, đó là chí Đại lực.

          3/- Sau khi đắc Đạo, Phật không nỡ nhập Niết Bàn sớm, vẫn trụ thế 49 năm để cứu độ các giới chúng sanh, đó là lòng Đại từ bi.

          Đức Thầy từng thốt:

                    “Phải chổi dậy nương dây hùng tráng,

                    Chữ đại hùng, đại lực, từ bi”.(Diệu pháp QM)

            CƯƠNG QUYẾT: Lòng cứng cỏi khăng khăng và nhứt định làm cho được việc, dù gặp lắm cản trở, khó khăn cũng không hề lơ đễnh lùi sụt. Đức Phật có dạy:“ Đời sống của các ngươi có vui tươi hay đau khổ đều do các ngươi quyết định và tạo lập lấy”.

          TU TRÌ: (Xem CT câu 36, T-2, Q.1 (?))

          RẠCH NI LIÊN THUYỀN: Cũng viết là Ni Liên thiền do Phạn ngữ (Nairânyânâ), phiên âm: Ni liên Thuyền, Tàu dịch là Bất lạc trước hà. Có nghĩa: con sông chẳng đắm nhiễm dục lạc. Vốn là một con sông nằm gần núi Tượng Đầu, xóm Ưu Lâu Tần Loa, thuộc nước Ma Kiệt Đà (Ấn Độ). Trước khi tịnh tọa dưới cội Bồ Đề, Đức Thích Ca có xuống Rạch Ni Liên Thuyền tắm rửa sạch sẽ. Do đó người đời sau thường tán tụng nước ở con sông nầy có diệu năng rửa sạch mọi điều nhơ bẩn (Ni Liên hà lý, phi hữu cấu nhi kiến trừ).[sách Pháp Huyễn Châu Lâm]

          THAM THIỀN: Cũng gọi là Thiền định hay Thiền na. Do Phạn ngữ: Dhyana. Tham là suy gẫm, quán xét; Thiền là Tịnh lự là tư duy. Nói chung, tham thiền là chú tâm yên lặng mà quán xét suy gẫm để diệt trừ phiền não hoặc tìm hiểu Đạo lý mầu nhiệm. Đức Thầy từng dạy:“Phật pháp Thiền na dốc thực hành”.(Cho cô Năm Võ thị Hợi) Hoặc là:

                    “Định tâm thần như mặt nước hồ,

           Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối”.(Giác Mê TK, Q.4)

            KHỔ HẠNH: Hạnh tu ép xác hành khổ. Lúc Đức Thích Ca đến Khổ Hạnh Lâm cùng với năm anh em Kiều Trần Như, tu lối ép xác Hành khổ. Mỗi ngày đêm Ngài chỉ ăn một vài hột mè, uống một ít giọt sương, thân hình gấy ốm, đến đổi bày cả bộ xương ra. Hôm nọ vì quá kiệt sức nên Ngài đang đi bỗng té xỉu, chừng tỉnh dậy Ngài mới phát kiến được hai xu hướng sai lầm:

          1/- Sống cảnh quá đầy đủ sung sưóng thì tu không được.

          2/- Tu ép xác hành khổ lại càng không kết quả.

          Nhờ đó, Ngài tìm ra được con đường Trung Đạo, liền từ giã nơi đây, đến ngay cội Bồ Đề ngồi tham thiền suốt 49 ngày là đắc quả Như Lai.

          MA VƯƠNG: (Xem CT đoạn 5, T-1. Bài Sứ Mạng)

          THẦN THÔNG: Phạn ngữ (Rddi). Thần là linh diệu, không thể liệu lường được. Thông là vô ngại, lưu thông tự tại, không chi ngăn trở nổi. Thần thông là tiếng nói chung để gọi Ngũ thần thông của hàng Tiên nhơn hay Lục thần thông của các bậc La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật. Gọi tắt là Ngũ thông hay Lục thông. Đức Giáo Chủ từng cho biết trong “Xuân Hạ tác cuồng thơ”:

                    “Mắt nhìn thấy thần thông biến hóa,

                      Đức Di Đà hiện chóa hào quang.”

          NGHỊ LỰC: Sức mạnh mẽ để tiến tới. Đây chỉ về sức mạnh của tinh thần. Nhà tu hành có năm sức mạnh (ngũ lực) để đạt đến quả Phật.

          1/- Tín lực: Cái gốc tin tưởng có sức phá tan, những tà tín dối trá.

          2/- Tinh tấn lực: Cái gốc tinh tấn tăng trưởng, có sức phá tan tâm giải đãi nhơ xấu.

          3/- Niệm lực: Cái gốc niệm tưởng chơn chánh tăng trưởng có sức phá tan các tà niệm.

          4/- Định lực: cái gốc thiền định tăng trưởng có sức phá tan các loạn động.

          5/- Huệ lực: Cái gốc sáng suốt tăng trưởng có sức phá tan vô minh vọng hoặc trong tam giới.

          Na Tiên Tỳ Kheo Kinh có dạy rằng:“Nhờ nghị lực giúp nhà nhà tu đến khi đắc đạo và thoát khỏi luân hồi sanh tử”. Đức Thầy nay cũng nói:

                    “Quyết lòng rửa sạch tiền khiên,

                      Ra oai ra lực hùng yên mới là”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          ĐẮC ĐẠO HOÀN TOÀN: tức được giác hạnh viên mãn, cũng gọi là chứng quả Phật. Vì nhà tu từ bực Thinh Văn…đến Bồ Tát vẫn còn tiếp tục tu cho đến khi chứng quả Như Lai mới thành đạt mục đích, nên gọi là đắc Đạo hoàn toàn.

          PHÔ TRƯƠNG: Trưng bày ra.

          ĐỘ CHÚNG: Cứu vớt, hóa độ chúng sanh. 

CHÁNH VĂN

        249.- Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,         

        Các chúng-sanh đều có như Ta. 

        Bị vô-minh vọng-tưởng vạy-tà,

        252.- Nên quay lộn Ta-bà cõi khổ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 249 đến câu 252)

          - Trên con đường châu du độ thế, Đức Phật đã quán biết tất cả chúng sanh đều có hột giống Phật, tức mỗi ai cũng cũng đồng một thể tánh như Phật (Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh). Nếu chúng sanh biết giác ngộ tu hành tất sẽ thành Phật, sánh cùng Ngài không khác. Ví như hai ly nước: trong là Phật, đục là chúng sanh, nếu ta đem lọc ly nước đục cho hết cặn thì hai ly nước đều trong sạch như nhau.

          Sở dĩ hiện giờ ta thấy chúng sanh và Phật khác nhau, là vì chúng sanh bị vô minh vọng tưởng che mờ căn tánh từ vô thỉ, rồi cứ tiếp tục gây nghiệp trần mê mà phải sanh tử mãi trong cõi Ta bà thống khổ.

 

CHÚ THÍCH

          PHẬT CHỦNG: Hột giống Phật. Ý nói tất cả chúng sanh đều có hột giống Phật, cũng gọi là Phật tánh. Vậy ai muốn thành Phật phải làm cho hột giống Phật của tự tâm mình phát sanh. Trong “Tự Tánh Chơn Phật Kệ” Đức Lục Tổ có dạy:

                    “Đốn giáo Pháp kiếp nầy đặng gặp,
                      Tự tánh liền thấy Phật hiện thân.
                      Người tu hành muốn kiếm Phật thân,
                      Nơi nào kiếm chơn thân của Phật ?
                      Trong tự tánh thấy thường chơn thật,
                      Có chơn thì giống Phật mới thành,
                      Chẳng thấy tâm kiếm Phật ngoài thân,
                      Tâm vọng khởi thiệt phần si ám”.

          Đức Thầy nay cũng xác nhận:

       “Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm”. (Sấm Giảng Q.1)

          CÁC CHÚNG SANH ĐỀU CÓ NHƯ TA: Mỗi mỗi chúng sanh đều có chơn tánh như Phật. Lúc Đức Phật mới thành Đạo, Ngài có nói: Ta xem cả thảy chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng Như Lai cả (Nhơn nhơn hữu tánh Như Lai).

          Xưa, nơi cánh rừng nọ, có một con sư tử cái, đã mang thai và phải bịnh mấy hôm, kiếm ăn không được, nên bụng đói thắt thẻo. Không thể chịu đói lâu ngày, sư tử gượng ra mé đường mòn của bầy dê thường qua lại, ý định rình bắt một con dê, ăn đỡ lòng.

          Nó núp khuất trong bụi rậm chờ bầy dê đi ngang, liền nhảy ra vồ một con, nhưng dê lẹ làng tránh chạy. Sư tử vì đau yếu lại chụp hụt mồi, nên bị té va đầu vào gộp đá, vẫy chết.Trước khi dứt thở nó sanh được một sư tử con. Giờ sau, sư tử con đứng lên, bơ vơ một mình, bỗng bầy dê khác đi tới, nó liền chạy theo. Bầy dê thấy sư tử còn bé, trông rất ngoan hiền nên cho nhập bọn, bú sữa và cùng ăn cỏ. Từ đó sư tử con sống chung với bầy dê, nó đinh ninh rằng mình là loài dê.

          Hôm nọ, Sư tử chúa đứng trên núi cao nhìn thấy sư tử nhỏ sống chung với bầy dê mà vẫn được hòa hợp, triều mến, nó lấy làm lạ bèn nghĩ cách tìm hiểu nguyên nhân. Suy tính xong, Sư tử chúa xuống núi ẩn mình vào lùm cây dựa đường, chờ bầy dê đi ngang, nó phóng ra chụp được Su tử nhỏ, và hỏi:

          - Tại sao mầy là sư tử mà lại sống chung với bầy dê, làm mất thể diện cả loài?

          Sư tử nhỏ vùng vẫy không được bèn cải chính và năn nỉ:

          - Tôi là dê chớ không phải là sư tử, ông làm ơn buông tha cho tôi theo bầy!

          - Mầy là sư tử chớ không phải là dê, biết chưa?

          - Tôi là dê ông à ! Xin ông khoan hồng cho tôi một lần đi!

          Sư tử chúa thấy giải thích mãi không kết quả, liền kéo xển sư tử nhỏ đến bờ giếng, chỉ xuống mặt nước trong lặng và bảo:

          - Nhìn xuống đây coi hình mầy có phải giống hình tao không? –Sư tử nhỏ nhìn xuống ngơ ngác…Sư tử chúa liền rống lên một tiếng vang dội cả rừng. Sư tử nhỏ bất giác rống theo, tới đây nó mới chợt tỉnh mình là sư tử. (phỏng theo Tạp Thí Dụ Kinh)

          Câu chuyện trên giúp ta nhận rằng mỗi chúng sanh từ vô thỉ đều đồng một bản thể với chư Phật, song vì vô minh điên đảo mà phải lẫn lộn mãi trong sáu đường sanh tử rồi mê chấp mình là chúng sanh mãi mãi, không thể nào làm Phật được. Nay nhờ Đức Phật, Đức Thầy dùng mọi phương tiện giác tỉnh, chúng sanh mới nhận ra nơi mình có sẵn tánh Phật, nếu ai biết tu hành tất được đồng hòa một bản thể cùng chư Phật, ấy là thành Đạo giải thoát.

          Cũng như sư tử con, vì nghiệp mê ràng buộc, nên đầu thai vào bụng mẹ, khi sanh ra và lớn lên trong bầy dê, rồi vọng chấp mình là dê (chúng sanh). May nhờ có sư tử chúa (đấng giác ngộ) tìm mọi biện pháp khai ngộ, sư tử con mới bừng tỉnh mình là sư tử.

          VÔ MINH: Phạn ngữ (Avidya), phiên âm là A Vĩ di hay A Vĩ nễ dã, Tàu dịch là Vô minh. Vô có nghĩa là không; Minh là rõ sáng. Chúng sanh mê mờ không rõ tâm chơn như diệu minh của mình, trở lại nhận lầm các vọng tưởng nên gọi là vô minh (mê si).

          Chính vô minh là mối đầu của Thập nhị Nhân duyên để dẫn từ hành, thức đến sanh tử. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có viết:“Mọi pháp trong sạch là chơn như, mọi nhân nhiễm trược gọi là vô minh”. Lại nữa chơn như diệu minh ví như mặt trời, vô minh ví như mây. Đức Thầy thường viết:

                    “Màn vô minh che mờ căn trí,

         Nên thường khi nhận ngụy làm chơn”.(Kh/thiện, Q.5)         

          VỌNG TƯỞNG: Móng nghĩ việc sái quấy, tà vạy, không hạp với Đạo lý chánh pháp. Trong Đại Thừa Nghĩa Chương có câu:“Kẻ phàm phu mê tối đối với sự thật, bèn khởi ra các tướng của các pháp, chấp lấy tướng cho là danh, rồi y theo danh mà giữ lấy tướng; bởi chỗ giữ lấy chẳng chơn thật, nên kêu là vọng tưởng”. Và đoạn khác đã nói:“Chấp một cách sai lạc không chơn thật, kêu là vọng. Đem cái vọng tâm mà giữ lấy điều mình chấp, kêu là tưởng”.(Mậu chấp bất chơn, danh chi vi vọng, vọng tâm thủ tướng, mục chi vi tưởng)

          VẠY TÀ: Cũng viết là tà vạy. Có nghĩa: gian dối cong vẹo, không chơn chánh ngay thẳng.

          TA BÀ: (Xem CT câu 183, T-2, Q.2).

CHÁNH VĂN

        Lòng thương chúng thuyết-phương Tịnh độ
  Đặng dắt-dìu tất cả chúng-sanh.
     Nếu như ai cố chí làm lành,  
        256.- Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật-Quốc. 
       Cả vũ-trụ khắp cùng vạn-vật,   
       Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc-sanh.
       Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng-hành,  
       Được cứu-cánh về nơi an-dưỡng.
       Chỉ một kiếp Tây-phương hồi hướng,   
       262.- Thoát mê-đồ dứt cuộc luân-hồi. 

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 253 đến câu 262)

          Bởi quá thương xót chúng sanh mãi trôi lăn trong bể trần gian khổ, nên xưa kia Phật đã thuyết Vô Lượng Kinh Pháp để tùy cơ giáo hóa, nhưng vì muốn rộng độ hết các từng lớp chúng sanh; Phật mới ân cần khai thị Pháp môn “Tịnh Độ”, bởi pháp môn rất giản tiện và dễ chứng đắc hơn hết. Ngài đã từng thốt:“Tịnh độ Pháp môn chí huyền, chí diệu bất tu dư hạnh nhi đắc lục Ba La Mật”.(Pháp môn niệm Phật rất huyền, rất diệu; chẳng cần tu pháp nào khác vẫn đắc được sáu phương tiện sang qua bờ giác). Thế nên thời nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng tiếp tục xiển dương Pháp môn ấy để rộng độ chúng sanh: “Môn Tịnh độ là phương cứu cánh, Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa”.(Khuyến Thiện, Q.5)

          - Ngài cho biết tất cả chúng sanh trong thế giới Ta Bà, không phân biệt Tiên, phàm hay ma, quỉ, súc sanh, nếu một chúng hữu tình nào biết tu theo Pháp môn Tịnh độ. Nghĩa là quyết chí làm lành lánh dữ và nhứt tâm trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” ,dù trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi hay uống ăn, ngủ nghỉ đều cũng trì hành như vậy:“Rán trì tâm tuởng niệm canh thâu, Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp”.(Kệ Dân, Q.2) Đồng thời mỗi hành giả cần có đủ ba đức tánh: lòng tin chắc thật, chí nguyện thiết tha và phụng hành tinh tấn thì chắc chắn chỉ trong một kiếp nầy là được thoát khỏi sáu đường sanh tử và vãng sanh về An Dưỡng Quốc (Cực lạc) của Đức Phật A Di Đà. Đức Thầy luôn khuyến tấn:

                    “Di Đà lục tự ấy phương châm,

                      Ghi dạ xin ông hoặc đứng nằm”.

                                        (Đáp lời Ô. Nguyễn Kỳ Trân)

          Và:    
                   “Về Cực lạc thảnh thơi an dưỡng,

            Ấy là ngày ban thưởng công tu”.(Cho Ô. Cò Tàu Hảo)

 

CHÚ THÍCH

          PHƯƠNG TỊNH ĐỘ: Là phương pháp trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” để được trở về với “Bản lai thanh tịnh, hoặc Vãng sanh Cực lạc”. Pháp nầy do Đức Phật Thích Ca truyền ra để giới thiệu cõi Cực lạc và tán dương công đức vô lượng thọ vô lượng quang của Phật A Di Đà cùng nguyện lực lớn lao của Ngài. Nhân đó, khai thị pháp môn Tịnh độ. Tôn chỉ gồm trong ba bộ kinh: Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ.

          Sau đó chừng 700 năm, Đức Mã Minh Bồ Tát, Long Thọ Bồ Tát và Thế Thân Bồ Tát, cực lực khuyên người tu pháp Tịnh độ. Từ đó Pháp môn nầy được lưu hành khắp Á châu, nhưng tùy theo sở nhận của mỗi người mà tu lấy, chớ không có tổ chức thành hệ thống. Mãi đến đời Tống bên Trung Hoa, có Ngài Huệ Viễn thâm ngộ môn Tịnh độ mới đứng ra tập hợp các Đạo sư, lập thành Hội Liên xá. Bắt đầu từ đó Pháp môn nầy thạnh hành khắp dân gian.

          Khi Ngài Huệ Viễn Đại Sư tịch rồi thì có các Ngài: Thiện Đạo Đại Sư, Thừa Viễn Đại Sư, Pháp Chiếu Đại Sư, Diên Thọ Đại Sư nối nhau hưng truyền Pháp môn Tịnh độ, gây nên phong trào niệm Phật mạnh mẽ. Từ đó nhẫn nay đa số người tu hành lúc lâm chung đều có thoại ứng vãng sanh về cõi Cực lạc.(Xem các Mẩu chuyện Vãng sanh trong Đạo pháp Nghi vấn)

          CHÚNG SANH: (Xem CT đoạn 5, T-1, bài Sứ Mạng)

          VŨ TRỤ: Cũng viết là võ trụ. Vũ là không gian: bốn phương và trên dưới. Trụ là thời gian: quá khứ, hiện tại và vị lai. Ý chỉ khắp thế giới. Đức Thầy thường nói:

                    “Tiêu diêu Đạo đức luận bàn,

                    Vân du võ trụ thanh nhàn biết bao”.(Hoài Cổ)

          TIÊN PHÀM MA QUỈ: Ý chỉ chung hết chúng sanh trong 6 nẻo luân hồi, gồm có ba đường thiện: Trời (Tiên), Người (phàm), A tu la (thần); và ba đường ác: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.

          NHỨT TÂM: (Xem CT câu 105, T-2, Q.2).

          TÍN, NGUYỆN, PHỤNG, HÀNH: Ba đức tính căn bản của người tu Pháp môn Tịnh độ.

          1/-TÍN là đức tin đầu tiên của hành giả. Cổ nhân từng bảo: Người có đức tin như xe có đủ bánh, sẽ lăn đi một cách dễ dàng (Nhơn hữu tín như xa hữu luân). Cho nên kẻ có lòng tin chắc thì đường xa bao nhiêu cũng đến, quả vị bao cao cũng thành, bằng ngược lại mọi việc khó thành công. Hoa Nghiêm Kinh, Phật đã dạy:

                      “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu,

                       Tăng trưởng nhất thiết chư thiện pháp.

                       Trừ diệt nhất thiết nghi hoặc,

                       Thị hiện khai phát vô thượng Đạo.” 

                       (Tin là đầu đạo mẹ công đức,

                       Tin là căn lành cha của quả.

                       Tin thì thoát khỏi ngoại Đạo tà,

                       Tin thì tiến vào thiền định chánh,

                       Tin thì được siêu phàm nhập Thánh,

                       Tin thì hay thành Phật độ sanh)

          Cho nên người tu Pháp môn niêm Phật luôn có đức tin dũng mãnh:

          - Tin lời Đức Phật thuyết không sai.

          - Tin cõi Cực lạc là có thật.

          - Tin Đức Phật A Di Đà giữ đúng như lời nguyện:“Có một chúng sanh nào trong 10 phương phát tâm làm lành, niệm Phật, đến lúc lâm chung đều được Ngài phóng hào quang đến tiếp dẫn về cõi của Ngài”.

          - Tin Pháp môn Tịnh độ là thù thắng hơn các pháp (dễ tu dễ chứng đắc).

          - Tin mình có đủ khả năng thành Phật hoặc vãng sanh về Lạc Quốc.

          2/- NGUYỆN: là chí quyết định, là lời hứa hẹn, là lòng thiết tha, mong muốn thực hiện cho kỳ được. Chính nó là động cơ thúc đẩy người tu mau đạt đến mục đích. Từ ngàn xưa, chư Phật, chư Tổ, chư Sư khi phát tâm tu hành đều có lập nguyện. Ngay như tiền kiếp của Phật A Di Đà (vua Vô Tránh Niệm), lần đầu tiên Ngài đến Pháp Hội Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bốn mươi tám lời đại nguyện. Cho nên ai tu pháp môn Tịnh độ cần phải có lập nguyện vững vàng, như Đức Thầy đã dạy trong hai “Bài Nguyện trước Bàn thờ Cửu Huyền”:

“Rày con xin giữ Đạo hằng,

Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.

Nguyện làm cho đẹp mặt mày,

Thoát nơi khổ hải liên đài được lên”.

          Hoặc là:

“Nguyện đem công quả tu hành,

Cứu trong Tông Tổ vãng sanh liên đài.

Về Phật quốc ngày ngày an lạc,

Cả giống dòng giải thoát luân trầm.

Rồi đem Đạo pháp huyền thâm,

Độ trong sanh chúng hết lầm hết mê”.

          3/- PHỤNG HÀNH: là vâng lời và thi hành theo Pháp môn niệm Phật, cùng làm lành lánh dữ để được vãng sanh về Cực Lạc.

          Hành giả tu theo Pháp môn nầy, nếu đã có lòng tin và chí nguyện mà không chịu thực hành thì chẳng khác nào người tin đi học sẽ biết chữ và có chí muốn học, nhưng rồi không chịu học thì suốt đời vẫn còn dốt. Trái lại, nếu có thực hành mà thiếu lòng tin và chí nguyện thì cũng không đi tới đâu.

          Nói tóm lại, Tín, Nguyện, Hành là ba yếu tố căn bản của người tu pháp môn Tịnh Độ, nếu thiếu một không thể được. Nó chẳng khác nào cái đảnh ba chân, thiếu một chân đảnh để không vững. Thế nên Kinh Phật cho nó là ba món tư lương (lương thực đi đường). Người niệm Phật nếu không đủ tín nguyện hạnh, ắt phải ngã gục giữa đoạn đường, bằng có đủ sẽ thành công một cách dễ dàng.

          CỨU CÁNH: (Xem CT câu 323, T-3, Q.4)

          AN DƯỠNG: (Xem CT câu 180, T-2, Q.2).

          HỒI HƯỚNG: Hồi là chuyển xây lại; hướng là ngó về; tức là những công đức, thiện căn mà mình đã tu bồi được, nay nguyện hồi hướng về mục đích của mình đã nhắm. Cho nên chữ hồi hướng đối với nhà tu Phật là xoay chuyển công đức hướng về ba chỗ:

          1- Chỗ sở chứng chơn như thật tướng.

          2- Chỗ sở cầu vô thượng Bồ Đề.

          3- Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.

          Ngoài ra còn hồi hướng công đức cho Cửu Huyền Thất Tổ đặng siêu thăng Tịnh độ. Nhưng chữ hồi hướng ở đây là ý chỉ xoay chuyển công đức về chỗ vãng sanh Cực lạc. Đức Thầy có câu:

                    “Đem thân hồi hướng gốc lành,

               Làm tôi Phật Tổ chí thành chí chơn”.

                                                  (Cho Ô. Cò Tàu Hảo)

          KIẾP: Phạn ngữ (Kaipa), phiên âm là kiếp ba, dịch là đại thời hay bá vạn niên.

          Theo Phật học thì Kiếp là thời kỳ rất dài, thật khó lấy số năm, tháng mà kể. Kiếp lại có ba bực: tiểu kiếp, trung kiếp và đại kiếp. Nhưng chữ Kiếp ở đây Đức Giáo Chủ chỉ cho một đời sống của con người, như Ngài từng nói:“Kiếp người dường chùm gởi bám vào cây”.(Trao lời cùng Ô. Táo)

          MÊ ĐỒ: Đường mê, cảnh giới mờ ám, tức là con đường luân hồi trong ba cõi chúng sanh. Bồ Đề Tam Luận có viết:“Phàm các pháp mê đồ đều từ trong vọng tưởng mà ra”.

          LUÂN HỒI: (Xem CT đoạn 1, T-1, Bài Sứ Mạng).

CHÁNH VĂN

       263.- Xét cõi trần sống khổ giạt-trôi, 
       Vô lượng thứ ở trong thế-giới.
       Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại, 
       266.- Ta-bà khổ, Ta-bà lắm khổ.
       Có bao người xét cho tột chỗ,
       Tịnh-độ vui, Tịnh-độ nhàn vui.
       Cảnh thanh-minh sen báu nặc mùi, 
       270.- Nào ai rõ cái vui triệt đáo. 
       Vì phần Ta rất yêu-mến Đạo, 
       Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
       Lấy lời xưa kết lại ít tờ, 
       274.- Cho thiện-tín rỗi nhàn xem-xét.
       Dứt mê tâm dứt điều hờn ghét, 
       Rán cần chuyên niệm Phật làm lành. 
       Thường trau-giồi chí-hướng cao-thanh, 
       278.- Cho khỏi thẹn con lành Phật-Giáo.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 263 đến câu 278)

          - Đoạn nầy Đức Giáo Chủ nhận xét kiếp sống của tất cả chúng sanh dẫy đầy sự đau thương thống khổ, chẳng khác nào cánh bèo bị gió tạt sóng nhồi, lêng đênh theo dòng nước giữa bể trần vô định. Đã vậy, mỗi chúng sanh còn phải luân chuyển biết bao lần trong ba cõi sáu đường, không thể so đếm được.

          - Vì quá thương xót chúng sanh, Đức Thầy mới nhắc lại lời Kinh pháp mà xưa kia Đức Phật đã thuyết giáo: sanh trong cõi Ta bà mỗi chúng sanh đã chịu vô vàn đau khổ, lại còn bị bao nhiêu cảnh khổ khác dồn tấp đến. Kinh Pháp Hoa, Phật đã nói: Ba cõi không an cũng như nhà lửa, chứa đầy sự khổ, rất khá ghê sợ, thường bị sự sanh, già, bịnh, chết, lo buồn…như các ngọn lửa thiêu đốt, chẳng hề ngưng dứt. (Tam giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khổ bố úy, thường hữu sanh, lão, bịnh, tử, ưu hoạn như thị đẳng hỏa, xí nhiên bất túc). Thế mà chẳng mấy người xét nghiệm cho thấu hiểu ngọn ngành để tìm phương xa lánh.

          - Đối với cảnh Ta bà thống khổ thì có cảnh Cực lạc (Tịnh Độ) tột vui. Bởi cảnh nầy do công đức và nguyện lực của Đúc A Di Đà tạo nên. Từ đất cát đến cung điện toàn bằng bảy báu, ánh sáng muôn trùng, nào hoa sen năm sắc, thanh lịch thơm tho; nào ao nước có Tám công đức, chim kêu tiếng pháp, cây báu diễn lời lành. (Tám công đức: 1. Nước trong trẻo, 2. Man mát, 3. Ngon ngọt, 4.Mềm nhẹ, 5. Đượm nhuần trơn bóng, 6. Yên ổn hòa nhã, 7. Trừ đói khát, 8. Nuôi lớn các căn.) Đến các thức ăn, áo mặc đều tự sanh theo ý muốn và mỗi người có đủ phép thần thông tự tại. Thật là một cõi vô cùng trang nghiêm, vui đẹp:“Không già, không bịnh, chẳng ngày nào lo”.(Từ giã làng Nhơn Nghĩa) Thế mà ít có ai thấu triệt được cái tột vui ấy.

          - Bởi lòng quá mến yêu Đạo đức, nên Đức Giáo Chủ chẳng nệ trí kém tài non, đem lời quí báu của Phật, dệt lại mấy trang trong quyển Giảng nầy để khuyên khắp tín đồ, khi nhàn rỗi hãy lấy ra xem và nghiệm xét hầu có tiến thân trên đường sang Phật Quốc.

          Nếu ai biết giác ngộ tu hành thì hãy sớm dứt bỏ lòng mê si tà kiến, sân hận ghét ganh; siêng năng niệm Phật và làm lành lánh dữ. Đồng thời lo rèn luyện cho mình có một tâm chí kiên nhẫn để tiến hành theo định hướng thanh cao của Đạo đức. Có được như vậy ta mới xứng đáng là một tín đồ trong Đạo pháp.

 

CHÚ THÍCH

           SỐNG KHỔ: Đời sống đau khổ. Ý nói kiếp sống của con người trong cõi trần gian chịu nhiều nỗi bi thương thống khổ, không một chúng sanh nào thoát khỏi. Đức Phật xưa từng bảo:“Đời là bể khổ, nước mắt của chúng sanh khóc cảnh sanh ly tử biệt từ vô thỉ đọng lại, nếu có chỗ chứa còn nhiều hơn bể cả”. Trong Trí độ Luận cũng viết:“Vô lượng chúng sanh hữu Tam chướng thân khổ: Lão, bịnh, tử; Tam chướng tâm khổ: Tham, sân, si; Tam chướng hậu thế khổ: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh”.(Vô lượng chúng sanh có ba món khổ của Thân là: Già, bịnh, chết; ba món khổ của Tâm là Tham lam, Sân nộ, Mê si; ba món khổ của đời sau là: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.)

          Đức Thầy nay cũng nói:

                    “Dòm biển trần cảnh khổ vơi vơi,

                   Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết”.(Kệ Dân, Q.4)

          Cho nên Ngài hằng khuyên:

                    “Trong buổi khổ mau mau tránh khổ,

                     Rán tầm vào đến chỗ an cư”.(Thiên lý ca)

          GIẠT TRÔI: Cũng gọi là trôi giạt. Có ý nói: vật gì bị sóng gió đánh bạt ra vào, lui tới nhiều lượt, lại bị nước đùa chảy trôi đi nơi nầy, nơi khác. Nghĩa bóng; chỉ cuộc đời của con người đầy gian nan khổ sở, rày đây mai đó.

          VÔ LƯỢNG THỨ: (Xem CT câu 92, T_3, Q.5)

          TA BÀ: (Xem CT câu 183, T-2, Q.2).

          TỘT CHỖ: Đến nơi cùng tột rốt ráo.

          TỊNH ĐỘ: (Xem CT câu 32, T-3, Q.5).

          THANH MINH: Trong sạch sáng sủa. Cảnh thanh minh là cảnh Cực lạc, vì cõi nầy rất yên lặng trong sạch nên có tên là “Thanh tịnh Hải hội”, và cõi nầy toàn bằng bảy báu, ửng ra ánh sáng vô cùng tận, nên có tên là “Vô Lượng Quang”. Gọi chung là Cảnh thanh minh.

          TRIỆT ĐÁO: Đến chỗ cùng tột, hơn hết. Vui triệt đáo là cái vui tột hơn hết, không có cái vui nào bằng.

          TRÍ SIỂN TÀI SƠ: Trí kém thiếu, tài thấp thỏi. Đây là tiếng nói khiêm nhượng. Đức Thầy có câu:

                    “Tài sơ trí siển nôm na,

              Mặc tình chê ghét phận ta ta tường”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          RỖI NHÀN: Rảnh rang thong thả, không bận việc. Đức Thầy khuyên:“Lúc rảnh việc nên thường coi Kệ giảng”.(Lời khuyên bổn đạo – Tám điều răn cấm).

          MÊ TÂM: Lòng mờ tối si mê, nhận lầm sự lý: vọng tưởng cho là trí huệ, việc chánh nhận tà, việc tà nhận chánh. Cũng đồng nghĩa với chữ vô minh và mê si.

          Trong “Sa Di Thập Giới” có chép:“Nỗi khổ bị thiêu đốt trong ba đường dữ, nỗi khổ của con Lạc đà, con Lừa chở nặng và nỗi khổ đói khát bức bách của loài Ngạ quỉ chưa gọi là khổ mấy; Si mê không tu học, chẳng biết hướng đi (giải thoát) mới gọi là khổ”.

          Cho nên Đức Giáo Chủ hằng dạy:

                    “Trần tâm rứt sạch cuộc mê si,

                      Quan sát đạo mầu nẻo ẩn vi”.

                              (Cho Ô. Trần Quang Hạnh)

          HỜN GHÉT: Tâm sân hận và ghen ghét, tật đố một trong tam độc (tham sân si) và cũng là một trong 10 món phiền não căn bản.

          Kinh xưa có nói:

        “Nhất niện sân tâm khởi, Bá vạn chướng môn khai”

           Vị phiền não chi căn, Thọ tam đồ chi khổ”.

(Một niệm lòng khởi sân si,

Trăm ngàn cửa chướng tức thì mở khai.

Phiền não là gốc chẳng sai,

Ba đường chịu khổ khó ngày thoát ra).

          Đức Thầy nay cũng dạy, trong “Thu đã cuối”:

                    “Vượt cảnh khổ muôn phần u ám,

                      Ganh, ghét, hờn thì thảm muôn bề”.

          CẦN CHUYÊN: (Xem CT câu 207, T-2, Q.2).

          CHÍ HƯỚNG: Tâm chí và khuynh hướng. Lòng nghiêng ngã theo một đường hướng đã định thì quyết đạt cho được chí nguyện đó. Ví dụ: Ông ấy đã nuôi dưỡng một chí hướng Đạo đức cao thượng.

          CAO THANH: (Xem CT câu 267, tập 2, Q.2). 

CHÁNH VĂN

       279.- Đức Thích-Ca từ xưa dạy bảo :
       Khổ Ta-bà nhiếp lại tám phần. 
       Bởi chúng-sanh mang lấy xác thân, 
       282.- Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
       Vào bụng mẹ chung quanh bao-bọc, 
       Có khác nào ở chốn ngục tù. 
       Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu, 
       286.- Lúc mẹ đói dường treo lỏng-bỏng.
       Ta kể sơ những điều bi-thống, 
       Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn.
       Khi ra đời đau-đớn vô ngằn, 
       290.- Cất tiếng khóc nếm mùi dương-thế.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 279 đến câu 290)

          - Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ nhắc lại lời giảng của Đức Thích Ca Mâu Ni:“Tất cả chúng sanh trong cõi trần chịu muôn ngàn điều khổ não, kể chẳng xiết, nhưng có thể tóm tắt lại tám điều, vì trong tám điều khổ ấy nó có thể xảy ra muôn ngàn sự khổ não kia”.(Sơ giải Tứ Diệu Đề) Sở dĩ có những nỗi khổ trên là vì chúng sanh còn gây tạo xác thân, nếu thân không có thì mọi sự khổ chẳng do đâu mà sanh được. Lão Tử cũng xác nhận điều nầy: Ta có đại hoạn, vì ta có thân, nếu ta không thân hoạn nạn đâu có (Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân; nhược ngô vô thân, hà hoạn chi hữu). Và Đức Phật đã từng giảng rõ:“Thân là gốc của sự khổ. Nó là cái quả của các nghiệp tiền trần (quá khứ) mà nó cũng là cái nhân của quả vị lai”.

          Vậy cái khổ thứ nhứt là sự sanh, bởi những tiền kiếp chúng sanh còn tạo nghiệp sanh tử, nên thần thức phải đầu thai vào bụng mẹ. Ở trong đó bị bào thai bao bọc bịt bùng, như người tù bị nhốt trong ngục thất. Thai nhi bắt đầu chịu sự nuôi dưỡng bằng vật ô uế (tinh huyết) của mẹ, những khi người mẹ đau yếu, máu huyết không đầy đủ thai nhi phải ốm thon lại. Lúc mẹ đói lòng, cũng như cái túi treo lơ lửng thường hay chới với. Ngược lại, khi mẹ được ăn uống no bụng thì thai nhi bị sự chèn ép của bao tử và ruột rất chật chội khó khăn. Suốt thời gian ở trong bào thai hài nhì phải chịu bao lần khổ đau, sầu cảm vì ảnh hưởng nơi người mẹ.

          - Chẳng thế, khi đúng ngày khai nở, thai nhi phải ép mình để chui ra “Sản môn ô uế”, thật là đau đớn vô cùng, như một con voi chui qua kẹt đá nhỏ. Cho nên lúc ra khỏi mình mẹ, đứa bé phát lên tiếng khóc “khổ a”, chứng tỏ đã nếm cái hương vị của cõi đời đầy trược khổ.

CHÚ THÍCH

          NHIẾP LẠI: Gồm lại, thâu gọn lại hay tóm lại.

          TÁM PHẦN: Do chữ Bát khổ, tức tám phần đại khổ của mỗi chúng sanh, gồm có: Sanh, Lão, Bịnh, Tử, Mưu cầu bất đắc, Ái biệt ly, Oan tắng hội, Ưu sầu lo ngại.

          HUYẾT KIỆT: Máu khô cạn hay là hết. Đây ý nói vì đau ốm nên máu huyết trong người bị giảm bớt, khô dần.

          HÌNH THU: Thân thể bị co rút lại. Đây chỉ cho xác thân của đứa con trong bào thai bị ốm thon lại, bởi người mẹ mang bịnh mà ra.

          LỎNG BỎNG: Tiếng chao của một vật đựng trong bầu lỏng lẻo và lững đững không đụng đâu. Ví dụ: Lắc bầu nghe lỏng bỏng ở trong.

          BI THỐNG: Thương cảm đau nhức. Ý chỉ cho sự quá đau xót thương cảm.

          VÔ NGẰN: Không bờ bến, chẳng biết đâu là cùng. Đây có nghĩa không sao kể xiết.

          DƯƠNG THẾ: Cõi đời, cõi có ánh sáng mặt trời, đối với cõi âm không có ánh sáng. Chỉ cho thế giới loài người đang sống.

CHÁNH VĂN

       291.- Đoạn Lão khổ thứ nhì xin kể, 
       Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân. 
       Hết tráng-cường đến lúc mòn thân, 
       Răng lần rụng lưng cong gối mỏi. 
       Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi, 
       296.- Thử nghĩ coi lao nhọc cùng chăng ?
       Đoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng, 
       Đeo hành phạt xác thân ô-uế.
       Bởi thời-thế chuyển xây biến-thể,
       300.- Thêm uống ăn chẳng được điều-hòa.
       Là nguyên-nhân căn bịnh phát ra, 
       Thân trằn-trọc hôn mê nhức-nhối.
       Cơn bịnh hoạn càng không tránh nổi,
       304.- Còn mang thêm tật nọ tật kia.
 

LƯỢC GIẢ(Từ câu 291 đến câu 304)

          - Đến giai đoạn thứ hai là sự già khổ. Từ khi cất tiếng chào đời đến khi thân hình mạnh khỏe, vui tươi của tuổi xuân đầy nhựa sống, như một đóa hoa đang cười nụ, khoe hương. Phút chốc bị thời gian cướp mất, với tâm thân quắc thước hiên ngang, với bao vẻ yêu kiều diễm lệ, giờ đây chỉ còn trong mộng tưởng. Một nhà thơ đã cất tiếng buồn than:

                    “Bao vẻ hào hoa đâu thấy nữa,

                    Một thân khô kiệt, nghĩ buồn tênh”.(CT)

          Thật vậy, bấy giờ chỉ còn lại một thân già nua, gầy đét, gối mỏi lưng còm, mắt mờ tai điếc và mỗi khi đi, đứng, nằm, ngồi rất chậm chạp khó khăn. Xét qua thể trạng ấy, thử hỏi khách trần gian ai mà chẳng công nhận sự già là một nỗi khổ khôn cùng.

          - Đến thứ ba là sự đau khổ. Có nhiều nguyên nhân làm cho con người phải vương mang bệnh tật: 1. Do thời tiết nóng lạnh, gió mưa thay đổi, khiến tạng phủ xoay chuyển theo không kịp mà sanh bịnh. 2. Do sự ăn uống ngủ nghỉ thiếu chừng mực, vệ sinh, hoặc ăn phải các món không hạp cơ thể mà sanh đau yếu. Ngoài ra cũng còn các lý do như nghiệp quả và phiền não (tham sân si) thành ra bịnh.

          - Khi một người đã mang bịnh thì cả thân xác, tinh thần lẫn quyến thuộc đồng chịu khổ: thân thì mất ăn bỏ ngủ, đau nhức khó chịu, phần tâm trí từ lo sợ đến bấn loạn hôn mê; còn thân quyến thì lo thuốc thang chạy chữa đủ cách. Nhiều khi bệnh nhơn không được lành hẳn, lại còn phải mang tật suốt đời, thật là khổ thảm muôn phần.

CHÚ THÍCH

          LÃO KHỔ: Những nỗi khổ về sự già yếu, đây là cái khổ thứ nhì trong Bát khổ. Người xưa từng bảo:

                    “Già nua là cảnh điêu tàn,

              Cây già cây cỗi, người già người suy”.

          A Hàm Kinh có chép: “Nhứt lão sơn, vị nhơn lão mại, tắc hình sắc khô tụy, tinh thần hôn muội, lão sơn năng hoại, nhứt thiết tráng niên chi hạnh sắc dã”.(Một là núi già, là gọi người già yếu thì hình thể khô đét, tinh thần mờ mệt. Núi già có thể phá hoại mọi hình sắc tươi đẹp của tuổi tráng niên).

          THÀNH NHÂN: (Xem CT câu 186, T-3, Q.5).

          TRÁNG CƯỜNG: Mạnh mẽ, sức mạnh của thời tráng niên hay tướng dạng lực lưỡng của tuổi trẻ.

          LAO NHỌC: Mệt mỏi, cực nhọc quá sức.

          MA BỊNH: Ma do Phạn ngữ (Mâra). Có nghĩa cái năng lực làm trở ngại, nhiễu loạn hay cướp đoạt mạng người. Bịnh có nghĩa là đau ốm. Bởi sự đau ốm hay phá hoại, làm trở ngại và cướp đoạt mạng người; nên gọi nó là ma bịnh. Chính nó là sự khổ thứ ba trong Bát khổ. Đức Thầy có câu:“ Để ma bịnh theo hờ bén gót”.(Thu đã cuối)

          LÀM NHĂNG: Làm việc xằng bậy, phá phách, gây khó khăn chẳng cho yên ổn.

          HÀNH PHẠT: Hành hạ răn phạt. Ý nói bịnh hoạn làm cho xác thân con người bị khổ sở, như bị ai đày đọa đánh đập.

          XÁC THÂN Ô UẾ: Thân xác dơ bẩn, không trong sạch. Xác thể của mỗi chúng sanh, tuy bên ngoài bao phủ một lớp da mịn màng trơn láng, dễ nhìn, dễ cảm; nhưng xét kỹ bên trong chứa đầy gan ruột, phổi phèo, máu thịt, toàn là vật không sạch và cửu khiếu* cùng các lỗ chơn lông thường rịn chảy ra những vật thúi hôi, nên gọi là thân ô uế.(*Cửu khiếu: hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt, miệng, đường đại và đường tiểu)

          Ngài Hoài Tây Cư Sĩ có luận rằng:“Thân ta từ khi nhập vào bào thai đến lúc sanh ra có bảy lần không sạch”:

          1)- Chủng tử không sạch: Từ vọng niệm ái dục của cha mẹ mới sanh.

          2)- Thọ sanh không sạch: Nhờ tinh huyết của cha mẹ mới thành thai.

          3)- Chỗ ở không sạch: Ở dưới tạng phủ của mẹ thật là ô uế.

          4)- Vật ăn không sạch: Mỗi ngày nút huyết trong bào y mà sống và lớn lên.

          5)- Lúc sanh không sạch: Thai nhi phải lăn lóc trong cửa trược lộ mà ra.

          6)- Bốn vóc không sạch: Trong bụng chứa đầy những vật ô uế.

          7)- Ngày rốt ráo chẳng sạch: Khi chết cả thân đều sình lên hôi hám khó kể, cho đến khi tàn mất.

          (Phần Hán văn: Nhất chủng tử bất tịnh, Nhị thọ sanh bất tịnh, Tam trụ xứ bất tịnh, Tứ thực đạm bất tịnh, Ngũ sở sanh bất tịnh, Lục cử thế bất tịnh, Thất cứu cánh bất tịnh.)

            THỜI THẾ: Thời là mùa tiết, thế là cõi đời. Nói chung là mùa tiết trong cõi đời (xem thêm chữ Tiết trong phần CT câu 136, T-3, Q.5).

          BIẾN THỂ: Thay đổi trạng thái khác, từ mùa tiết nầy đổi sang mùa tiết khác.

          ĐIỀU HÒA: Hòa hợp nhau và có độ lượng chừng mực.

          CĂN BỊNH: Gốc bịnh.

          TRẰN TRỌC: Bứt rứt, lăn lộn, trăn trở, không yên.

          HÔN MÊ: Trạng thái của người bịnh nằm mê man thiêm thiếp, như say, như ngây ngất không còn biết gì nữa.

          TẬT: Mang bịnh suốt đời không chữa trị được gọi là tật, hoặc giả sau một cơn bịnh nặng, người đau còn mang tật: đui, điếc, câm, ngọng, què, xụi.v.v 

CHÁNH VĂN

       305.- Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
       Đoạn Tử khổ thứ tư phân giải.
       Trên dương-thế hữu hình tắc hoại,
       308.- Có sanh ra khổ-hải đâu chừa. 
       Trải bao phen dãi gió dầm mưa, 
       Ngày kiệt sức huyễn thân tan-nát.
       Gần hấp-hối tâm-thần xao-xác, 
       312.- Trí vẩn-vơ kinh-sợ vô cùng. 
       Rồi mòn lần đến lúc lâm-chung, 
       Giã cõi tạm theo đường tội phước.
       Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước, 
       Mà cũng không thoát luật tuần-huờn. 
       Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn, 
       318.- Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 305 đến câu 318)

          - Đến lượt thứ tư là cái khổ về sự chết. Khi người lâm cơn bịnh nặng, gia đình hết phương chạy chữa và thân xác không còn chịu đựng nổi, đành đi lần vào cõi chết. Phàm sanh ra cõi đời hễ cái gì có hình tướng đều phải hư hoại (Phàm hữu sở tướng giai thị hư vọng). Thế nên con người đã có sanh ra, tất phải đi theo định luật già, bịnh rồi chết mất, chớ không một ai thoát khỏi, những nỗi khổ ấy sâu dày như bể rộng, chẳng biết đâu là bờ bến.

          - Thử ôn lại quãng đời con người từ sanh ra cho đến khi chết, sự lao khổ không sao kể xiết. Sanh ra đã khổ, bệnh tật lại còn khổ hơn, thêm nỗi phải lo sao cho có cơm ăn áo mặc, dầm mưa dãi gió, xuôi ngược bao lần. Vì mãi tháo vác việc đời mà phải sức cùng, lực tận để rồi một ngày kia cái thân giả hợp nầy theo luật đào thải mà tan nát và trả về cho tứ đại. Xét ra còn cảnh tượng nào đau khổ bằng khi thấy trạng thái con người lúc hấp hối lìa trần: mắt họ trừng lên, môi giựt, răng nghiến lại, tâm thần bấn loạn, kinh sợ tiếc thương đều phô diễn; rồi dần dần họ lịm đi để giã biệt cõi đời ảo mộng. Tất cả những vật sở hữu đều bỏ lại hết, chỉ còn mang theo các nghiệp nhân tội phước đã gây tạo lúc sanh tiền.

Nhắm mắt cũng nắm hai tay,

Đâu đem tiền của đem rày hầu non.

Chỉ còn tội phước hỡi còn,

Đến nơi thẩm phán cửa son Diêm Đài,

          Phước nhiều Tiên cảnh lên rày,

       Tội nhiều sa đọa nhiều ngày thảm thê”.(Kh/thiện, Q.5)

          - Vả lại trong đời biết bao bực Đế Vương Khanh tướng, thế lực tiền tài, danh y, bác học, họ tìm đủ phương cách ngăn ngừa, cứu chữa để kéo dài tuổi thọ, nhưng rồi cũng phải khuất phục trước luật tuần hườn. Dù cho có học phép trường sanh hay ẩn mình nơi hang cùng, núi thẳm cũng không thoát khỏi tử thần.

 

CHÚ THÍCH

          TỬ KHỔ: Nỗi khổ trong lúc chết. Cái khổ thứ tư trong Bát khổ.

          HỮU HÌNH TẮC HOẠI: Cái gì có hình tướng ắt phải hư hoại. Ý nói cả vũ trụ vạn hữu, từ san hà đại địa, sự nghiệp của tiền, cho đến xác thân của con người đều đi theo định luật thành, trụ, hoại, không, chớ chẳng có một vật nào trường tồn cả. Kinh Di Phật Giáo nói:“Nhứt thiết thế gian đồng bất động pháp, giai thị bại hoại bất an chi tướng”.(Tất cả các động hay không động ở trong thế gian đều là tướng chẳng an) Và Kinh Hiền Ngu cũng bảo :“Nhứt thiết hành vô thường, sanh giả giai thị khổ.

          Ngũ ấm không, vô tướng, vô hữu ngã, ngã sở”.

          (Hết thảy đều vô thường, sanh ra tất phải khổ.

          Năm ấm không có tướng, ta và của đều không).

          Đức Thầy nay cũng hằng cảnh giác:

                  “Cảnh dương gian muôn thảm ngàn sầu,

                    Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.

                    Sông với núi trước kia mắt ngó,

                    Khi chết rồi thấy nó đặng nào.

                    Ai biết đường hãy sớm tẩu đào,

                    Kiếm đạo lý mà nhờ mà nhỏi”.(Giác Mê, Q.4)

          KHỔ HẢI: (Xem CT câu 300, T-1, Q.1).

          HUYỄN THÂN: Thân giả hợp không có thật. Bởi nó là hiện thân của nghiệp báo, cũng là dưới sự chi phối của nhân duyên, nên nó biến hoại không thường, thay đổi chẳng ngớt, như mới trẻ đó kế già, rồi chết mất. Lại nữa thân xác con người do tứ đại (Đất, nước, gió lửa) hợp thành, nên khi chết rồi thì xương, thịt rã ra hườn lại đất, máu huyết chảy theo nước, hơi thở hòa theo gió, sự ấm trở về với sức nóng của mặt trời, chớ không còn nguyên được, nên gọi là huyễn thân. Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

                 “Tuồng huyễn hóa ai bày ra đấy,

                   Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                       Trăm năm còn có gì đâu ?

                 Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì !” 

          Đức Thầy cũng bảo:“Nào hay thân vô thường tạm mượn do tứ đại hiệp thành. Cuộc phú quí tựa đám phù vân, cái sắc nước hương trời ấy của các trò có khác chi cành hoa sớm nở chiều tan không chi bền chắc…”.(Lời khuyên bổn đạo) Và Ngài thường cảnh tỉnh:

                    “Biết được trần gian là mộng huyễn,

                      Tử thần sửa soạn kéo vào quan”.

                                                  (Tỉnh bạn Trần gian)

          HẤP HỐP: Lúc gần chết, thần thức sắp lìa khỏi xác.

          XAO XÁC: Bấn loạn, không an định tỉnh táo.

          VẨN VƠ: Nhởn nhơ, rối rắm, nhớ nghĩ chuyện không đâu. Đức Thầy nói: “Trí vẩn vơ tuởng nhớ đó đây”.(Khuyến Thiện, Q.5)      

          LÂM CHUNG: Đến lúc cuối cùng, lúc chết.

          CÕI TẠM: Tức cõi giả tạm. Ý nói cõi đời chúng sanh đang ở không chắc thật lâu dài.

          Nhân Vương Kinh có chép:“Chư giới thú sinh, tùy nghiệp duyên sanh, như ảnh như hưởng, nhứt thiết giai không”.(Các thế giới đã có đều do duyên nghiệp mà sanh, giống như hình bóng và tiếng dội, chớ sự thật thảy thảy đều không) Đức Thầy hằng cho biết:“Công danh phú quí chung hườn mộng”.(Không không) Và:

                    “Giấc mộng Nam Kha chốn thế trần,

                  Thế trần tạm giả gạt đời ta”.(Tỉnh bạn trần gian)

          TỘI PHƯỚC: Các điều hung dữ, tà quấy gian xảo là tội, còn các việc chơn chánh, hiền lành là phước. Như phạm tội ngũ nghịch, thập ác và các giới luật của Đạo là tội. Còn hành thập thiện, giữ giới và có lòng từ bi thương người mến vật là phước.

          Xưa, Đức Phật dạy rằng:“Cầu phước chẳng qua trai giới, bố thí; cầu thọ chẳng qua giới sát, phóng sanh; cầu huệ chẳng qua học rộng nghe nhiều; cầu an tâm chẳng qua xét ngăn những tư tưởng quấy”.

          Đức Thầy cũng từng viết:

                  “Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,

                    Quỉ vô thường đắt xuống Diêm Đình.

                    Sổ sách kia tội phước đinh ninh,

                 Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ”.(Kệ Dân, Q.2)

            LUẬT TUẦN HƯỜN: Luật xoay vần của vạn vật trong thế gian, hễ đi giáp vòng thì trở lại chỗ phát khởi. Cả vũ trụ vạn hữu đều xoay theo định luật “Thành, trụ, hoại, không”, hay là “Sanh, già, bịnh, chết”. Đây gọi tắt là Luật sanh tử, hễ con người có sanh ra tất phải có chết rồi tiếp tục sanh trở lại. Chỉ có người tu hành giải thoát, mới vượt khỏi.

          CÙNG CỐC THÂM SƠN: Hang cùng, núi sâu.

          TỬ THẦN: Thần chết. Vì cái chết ai cũng ghê sợ, nên cho nó là Tử thần. Đức Thầy cũng viết:“Thần chết kia ôm hót bên mình”.(Thu đã cuối)

          Xưa, có bốn anh em Phạm Chí, đã tu luyện đắc được ngũ thông, mỗi người đều biết rõ bảy ngày nữa sẽ chết một lượt, nên họ hợp nhau để tìm kế hoạch lánh tử thần.

          - Anh thứ nhứt nói: Tôi sẽ tàng hình vào giữa hư không, thì tử thần chẳng biết đâu mà bắt.

          - Anh thứ nhì cho biết: Tôi sẽ xuống biển lặn trong nước, trên chẳng ló đầu, dưới không đụng đất thì tử thần chẳng biết tôi đâu mà tìm.

          - Anh thứ ba trình bày: Tôi sẽ chẻ núi Tu Di, vô ngồi ở trong rồi khép lại, tử thần làm gì kiếm được tôi.

          - Anh thứ tư cười bảo: Riêng tôi sẽ giả hình khác rồi lẫn lộn vào chợ đông, tử thần vô phương tìm gặp.

          Bàn tính xong, đợi gần tới ngày giờ bốn người đồng thi hành theo diệu kế của mình, nhưng đúng giờ phút ấy bốn anh em đồng chết một lượt.

          Bấy giờ Đức Phật đang ngồi nơi Tịnh xá, dùng Đạo nhãn thấy rõ mọi việc của bốn Phạm Chí, bèn kể rõ cho các đệ tử nghe, đoạn Ngài ngâm bài Kệ:

                    “Phi không phi hải trung,

                      Phi nhập sơn thạch gian,

                      Vô hữu địa phương sở

                      Khả thoát bất thọ tử”.

          (Chẳng không chẳng biển cả, chẳng vào trong núi đá. Không có miếng đất nào, thoát được cái chết cả)..

 

CHÁNH VĂN

       319.- Đoạn thứ năm nghĩ-suy tìm-tỏi, 
        Cầu Chẳng Thành những việc thích-ham.   
       Người trên đời ai cũng lòng tham,                    
       322.- Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của. 
       Nào vợ đẹp, hầu xinh, là-lụa, 
       Không được thì bực-tức ưu-phiền. 
       Cả tâm thần điêu-đứng đảo-điên,
       326.- Vậy có phải khổ hay là chẳng ?
       Đoạn thứ sáu Biệt Ly cay đắng, 
       Người mình thương bỗng lại chia-lìa.
       Khi khóc-than nước mắt đầm-đìa, 
       330.- Lúc trông nhớ ruột tằm chua xót. 
       Ở thế-gian mấy ai thoát lọt, 
       Nợ gia-đình đeo đắm căn-duyên.
       Cơn nguy nghèo thân-thể truân-chuyên, 
       334.- Kẻ lưu-lạc người chờ trông mãi.
       Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân-ái, 
       Đến xong đời để lại sầu-ưu. 
       Cái khổ này dầu lắm trí mưu, 
       338.- Cũng chung chịu như người tăm-tối.

 

Lược Giải (Từ câu 319 đến câu 338)

          - Đến khổ thứ năm là những nỗi khổ mưu tính tham cầu mà chẳng thành.

          Khởi nguyên từ lòng ham muốn chúng sanh mới luân hồi vào cõi tục, nên khi sanh ra cõi đời con người đã có sẵn hột giống tham lam. Muốn sao cho mình được ở lầu các cao sang, nào ruộng cả nhiều tiền, uy quyền chức tước, nào vợ đẹp hầu xinh, vàng vòng gấm nhiễu, cả gia đình đều sống một cuộc đời hạnh phúc triền miên.

          - Ngược lại, nếu sự mong muốn ấy không đạt thành thì con người bứt rứt xốn xang, u buồn dã dượi, cả tâm trí bị quay cuồng đảo lộn không phút nào an tịnh, có khi phải liều mình tự sát. Trước cảnh trạng ấy, ai trông vào mà chẳng công nhận đây là một nỗi khổ.

          - Tới lượt thứ sáu là các nỗi khổ của những người thân yêu nhau mà phải chia lìa.

          Ở đời ai cũng có thân bằng quyến thuộc, tình thương yêu thương mến nhau rất mực, nên muốn sống mãi bên nhau, nhưng rất khó mong toại nguyện. Trong lúc cảm thương khắn khít bỗng gặp cuộc phân ly, kẻ lệ sầu khôn ráo, người ruột thắt từng cơn, bao nỗi nhớ thương thật vô cùng chua xót mà cả thế giới loài người có mấy ai vượt khỏi.

          - Phàm hễ có gia đình phải có sợi dây ái ân ràng buộc, chằng chịt nợ duyên, gốc bởi tiền căn vọng tưởng. Giữa tình cha con, chồng vợ lúc nào cũng đậm đà gắn bó, song vì mưu cầu cho cuộc sống, hoặc vì tình cảm éo le khiến phải chia tay. Lúc ấy, kẻ phiêu bạt chơn trời ôm nỗi buồn thương đau xót, người ở lại ngày đêm chờ đợi nhớ nhung. Thì ra cuộc đời chỉ là một trường “bi hoan ly hiệp”, đau khổ trường miên, ít khi nào được an vui thư thái.

          - Sanh ly đã khổ, tử biệt lại còn khổ hơn, hết hồi tan hiệp, hiệp tan; kế đến lúc có một người chấm dứt cuộc đời thì bao kẻ còn ở lại, đành ôm mối sầu ưu vĩnh viễn. Cái khổ nầy dầu cho kẻ cao sang tài trí, cũng phải chung chịu như bao nhiêu người hạ tiện.

CHÚ THÍCH

          CẦU CHẲNG THÀNH: Do chữ “Mưu cầu bất đắc khổ”, tức là cái khổ thứ năm trong Bát khổ. Có nghĩa: sự khổ về việc mưu tính mong cầu mà chẳng được như ý.

          PHƯỚC THỌ: Được hạnh phúc và sống lâu.

          PHẨM HÀM: Chức tước, cấp bực của hàng quan lại. Đây chỉ cho ba việc danh, lợi, quyền.

          HẦU XINH: Người tỳ thiếp (vợ nhỏ) có nhan sắc, cũng gọi là nàng hầu, vì bổn phận của tỳ thiếp phải theo hầu hạ chồng và vợ lớn.

          LÀ LỤA: Các thứ hàng mỏng, dệt bằng tơ rất mịn, láng và đẹp. Nghĩa bóng chỉ cho sự ăn mặc, chưng diện sang trọng. Đức Thầy cảnh tỉnh, trong “Giác Mê TK, Q.4”:                   “Nào lụa là lãnh nhiễu tố sô,

                      Chớ ham mến mà sau lao lý”.

          BỰC TỨC: Bứt rứt xốn xang vì không thỏa mãn điều mong ước.

          ƯU PHIỀN: Lo buồn sầu não.

          TÂM THẦN: (Xem CT câu 568, T-3, Q.4).

          ĐIÊU ĐỨNG: Khốn khổ, ở trong tình trạng khó lo toan.

          ĐẢO ĐIÊN: (Xem CT câu 131, T-3, Q.5).

          BIỆT LY: Do chữ “Ái biệt ly khổ”, tức cái khổ thứ sáu trong Bát khổ. Có nghĩa những người mình đã thương yêu, như vợ con và thân bằng quyến thuộc mà lại bị chia lìa, nên phải khổ.

          ĐẦM ĐÌA: Dầm dề. Ví dụ: Dòng lệ đầm đìa.

          ĐEO ĐẮM: Mang mển, ràng buộc khó mà rời rứt ra được.

          CĂN DUYÊN: Căn là gốc rễ, duyên là duyên do, là nguyên nhân. Đây ý nói duyên gia đình chồng vợ (tiền khiên túc trái) đã ràng buộc với nhau do từ nhiều kiếp trước tới giờ.

          TRUÂN CHUYÊN: (Xem CT câu 83, T-3, Q.5).

          LƯU LẠC: Trôi rụng. Ý nói đời sống bị dời đổi, nay nơi nầy, mai nơi khác như nước trôi hoa rụng.

          TAN HIỆP: Cũng gọi là tan hợp. Có nghĩa: đời sống của gia đình thân tộc có lắm lần xa nhau rồi hợp lại. Đây là định luật “bi hoan ly hiệp” của dòng đời, không mấy ai tránh khỏi. Đức Thầy từng nói:“ Đời cùng Đạo bi hoan ly hiệp”.(Nang thơ cẩm tú)

          ÂN ÁI: Tình cảm thân yêu, gắn bó giữa cha con, chồng vợ, thân tộc…

          SẦU ƯU: Buồn rầu lo lắng.

          TRÍ MƯU: Trí là thông minh, có tài xét đoán, mưu là tính toán kế hoạch. Nói chung là người có học thức, sáng láng và đủ tài mưu mẹo.

CHÁNH VĂN

       339.- Đoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội
       Hễ thương nhau tất có ghét nhau. 
       Thường tranh-đua tiếng thấp lời cao, 
       342.- Chẳng nhẫn-nhịn thành ra cừu oán. 
       Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng, 
       Cứ gặp nhau mắt tựa kim châm. 
       Làm cho người đau-đớn âm-thầm,
      346.- Khổ như thế diễn ra mãi mãi.
       Đoạn thứ tám Ưu Sầu lo ngại, 
       Cuộc tang-thương dâu bể cảnh trần. 
       Nghèo thì lo một nỗi nợ-nần, 
       350.- Lo đau-đói liệu cơn nhà rách. 
       Buồn duyên-số phận mình nhơ sạch, 
       Rầu gia-đình chúng bạn khinh cười. 
       Giàu thì lo chen lấn với người, 
      354.- Miễn cho đuợc đầy rương đầy tủ.
       Của dương-thế góp tom bảo-thủ,
       Sợ gian-phi trộm cướp rình-mò. 
       Lo tước-quyền cho được thơm-tho, 
       358.- Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 339 đến câu 358)

          - Đến lượt thứ bảy là các nỗi khổ giữa những người oán thù, hận ghét với nhau mà thường gặp gỡ.

          Phàm người ở đời hễ có thương tất có ghét mà nguyên do là sự hơn thua cao thấp, tranh chấp giữa nhau, chẳng ai chịu nhường nhịn ai. Từ đó đôi đàng đâm ra oán hờn thù hận, rồi dần đến chỗ ấu đả chém giết lẫn nhau.

          - Một khi đã thành cừu địch thì không ai còn muốn nghe thấy tăm hơi, hình thể nhau nữa, vì khi gặp nhau lòng rất xốn xang khó chịu, như kim châm vào mắt. Nhưng khổ nổi càng muốn tránh xa lại càng thường gặp gỡ, nên khi giáp mặt nhau đôi đàng đều ôm ấp nơi lòng bao sự khổ đau thù ghét. Nỗi khổ này cứ thế mà tiếp tục diễn ra như một truyền thống của nhân loại.

          - Còn cái khổ thứ tám là những nỗi khổ lo sợ buồn rầu mà trong đời ít có người giải thoát được. Bởi cảnh hồng trần là cuộc bể dâu, nay dời mai đổi: “Cuộc tang thương biến cải cảnh trần”.(Khuyên người giàu lòng Phước thiện) Cảnh thiên nhiên còn phải nay lở mai bồi thì kiếp sống con người đâu tránh khỏi sự giàu nghèo thay đổi. Ôi ! bao nỗi vui buồn lo nghĩ tràn ngập tâm tư, bởi lòng người còn tham vọng và chưa nhận được đời là mộng ảo.

          - Kẻ nghèo thì lo chạy sớm chạy chiều, tảo tần vất vả, nhưng vẫn thiếu trước hụt sau, nào nợ nần chồng chất, đau không thuốc uống, cơm bữa đói bữa no; nào cửa nhà xiêu dột, quần áo rách rưới lang thang. Thật là:“Nhà nghèo dạ tợ như bào, Vợ đau con yếu phương nào cho an”.(Khuyến Thiện, Q.5) Thêm nỗi bị người khinh chê cười nhạo, khiến lòng càng đau buồn, tủi nhục cho kiếp số quá vô phần bạc phước.

          - Đến như hạng giàu sang, cũng chẳng mấy ai được an vui thư thái, vì khi đã dư ăn, dư để lại muốn giàu thêm cho hơn thiên hạ, nên họ chẳng dứt lo nghĩ tính toán. Muốn sao cho ruộng đất cò bay thẳng cánh, vàng bạc của cải đầy ấp cả nhà bất kể hành động xấu tốt, miễn bao gồm tiền của trong thế gian về cho mình mới hả dạ:

                    “Biết sao đầy được túi tham,

           Không ngăn không đáy càng làm không kiêng”.

                                        (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          - Chẳng thế, khi có của họ còn phải lo cho mình được tước quyền danh vọng để ăn trên ngồi trước hơn người. Hằng đêm còn nơm nớp lo âu, vì sợ trộm cướp đào tường phá cửa. Cũng chưa hết, họ còn phải lo tính đến số người thiếu nợ, lời vốn ra sao, hoặc đòi cho được hoặc cốn chồng lên, để rồi ít lâu dỡ nhà lấy đất mà trừ.

          Xét như trên, từ hạng nghèo khó đến bực cao sang quyền quí đều phải chung chịu cái khổ “ưu sầu lo ngại”.

 

CHÚ THÍCH

          KHỔ OAN TẮNG HỘI: Các nỗi khổ của những người đã thù ghét và chẳng ưa nhau mà lại thường gần gũi, gặp gỡ nhau, là khổ thứ bảy trong Bát khổ. Niết Bàn Kinh có chép:“Sao kêu là “Oan tắng hội khổ”? Ấy là cái khổ mà con người buộc lòng phải chung cùng, gần gũi với những nhân vật và hoàn cảnh chính mình không ưa thích”.

          NHẪN NHỊN: (Xem CT câu 631, T-3, Q.4).

          CỪU OÁN: Thù địch căm hờn nhau.

          TÂM DẠNG: Hình dáng tim hơi. Đừng trông tâm dạng là không còn nghe thấy hình bóng, dáng dấp nữa.

          ÂM THẦM: Lặng lẽ giữ kín nơi lòng, không cho ai biết.

          ÂU SẦU LO NGẠI: Những nỗi khổ về sự buồn rầu lo sợ, thứ tám trong Bát khổ. Cái khổ nầy các Kinh cũng chép là:“Ngũ Ấm xí thạnh khổ”.(Năm ấm hiệp lại làm thân người, nếu chẳng điều hòa, có một ấm nào lừng lẫy thì làm cho người phải khổ).

          TANG THƯƠNG DÂU BỂ: Do câu “Thương hải biến di tang điền” hoặc “Tang điền biến di thương hải”. Có nghĩa biển xanh hóa ra ruộng dâu hay ruộng dâu hóa ra biển xanh. Ý nói sự đời thay đổi nghèo giàu, tan hợp, vui mừng, lo sợ không chừng.

          Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

                    “Phong trần đến cả sơn khê,

               Tang thương đến cả hoa kia cỏ nầy”.

          Đức Thầy cũng từng bảo:

                    “Thương hải tang điền ắt chẳng yên,

                   Thiên địa diệt gian dĩ thiện riêng”.

                                                  (Lộ chút Cơ huyền)

          DUYÊN SỐ: Căn duyên và số phần của mỗi người hay nhiều người.

          BẢO THỦ: Gìn giữ, giữ lấy. Một trong mười hai nhân duyên

          GIAN PHI: Kẻ gian dối, làm điều chẳng phải: khôn đúng Đạo nghĩa chánh đáng. Đây chỉ cho kẻ trộm cướp.

CHÁNH VĂN

       359.- Ôi! cả sang hèn chẳng ai thong-thả,
       Sao nhơn sanh cứ mãi đắm say.
       Chẳng tu thân đặng dựa Phật-Đài, 
       362.- Cho thong-thả hưởng mùi sen báu. 
       Thần-Thức nhập Thai-Sen tinh hảo, 
       Nên khỏi màng lo nỗi khổ sanh.
       Thân thì Thân Công-Đức hiền lành, 
       366.- Bất di dịch khỏi vì khổ lão. 
        Thể Thanh-Tịnh thường không huyên náo,               
       Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
       Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa, 
       370.- Ta thoát cuộc lao-đao vì nó.
       Đường sanh mạng Phật, ta đồng thọ, 
       Tánh an nhiên bất diệt trường tồn. 
       Tử thần kia đâu dám dắt hồn, 
       374.- Thoát luân-chuyển khỏi đeo khổ tử.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 359 đến câu 374)

          - Tám điều khổ đã luận giải qua, cả chúng sanh trong thế giới Ta bà, dù kẻ sang người hèn hay già trẻ trí ngu cũng đồng chung chịu, chớ không một ai được thung dung thong thả. Thế mà nhân loại cứ mãi say mê đắm đuối, nên Đức Giáo Chủ phải cất tiếng buồn thương, sao chẳng sớm lo trau thân gìn Đạo, niệm Phật làm lành, hướng về Phật quốc để được thù hưởng vị diệu mầu của mùi sen báu. Cho nên đối với cõi Ta Bà có tám điều khổ, cõi Cực Lạc lại có tám điều vui:

          1/- Nếu chúng sanh nào được vãng sanh về Lạc Quốc thì thần thức gá vào thai sen tinh khiết nơi ao thất bảo. Lúc ở trong đó thần thức cũng được hưởng sự vui đẹp trong lành:“Diệm hồng liên thơ thớ quần ca”.(Cho Ô. Tham tá Ngà) Khi đúng ngày giờ nở ra thân Liên hoa trang nghiêm, đẹp đẽ. Không như cõi Ta Bà phải ở trong bào thai ô uế và khi sanh cả mẹ lẫn con đau đớn vô ngần, nên ở cõi Cực Lạc chẳng hề có các nỗi khổ về sự sanh.

          2/- Sở dĩ có được cái thân trong sạch, đủ 32 tướng hảo, bởi hương nhụy của sen báu cấu thành là do thời gian chí tâm niệm Phật và tu tập công đức. Cho nên thân liên hoa được trẻ đẹp luôn luôn, không hề bị biến hoại hay già yếu. Vì vậy mà cõi Cực lạc chẳng hề có các nỗi khổ về sự già nua lờ lệch.

          3/- Ở cõi Cực lạc thân tâm luôn được thanh tịnh an nhiên, lại thời tiết rất điều hòa trong mát, nên không còn lo sợ bị mưa nắng bất hòa, nhiễu loạn thân xác. Do đó người ở cõi ấy không còn bị những nỗi khổ về bệnh tật.

          4/- Đã không già yếu, bệnh tật nên người ở cõi Cực lạc được sống vô lượng số tuổi, đồng hưởng thọ trường tồn bất diệt ngang hang với chư Bồ Tát và Đức Phật Di Đà, chẳng còn luân hồi sanh tử, nên không hề co các nỗi khổ về sực chết.

CHÚ THÍCH

          TU THÂN: (Xem CT câu 80, T-2, Q.3).

          PHẬT ĐÀI: Đài Phật ngự. Đây có nghĩa nơi Phật  ngự, cõi Phật, cũng có ý chỉ cõi Cực lạc. Đức Thầy từng nói: “Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài”.(Bài nguyện trước bàn thờ Ông Bà) Dị nghĩa với câu: “Phật đài phưởng phất mùi hương”.(Khuyến Thiện, Q.5)

          THẦN THỨC: Cái tâm thức linh diệu của giống hữu tình, cũng gọi là thần hồn hay linh hồn, nhưng theo kinh Phật còn gọi là Hữu hay Ấm, chia ta bốn thời gian:

          1- Hiện ấm (Bản hữu) là chỉ cho lúc thân còn sống hiện tại.

          2- Tử ấm (tử hữu) là khi thân tiêu hoại.

          3- Trung ấm (Trung hữu) là sau khi chết mà chưa đi đầu thai.

          4- Sanh ấm (sanh hữu) là sau khi chuyển thế đầu thai rồi.

          Do cái sanh rồi tới các hiện ấm…bốn ấm cứ tiếp nối xoay vần không khi nào dứt. Sanh ấm và tử ấm thì thời gian của nó rất ngắn ngủi. Hiện ấm thì tùy theo thọ mạng của loài sống hoặc dài hoặc ngắn, còn thọ mạng của trung ấm ngắn là 7 ngày, dài là 49 ngày. Cái Thần Thức nói đây là cái Thân trung ấm.

          THAI SEN: Bào thai bằng hoa sen, căn cứ theo Kinh Di Đà, người tu theo Pháp môn Tịnh độ (niệm Phật làm lành); khi lâm chung thần thức vãng sanh về cõi Cực lạc được gá vào hoa sen nơi ao thất bảo. Tùy theo công đức tu tập của hành giả đó mà hoặc lâu, hoặc mau được nở ra thân liên hoa, nên gọi là thai sen.

          Ông Sư Vãi Bán Khoai đã xác minh:

                    “Niệm Phật sen nở đợi chờ,

              Cây nào bông nấy bốn mùa tốt tươi”.

          Đức Thầy cũng nói:

                     “Tây phương đua nở hoa liên,

              Chờ người hữu phước thiện duyên từ hoà”.

                                        (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          Hoặc là: “Ao sen báu Tây phương đua nở,

            Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm”.(Kh/thiện, Q.5)

            TINH HẢO: Tốt đẹp, trong sạch, chẳng chút trần cấu bụi nhơ.

          CÔNG ĐỨC: (Xem CT câu 92, T-3, Q.5).

          DI DỊCH: Dời đổi. Có ý nói thân người ở cõi Cực lạc chẳng hề bị thay đổi từ trạng thái trẻ ra già.

          THANH TỊNH: (Xem CT câu 838, T-3, Q.4).

          HUYÊN NÁO: Ồn ào, náo động, bận rộn không yên tịnh. Ví dụ: Ở gần chợ huyên náo suốt ngày.

          LAO ĐAO: (Xem CT câu 173, T-2, Q.3).

          SANH MẠNG: Mạng sống, kiếp sống.

          ĐỒNG THỌ: Cùng sống lâu như nhau, không hề chết mất hay chênh lệch số tuổi.

          AN NHIÊN: Yên ổn tự nhiên, lúc nào cũng như vậy, không có sự sanh tử.

          BẤT DIỆT: Chẳng chết mất, chẳng hư hoại.

          TRƯỜNG TỒN: Còn lâu dài.
          LUÂN CHUYỂN: (Xem CT câu 184, T-2. Q.2).

 

CHÁNH VĂN

       375.- Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
       Không nhọc-nhằn lo việc sanh-nhai. 
       Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật-Đài, 
       378.- Khỏi quả khổ mưu-cầu-bất-đắc.
       Cả Hải-Chúng thảy đều vững-chắc, 
       Toàn dân lành đâu có đắn-đo.
       Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò, 
       382.- Thoát sống khổ thương-yêu-ly-biệt.
       Chữ Hoà-Thuận kể sao cho xiết, 
       Tâm đồng nhau thượng-thiện vui-vầy. 
       Cảnh như như chẳng có đổi thay, 
       386.-Không màng biết phân chia nhơn-ngã.
       Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
       Khỏi khổ câu oán-ghét-gặp-nhau.
       Thân tâm thường-trụ hết rạt-rào, 
       Chất thô-trược tiêu tan mất cả.
       Cõi Tịnh-độ lắm điều thanh-nhã,
       392.- Khổ buồn-rầu-lo-sợ chẳng còn.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 375 đến câu 392)

          5/- Ở cõi Cực lạc từ y phục, thức ăn uống đến lâu đài cung điện và mọi tiện nghi khác đều tùy ý mà hóa hiện đầy đủ, cho nên người sanh về đây, không còn phải cực lòng làm ăn sanh sống, chỉ còn nghe thuyết giảng pháp mầu và tu tập công đức thêm. Tâm trí lúc nào cũng an nhiên, thần thông tự tại mà nhìn cảnh quí báu của mười phương chư Phật, hầu có thân hành đến cúng dường. Do đó người ở cõi Cực lạc không còn các nỗi khổ mưu tính mà chẳng thành.

          6/- Tuy người vãng sanh về cõi Cực lạc đông như biển cả (hải chúng), không thể nào chép kể cho hết, nhưng tất cả đều có một tâm hồn giải thoát như nhau, chẳng còn một mảy nhiễm ô, ân ái, nên không có sự ràng buộc về gia đình thân tộc. Hơn nữa, thân người có ra bởi sen báu tạo thành và cả thảy đều trường tồn bất diệt, nên chẳng hề có các nỗi khổ về sanh ly tử biệt.

          7/- Vả lại, người sanh về cõi Cực lạc đều là hạng thượng thiện (trọn lành trọn sáng), lại thêm mọi vật đều hóa sanh, nên giữa người với người không có sự phân biệt nhân ngã, cùng nhau hòa thuận vui vầy. Có khác nhau chăng là do công đức riêng của mỗi người mà có ngôi vị thấp cao. Bực công đức sâu dầy, trí huệ thuần thục, chứng quả Phật, Bồ Tát, kẻ kém hơn thì chứng thành Hiền Thánh. Mặc dù quả vị có khác, nhưng đồng là bậc thượng thiện nên đã dứt tâm phân biệt nhơn ngã, vì vậy mà không có cái khổ oán ghét gặp nhau.

          8/- Đến cái khổ Buồn rầu lo sợ do năm ấm lừng lẫy tạo nên, người sanh về cõi Cực lạc không hề có, là vì ở cõi ấy y báo và chánh báo thảy đều một màu thanh tịnh. Các cảnh vật (y báo) như đất đai lầu các, ao cây đều bằng bảy báu rất trang nghiêm đẹp đẽ; đến như nước chảy, lá rụng, chim hót cũng toàn là những pháp nhiệm mầu vi diệu để trợ trưởng ý chí tiến tu của mọi người (Chánh báo) cũng không náo loạn, luôn được an định (thường trụ) trong cảnh giới siê