BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

02 Tháng Tám 20206:58 CH(Xem: 308)
BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

của Vương Kimdiendanpghh-buu-son-ky-huong

2020-07-31_164237 

Chương thứ I:
1) Một nền Phật-giáo dân-tộc

Nhìn vào nền Phật giáo khắp nơi, người ta không khỏi phàn nàn Đạo Phật có nhiều chi phái quá, nào là Tiểu-thừa, nào là Đại-thừa, nào là Mật-tông, nào là Hiển tông… mỗi phái mỗi chủ-trương khác nhau, mỗi nơi có mỗi sắc thái riêng biệt. Cũng đồng bắt nguồn từ Phật-giáo nguyên-thủy ở Ấn Độ thế mà Phật-giáo của Nam-tông khác hơn Phật-giáo của Bắc-tông và ngay trong hệ thống Đại-thừa, Phật-giáo Trung Hoa cũng không giống Phật giáo Nhật Bản. Phật giáo Đại Hàn khác hơn Phật-giáo Việt-Nam.

Người ta muốn sao Phật giáo phải được thống nhất cả hình thức lần tinh thần, xoá bỏ những đặc tính địa phương riêng biệt. Nhưng người ta quên rằng giáo-lý của Phật-giáo không phải là một thứ giáo điều cố định bất biến như giáo lý của các tôn giáo khác mà là một thứ giáo pháp luôn luôn phát triển theo thời gian, thích ứng với căn cơ và hoà hợp với thổ-nghi phong-tục của mỗi địa phương dân-tộc.

Đức Phật đã từ hoàn cảnh và căn khi của chúng sanh mà nói ra các pháp, không thời kỳ nào giống thời kỳ nào. Tri giả Đại-sư đã phân ra làm năm thời kỳ thuyết-pháp là:

1. Thời-kỳ Hoa-nghiêm; 2. Thời kỳ A-hàm; 3. Thời kỳ Phương-đẳng; 4. Thời kỳ Bát-nhã; 5. Thời kỳ Pháp-hoa. Đến như giáo pháp thì có pháp quyền, pháp thiệt, pháp đốn, pháp tiệm, pháp hiển, pháp mật… cao thấp khác nhau. Sở dĩ giáo pháp không đồng, thời kỳ hoằng hoá có khác, ấy chẳng qua là do hoàn cảnh sinh hoạt, căn cơ của chúng sinh mà ra vậy.

Thế nên, phàm căn cơ có khác, thời đại có khác, địa phương có khác thì lý ưng giáo pháp, cho được thích đương thế tất không sao cùng một khuôn, một rập. Ngay như việc dạy học, người ta còn tùy theo địa phương nóng lạnh, mưa nắng khác nhau, trình độ của học sinh cao thấp mà giờ học, ngày nghỉ cùng chương trình giáo dục mỗi nơi mỗi khác, thì sao đối với Đạo Phật là một nền đạo vô cùng linh động, phong phú nhựa sống thích nghi, lại bắt nó trụ mãi ở hình thái nguyên sơ cằn cỗi.

Ngày nay đạo Phật rọi ánh từ quang gần khắp mặt địa cầu, qui tụ gần phân nửa số nhân loại, nếu thiếu tính chất thích nghi hòa đồng thì chưa hẳn đã thu phục lòng tin tưởng của nhân dân dễ dàng như thế. Từ trước đến nay, bất cứ một cuộc chinh phục nào cũng phải cậy vào vũ lực uy hiếp mọi sự chống đối. Đến như Đạo Phật, chỉ nhờ tính chất thích nghi mà sự bành trướng không hề gặp phải sự phản kháng nào đến đỗi làm đổ máu sinh linh.

Các dân tộc Á đông tiếp đón Đạo Phật như tiếp đón một ngọn đèn vào nhà đang kém ánh sáng. Mặc dù là một ngọn đèn mới, nhưng chẳng vì nó sáng hơn mà chủ gia dẹp hết các ngọn đèn cũ kém sáng nhưng đã thân yêu, Người ta đặt ngọn đèn sáng mới nơi xứng đáng, có khi cùng đặt chug với mấy ngọn đèn cũ để cùng hoà quang nhau đem lại ánh sáng chung cho cả gian nhà.

Giáo pháp của Đạo Phật thẳng diệu là ở chỗ đó. Nó đến với dân tộc nào là nó hòa hợp với dân tộc tính của dân tộc ấy.

Nhờ ánh sáng đó sáng hơn nên trong chỗ hoà hợp nó đồng hòa các ánh sáng cũ thành một ánh sáng Phật-giáo dân tộc hay có mang tính chất Phật-giáo. Sự hiện diện của nó, bởi cần thiết cho sự củng cố nền tảng quốc gia, vì nó đồng hoá để mà bổ sung hơn là để tiêu diệt hay truất ngôi, nên dân tộc nào cũng không cảm thấy bị mất gốc hay mất thể diện khi tiếp nhận nó.

Nhìn vào các nước Phật-giáo, ta thấy quốc gia nào cũng có những sắc thái Phật-giáo riêng biệt về hình tướng cũng như về hệ thống giáo lý. Đồng là Phật-giáo cả, nhưng mỗi nơi mỗi khác, khác từ sự kiến trúc chùa chiền đến lễ nghi trang phục. Những cái sắc thái riêng biệt ấy thích hợp với đời sống của quốc dân, với cá tính của dân tộc. Do đó đạo Phật đã trở thành, ở các quốc gia Phật-giáo, một nền Phật-giáo dân tộc.

Như ở Nhật Bản, hòa hợp với Thần đạo và Võ sĩ đạo, Phật-giáo đã trở thành một nền Phật-giáo Nhật Bản. Mặc dù chịu ảnh hưởng Phật-giáo Trung Hoa, các Đại đức Thiền sư Nhật Bản như Đạo Nguyên, Thân Lan, Nhật Liên đã biến Phật-giáo Trung Hoa thành Phật-giáo của dân tộc Nhật. Từ mái chùa cho đến chiếc áo cà-sa mỗi mỗi đều có những sắc thái khác biệt, phù hợp với cá tính Nhật Bản. Cũng thời là Thiên Thai tông nhưng Thiên Thai tông của Nhật lại hòa hợp với Mật. Thiền. Đến Tịnh độ tông và Thiền tông cũng thế. Ở Nhật hai tông ấy biến đi rất nhiều từ tinh thần lẫn hình thức. Nói tóm lại, đạo Phật một khi du nhập vào Nhật bản thì hòa hợp với tinh linh dân tộc Nhật mà có những sắc thái riêng biệt, không còn giống với thoát thai của nó là nền Phật-giáo Trung Hoa.

Đến như Phật-giáo Trung Hoa, tiếp nhận ngay Phật-giáo Ấn Độ, đáng lẽ không có biến thái nhiều, thế mà vì tính chất thích nghi nên đã cách tân từ việc tụng niệm trang y cho đến cách chia tông lập giáo. Có thể nói Phật-giáo Trung hoa là một nền Phật-giáo hoàn toàn xây dựng trên cơ bản mới, khác hẳn Phật-giáo nguyên thỉ.

Vả chăng sau ngày Phật nhập diệt độ khoảng 500 năm. Ấn Độ bị Hồi giáo xâm lăng, đạo Phật cơ hồ không còn. Những tăng ni theo giáo lý Tiểu thừa thì di cư xuống miền Nam, lập thành Phật-giáo Nam tông hay Tiểu thừa giáo; còn những học giả Đại thừa thì chạy sang Đông độ. Thành thử cõi Chấn Đán tức Trung Hoa đã trở nên tổ quốc của Đại thừa giáo. Cái hệ thống “Tổ tổ tương truyền” bắt đầu từ Đại đức Ca Diếp cho đến vị tổ thứ 28 thì chấm dứt ở Ấn độ, nhưng lại được tiếp tục ở Trung Hoa.

Chẳng những thừa tiếp giáo pháp Đại thừa vừa mới khai sáng nhưng chưa kịp phát triển ở Ấn độ, Trung Hoa còn chỉnh đốn các tông tổ thành hệ thống thích hợp với cả linh dân tộc và đồng thời sáng tạo thêm ba tông hoàn toàn Trung Hoa. Đó là: Hoa nghiêm tông, Thiên Thai tông và Thiền tông.

Trong sách Ẩm băng thất, khi đề cập đến sự thành lập các tông Phật-giáo ở Trung Hoa. Lương Khải Siêu có viết: “Về Câu xá tông, tuy Thế Thân có tạo một bộ luận được học giả Ấn Độ tranh nhau học tập, nhưng chưa chính thức lập nên một tông. Tông này được thành hình là chính tự Trung Quốc. Còn về Thành thực tông thì từ Ma lê bạt ma về sau không thấy Kinh sách nào ở Thiên trúc nói đến mà chỉ riêng ở Trung Quốc thì rất thịnh. Tam luận tông ở Ấn Độ tuy truyền bá hơi rộng nhưng cũng không bằng ở Trung Quốc. Đến như Hoa nghiêm thì bản Kinh ấy ở Ấn Độ đã chìm lặn trong chỗ mờ mịt. (cứ theo truyền thuyết thì sau Phật diệt độ 700 năm, Long Thọ Bồ Tát dùng thần lực nhiếp thủ Kinh Hoa nghiêm ở Hải long cung. Bản Kinh lưu hành là bắt đầu từ đó. Truyền thuyết thần bí này tuy chẳng đủ tin nhưng đủ thấy ở Ấn Độ tung tích Hoa nghiêm còn mờ mịt lắm). Thế thì làm gì có Hoa nghiêm tông! Lúc Bấy giờ ở Ấn Độ chỉ có hai bộ luận: Đại bất tư nghị và Thập địa xiển minh nghĩa Hoa nghiêm còn kỳ dư thì không thấy đâu nói đến. Nhưng dựa vào Hoa nghiêm  để lập giáo, thật ra chỉ bắt đầu từ các ngài Đỗ Thuận, Hiền Thủ, Thanh Lương, Khuê Phong. Cho nên có thể nói rằng Hoa nghiêm tông là do Trung Quốc trước tiên sáng lập. Đến như Thiền tông, tuy rằng Ấn Độ có 28 vị tổ, nhưng sự truyền nhau lại quá mật, giữa tiền tổ với hậu tổ chỉ trong khoảnh khắc, không thể biết được uyên nguyên cho nên việc chân ngụy hẳn khó mà phân biệt. Ấn Độ cho rằng chân nhưng trong khoảng hơn một ngàn năm, ngoài 28 tổ ra thì không có thể nói là có Thiền tông, ấy chẳng qua chỉ vì sau khi vừa nhận y bát thì vị tổ trước đã nhập diệt. Thành thử trong khoảng không hơn một ngàn năm ấy, chẳng từng có được 2 người cùng một lúc hoằng dương chính pháp Thiền tông. Như vậy có thể nói Ấn Độ không có Thiền tông cũng nên. Tuy nhiên, Phật-giáo nhờ có Lục tổ mà bắt đầu có Thiền tông, cũng như Gia tô giáo nhờ có Luther mà bắt đầu có Tàu giáo. Như pháp môn chỉ quán “Thiên Thai Tam muội” là đặc sáng của riêng Đại sư Trí giả; trước đó chưa có mà ngay trong thời của Đại sư cũng không ai dạy thì đủ rõ. Do đó có thể nói rằng trong mười tông, duy có Luật tông. Pháp tướng tông. Chân ngôn tông. Tịnh độ tông là thịnh hành ở Ấn Độ, còn ký duy  là do Trung Quốc sáng lập.”

Lương Khải Siêu còn khoái cảm hạ bút rằng: “Đẹp thay nước Trung Quốc của ta! Chẳng thọ ngoại học thì thôi, bằng đã thọ thì phát huy rộng sáng ra, biến thành một thứ đặc sắc. Hãy nhìn vào nền Toán học và Phật học của nước ta đủ thấy. Phật học của Trung Quốc là phật học của Trung Quốc, chứ không còn là Phật học thuần nhiên của Ấn Độ .”

Ấy đó, Phật-giáo một khi du nhập vào Nhật bản và Trung Hoa thì  hoà hợp với dân tộc tinh của mỗi nơi mà có những sắc thái riêng biệt, biến thành một nền Phật học dân tộc. Nước  Việt Nam chúng ta cũng đồng thấm nhuần giáo lý Phật đà, một mặt trực tiếp du nhập từ Ấn Độ, một mặt gián tiếp chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, có lý nào chẳng gây dựng một nền Phật-giáo phù hợp với dân tộc tinh Việt Nam như Trung Hoa và Nhật Bản hay sao?

Nhìn vào nền Phật-giáo nước nhà, chúng ta không đến đỗi thất vọng như khi nhìn vào đại hạt Nho học. Các danh tăng Việt Nam từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần luôn luôn cố gắng tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc. Cũng thời tiếp nhận Thiền tông của Trung Hoa truyền sang, nhưng các danh tăng đời Trần đã thành lập một phái Thiền đặc biệt của mình, không khác Chân tông và Nhật liên tông ở Nhật. Đó là phái Trúc Lâm Yên tử do ba vị tổ: Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang sáng lập. Bắt nguồn từ giáo lý Thiền tông nhưng phái Trúc Lâm Yên tử chủ trương có khác. Cho được hoà hợp chủng tính Việt Nam, phái Trúc Lâm xây dựng Thiền lý trên căn bản Nhập thế và Xuất thế, trong lúc ấy Thiền tông Trung Hoa chỉ thuần có một mặt xuất thế mà thôi. Nhờ có dung hợp cả hai phương diện Nhập thế và Xuất thế, đạo Phật đời Trần cũng như đời Lý gây được tinh thần sùng mộ đạo đức và tính khí thanh tao thoát tục, chẳng những trong dân gian mà cả trong hàng quan khanh vua chúa.

Một khi đã thấm nhuần Thiền lý, các vua quan nhà Trần, mặc dù lăn lộn trong chỗ quyền môn vẫn không mang nặng cái bệnh tham danh trục lợi. Thế nên, khi mọi việc an bày, có nhiều vị vua quan nhường ngôi cáo lão để đi tu. Nhờ đã hoàn thành giai đoạn nhập thế nên họ dễ tiến lên con đường xuất thế.

Đến như những danh tăng đã xuất thế, cũng không vì đã xuất thế mà chẳng trở lại nhập thế khi quốc gia hữu sự, dân chúng đảo điên. Trường hợp của Tuệ trung Thượng sĩ, khi nghe giặc Nguyên xâm lăng nước ta từ chốn Thiền lâm cởi áo ca sa mặc lấy chiến bào ra trận, và khi giặc Nguyên đã bình, bèn vứt chiến bào mặc lại áo ca sa, đủ cho ta thấy cái đặc tính dân tộc của phái Trúc lâm Yên tử. Nhờ kiêm cả hai phương diện nhập thế và xuất thế, Thiền tông Việt Nam còn dung hợp với Tịnh độ tông để cùng điều hòa và trợ trưởng nhau trong pháp tu vừa tự lực vừa tha lực.

Nhưng trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, tịnh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần cùng theo thời gian mà mở dần trong dĩ vãng. Thừa lúc loạn loạc Trịnh  Nguyễn phân tranh, rồi tiếp theo thực dân đô hộ non một thế kỷ, tinh thần dân chúng hoang mang mất cả tự tin, những lối tu yếm thế, mê tín dị đoan pha màu phương thuật lại được dịp xây dựng cơ đồ, làm nền Phật-giáo dân tộc phải thối triều trong khoảng thời gian ngót năm thế kỷ.

Nhận xét về nguyên nhân suy bại của Phật-giáo ở xứ ta, ông Hoàng Nhiên có nêu ra mấy điểm trọng yếu:

1. Phái tăng già ở xứ ta phần nhiều tu mà không học.

2. Người minh hay trọng sự lạy lục cúng dường theo lối mê tín dị đoan.

3. Không biết trọng sáng kiến của người khác.

4. Không biết giúp đỡ, tán dương người tài trí, nhà hiền giả, bậc chân tu.

5. Cố chấp về văn tự, theo tư tưởng Hán nho mà không rộng xem các sách khác (1)

Về nguyên nhân suy đồi Phật-giáo ông Thanh Sĩ cũng nhận rằng:

Cùng một cảnh huống đạo Khổng tử, đạo Phật Thích Ca ở xứ ta hồi thời nhà Đinh, Lê, Lý, Trần rất thịnh đạt, không những trong dân chúng mà luôn đến hàng vua chúa cũng cùng  một tin tưởng mạnh mẽ. Các vua thời ấy, thường hay nhường ngôi cho con để đi tu, hoặc lên non núi lập chùa chiền qui tụ cả muôn tăng cả muôn tăng lữ lo viêc tu hành, hoặc xây cất am tự gần thành quách của mình để truyền bá đạo Phật, nhất là hồi thời nhà Trần vua Nhân Tôn tu được chứng quả, đạo hiệu của Ngài là Điều ngự  Giác hoàng Đại Đầu Đà Người thời ấy tôn Ngài làm đệ nhất tổ của phái Thiền tông ở Việt Nam. Hàng quan tướng lúc bấy giờ xem gương của vua Nhân Tôn mà họ cũng lần lượt lánh rồi cuộc công danh phú quí lo tu hành rất đông, như con của Trần Quốc Tuấn là Trần Quốc Tảng. Lúc Trần Quốc Toản mới mười bốn tuổi vừa đi học về nghe cha bị quân Nguyên vây tại thành Thăng Long thì ông mới nhất thân nhất mã ra giải vây cho cha. Chừng ông được hai mươi tuổi đã đi tu, ngộ được Phật chỉ đạo,  hiệu  của ông là Tuệ Trung Thượng sĩ. Còn những hạng tu hành chứng quả ở thời đó không kể xiết.

Nhưng kể từ khi các vị Tổ bên Trung hoa ngưng việc truyền y phó bát đến nay, phái Thần Tú càng lúc càng thêm mạnh, không những ở Trung Hoa mà còn truyền qua xứ ta, họ bày ra cách thờ cúng đầy thinh, âm, sắc, tướng (đờn, đẩu, trống, phách, lầu, phướn, sá hạc v.v…) làm việc hữu hình, hữu ảnh, dân chúng xứ ta dần dần theo đó mà xa lần mối đạo vô vi chánh pháp của Phật, Nền chánh giáo từ đó càng ngày càng mờ lu, các ngôi chùa miễu phần nhiều chỉ là cái vỏ để các tà sư làm mê hoặc thập phương, lợi dụng việc lo cơm ấm áo vậy thôi, chớ họ không chú vào việc dắt người đến chỗ sáng sủa giải thoát. Cũng bởi phần đông hành đạo không chánh đáng, nên cả ngàn muôn người tu mà chỉ có một số ít người đắc đạo; do đó mà gần đây có người lên án cho cảnh chùa là chỗ chứa những phần tử ăn bám của xã hội, chỉ là tổ chức mê hoặc lòng dân, không có tinh thần tiến hoá, thật là một con sâu làm rầu nồi canh.(1).

Dầu vậy, tinh thần dân tộc vẫn không lịm hẳn trong Phật-giáo. Vào đầu thế kỷ thứ 19. Đức Phật Thầy Tây An (2) xuất hiện lập nên giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương. Khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật, chẳng  những khôi phục cái thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần mà còn xây dựng lên một nền Phật-giáo hoàn toàn dân tộc.

2) Viễn-nhân của Bửu-Sơn Kỳ-Hương

 Nhìn vào lịch sử Phật-giáo Việt Nam, chẳng sử gia nào không nhìn nhận rằng chẳng có thời kỳ nào đạo Phật hưng thịnh bằng đời Lý đời Trần. Trong nước từ quan chí dân đều một lòng sùng mộ việc tu hành, kẻ đủ điều kiện tu giải thoát thì xuất gia, người còn bận việc đời thì giữ phần cư sĩ.

Khắp nơi trong nước, cảnh già lam được nhiệt liệt dựng lên, ở mỗi gia đình, ngoài việc thờ phượng tổ tiên, còn có ngôi thờ Tam bảo. Có thể nói xã hội Việt Nam ở đời Lý đời Trần đã thấm nhuần tinh thần đạo Phật cả hai phương diện xuất thế và nhập thế.

Do đâu đạo Phật đời Lý đời Trần hưng thịnh hơn các triều đại khác? Hẳn phải có nguyên nhân? Nhiều sử gia cho rằng Việt Nam cho đến đời Lý, chủ quyền quốc gia mới thật điện định. Nhờ được trấn an bờ cõi, các vua quan đời Lý có đủ thì giờ lo nghĩ việc mở mang dân trí. Đương nhiên Phật-giáo cũng như Khổng giáo và Lão giáo là ba nền đạo đề cao nhân cách, đào dưỡng tinh thần hướng thượng của chúng sinh, hẳn được nhà cầm quyền vun bồi và trợ trưởng. Đó là cơ hội thuận tiện cho Phật-giáo hưng thịnh.

Xét ra thì sự nhận định trên đây chỉ dừng trên phương diện, ngoại duyên. Chớ chưa phải tìm động nhân chính. Thì như có một miếng đất tốt, thích hợp cho sự trồng tỉa mà ngay hột giống không tốt, không có sức phát triển thì cũng không làm sao có kết quả tốt đẹp. Miếng đất tốt chỉ là ngoại duyên, còn hột giống mới là nội nhân. Một nền triết học hay giáo lý cũng thế, mặc dù gặp hoàn cảnh thuận tiện cho sự phát triển nhưng nếu nội dung của nó không phù hợp với đời sống cùng trình độ của mọi người thì cũng không tài nào hưng khởi lên được.

Thế nên cái động nhân để làm phát triển một nền học thuật hay giáo lý, chính là những khả năng thích nghi sẵn có của nó. Thiếu những khả năng ấy thì dù hoàn cảnh có thuận tiện cũng không sao phát triển được.

Sở dĩ đạo Phật hưng thịnh nhất ở đời Lý đời Trần là cũng nhờ các danh tăng lúc bấy giờ biết làm phát triển cái khả năng thích nghi sẵn có của đạo Phật để được phù hợp với dân tộc tính và cơ duyên của chúng sinh trong nước. Thay vì mô phỏng mù quáng theo các danh tăng dời Lý đời Trần khéo biến Thiền tông Trung Hoa thành một môn Thiền Việt Nam, phối hợp tu xuất thế và nhập thế. Các Ngài Điều ngự Giác hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đời Trần thành lập một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam lấy tên: phái Trúc Lâm Yên Tử.

Với danh hiệu hoàn toàn Việt Nam, với pháp tu phù hợp với trình độ và căn tính của dân trong nước, thảo nào đạo Phật chẳng được phát đạt và toàn dân sùng mộ.

Chính cái nội nhân thích nghi của đạo Phật mới là cái động cơ chính làm phát triển đạo Phật khắp nơi. Đó chẳng phải là cái thông lệ riêng của Việt Nam mới có, mà bất cứ ở nơi nào, nếu người đứng ra hoằng dương giáo pháp biết làm phát triển cái nội nhân thích nghi ấy cũng đều thâu hoạch kết quả như thế.

Thử lấy Thiền tông để chứng minh, ta sẽ thấy ngay ở Ấn Độ là nơi xuất phát Thiền tông; nhưng chính ở đấy trong khoảng thời gian một ngàn năm, Thiền tông chưa lập thành hẳn tông phái. Mãi khi du nhập vào Trung Hoa, các danh tăng cõi Chấn dân, biến nó thành một môn Thiền Trung Hoa, gây nên một thịnh huống vô cùng náo nhiệt mở rộng khắp nơi trong nước, đâm chồi nảy tược ra làm ngũ gia thất tông, Ngũ gia là: Lâm tế, Tào động, Qui Ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn, Về sau phái Lâm Tế có thêm hai chi Dương Kỳ và Hoàng Long; do đó mới gọi là Ngũ gia Thất tông.

Đến như Thiền tông ở Nhật Bản, mặc dù do hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên cầu pháp ở Trung Hoa, nhưng khi du nhập vào Nhật lại dung hợp với Thần đạo và Võ sĩ đạo lập thành một Thiền phái hoàn toàn Nhật Bản. Nhờ thích ứng với dân tộc tinh Nhật, Thiền tông  phát triển rất mạnh ở đảo Phù tang và sau hai Ngài Vĩnh Tây và Đạo Nguyên, còn phân ra khá nhiều chi phái, giáo nghĩa thêm đủ dầy, lợi ích càng sâu rộng.

Cứ xem đó thì một nền giáo lý cho được phát triển, cái động cơ chính là các nhà truyền giáo phải biết làm cho thích hợp với dân tộc tinh và trình độ của dân trong nước. Cái nguyên nhân giúp cho đạo Phật hưng thịnh ở đời Lý đời Trần chính là ở chỗ đó.

Các danh tăng Việt Nam đã biết phối hợp đạo Phật với dân tộc tinh nên gây được lòng sùng mộ của toàn thể nhân dân, nhưng cái thịnh huống ấy không thể duy trì lâu dài, khi cuộc Nam Bắc phân tranh nổi lên vàtiếp theo đó dẫn khởi cuộc đô hộ của quân Pháp, khiến cho tinh thần dân tộc phải một phen tiềm tàng, cơ hồ mai một.

Trong những lúc hỗn loạn làm xáo trộn cả giá trị tinh thần, chính là lúc rất thuận lợi cho các mê tín dị đoan nảy mục đâm chồi. Lịch sử Trung Hoa đã chứng minh rằng vào đời Lục Triều và Tam Quốc, trong nước không dứt loạn lạc, chính là lúc phái phương sĩ, một biến thể của đạo Lão phát triển mạnh mẽ nhất. Hoàn cảnh xã hội Việt  Nam sau đời Hậu Lê cũng diễn ra những cảnh huống loạn lạc tương tợ Phái Trúc Lâm Yên Tử không sao tránh khỏi cảnh suy vi thất lạc, trong lúc tư tưởng của dân trong nước  đang thối triều. Ban sơ Thiền phái Việt Nam chưa suy lạc cho lắm, nhưng trải qua một thời gian hàng mấy trăm năm loạn lạc, các tập tục mê tín ngoại lai thâm nhập càng nhiều làm cho bản chất thuần lý phù hợp với dân tộc tính phai lạt đi.

Nay muốn chấn hưng đạo Phật, tất phải làm sống lại tinh thần dân tộc. Nếu mãi nô lệ ngoại quốc, cứ nhất nhất mô phỏng những điều chỉ thích hợp với nước người mà không chịu áp dụng đúng với tinh thần dân tộc và phù hợp với căn cơ của dân trong nước thì những giáo lý ấy dù có được tiếp nhận chăng nữa cũng không gây được sự ngưỡng mộ nồng nhiệt của toàn dân. Một giáo lý thiếu tính chất thích nghi là một giáo lý cằn cỗi ngưng đọng, mất bản tính chất Phật giáo.

Ý thức được cái động nhân tiến triển của đạo Phật, nên chỉ khi ra đời Đức Phật Thầy Tây An không đạp theo dấu của các nhà sư lúc bấy giờ chỉ biết bắt chước và tai hại hơn nữa là Ấn Độ tùng xướng khởi lối tu mê tín dị đoan của Thần Tú. Để đề khởi tinh thần Phật-giáo đời Lý đời Trần. Ngài noi gương các vị tổ của phái Trúc lâm Yên tử mà sáng lập một tông phái phù hợp với dân tộc tính Việt Nam và tương xứng với trình độ của dân chúng trong thời kỳ mạt pháp. Ngài thành lập phái Bửu Sơn Kỳ Hương và xướng xuất pháp môn Tu Nhân học Phật.

Bửu- Sơn Kỳ- Hương là một tông phái hoàn toàn Việt Nam. Kiểm điểm các danh tông của Phật giáo Ấn độ và Trung Hoa hay bất cứ nền Phật-giáo của một nước nào ta thấy Bửu- Sơn  Kỳ- Hương là một danh từ đặc biệt Việt Nam, không có trùng tên hay trùng ý với một tông phái nào khác.

Nước Trung Hoa lấy làm hãnh diện về sự sáng lập Thiên thai tông là một tông hoàn toàn Trung Hoa, thiết tưởng chúng ta cũng không đến đổi thiếu sáng kiến hay tự ty mặc cảm khi có tông phái Bửu- Sơn  Kỳ- Hương. Nhật Bản tự hào có Nhật liên tông một đặc sáng Nhật Bản nhưng thật ra Nhật liên tông chẳng qua là một thoát thai của Thiên thai tông Trung Hoa, do Thượng tọa Nhật Liên, sau một thời gian tu tập bên Trung Hoa trở về nước sáng lập.

Đến như Bửu- Sơn Kỳ- Hương thì không thế. Nó chẳng những Việt Nam ở danh từ mà còn phù hợp với dân tộc tính Việt Nam ở phương diện hành đạo. Có thể nói Bửu- Sơn Kỳ- Hương là hoá thân hay hậu thân của Trúc Lâm Yên Tử, nhưng có điều khác hơn Trúc Lâm là Bửu- Sơn  Kỳ- Hương, cho được phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ Hạ Nguơn mạt pháp, không còn là một thiền phái chú trọng nhiều về mặt xuất gia và chủ trương vừa xuất thế và nhập thế, mà là một tông phái trú trọng về cư sĩ tại gia và chủ trương chỉnh lại giai đoạn nhập thế để tiến dẫn đến xuất thế. Sở dĩ Bửu- Sơn  Kỳ- Hương về pháp môn hành đạo có chỗ không giống Trúc Lâm Yên Tử, chẳng qua vì căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh của thời kỳ có khác. Nhưng trên phương diện dân tộc và sự phấn phát đã đem lại cho nền Phật-giáo Việt Nam thì Bửu- Sơn Kỳ- Hương không khác Trúc Lâm Yên Tử

Ngay tên tông, hai phái cũng có chỗ tương xứng tương đồng nhau rồi. Đặc biệt là trong danh từ “Trúc Lâm Yên Tử” cũng như “Bửu- Sơn  Kỳ- Hương“, mỗi danh hiệu gồm có đến bốn chữ, trong lúc ấy danh hiệu các tông Trung hoa hay Nhật bản chỉ gồm có một hay hai ba chữ là cùng. Các chi phái của Bửu- Sơn Kỳ- Hương sau này cũng lấy danh hiệu gồm có bốn chữ như: Tứ Ân Hiếu nghĩa của Đức Bổn Sư, Phật-giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh giáo chủ.

Điều đáng chú ý hơn nữa là Trúc Lâm Yên Tử và Bửu- Sơn Kỳ- Hương đều lấy tên núi làm tên tông. Yên Tử là một ngọn núi thuộc về tỉnh Quảng Yên, nơi các tổ nhà Trần đến lập cảnh già lam. Do đó mà Thiền phái do ba Ngài: Điều ngự Giác Hoàng, Pháo Loa và Huyền Quang sáng lập có tên là Trúc Lâm Yên Tử. Xét ra thì đó cũng là một thông lệ thường thấy trong việc đặt tên của nhiều tông phái.

Ngoài việc lấy tên núi làm tên tông, nhiều cao tăng còn nhớ tên núi nơi mình đến tu hành mà thành pháp danh. Như ngài Triệu Linh Hựu đến núi Qui Sơn mở giáo truyền đạo trong 40 năm mà được danh hiệu là Qui Sơn đại sư; như Ngài Hy vận Thiền sư lên núi Hoàng bá thuộc tỉnh Giang tây tu hành giảng giáo mà được pháp danh là Hoàng Bá Thiền sư và phái của Ngài lập ra có tên là phái Hoàng bá, tức là phái Thiền truyền lại cho Nghĩa Huyền để rồi lập lên chi Lâm Tế.

Danh hiệu Bửu- Sơn Kỳ- Hương, sở dĩ được Đức Phật Thầy Tây An dùng đặt cho tông phái của mình cũng không ngoài trường hợp như đã kể trên.

Bửu Sơn là tên núi, nơi mà Đức Phật Thầy Tây An đến tu luyện trước khi ra đời mở đạo. Trong nhiều thi văn của các ngài trong phái Bửu- Sơn Kỳ- Hương đã có nói đến. Trong Giác mê của Đức Phật Thầy có đoạn viết:

Sát mai đã trọng thửa công,

Bửu Sơn đã tới tay không trở về.

Danh từ Bửu sơn được Đức Phật Huỳnh giáo chủ nói trong bài thơ:

Điên này vốn thiệt ở Núi vàng.

Thương đời nói rõ việc tầm than;

Khắp trong lê thứ mau mau tỉnh,

Yên trí nghĩ suy biết đá vàng.

Như thế Bửu Sơn có nghĩa là Núi Vàng hay Núi báu. Vì dân lại gọi Núi báu? Điều này Đức Huỳnh giáo chủ đã giải rõ trong hai câu:

Trên Năm non rồng phụng tốt tươi,

Miền Bảy Núi mà sau Báu Quí.

Thì ra, vì sau này nó trở lên báu quí mà nó có câu Núi Báu. Núi ấy ở trong miền Bảy Núi tức Thất Sơn. Nó được ông Sư vãi Bán khoai định vị và cho biết nhờ đâu nó trở nên quí báu trong một đoạn thơ như sau:

Chừng nào Núi Cấm hoá lầu.

Thì là bá tánh đâu đâu thái bình.

Và ở một đoạn khác:

Chừng nào Bảy Núi thành Vàng.

Thì là mới đặng thanh nhàn tấm thân.

Cứ theo đó thì hai chữ Bửu Sơn có nghĩa là Núi báu, Núi vàng. Đến như hai chữ Kỳ Hương thì ông Ba Thới có giải nghĩa trong Kim cổ kỳ quan:

Tiếng Kỳ Hương thơm nực biên thùy.

Hay trong Thừa Nhàn:

Kỳ Hương để tiếng biên thùy.

Thế thì Kỳ Hương có nghĩa là mùi hương lạ, tiếng thơm lan truyền ra ngoài cõi biên thùy.

Nói tóm lại, bốn chữ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương có nghĩa là Núi báu, sau này sẽ làm rạng rỡ cho non sông nước Việt, tiếng thơm lạ bay nực ra ngoài cõi biên thùy báo tin một nguồn ân thánh triết ra đời tạo lập một kỷ nguyêm mới, cõi đời Thượng nguơn an lạc.

Danh từ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã trở thành danh hiệu một tông phái Việt Nam do Đức Phật Thầy Tây an khai sáng. Những tín đồ của môn phái này được Đức Phật Thầy cũng như những vị kế truyền phát cho một lòng phái có bốn chữ Bửu-Sơn Kỳ-Hương khi qui y thọ giáo.

Lòng phái là một miếng giấy vàng, có khi giấy bạch, trên đó có in bốn chữ Bửu-Sơn Kỳ-Hương bằng son tàu.

Người lãnh được lòng phái, thường may một cái đãy đeo vào mình, với tin tường là nhờ đó sẽ được mạnh khoẻ, xa lánh mọi tà ma, tai nạn. Họ giữ rất kỹ và quí trong còn hơn bạc vàng tiền của, thà chết chớ không chịu trao cho ai.

Cứ như được biết, Đức Phật Thầy có trao cho Đức Cố Quản Trần Văn Thành một cái ấn bằng cây để in lòng phái. Về sau Đức Cố Quản trao lại cho trưởng nam tức ông Trần Văn Nhu để in phát cho những người đến qui y thọ phái.

Ngoài ra, Đức Phật Trùm. Đức Bổn sư cũng có phát lòng phái như thế cho tín đồ của mình.

Bốn chữ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương do đó mà rộng truyền ra khắp nơi và những vị kế truyền Đức Phật Thầy Tây An đều tự nhận là hệ phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Trong thi văn của các Ngài thường nhắc đến 4 chữ ấy và lấy đó khoán thủ trong nhiều bài thơ. Như Ông Ba Thới trong Kim Cổ Kỳ Quan có viết:

Tác công nghiệp có kẻ biên thùy,

Hoang lâm tích hậu Bửu Kỳ Hương Sơn.

Trong thi văn của Đức Huỳnh Giáo chủ, Ngài dùng bốn chữ ấy khoán thủ, chẳng hạn:

Bửu châu công luyện chốn non Tần,

Sơn thủy môn giang bảo giác dân.

Kỳ quái chờ nơi thiên nhất định.

Hương nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

Hay bài thơ Hán văn dưới đây:

Bửu kiến trừng tâm dụng thể tiên,

Sơn sanh giả kế chưởng huyền thiên.

Kỳ thâm hạ giái ly đài nguyệt,

Hương vị trầm thinh bi kỷ niên.

Và nhất là bài thơ khoán thủ “Tứ bửu linh tự” sau đây của Đức Phật Thầy Tây An sáng tác còn lưu truyền đến nay mà nhiều người được biết:

Bửu Ngọc Quân Minh Thiên Việt Nguyên.

Sơn Trung Sư Mạng Địa Nam Tiền.

Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc,

Hương Xuất Trình Sinh Tạo Nghiệp Yên.

Đây là một bài thơ thuộc loại “tung hoành dọc”, nghĩa là đọc bề dọc cũng có nghĩa mà đọc bề ngang cũng có nghĩa. Cứ theo chiều dọc đọc xuống, chúng ta sẽ có một bài thơ bảy câu bốn chữ:

Bửu- Sơn Kỳ- Hương ,

Ngọc Trung Niên Xuất,

Quân Sư Trạng Trình.

Minh Mạng Tái Sinh.

Thiên Địa Tân Tạo.

Việt Nam Phục Nghiệp.

Nguyên Tiền Quốc Yên.

Mỗi câu đều có nghĩa, mặc dù trong đó chứa nhiều ẩn tự ẩn ngữ, cần phải hiểu cách chiết tự đảo cú mới khám phá được lý diệu mầu huyền bí (1)

Nói tóm lại Đức Phật Thầy Tây An dùng bốn chữ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương làm tông danh, với ý nghĩa là để ghi dấu chỗ phát tích của tông phái do Ngài sáng lập và báo tin một chuyển biến lớn trong đời sống của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ra bốn chữ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương còn hàm súc những giáo pháp mà Ngài xướng xuất để hóa độ chúng sinh trong buổi Hạ Nguơn để kịp kỳ đi đến Hội Long Hoa và tạo lập đời Mới.

3) Phấn-phát tinh-thần dân-tộc

Bửu-Sơn  Kỳ-Hương được xem như hậu thân của phái Trúc Lâm Yên Tử. Thật thế, Đức Phật Thầy Tây An quả xứng đáng là vị thừa kế của Thiền phái đời Lý, đời Trần, vì Ngài đã tạo cho Việt Nam một nền Phật-giáo dân tộc.

Sở dĩ các tổ Trúc Lâm gây được thịnh huống cho đạo Phật đời Trần là nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: tinh thần dân tộc, đối cơ và hoàn cảnh.

Về phương diện dân tộc tính, Trúc Lâm Yên Tử là một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam từ cách đặt tên đến nghi thức hành đạo.

Về phương diện đối cơ, pháp môn Thiền Tịnh song tu rất thích hợp với trình độ của con người ở thời kỳ Tượng pháp, gồm có hạng hạ căn cần tu cầu tha lực và hạng thượng căn đủ sức tu tự lực.

Về phương diện hoàn cảnh, chủ trương nhập thế và xuất thế rất phù hợp với tinh thần của một xã hội đang đòi hỏi sự nỗ lực của tăng lẫn tục trong công cuộc để tỉnh tinh thần hy sinh để bảo vệ lãnh thổ và giữ vững tín ngưỡng quốc gia chống lại mọi cuộc xâm lăng bờ cõi ở phía Bắc và mọi sự uy hiếp dị giáo ở phía Nam.

Cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử. Đức Phật Thầy Tây An đã nắm vững ba yếu tố ấy khi đứng ra phát động phong trào chấn hưng Phật-giáo.

Cho được nhận rõ vai trò Bửu-Sơn  Kỳ-Hương trong công cuộc phục hoạt đạo Phật đời Lý đời Trần, thiết tưởng nên hiểu qua quá trình phát triển cùng chủ trương và giáo lý của Đức Phật Thầy Tây An.

Sinh năm 1807, năm Gia Long thứ 6 nhưng đến năm 1850 tức năm Tự Đức thứ 3. Đức Phật Thầy Tây An mới ra mở đạo và tịch năm 1856, tức là thời kỳ trong nước gặp nhiều cuộc loạn lạc. Tam giáo: Nho, Lão, Phát, suy vi.

Trong đời Lê và Nguyễn là thời kỳ Nho học độc tôn, thế mà nhìn về sĩ phong, Lê Quí Đôn không khỏi than rằng: “Quốc gia khôi phục thừa sau khi nhiễu nhương thì nhà nho vắng vẻ; đến đời Hồng Đức mở rộng khoa mục thì kẻ sĩ xô về hư văn; đời Đoan Khánh trở đi thi sĩ tập suy bại quá lắm”. Ở thời kỳ Nho học độc tôn mà Nho giáo còn hư hèn như thế thì đủ biết tình trạng suy đồi của Đạo giáo và Phật-giáo.

Chính trong hoàn cảnh đen tối ấy. Đức Phật Thầy Tây An ra đời, mở cơ phổ hóa, không nói ta cũng thấy khó khăn là bực nào.

Công cuộc đề khởi tinh thần sùng mộ đạo sanh không khác cách trị bịnh của một ông thầy thuốc giỏi. Ông lương y phải rõ bịnh căn để châm thế thuốc thang cho phù hợp với trạng thể của con bịnh thế nào thì người đứng ra hoằng dương giáo pháp cũng phải hiểu rõ căn tính và hoàn cảnh của chúng sinh để đưa ra pháp môn cho được xứng cơ như thế ấy. Bằng chẳng hiểu căn cơ thì chẳng khác người cho thuốc mà không rõ bịnh căn, đã không hết bịnh, tâm thì còn hại đến thân.

Là một đấng sáng tỏ, thông đạt huyền cơ, với lại có sứ mạng lâm phàm dìu dắt chúng sinh trong thời kỳ mạt hạ. Đức Phật Thầy Tây An thấu rõ căn bịnh ngặt nghèo của chúng sinh nên đưa ra một phương thuốc vô cùng hiệu nghiệm.

Ngài thành lập giáo hệ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương và khai thị pháp môn Tu Nhân học Phật, vừa phấn phát tinh thần dân tộc, vừa phù hợp với căn cơ chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp và hoàn cảnh ác liệt sắp đưa đến cảnh quốc phá gia vong.

Với bốn chữ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương, một danh hiệu hoàn toàn Việt Nam, Ngài gọi lại tinh thần dân tộc của phái Trúc Lâm Yên Tử đã phai mờ trong mấy trăm năm loạn lạc, Trịnh Nguyễn phân tranh. Cái tinh thần dân tộc ấy chẳng những biểu lộ trên tông danh mà còn hàm chứa trong pháp môn Tu Nhân học Phật.

Về phương diện Tu Nhân. Ngài xướng xuất Tứ Ân Hiếu Nghĩa để dìu dắt con người trở lại với đạo Nhân là căn bản của con đường đưa đến mục đích cuối cùng giải thoát.

Trải qua mấy mươi năm binh cách, những thuần phong mỹ tục đều đổ nát. Con người  không còn thiết gì đến hiếu trung nhân nghĩa. Trong gia đình mọc lên  thứ con bất hiếu, ngoài xã hội đầy dẫy hạng bất lương. Với cái tinh thần suy đồi đọa lạc dường ấy mà đem những giáo lý cao siêu của Thiền tông ra giảng giáo thì chỉ làm cho họ thêm chán chê, chớ không mong gì thức tỉnh được. Và lại nền tảng của hầu hết các đạo giáo đều xây dựng trên đạo Nhân. Nếu Nhân đạo không tròn, vị tất đã hành được Phật đạo. Thử nghĩ, một người mà đối với cha mẹ trong nhà không có hiếu, đối với xã hội không có nhân, thì phỏng có trở nên một tín đồ thuần thành của đạo Phật chăng?

Phương chi sách Liên Tông Bửu Giám có viết: “Hiếu dưỡng vi bách hạnh chi tiên, hiếu tâm tức thị Phật tâm, hiếu hạnh vô phi Phật hạnh, dục đắc đạo đồng chư Phật, tiên tu hiếu dưỡng nhị thân”. Điều hiếu dưỡng là đứng đầu đức hạnh. Tâm hiếu thảo tức là tâm của Phật vậy; hạnh hiếu thảo đâu chẳng là hạnh của Phật. Vậy muốn đắc đạo ngang hàng với chư Phật, trước hết khá nên hiếu dưỡng mẹ cha.

Thiền sư Trường Lộ Sách cũng nói: “Hiếu chi nhất tự, chúng diệu chi môn. Phật ngữ dĩ hiếu vi tông”. Một chữ hiếu là cái cửa đi đến muôn diệu. Lời Phật lấy hiếu làm gốc.

Kinh Đại Tập còn nói rằng: “Nếu đời không có Phật xuất thế mà thờ cha mẹ một cách hoàn thiện tức là thờ Phật vậy.”

Sách nho cũng nói: “Thiên Kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên”. Ngàn kinh muôn điển, hiếu nghĩa là đầu.

Thì ra cả Phật lẫn Nho đều nhận sự hiếu thảo là đầu của các hạnh. Người không có hiếu thảo đối cha mẹ thì còn mong làm được việc gì.

Đạo hiếu đã quan trọng dường ấy; thế nên, phàm muốn cho người trở lại với đạo nghĩa, trước hết phải gây cho được đức hiếu thảo. Trong gia đình có làm được đứa con hiếu thì ngoài xã hội mới làm được người dân có nghĩa.

Hành được hai điều hiếu nghĩa tức là xử vẹn bổn phận làm người, không hổ với Bốn Ân đã mang nặng. Phàm sanh ra làm người, mấy ai chẳng mang lấy Bốn Ân:

1. Ân của tổ tiên cha mẹ tạo nên hình vóc con người, nuôi dưỡng cho đến khi thành nhân khôn lớn. Vậy phận làm con phải một lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ.

2. Ân của đất nước bọc đùm che chở cho thân được yên, nhà được vững. Vậy phận làm dân phải hết lòng bảo vệ quê hương xứ sở.

3. Ân của Tam bảo tức Phật, Pháp, Tăng đã đào luyện nên người hiền đức, chỉ rõ con đường giải thoát khỏi nẻo mê lầm. Vậy phận làm môn nhân phải hết dạ kính thành, xiển dương phổ hóa.

4. Ân của đồng bào nhân loại đã khó nhọc làm lụng để cung cấp cho đời mọi nhu cầu cần thiết. Vậy phận làm người phải giúp đỡ thương yêu, không vì mình hay đồng bào mình mà gây ra tai hại cho kẻ khác, dân tộc khác.

Nói tóm lại, phàm sanh ra làm người, không ai là chẳng mang nặng Bốn Ân vừa kể. Có trả được Bốn Ân ấy mới phải là con người có Hiếu, có Nghĩa, mới làm xong cái đạo làm người. Nó là nền tảng của tất cả các đạo giáo trên thế gian. Nó là bước đầu của con đường tiến lên quả vị Phật Thánh. Nếu bổn phận làm người mà không rồi thì đừng mong bước lên con đường Đạo.

Tế Điên Hòa thượng có nói rằng: “Dục tu Tiên đạo, tiên tu nhân đạo, nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỷ”. Muốn tu đạo Tiên Phật, trước phải tu đạo làm người. Đạo làm người mà không tu thì đạo Tiên Phật khó đến vậy.

Không ai bỏ con đường Tu Nhân mà thành được Phật-đạo, Đức Phật Thích Ca trước khi đắc đạo, hằng bao nhiêu số kiếp hành nhân đạo. Nhờ những công hạnh thi thiết trong giai đoạn nhập thế đắp bồi, tích lũy sâu dày mà Đức Phật chóng đạt thành quả vĩ trong giai đoạn xuất thế.

Xem đó đủ thấy, muốn xuất thế trước phải hoàn thành giai đoạn nhập thế, muốn tu Phật đạo, trước phải tu Nhân đạo, cũng như muốn cất nhà trước phải xây nền đắp móng cho vững chắc. Ví bằng chẳng hành xong đạo làm người mà muốn đạt thành quả vị Thánh Tiên thì cũng chẳng khác người cất nhà mà không chịu đắp móng xây nền.

Công cuộc chấn hưng Phật giáo cũng thế. Từ trước đến nay, nhà Thiền sở dĩ được sum nghiêm, tăng ni được yên ổn tu trì là nhờ thiện nam tín nữ sùng mộ đạo đức, ủng hộ cúng dường. Sự phồn thịnh phấn phát Phật giáo, xem đó, đều do lòng ngưỡng đạo của đàn na, tức hạng tại gia cư sĩ . Sau mấy trăm năm loạn lạc, nhân dân khốn khổ, tàn thất gia đình, đời sống đã không yên, còn đâu tinh thần hộ trì Phật-pháp. Gia dĩ, những sự đàn áp, những tà thuyết mê tín dị đoan thừa cơ hội khởi lên. Những người dối thế trốn đời lần lần; đột nhập vào cửa thiền, đó là những duyên cớ khiến cho tín đồ một ngày một mất đức tin, xa dần cửa đạo.

Nay muốn chấn hưng đạo Phát, thiết tưởng, việc xây dựng tín đồ để làm nền tảng là điều cần phải thi thiết trước hết. Một đoàn thể mà không có đoàn viện còn có thể thành là một đoàn thể chăng, hà huống là đạo Phật lại không có tín đồ nhà Phật thì làm sao phát triển cho được. Nhưng cho được trở thành một tín đồ nhà Phật, tức hạng người làm theo lời Phật dạy với hy vọng sau này thành Phật thì ít nhất cũng phải là người hiếu từ  với cha mẹ, nhân ái với mọi người, nghĩa là phải làm tròn nhân đạo.

Chính nhận rõ cái động nhân ấy, nên chi Đức Phật Thầy Tây An, muốn khôi phục cái thịnh huống đạo Phật đời Lý đời Trần, cũng phải bắt đầu xây dựng cái nền tảng tu nhân trước, để một mặt chấn chỉnh cuộc đời và một mặt khác chấn hưng Phật đạo. Hai phương diện này không thể thực hiện lẻ loi riêng rẽ: vì rằng mục dích của sự chấn chỉnh cuộc đời là để làm cơ sở cho sự chấn hưng Phật đạo, cũng như sự chấn hưng Phật đạo là để hoàn mỹ cuộc đời. Đời với Đạo liên quan mật thiết nhau, không thể có Đạo mà không Đời, hay có Đời mà không Đạo.

Con đường tiến hóa nhân loại là con đường hướng thượng từ bậc thấp tiến lên bậc cao, từ chỗ không tự do tiến đến chỗ cuối cùng giải thoát. Thế nên việc Tu Nhân cũng chỉ là để trang nghiêm đoạn đường nhập thế, làm nấc thang bước lên đoạn đường xuất thế. Vì vậy mà đồng thời với Tu Nhân, Đức Phật Thầy Tây An còn chủ trương Học Phật.

4) Phù-hợp căn-cơ chúng-sanh.

Phương chi, trong nhiều kinh Phật và hầu hết các tổ Tịnh độ tông đều nhận rằng vào thời mạt phạp, chỉ có pháp môn Niệm Phật là thù thắng hơn hết, bởi nó dễ hành đối với tất cả các hạng chúng sinh mà kết quả lại chắc chắn nữa.

Kinh Đại Tập nguyệt tạng có nói : Ức triệu chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp theo đạo tu hành mà chưa có một người được chứng quả là vì đời ngũ trược ác thế tạp học khó thành, chỉ có một môn niệm Phật là dễ thông vào đường đạo mà thôi.

Ngài Thiên Như Hòa thượng cũng nói rằng: Chánh pháp, tượng pháp chi hậu, chư kinh diệt tận, chỉ lưu “A di đà Phật” tứ tự cứu độ mạt pháp chúng sinh. Có nghĩa: Sau khi chánh pháp và tượng pháp qua rồi thì các kinh lần lần hoại hết, chỉ còn lại bốn chữ “A di đà Phật” cứu độ chúng sinh trong đời mạt pháp.

Huống chi với pháp môn niệm Phật chẳng ai là chẳng hành được, người làm quan cũng niệm được, người đi buôn bán cũng niệm được, người đi cày bừa cũng niệm được; bất cứ  lúc nào dù đi đứng nằm ngồi, đều niệm Phật được cả. Pháp môn đã dễ thọ trì như thế mà kết quả đâu phải là khó đạt thành.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có nói rằng: Ức Phật niệm Phật, hiện tiền dương lai, tất định kiến Phật, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai: Nhớ Phật niệm Phật thì lúc hiện tiền hay là lúc đương lai, quyết định thấy Phật, chẳng cần phương tiện mà tự nhiên tâm đặng khai thông.

Pháp môn đã phổ thông và đễ thọ trì như thế, nhưng muốn cho được chắc chắn ở kết quả vãng sinh, Đức Phật Thầy Tây An, ngoài việc dạy niệm Phật, còn khuyến tấn thực hành một vài công hạnh về đạo nhân, không khác lời dạy trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật: Muốn sanh về Tịnh độ phải tu ba phước:

1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư  trưởng, giữ lòng hiền lành không giết hại sanh mạng và tu mười nghiệp hiện.

2. Thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh và đừng phạm uy nghi.

3. Phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa.

Cứ xét ba điều phước trên đây, chúng ta nhận thấy đó là cả pháp môn Tu Nhân và Học Phật mà Đức Phật Thầy Tây An đã xướng xuất.

Những điều như hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng, giữ  lòng hiền mà không giết hại sinh mạng và tu mười nghiệp thiện chính là những điều thuộc về Hiếu nghĩa Tứ Ân, những điều căn bản của Tu Nhân.

Đến như: thọ trì pháp tam qui, cụ túc các giới hạnh, đừng phạm các uy nghi, phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các Kinh Đại thừa, đều là những điều hoàn toàn thuộc về Học Phật.

Thế là, đồng thời với việc khuyên tu niệm Phật Đức Phật Thầy Tây An đã xây dựng nền tảng của Tu Nhân.

Trong lúc chúng sinh còn bỡ ngỡ trước giáo pháp của Phật, chưa lìa được mọi ràng buộc của gia đình và xã hội thì chỉ có pháp môn Niệm Phật và Tu Nhân là thích hợp với hạnh tu tại gia của họ.

Cho nên để tiếp nhận tất cả mọi hạng người vào nhà Phật, Đức Phật Thầy Tây An đã từ cửa ngõ “Mật tông” dìu dắt mọi người bước lên thềm “Tịnh độ”. Vì là nấc thang dễ bước nên chẳng ai, sau khi được “Mật tông” mở cửa “Tín Tâm”, mà không vững dạ đi vào.

Lúc mới vào nhà”Tịnh độ”, mặc dù hơi mới lạ, nhưng chẳng bao lâu khi thi thiết được  vài công hạnh về Tu Nhân thì lại muốn lục hành nhiều công hạnh khó khăn hơn. cũng như học sinh khi học xong chương trình tiểu học thì vững lòng muốn bước lên bực trung học.

Chương trình hóa độ của Đức Phật Thầy cũng thế. Sau khi dùng “Mật tông” gây lấy đức tin cho mọi người, Ngài bèn khai thị pháp môn Tịnh độ tức là pháp môn niệm danh hiệu Đức Phật A di đà cầu lấy tha lực tiếp độ vãng sanh về cõi Cực lạc, một phép tu, dù hạng sơ cơ cũng có thể lãnh thọ. Nhưng ngoài phép tu tha lực phổ thông cho tất cả các hạng người. Đức Phật Thầy còn khai thị phép tu tự lực, dành riêng cho những người có căn cơ và đủ nghị lực hành trì.

Tuy phân biệt có phép tu khó, phép tu dễ, nhưng trong thời kỳ mạt pháp nầy không thể tu Thiền mà chẳng tu Tịnh hay tu Tịnh mà chẳng tu Thiền; vì rằng hai phép tu: tự lực và tha lực, nếu cùng song hành thì hiệu quả chẳng những chắc chắn mà lại mau chóng. Ngài Vĩnh Minh Thiền sư há chẳng nhận:

Có Thiền tông, có Tịnh độ,

Như thêm sừng cho mãnh hổ.

Hiện tại thì làm thầy người,

Vị lai thì làm Phật tổ.

Như thế, Đức Phật Thầy Tây An cũng đồng chủ trương Thiền Tịnh song tu như phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng vì thời kỳ và căn cơ của chúng sinh có khác, cho nên mặc dù cùng chủ trương tu tự lực và tha lực, song phương pháp của Đức Phật Thầy có khác, Phái Trúc Lâm Yên Tử lấy Thiền làm chánh tông, còn Tịnh làm trợ tông cho nên qui hướng cả về con đường xuất thế. Đức Phật Thầy Tây An, bởi ra đời giữa thời Hạ nguơn mạt pháp, chúng sinh đa số đều căn tính cạn cợt, cho nên, cũng đồng chủ trương Thiền tịnh song tu, nhưng đặt Tịnh làm chánh tông, còn Thiền làm trợ tông và quy hướng về con đường nhập thế để chuẩn bị cho bước đường xuất thế về sau.

Do căn linh chúng sinh của hai thời kỳ không đồng mà phương pháp giáo hóa của Đức Phật Thầy Tây An có khác hơn của phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho được phù hợp với trình độ của còn người Hạ nguơn hạ, Đức Phật Thầy xướng xuất Bửu-Sơn  Kỳ-Hương với pháp tu gồm cả Mật, Tịnh, Thiền.

Chính nhờ thi thiết Mật tông cứu dân độ bịnh bằng những phương pháp huyền diệu mà Đức Phật Thầy và giáo hệ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương gây được lòng tin tưởng của chúng sinh. Rồi từ chỗ sơ tín, chúng sinh được tăng trưởng đức tin bằng phép tu Tịnh độ và Hiếu nghĩa Tứ Ân. Nhưng khi hành được những điều tu phước và thập thiện, nghĩa là đi được đoạn đường Tu Giới thì với phép tu Thiền tông, hành giả sẽ tiến lên đoạn đường Tu Định và Tu Huệ.

Nhờ phân ra ba đoạn đường: Mật, Tịnh, Thiền mà Đức Phật Thầy Tây An hóa độ tất cả các hạng người, từ hạng sơ cơ đến hạng thượng căn thượng tri, khôi phục cái thịnh huống trong đạo Phật như phái Trúc lâm. Sở dĩ sự giác tỉnh được sâu rộng dường ấy, phải nhìn nhận, một phần lớn là do kỳ công của mật tông dọn đường khởi tín, Đó là chỗ thù thắng nhất của Bửu-Sơn  Kỳ-Hương. Thật là một pháp môn đối cơ trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp. Những người có bổn phận hoằng dương giáo pháp ở thời này mà không hành được hay không thị hiện các pháp truyền diệu của Mật tông thì dù có tạo nhiều trợ duyên, cũng khó mà phát động một phong trào sùng mộ đạo đức trong dân chúng.

Nhưng Mật tông dù sao cũng chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố để làm hưng khởi đạo Phật thi thiết thuần mặt Mật tông, chẳng những không đủ chấn hưng đạo Phật mà lắm khi còn có hại, vì nó dễ đưa người đến mê tín dị đoan.

Thế nên, muốn gây thịnh huống cho Phật-giáo, ngoài yếu tố đối cơ, còn cần phải hoàn bị hai yếu tố nữa: Tinh thần dân tộc và thích ứng hoàn cảnh.

Chính nhờ biết khai thác và làm phát triển ba yếu tố: Tinh thần dân tộc. Đối cơ và Thích ứng hoàn cảnh mà Đức Phật Thầy Tây An xây dựng nên giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và phát mạnh phong trào chấn hưng Phật-giáo.

5) Ba yếu-tố chấn-hưng

Sở dĩ Bửu-Sơn Kỳ-Hương gây được lòng sùng mộ trong dân chúng, phát động mạnh phong trào chấn hưng đạo Phật, phải nhận là nhờ giáo pháp thích hợp và hàm súc đủ ba tính chất: Dân tộc tính. Đối cơ và Hoàn cảnh.  Đây chúng ta thử xét ba yếu tố ấy.

Dân tộc tính:  cũng như phái Trúc Lâm Yên Tử, Bửu-Sơn  Kỳ-Hương là một danh phái hoàn toàn Việt Nam không trùng một danh phái nào khác. Chẳng những nó Việt Nam ở danh từ mà còn phù hợp với tinh thần dân tộc về pháp môn hành đạo.

Việt Nam từ ngàn xưa là một nước sống về nông nghiệp, đương nhiên lấy gia tộc làm bản vị của xã hội. Trong gia đình chữ hiếu là giềng mối của đạo nhân, Từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhờ có đạo hiếu, cụ thể hóa bởi sự thờ phượng tổ tiên mà sợi dây truyền thống không dứt.

Sự bền chặt của gia tộc Việt Nam còn được củng cố bởi một tập tục mà Trung Hoa là nơi Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng về văn hóa, vẫn không có. Đó là luật lệ về quyền thừa kế và phần đất hương hỏa. Đại phàm di sản thuộc về gia tộc mà muốn phân tán cho những người thừa hưởng thì trong di sản ấy có một phần không ai được chia mà chỉ có người tộc trường mới được quyền giữ để thờ cúng tổ tiên. Nhờ vậy mà gia tộc, mặc dù có sư ly tán đi nữa vần tồn tại với sự thờ phượng ông bà cha mẹ.

Thế nên, đối với dân tộc Việt Nam, sự sùng bái tổ tiên chẳng chỉ là một tập tục mà còn là mối tình thiêng liêng giữa thế hệ người sau với thế hệ người trước. Nhờ tinh thần gia tộc ấy ràng buộc mà dân tộc Việt Nam trải qua bao nhiêu cuộc biến thiên vẫn không bị đồng hóa hay mất gốc trong những thời kỳ ngoại thuộc.

Lịch sử đã chứng minh rằng một nền đạo giáo hay tín ngưỡng nào muốn Đức Phật Thầy Tây An nhập vào Việt Nam mà không thể dung hợp với tinh thần dân tộc nhất là sự thờ cúng tổ tiên nếu không gặp sự chống đối mãnh liệt cũng rước lấy thái độ thờ ơ lạnh nhạt của dân chúng.

Chỗ diệu dụng của Bửu-Sơn Kỳ-Hương là biết dung hợp với sự sùng bái tổ tiên khi chủ trương thuyết Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Với điều ân mà con cháu có bổn phận đối với tổ tiên cha mẹ, đạo hiếu được đề cao và tinh thần dân tộc được phát huy hơn trước. Tinh thần gia tộc ấy còn được cụ thể hóa bằng sự sùng bái Cửu huyền Thất tổ, một hình thức thắt chặt tính gia tộc hơn bao giờ hết. Từ lâu lòng sùng kính tổ tiên chỉ biểu lộ trong những dịp lễ Tết hay lễ kỵ, lâu lâu mới kỷ niệm nhắc nhở một lần, nhưng nay với nghi thức sùng bái tổ tiên mà các tín đồ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương thường hành hằng nhựt, sự liên hệ giữa người hiện sinh với người quá vãng càng thêm thắm thiết.

Bởi có bổn phận lo đền đáp ân tổ phụ, kẻ hậu sinh chẳng lúc nào xao lãng trách nhiệm của mình đối với gia tộc; phải hành động cách nào để khỏi hổ với những di sản của tiền nhân để lại; phải vun trồng công đức thế nào  để sớm đắc quả chứng chơn hầu cứu vớt những vong linh của thân nhân đọa lạc. Đó là hai nghĩa vụ mà Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã đặt cho tín đồ của mình phải thực hành trong pháp môn Tu Nhân Học Phật.

Nếu hoàn thành hai nghĩa vụ ấy, chẳng những đền được Ân Tổ tiên và Tam bảo mà còn đáp xong Ân Đất nước và Đồng bào nhân loại; vì rằng khi đề ra nghĩa vụ bảo vệ di sản tiền nhân là đặt cá nhân trước nghĩa vụ đối với Đồng bào và Đất nước.

Phương chi Đức Phật Thầy Tây An là một bực thông đạt huyền cơ, biết rằng vận nước sắp đến hồi quốc phá, dân tình vấp nạn gia vong, thế nên ngoài điều Hiếu đối với gia đình, Ngài còn đề ra điều Nghĩa đối với quê hương xứ sở.

Chính nhờ đào luyện trong đạo Hiếu Nghĩa Tứ Ân mà tín đồ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương giữ tròn khí tiết trong hồi nước nhà thuộc quyền ngoại tri, Ông Trần Văn Thành tục gọi là Đức cố Quản và con là Trần Văn Nhu cùng bao nhiêu liệt sĩ đều là tín đồ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương đã nêu cao chánh khí trong những trận kháng chiến chống Pháp. Ông Nguyễn Trung Trục cũng là một môn nhơn của phái Phật Thầy đã để lại trên lịch sử Việt Nam những trang kháng Pháp vẻ vang trong những trận Kiên Giang và Nhựt Tảo.

Đó là về phương diện tích cực; đến như về phương diện tiêu cực thì hầu hết tín đồ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương đều tỏ ra thái độ bất hợp tác với giặc Pháp trong suốt thời kỳ bị đô hộ.

Thế là với pháp môn Hiếu Nghĩa Tứ Ân phái Bửu-Sơn  Kỳ-Hương đã làm sống lại tinh thần dân tộc trong môn nhân đệ tử của mình. Đó là yếu tố thứ nhất giúp Bửu-Sơn Kỳ-Hương gây được lòng sùng mộ của đồng bào.

Đối cơ: Nhưng ngoài yếu tố dân tộc tính Bửu-Sơn  Kỳ-Hương còn thắng diệu ở yếu tố đối cơ.

Là một bậc thông hiểu máy huyền cơ, Đức Phật Thầy nhận rõ căn tính của chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp phần nhiều thiểu căn thiểu trí, mất cả đức tin đối với chánh pháp, nên chỉ muốn gây lại lòng tin tưởng và cho được phù hợp với trình độ cơ cảm của chúng sinh. Ngài đã đưa ra phép Tu Mật, Tịnh, Thiền.

Đặc biệt nhất là với phép nhiệm của Mật tông, các Ngài trong giáo hệ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương đã hiển thị trong sự chữa trị mạnh lành nhiều bịnh nan y một cách thần diệu. Nhờ vậy mà những tâm trạng cơ hồ xiêu ngã theo làn sóng vật dục và vô thần bừng tỉnh lại. Họ bắt đầu khôi phục đức tin, Đó là cơ hội giúp cho các Ngài trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương dìu dắt họ bước vào cửa chánh pháp. Nhưng giáo pháp của Phật mặc dù có nhiều và rất kỳ diệu, song việc hoằng dương không thể thi hành một cách máy móc được. Chỗ thắng diệu của Phật-pháp là nó luôn luôn đối cơ.

Với những người phải nhờ có huyền diệu mới thức tỉnh được thì dễ thường những giáo pháp cao siêu có thể lãnh hội nổi. Phương chi, người sanh vào thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp này, theo như lời di chúc chúc của Phật và các kinh luận thì hầu hết là người hạ trí hạ căn.

Một pháp môn đối cơ trong thời kỳ này phải là một pháp môn ai ai cũng có thể hành được. Mà pháp môn được các Tổ thừa nhận là “dị hành đạo” (đạo dễ hành), siêu thắng trong thời kỳ này chỉ có phép Tu  Tịnh độ tức phép tu niệm danh hiệu Đức Phật A di đà cầu vãng sanh về cõi Cực lạc.

Đức Phật Thầy nhận rõ thời cơ và căn khí của chúng sinh, nên sau khi dùng huyền diệu của Mật tông để gây lòng tin tưởng đối với chánh pháp, chẳng ngại khai thị pháp môn tu Tịnh nghiệp. Vì là một pháp môn đối cơ, lại phù hợp với trình độ của tất cả chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp cho nên số người qui ngưỡng theo Bửu-Sơn Kỳ-Hương càng lúc càng nhiều, gây thành một thịnh huống tu hành chưa từng thấy, Nhưng  ngoài phép tu Tịnh độ phổ cập cho tất cả các hạng người, Đức Phật Thầy còn khai thị phép tu Thiền tông cho hạng đại căn đại trí, và cũng là phương pháp trang nghiêm và trợ tưởng phép tu Tịnh độ. Thành thử với pháp mộn Mật, Tịnh Thiền, gồm cả tha lực và tự lực, Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã đáp ứng với căn cơ của tất cả chúng sinh. Chính đó là yếu tố thứ hai giúp cho Bửu-Sơn Kỳ-Hương truyền bá sâu rộng trong dân gian và phát động mạnh phong trào chấn hưng đạo Phật.

Hoàn cảnh: Nhưng trợ tưởng cho Bửu-Sơn Kỳ-Hương phát triển mạnh mẽ, còn phải kể đến yếu tố thứ ba; Hoàn cảnh. Dù cho giáo pháp hàm dung tinh thần dân tộc, phù hợp với truyền thống và phong tục  thích ứng với căn cơ chúng sinh mà không dung hòa với hoàn cảnh thì chẳng khác người có hột giống tốt mà khi gieo trồng  không hợp thời hợp tiết thì thế nào cũng ung thúi, hay có lên được cũng uột èo cằn cỗi.

Việc hoằng dương giáo pháp cũng thế. Nếu không thể dung hòa với hoàn cảnh xã hội để nhiếp hóa thì giáo pháp ấy sẽ khó mà được sự tiếp đón nồng nhiệt của nhân dân.

Xã hội Việt Nam sau cuộc phân tranh Nguyễn Trịnh và Nguyễn, Tây Sơn là một xã hội mất cả tin tưởng người chân đời thì mượn lối tu tiêu cực tìm nơi âm thanh non vắng để lánh thân, không còn thiết gì đến thế sự. Còn kẻ hoang mang thì đâm ra tinh thần trụy lạc, vùi mình trong cuộc trác táng truy hoan, tìm đủ cách tận hưởng cuộc đời vật dục, bất kể đạo lý luân thường.

Đó là hai não trạng suy đồi trụy lạc của một xã hội sắp bước đến con đường cùng tắc, diệt vong. Trong lúc tinh thần dân chúng đang xuống dốc đường ấy, một đàng quyết trốn đời và một đàng chẳng thiết gì đạo nghĩa, nếu xướng xuất một phép tu tiêu cực, độc thiện kỳ thân, thì chẳng những vô tình trợ trưởng lối tu yếm thế mà còn thúc đẩy hạng người hoang mang cùng tiến mạnh trên con đường trụy lạc.

Sở dĩ đạo Phật Nam Bắc phân tranh, mất dần sự qui ngưỡng của thiện tín là vì lối tu yếm thế làm cho Đời và Đạo không liên quan nhau. Đứng trước giữa hai thái cực; yếm thế và trục thế, với chủ trương “Đời Đạo liên quan” trong pháp môn Tu Nhân Học Phật, Đức Phật Thầy Tây An đã mở ra một con đường thoát: con đường Trung đạo, điều hòa và nhiếp hóa được cả hai hạng người rơi lạc trong hai thái cực kia.

Với điều Tu Nhân Học Phật Nhân, Đời là một lẽ sống hướng thượng, nơi đó con người trang nghiêm hạnh đức và hoàn thành đạo Nhân. Khi nhận rõ nghĩa vụ của mình đối với gia đình và đất nước, con người thấy mình có những trách nhiệm cần phải hoàn thành.

Với điều Học Phật, Đạo không còn là một nơi ẩn thân của người yếm thế mà là một con đường đắt người đến chỗ thanh cao thoát tục. Người học Đạo không còn là kẻ trốn Đời mà trái lại xem Đời là một phương tiện cho mình trang nghiêm đạo hạnh.

Nhờ dung hòa được Đời và Đạo trong pháp môn Tu Nhân Học Phật mà Bửu-Sơn Kỳ-Hương gây thành phong trào sùng mộ đạo đức trong dân gian, cũng như trước kia phái Trung Hoa gây thịnh huống trong đạo Phật đời Trần với chủ trương Nhập thế và Xuất thế.

Nói tóm lại, Bửu-Sơn Kỳ-Hương sở dĩ hoàn thành được vai trò của Trúc Lâm Yên Tử là nhờ các nhà hoằng dương Phật pháp biết nắm lấy ba yếu tố: Dân tộc tính, Đối cơ, và thích ứng Hoàn cảnh, khi phát động phong trào chấn hưng đạo Phật.

Pháp môn Tu Nhân Học Phật xem đó quả là một pháp môn thích ứng với Dân tộc tính Việt nam, phù hợp với căn cơ chúng sinh và hoàn cảnh xã hội trong thời kỳ Hạ ngươn mạt pháp.

Như thế Bửu-Sơn Kỳ-Hương đủ tư cách kế thừa sự nghiệp của phái Trúc Lâm Yên tử và xứng đáng mang danh nghĩa là một nền Phật-giáo dân tộc.

Chương thứ II:

1) Pháp-môn đối cơ: Tu Nhân Học Phật

Phàm ở đời, muốn làm việc chi cho được thành tựu, có kết quả phải làm đúng lúc (cơ hội) và hợp với những điều kiện đã có (nhân duyên).

Như anh nông phu, muốn được lúa chẳng phải lúc nào cũng đem lúa ra gieo hay gặp cuộc đất nào cũng đem lúa ra sạ. Họ phải biết lúc nào gieo mạ để kịp khi ruộng có nước  thì đem ra cấy; họ phải biết lúc nào sạ lúa để đến mùa nước lên lúa không bị ngập lụt. Họ cũng phải biết đất nào phù hợp với giống lúa nào, hay cuộc đất nào có thể trồng lúa được. Nói tóm một điều là phải biết thời tiết (cơ) và thổ nghi (duyên).

Bằng chẳng thế mà nhè đem lúa ra gieo giữa mùa lúa hạn hay đem lúa sạ trên đá hay trên đất chỉ thích hợp cho sự trồng tỉa các thứ phụ sản khác thì chắc chắn là anh nông phu ấy sẽ mất tất cả hột giống.

Đến như một vị lương y cũng thế, ngoài cái tài phân biệt bịnh tướng, hiểu rõ tánh dược còn phải tùy thời tiết và các nhiễu chứng mà lập phương, chẳng phải cứ một đầu thang đó mà mùa nhiệt cũng như mùa hàn, phục dược như nhau cả.

Làm ruộng, chữa bịnh còn như thế, huống hồ là đem giáo pháp ra hóa độ chúng sinh, đối trị các bịnh vô minh phiền não.

Trong kinh Tối thắng vương, Phật có nói rằng: “Tùy ky khi lượng, thiện ứng cơ duyên, nhi vị thuyết pháp”. Phải tùy căn khi và khéo ứng dụng theo cơ duyên của chúng sinh mà nói ra giáo pháp.

Và trong Từ Giáo nghĩa cũng có nói: “Phù chúng sinh cơ duyên bất nhất, thị dĩ giáo môn chủng chủng bất đồng”: Vì cơ duyên của chúng sinh khác nhau, thế nên pháp môn mới có nhiều thứ chẳng giống nhau.

Như thế đủ cho ta hiểu rằng: Sở dĩ Phật quyền biến ra ba thừa là vì chúng sinh có ba hạng: sơ thiện, trung thiện và thượng thiện. Phật từ cơ duyên của mỗi hạng chúng sinh mà thuyết pháp độ sanh.

Do đó mà Ngài được danh hiệu là Dược vương hay Thượng y vương, nghĩa là vua của nghề thuốc hay ông vua trên hết các thảy thuốc, vì rằng không có bịnh nào của chúng sinh mà Ngài không chữa trị được.

Ngay khi Phật còn trụ thế thuộc vào thời kỳ chánh pháp là thời kỳ đồ chúng căn tinh cao siêu, trí tuệ sáng suốt có thể lãnh hội những lời Phật thuyết, thế mà Phật còn biệt lập tam thừa để cho thích hợp với căn cơ của mỗi hạng chúng sinh thì nói chi ở thời kỵ mạt pháp này cách Phật trên hai ngàn năm, chúng sinh phần đông hạ căn hạ trí, dễ thường biểu nổi những giáo pháp cao siêu thích hợp với thời chánh pháp ư?

Cơ duyên đã khác thì hẳn người có phận sự hoằng dương chánh pháp của Phật, muốn rộng độ chúng sinh phải tùy nghi mà đưa ra giáo pháp.

Phù hợp với cơ duyên, đó là đặc tính của Phật-pháp. Chính nhờ đặc tính thích nghi ấy mà đạo Phật dù ở thời nào, cảnh nào, vẫn một mực phát triển và bành trướng.

Nhìn lại quá trình phát triển của đạo Phật, ngày khi Phật còn trụ thế thuộc vào thời kỳ chánh pháp thế mà Đức Phật còn biệt lập ra tam thừa để cho thích hợp với căn cơ của tất cả chúng sinh thì đủ rõ Phật pháp không phải là một giáo lý cố định mà luôn luôn quyền biến tùy trình độ cơ cảm của mỗi hạng người.

Chính nhận định rõ thời cơ và căn khí của chúng sinh ở thời mạt pháp, Đức Phật Thầy Tây An chẳng ngại sáng lập giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và xướng xuất pháp môn Tu Nhân Học Phật.

Có nhận rõ hiện trạng suy vi của Phật-giáo Việt Nam trong mấy trăm năm trở lại đây mới thấy diệu dụng và đối cơ của pháp môn Tu Nhân Học Phật.

Bắt đầu từ cuộc Nam Bắc phân tranh, Đạo Phật lần lần bước vào con đường suy bại. Tinh thần sáng mộ đạo Phật của vua chúa và quan dân đời Lý đời Trần, không còn nữa. Nhất là từ thời kỳ Pháp thuộc trở đi, với chánh sách khắc nghiệt của chế độ thực dân, đạo Phật mất hết sinh khí.

Trong cửa thiền, hạng chân Tu Nhân Học Phật thiệt học lần lượt vắng dạng, nhường chỗ cho những ông thầy dâng bông chuyên việc lập đàn tụng mướn, chẳng còn thiết gì đến giáo lý cao siêu của Đức Phật. Nhà chùa đã biến dần thành chỗ ẩn thân của một số người thất thời lỡ vận, mượn câu kinh tiếng mõ để khuây khỏa cuộc đời.

Những lần điều mê hoặc như lầu phướn xã hạc, đốt vàng bạc giấy tiền, những lối thờ cúng dị đoan mê tín, roi truyền từ đời Thần Tú đều được nhà chùa a tùng  xướng khởi.

Nguyên lai, sở dĩ đạo Phật suy đồi dường ấy, một phần lớn là do ảnh hưởng của cuộc đời. Sau ngày nước nhà bị quân Pháp chiếm đóng và các cuộc khởi nghĩa cần vương thất bại, lòng người đâm ra chán nản ê chề. Gặp phải ngọn gió văn minh vật chất thổi vào mang lại những khoái cảm về xác thịt, nhân dân lần lần bị lôi cuốn vào con đường trụy lạc, truy hoan, chẳng còn thiết gì đến nhân quần xã hội, đạo lý nghĩa nhân.

Lòng quy ngưỡng đối với đạo Phật đã chẳng có thì dù cho kêu gọi người chỉ ăn hiền ở lành, chưa chắc họ đã nghe theo, lựa là đem giáo pháp cao siêu của Đức Phật ra giảng dạy.

Đứng trước cảnh huống của nước nhà đang lúc tinh thần con người hoang mang trụy lạc như thế mà muốn chấn hưng đạo Phật, đem con người trở lại với đạo lý là một việc làm chẳng phải dễ. Nếu chẳng nhận rõ căn cơ của chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp và hoàn cảnh ác liệt của buổi Hạ nguơn mà chọn một pháp môn xứng cơ đem ra ứng dụng thì sự hoằng dương giáo pháp dù có khéo thi thiết đến đâu chẳng những không gây được niềm tin tưởng trong dân gian mà còn làm cho lòng người thêm chán ngán.

Cần gây một phong trào sùng mộ đạo đức trong giới thiện nam tín nữ khôi phục cái thịnh huống của đạo Phật đời lý đời Trần, đó là sứ mạng của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

2) Một phương-tiện gồm có cả đốn tiệm.

Thắng diệu của pháp môn Tu Nhân Học Phật chẳng những phù hợp với cơ duyên mà còn là một phương tiện gồm cả đốn tiệm.

Mục đích của đạo Phật là dẫn dắt chúng sanh đến chỗ đắc thành đạo quả. Nhưng muốn đạt đến mục đích, nhà Phật có nhiều phương pháp tu hành đại khái phân ra làm hai loại: quyền và thiệt.

Thiệt là lấy sự thực, đem chân lý ra chỉ dạy. Nhưng phương pháp này chẳng những đã khó mà lại thường làm cho kẻ Tu học nhàm chán, bởi nó khó hiểu, chỉ thích hợp cho hạng người thượng căn thượng trí. Thế nên, để rộng độ tất cả chúng sinh, ngoài phương pháp “Thiệt”. Phật-giáo còn có phương pháp “Quyền”. Là phương pháp tạm bợ rất xảo diệu, cốt làm thế nào dìu dắt kẻ Tu học từ chỗ giả đến chỗ chân, nghĩa là đến chỗ đạt được mục đích của Phật đạo.

Những phương pháp quyền xảo ấy, nhà Phật gọi là phương tiện.

Danh từ phương tiện có ý nghĩa rất sâu xa. Cứ theo Phật học đại từ điền thì “Phương” là phương pháp, còn “Tiện” là tiện dụng, tức là cái phương pháp vừa tiện dụng, vừa kế hợp với căn cơ của tất cả chúng sinh.

Như thế phương tiện không chỉ là một phương pháp suông mà chỗ xảo diệu của nó là phải tiện dụng và khế hợp, vì rằng nó có công năng tiện dụng thì dễ thi hành và có khế hợp với căn cơ thì mau đạt mục đích. Vị bằng thiếu hai điều kiện: tiện dụng và khế hợp ấy thì phương tiện hẳn kém sự xảo diệu.

Phương tiện của nhà Phật còn thù thắng ở chỗ nó luôn luôn hàm súc cái ý nghĩa lợi tha, chớ không như phương tiện của thế nhân chỉ chú trọng ở cái hiệu quả mong đạt được mục đích mà thành ra chẳng ngại dùng bất cứ phương tiện nào dù không chánh đáng như đã biểu hiện trong câu ngạn ngữ: “Mục đích sẽ biện minh cho phương tiện”. (La fin justifie les moyens).

Chính nhờ phương tiện xảo diệu và thù thắng ấy mà Phật-pháp mặc dù cao siêu thâm viễn, vẫn được ban rãi và nhuần thắm khắp cả chúng sinh, từ hạng thượng căn đến người hạ trí, chẳng khác trận mưa rào gội mát cả cây to lẫn cỏ nhỏ.

Phương tiện rất quan trọng đối với Phật pháp là như thế.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã cho biết: Để thuyết pháp độ sinh. Ta phải nhờ vào sức phương tiện. (Dĩ phương tiện lực có, vị chúng sinh thuyết pháp).

Nhưng đã là phương tiện thì sự cần thiết của nó chỉ là để đạt mục đích, đến khi mục đích đã đạt thì công dụng của nó không còn nữa. Có phân biệt được chỗ đó mới không nhận lầm mục đích ra phương tiện, phương tiện ra mục đích.

Để phá mê những người còn cố chấp phương tiện, Đức Phật có nói:  Tất cả pháp môn của Ta ví như  chiếc bè dùng qua sông, một khi đã qua sông rồi thì còn mang bè theo mà làm chi nữa. Đó là Pháp muốn răn người chấp mãi theo bè mà chẳng chịu lìa bè để lên bến.

Cũng như  Ngài nói: Lời ta dạy ví như ngón tay ta chỉ mặt trăng. Mặt trăng là chỗ phải ngó, chớ đừng nhân ngón tay làm mặt trăng; tức là Phật muốn răn chúng sinh đừng lấy phương tiện làm mục đích.

Cùng một ý này, Đức Huỳnh giáo chủ có viết:

Chúng sanh mê nên đem Pháp thuyết,

Giải thoát rồi Pháp bất khả dùng.

Cũng là hiển thị cái ý răn người chấp pháp.

Ngài Câu Na Bạt Ma Tam Tạng rất chi lý khi nói: “Luận giải thì mỗi người có chủ trương khác nhau, còn lý của việc tu hành thì không hại. Lúc đi thì có phải có trái, còn khi đến thì không có gì trái ngược. Pháp môn phương tiện tuy nhiều nhưng mục đích chỉ cho người thấy thì không ngoài chuyển mê khải ngộ, ly khổ đắc lạc, chỉ ác tu thiện mà thôi”.

Những lý giải trên đây đủ cho ta nhận thấy Đức Phật Thầy Tây An là một vị kế thống xứng đáng của Đức Thích Ca, một vị lương y kỳ diệu của thời đại, vì Ngài đã phương tiện khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là một pháp môn vừa tiện dụng, dễ tu rộng độ, vừa khế hợp với căn cơ của chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp.

Thật là một pháp môn có đủ cơ năng lực cảm, còn gồm cả đốn lẫn tiệm.

Giáo pháp của nhà Phật chia làm hai loại: Đốn giáo và Tiệm giáo.

Đốn giáo là giáo pháp chủ trương: Tâm chúng sinh có tự tánh chân như không đợi tu tập lâu năm mới sang tỏ. Nếu người tu thấu tỏ được chân lý thì trong nháy mắt có thể giác ngộ mà chứng được quả Niết bàn.

Những giáo lý thâm diệu của Đại thừa như “Sanh tử là Niết bàn”; “Phiền não là Bồ đề”… đều thuộc về Đốn Giáo.

Còn Tiệm giáo là giáo pháp chủ trương: Từ vô thỉ đến nay, chúng sinh chất chứa phiền não mê mờ như núi, nay muốn phá tan để đi đến cảnh Niết bàn nếu không trải qua nhiều thời gian tu tập thì không sao thành công được.

Nói tóm lại Đốn giáo là giáo pháp dạy cách tu kiến tánh thành Phật, chỉ trong một kiếp tu tiến là đạt được kết quả, còn Tiệm giáo là giáo pháp dạy cách ta dần dần mà tiến, từ quả vi này đến quả vi khác, phải tu nhiều năm nhiều kiếp mới thành.

Giữa phép tu chóng thành và phép tu chậm thành, hẳn người đời chấp trước phép tu vượt bực hơn phép tu từ bực.

Cái tâm lý muốn làm ít mà hưởng nhiều, muốn trồng cây hôm nay mà ngày mai hái trái là tâm lý chung của mọi người ở thế gian, điều đó không phải lấy làm lạ, nhưng có điều người tu theo Đốn giáo chấp trước lấy pháp mà trở lại bài bác Tiệm giáo. Họ viện ra câu “tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời” để làm luận chứng cho phép tu vượt bực của mình. Nhưng nên hiểu thế nào là “tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời”?

Thử lấy việc nấu nước để hiểu rõ cái lý đó. Muốn cho nước bốc thành hơi, phải bắc ấm nước lên lò lửa mà đun. Nước từ trạng thái lạnh dần dần trở nên ấm, rồi từ trạng thái ấm dần dần trở nên nóng, cho đến một mực độ kia thì hốt nhiên nước bốc thành hơi.

Trong Kinh điển, Phật thường nói đến cách cọ cây lấy lửa, công phu cũng như  thế.

Vậy thì, cho được nước bốc thành hơi hay cây kia nháng lửa, phải trải qua nhiều trạng thái lạnh, ấm, nóng rồi rốt hết từ nóng đến một mực độ kia nước bốc thành hơi, cây nháng ra lửa.

Cái trạng thái nước bốc thành hơi, cây nháng ra lửa đó là trạng thái hột nhiên, xuất hiện trong nháy mắt, có thể ví với trạng thái tỏ ngộ của người tu. Nhưng chớ thấy chỗ biến thái lẹ làng đó mà cho rằng nấu nước thành hơi hay cọ cây lấy lửa là công việc làm trong chốc lát, không lắm công phu.

Câu “tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời” có thể hiểu là cái trạng thái lúc nước sắp thành hơi, cây sắp nháng lửa. Nó thuộc về giai đoạn kết quả, chớ không thuộc về giai đoạn nguyên nhân.

Thì ra cái lý “Đốn” vẫn nằm ở trong cái lý “Tiệm”. Từ khi bắc ấm đun lửa hay đem cây ra cọ là giai đoạn “Tiệm”, để đến lúc nước bốc thành hơi, cây nháng ra lửa là giai đoạn “Đốn”, nghĩa là phải có “Tiệm” làm nhân rồi mới đi đến cái quá “Đốn”. Không bao giờ có quả mà không nhân.

Việc tu hành cũng như nấu nước thành hơi, cọ cây lấy lửa, phải từ lạnh đến ấm, từ ấm đến nóng, rồi từ nóng bốc ra hơi, nháng ra lửa, nghĩa là phải trải qua nhiều giai đoạn, lắm công phu.

Nhưng vào thời mạt pháp này, có được bao nhiêu người thượng căn đại trí, đầy đủ công đức đã gây tạo trong giai đoạn “Tiệm” mà nay chỉ còn bước lên giai đoạn “Đốn”.

Thế nên, để thích hợp với căn cơ của chúng sinh ở thời mạt pháp và thuận theo trình tự giác tiến, Đức Phật Thầy Tây An khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là một giáo pháp chẳng những dễ tu dễ độ mà lại gồm cả Tiệm lẫn Đốn.

Người sơ cơ sẽ từ chỗ Tu Nhân mà vun trồng ruộng phước để làm nấc thang bước lên Phật đạo; người lúc căn túc trí thì nhờ có Tu Nhân mà công đức sẵn có thêm sâu dày vững chắc để sớm đạt thành Phật quả. Thật là một pháp môn rộng độ tất cả chúng sinh từ bực sơ cơ đến bực thượng tiện.

Trong thời kỳ này nếu chấp “Đốn” bỏ “Tiệm” thì chẳng khác cất nhà mà không đắp nền, muốn leo lên cây mà không từ dưới gốc.

3) Thế nào là tu Nhân học Phật?

Diệu dụng của pháp môn Tu Nhân học Phật là trước hết đem con người trở lại con đường thiện, sống đúng với đạo nhân, tức là  đạo làm người đối với gia đình, xã hội, phù hợp với luân thường đạo lý có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Phàm là con dân thì biết yêu tổ quốc, hy sinh thân mạng đền bù nợ quốc gia; làm con thì hiếu thảo phượng thờ cha mẹ, anh em thì hòa thuận nhau; chồng vợ thì lấy ân nghĩa đối đãi nhau… Nói tóm lại, người có đạo nhân là người lấy nhân nghĩa đạo đức làm phương châm xử thế tiếp vật, sống một đời chánh chơn cao nhã.

Đó là bước đầu của nấc thang tiến lên con đường đi đến quả vị Tiên Phật. Ai muốn được giải thoát, muốn thành Phật thành Tiên cũng phải trải qua nấc thang đó trước; ví bằng chẳng hành xong nhân đạo thì không sao thành được Phật đạo.

Đức Phật thường nói: “chúng sinh là Phật sẽ thành”.

Câu này hàm súc ý nghĩa sâu xa về con đường tu tiến. Thì ra ông Phật cũng chẳng qua, từ địa vị chúng sinh, tức là một con người bằng xương bằng thịt, tu hành đắc quả. Hãy nhìn tượng hay cốt Phật thờ trong chùa đủ thấy hình thể của Phật không khác hình thể của bao nhiêu con người mà ta đã thấy trong thế gian.

Phật từ chúng sinh mà ra. Thế nên muốn thành Phật, trước phải làm chúng sinh, hay nói một cách khác, trước khi làm Phật cần phải làm con người.

Như vậy con người là khởi điểm của con đường tiến hóa để đi đến Phật. Không có con người thì không thể nào thành Phật được. Nhưng Phật khác hơn chúng sinh ở chỗ Phật là người toàn thiện toàn mỹ, rốt ráo giải thoát, còn chúng sinh là con người chưa hoàn hảo, còn bị ràng buộc trói trăn. Làm Phật tất phải biết hơn chúng sinh, phải đáng cho chúng sinh thờ kính và qui mạng. Ví bằng Phật mà không làm hoàn toàn bổn phận con người , không vượt trên bực phàm. Thánh thì hẳn kẻ phàm. Thánh dù có thờ cũng không trọn kính. Và như thế thì không thành là một vị Phật. Ở đời muốn làm một vị giáo sư thì trước hết cũng phải từng làm học trò và hiểu biết hơn học trò. Bằng không từng làm học trò và hiểu biết hơn học trò thì sao làm được ông thầy giáo.

Sở dĩ Phật được thế nhân xưng tụng và Thiên nhân sư. Điều ngự trượng phu. Thế tôn… là vị Phật đã hoàn thành việc thế gian và vượt trên phàm, Thánh.

Thật thế, cứ xem gương Đức Phật Thích Ca, ta đủ thấy, trước hết Ngài là một người hoàn toàn nhứt. Trong ba đại A tăng kỳ kiếp. Ngài đã từng làm qua những việc Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, tín, đã từng làm vua, quan, nghệ sĩ, thầy tu, thương buôn… nhứt nhứt về món nào Ngài cũng tỏ ra siêu quần xuất chúng cả, nghĩa là Ngài đã hoàn toàn làm tròn cái đạo Nhân khi Ngài còn là con người ở thế tục.

Như thế, đạo Nhân quả là mối đạo mà người nào muốn đạt thành quả vị Tiên Phật, cần phải tu trước hết. Không tu Nhân đạo trước mà chỉ chuyên tu Phật đạo thì có khác nào muốn cất nhà mà không cần xây nền đắp móng, trước sau gì cũng phải sụp đổ.

Đạo Thanh Hòa Thượng có nói: “Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỹ”. Muốn tu đạo Tiên Phật, trước phải tu đạo làm người; đạo làm người mà không tu thì đạo Tiên đạo Phật không có thể đến được.

Đức Huỳnh giáo chủ cũng nói:

Tu đền nợ thế cho rồi.

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.

Thế là cũng đồng nhận cần phải tu Nhân để đền xong nợ thế rồi sau mới đạt thành Phật đạo.

Phương chi trong kinh điển còn cho biết rằng: nhờ kiêm tu phước huệ gồm cả Nhân đạo và Phật đạo mà Đức Phật Thích Ca đã siêu kiếp: đáng lẽ, ngoài ba đại A tăng kỳ kiếp còn phải tu thêm một trăm đại kiếp nữa như các hàng Bồ tát tiểu thừa mới đến quả vị diệu giác, thế mà Đức Phật nhờ kiêm tu phước huệ nên siêu được một trăm đại kiếp ấy.

Tu Nhân đã phù hợp với trình tự tu tiến và siêu thắng như thế. Vậy muốn thành Phật, trước phải tu Nhân, cũng như muốn cất nhà trước phải xây nền đắp móng cho vững chắc.

Thế nên, đồng thời với Tu Nhân, cần phải học Phật để trang nghiêm con đường tiến tu giải thoát sau này. Có học Phật, có làm theo những điều của Phật dạy, mới tránh được những lỗi lầm do vô minh dốt nát gây nên và nhận rõ con đường đạt đến chân lý.

Mà muốn đạt đến chân lý, muốn thành Phật thì trước hết phải tu Nhân, bởi đó là khởi đoan của con đường tiến hóa từ chúng sinh đi đến quả Phật.

Con đường tu tiến để đi đến quả Phật là cả một con đường gồm có tu Nhân và học Phật. Nhưng nếu chỉ chuyên tu Nhân mà không học Phật, chỉ lo việc phước đức nghĩa nhân thì kết quả chỉ gặt được phước báo của cõi Nhân Thên, vẫn còn mãi chịu lăn lộn trong con đường luân hồi sinh tử. Và như thế, đạo Phật không còn là đạo Phật nữa, vì nó không khác Đạo Nho hay các cơ quan từ thiện hay xã hội.

Đạo Phật là đạo giải thoát. Thế nên muốn được giải thoát, phải học theo Phật.

Nhưng thế nào gọi là học Phật?

Học Phật là học tất cả những điều Phật dạy và làm tất cả những điều Phật đã làm.

Các công  thức khoa học sở dĩ được lập ra, chẳng qua dựa theo kết quả của các cuộc thí nghiệm mà có. Pháp môn của Phật cũng thế. Nó chẳng phải do Phật tự đặt ra mà là do chỗ Phật đã tu chứng đắc hay thể nghiệm  trong bao nhiêu túc kiếp tiền thân, rồi khai thị cho chúng sinh nương theo đó mà tu học.

Đức Phật đã tìm thấy con đường giải thoát chỉ dạy chúng ta, thì chúng ta, muốn được giải thoát như Ngài phải tuân theo những lời của Ngài chỉ dạy. Có làm theo những điều của Ngài giáo huấn, có học Phật, chúng ta mới tránh được bao nhiêu chướng ngại có có thể làm thối chuyển bước đường tu học của ta mà đạt đến chỗ hoàn toàn giải thoát.

Vả chăng, cho được thành Phật, cho được hoàn toàn giải thoát, trước kia Đức Phật cũng từ chỗ khởi đoạn tu Nhân mà tiến đến quả Phật. Như vậy muốn học Phật, thế tất phải học tất cả những việc làm của Phật từ chỗ tu Nhân cho đến khi thành đạo. Nếu chỉ học và làm theo những điều Phật đã hành trong giai đoạn thành đạo mà bỏ trễ không làm những điều Phật đã hành trong giai đoạn tu Nhân thì có khác chi muốn cất nhà mà không chịu xây nền đắp móng.

Huống chi, ở thời kỳ mạt pháp này, theo lời Phật cho biết, chúng sinh phần đông căn tính cạn cợt, phước huệ mỏng manh, thì phỏng độ bao nhiêu người  thượng căn thượng trí, phước đức đủ đầy , đã hoàn thành giai đoạn tu Nhân chỉ còn cần tu theo hạnh của Phật khi Ngài thành đạo.

Thế nên, để phù hợp với trình độ của chúng sinh trong thời kỳ Hạ nguơn và nhứt là để đi đúng con đường tu tiến của Phật, Đức Phật Thầy Tây An và các ngài tiên giác trong giáo hệ Bửu- Sơn  Kỳ- Hương đã khai thị pháp môn Tu Nhân học Phật.

Có tu Nhân mới gây được phước duyên làm nền tảng cho con đường tiến tu cầu đạo.

Có học Phật mới khuôn được sự tiến tu vào con đường chánh đạo, giải thoát hoàn toàn.

Đó là cả giáo pháp: tu phước và tu huệ, tu Đời lẫn Đạo mà Đức Phật đã chỉ dạy, nếu khuyết đi một thì chẳng khác một cỗ xe hai bánh mà thiếu đi một bánh, không sao tiến tới được.

Xưa nay, phần đông kẻ tu hành thường có quan niệm rằng: muốn tìm Đạo thì phải lìa Đời. Theo đó, Đời và Đạo là hai lãnh vực khác biệt nhau, không thể hòa hợp nhau được. Đời vẫn là Đời mà Đạo vẫn là Đạo

Thế nên trên xã hội loài người thường diễn ra cảnh tượng: khi thất thời lỡ vận, đau khổ vì Đời thì người ta đâm ra chán Đời, tìm đường náu thân nơi cửa Đạo, không còn thiết gì đến việc Đời.

Vì vậy mà Đạo Phật từ lâu bị hiểu lầm là Đạo yếm thế. Và cũng do chỗ nhận thức sai lệch ấy mà kẻ tu hành không tiến được xa trên giáo pháp của Như Lai.

Thực ra, Đạo Phật không phải là Đạo chán Đời mà là Đạo vì Đời. Trong Tăng nhứt A hàm kính có đoạn nói rằng: “nếu không có sự sanh, sự già, sự chết thì Như Lai chẳng giáng trần làm gì và Phật pháp cũng chẳng có cơ hội để ban rải ánh sáng siêu việt khắp thế gian”.

Xem đó, Đạo rất cần cho Đời, mà Đời cũng rất cần có Đạo. Đạo là ngọn đuốc soi sáng khắp nẻo tối tăm; Đạo là chiếc thuyền đưa người từ bờ mê sang bến giác… Đời mà không Đạo là Đời tàn ác, bạo ngược, vô liêm, như ốc mượn hồn, như thuyền không đáy.

Đạo phải ở trong Đời thì Đạo mới cần thiết, Đời phải nhớ có Đạo thì Đời mới giải oan sầu.

Cho nên muốn tìm Đạo phải tìm ở trong đời. Ví bằng bỏ Đời mà tìm Đạo thì có khác chi kẻ đội nón mà kiếm nón, người cỡi trâu mà lại tìm trâu.

Vẫn biết đời là một trường thống hận, ai sinh vào đó không khỏi bị khổ lụy. Nhưng nếu ta biết nương theo ngọn đuốc Đạo mà đi, dùng thuyền Đạo mà vượt qua bể khổ thì không sao vấp phải hầm hố của Đời hay chìm đắm trong bể Đời. Vẫn ở trong Đời mà không bị Đời làm lụy, đó mới là hạnh đức của người hiểu Đạo, đạt được Đạo. Thân tuy còn ở trong vòng tục lụy mà tâm đã cầu ái ly gia chẳng hơn là thân tuy đã xuất gia mà tâm vẫn chưa lìa tục lụy.

Phương chi, con người sinh ra Đời đã mang nặng Bốn ân, nếu nợ thế chẳng đền thì sao ra người biết Đạo.

Vả lại trong Đời đã có Đạo, trong đời đã có Đạo và trong Đạo vẫn có Đời, cũng như trong phiền não có Bồ đề, trong cái mê có cái giác, thì có thế nào tìm Đạo lại bỏ Đời hay trong phần Đời mà bỏ bê phần Đạo.

Đời Đạo vốn liên quan nhau, cho nên không nên thiên trệ, mà cần phải:

Đạo, Đời đi cấp tu chon,

Bên nào cũng gắng chớ sờn chi nhân.

Đời lo vẹn, Đạo ân cần.

Trả xong nhân Đạo thì thân cũng thành (1)

Đó là cả yếu lý của pháp môn Tu Nhân học Phật. Với pháp môn rất thích hợp với trình độ cơ cảm của chúng sinh trong thời mạt pháp, giáo hệ Bửu- Sơn  Kỳ- Hương đã xây dựng nền móng vững chắc cho công cuộc vãn hồi đạo Nhân và xương minh đạo Phật.

4) Vãn-hồi đạo Nhân, xương-minh đạo Phật

Mục đích chính yếu của Bửu-Sơn Kỳ-Hương, với pháp môn Tu Nhân Học Phật, có thể nói là: vãn hồi đạo Nhân và xương minh đạo Phật.

Xét qua những nguyên nhân làm cho đạo Nhân suy đồi, ông Thanh Sĩ có viết:

“Trong xứ chúng ta, trước kia hầu hết trong nước từ hàng vua quan đến dân đã đều đồng nhứt hấp thụ lý thuyết của Khổng Tử là tu về nhân đạo, mỗi người đều học việc: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Sau khi biết: Nhân, nghĩa, lễ Trí, tín rồi, họ thực hành như: tôi trung với vua, con hiếu với cha mẹ v.v… dù ai cũng vậy. Nhưng từ sau ngày nước nhà bị trị, nghĩa là từ đời vua Tự Đức trở lại đây, làn sóng văn minh phương Âu tràn vào xứ sở, bôi xóa tất cả thành tích đạo nghĩa trước kia của dân tộc; từ đó đạo nghĩa bị bôi lọ tất cả, đối lại lắm thời tồi bại diễn ra. Vì thế đạo luân thường phai dần đi, cho đến ngày giờ này, mặc dù có nhiều chùa miễu, nhiều tổ chức trùng hưng đạo Thánh Hiền, nhưng không phục hồi như cũ.

“Nếu muốn luân thường đạo lý không trùng hưng chấn chỉnh được, cứ ở trong tình trạng suy vong mãi thì trong xã hội không tránh khỏi khổ huống: con giết mẹ cha, vợ bội bạc chồng, tình anh em chia xẻ nhau, tình bè bạn không còn đãi nhau chơn thật nữa. Chẳng những vậy thôi mà nó còn dẫn đến giai đoạn khốc liệt là người ăn xé người; chỉ vì lòng ích kỷ độc ác mà họ tàn sát nhau rất dễ dàng hơn giết con vật”

Sau khi xét qua những nguyên nhân suy đồi, ông Thanh Sĩ, để vãn hồi đạo Nhân có đề ra mấy lẽ trọng yếu:

“Lẽ thứ nhứt, hưng phục ngũ luân cho thuần mỹ là làm sao cho tất cả mọi người trong xã hội, như làm tôi thì không bội phản, làm con thì không ngỗ nghịch, làm vợ thì không trái phụ, giữa anh em không bạc ác và đối với bạn bè chẳng lừa phỉnh nhau. Được như thế tức là đạo luân thường sẽ khỏi phải làm đau lòng tổ tiên và không phụ Thánh Hiền xướng xuất lý thuyết đạo nhân.

” Lẽ thứ hai, khắc kỷ được chơn chánh là trước khi đứng ra hành xử đạo nhân cho được chúng ta toàn thì mình cần phải sửa đổi thân tâm được chơn chánh tròn vẹn. Cách sửa đổi ấy là phải rèn luyện cho mình được có việc nhân, nghĩa, lễ trí, tín. Nếu người không lòng nhân, nghĩa, lễ, trí… thì hẳn không phải người. Điều này, Đức Huỳnh Giáo chủ nói rõ: “Nếu thiệt người thì biết thương người “. Ngài Mạnh Tử thì nói: “Vô nhân, nghĩa , lễ, trí giả phi nhân dã”. Người không lòng nhân, nghĩa, lễ, trí là chẳng phải người, mặc dù họ mang xác chất như người.

“Đó là phận sự của người trai, còn gái thì luôn luôn tập tành: công, dung, ngôn, hạnh. Những điều này mỗi người phải được tiêm tất giồi luyện từ lúc nhỏ đến lớn. Có được đức công thì việc làm khéo léo gọn ghẽ, có được đức dung thì dáng vẻ được trang nghiêm; có được đức ngôn thì lời nói được ngay thật; có được đức hạnh thì mới có những vẻ nhu mì và lòng từ hiếu được. Người phụ nữ gìn được bốn đức ấy sẽ làm gương mẫu cho xã hội xung quanh học theo.

“Tuy nhiên các việc ấy chưa đủ, còn cần rèn luyện thêm các đức tánh có ý nghĩa tốt đẹp khác nữa, nhứt là đừng bỏ qua một tánh hạnh tốt nào mà không trau luyện và cũng không dung chứa một tánh xấu nào mà không chừa tránh. Nếu gái trai cùng biết cung kính các đức tánh như đã kể qua thì trong gia đình được chúng ta sẽ không đến dở dang tồi tệ.

“Điều chót hết của đạo làm người là khi mình đứng ra xử sự, mọi việc đều lấy lẽ công bằng và nhân đạo. Không vị tư vị kỷ làm lệch đòn cân  nhân đạo và không làm bức người trong việc phi nghĩa, nhứt là làm sao cho mỗi người đều biết trách nhiệm của mình; hễ làm cha mẹ có bổn phận dạy con cái từ bé cho đến nghịch ngang tàng thì mình phải chịu trách nhiệm; làm anh chị phải kềm chế em út, nếu để nó lung lăng phóng túng làm việc bại hoại thì người anh chị chịu trách nhiệm. Các vấn đề khác cũng vậy, đều có tương quan nhau; cha mẹ chịu trách nhiệm con cái; anh chị có trách nhiệm em út, chồng có trách nhiệm vợ; đến như thầy có trách nhiệm trò; bạn bè thì có trách nhiệm bênh vực nhau. Mỗi người đều phải biết trrách nhiệm như thế cả.

“Tóm lại ai cũng đều biết trách nhiệm trong phạm vi của mình để xử sự cho xong cả việc nhỏ đến việc lớn, khiến từ trên đến dưới đều đem lại sự hòa hảo lẫn nhau, dù phong tục có suy đồi cách mấy hay tâm trạng con người có đen xấu bao nhiêu cũng lần lượt cải chế lại chánh đáng như trước được. Nhược bằng người sống để mà sống, chớ không hiểu bổn phận mình đối với: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em như thế nào thì phong tục tốt cũng đồi lại xấu, còn nếu phong tục xấu thì càng xấu thêm. Như vậy thì loài người sẽ chìm xuống thấp thỏi không khác loài vật người ngu độn”.

Đồng thời với sự vãn hồi đạo Nhân, đạo Phật cũng cần được xương minh để cứu độ “hạng người đương say gục tà thuyết và kẻ còn lầm đường vày vò bị người lợi dụng có cơ tỉnh thức thoát vòng trói buộc của tà sư ngoại giáo hầu được giải thoát hay đến được Hội Long Hoa”.

Về điểm xương minh đạo Phật, ông Thanh Sĩ có nêu ra bốn đề mục:

1. Duy trì chánh giáo của Phật Thích Ca;

2. Dắt người trở lại con đường lành;

3. Khiến cho mỗi người được tỏ ngộ;

4. Đưa nhơn sanh đến Hội Long Hoa hay về cõi Cực lạc.

” Lẽ thứ nhứt của cuộc xướng minh đạo Phật là duy trì chánh giáo của Phật Thích Ca khiến cho chúng sanh cùng được giác ngộ như nhau và cùng hiểu được chơn lý của Phật. Lúc nào họ cũng thờ kính phụng mối đạo vô vi của Phật và hiểu luật nhơn quả báo ứng một cách rõ ràng, tránh tất cả những thuyết có ẩn ý làm mê tín lòng người.

Lẽ thứ hai của cuộc xướng minh đạo Phật là dắt người trở lại con đường lành, bằng cách dùng đủ lẽ  hay ho để hướng dẫn những người nghe theo tà thuyết, tín ngưỡng ngoại đạo, sớm thức tỉnh trở lại con đường quang minh của Tổ Thầy đã vạch sẵn. Nhứt là làm sao mọi người rứt bỏ các việc ác, theo làm mọi điều lành, khiến lòng ác độc của con người được bớt lần đi, tức thì họa tham tàn, lòng giết hại, sự đao binh của nhân loại dần dần nhưng lại’ rốt hết là sẽ cứu được chúng sanh lắp bớt nguồn sống chết để cùng được nhẹ nhàng siêu hóa về cõi thanh tịnh an cư của chư Phật.

“Lẽ thứ ba của cuộc xướng minh đạo Phật là khiến cho mỗi người được tỏ ngộ bằng cách phương tiện  dùng pháp quyền biến, hoặc chơn thiệt, hoặc mau hoặc chậm để vạch xé ra từ việc một của sự tham lam, sân nộ, mê, si, ái, dục, không phải là thiệt có mà chỉ do vọng niệm vô minh  của mỗi người mà thấy nó dường như có thiệt, tưởng của cải là trường tồn vĩnh cửu thì dù nó mất mát cũng không khờn mẽ núng nao. Chúng sanh nhận hiểu như thế, rồi tự mỗi người soi chiếu lại bản tâm của mình được thấy nó tròn trịa sáng sủa như mặt nhựt và có đủ công năng để sử dụng một cách mầu nhiệm; nó có thể hiểu tất cả việc làm, tất cả các món không bị cảnh bên ngoài ám ảnh vào mắt, tai, mũi, miệng mình nữa, khiến đầu óc chẳng còn mê muội rối rắm, vẫn được một màu rỗng rang sáng tỏ, phân tách được từ việc một của sự đời hay sự đạo để thất hành đúng theo chơn lý. Sau hết là khiến cho mỗi người tự tu, tự ngộ lấy mình, không có ỷ lại vào sự giúp đỡ của kẻ khác; vì nếu cứ ỷ lại vào sự giúp đỡ của kẻ khác mà mình không lo lấy thì không khi nào đến chỗ giải thoát mau lẹ được.

“Lẽ thứ tư của cuộc xướng minh đạo Phật là đưa  nhơn sanh đến Hội Long Hoa hay về cõi Cực lạc bằng cách khiến mỗi người  quay về con đường lành và tỏ ngộ bản tâm, tức nhiên đến ngày khai mở Long Hoa họ sẽ được đến đó để hầu nghe lời lẽ nhiệm mầu của chư Phật giảng giải và họ sẽ được sự ban thưởng của vị vua Thánh., Nếu trong lúc tu hành, lòng họ chuyên trì lục tự một cách thuần thành thì họ sẽ được Đức Di Đà hiện thân đến tiếp rước về cõi Cực lạc hưởng lấy quả an vui hơn cõi Ta bà gấp bội.” (1)

Một khi đạo Nhân được vãn hồi, đạo Phật được xướng minh, tức là mục đích của pháp môn Tu Nhân Học Phật đã đạt.

Chương thứ III: Các thời-kỳ phổ-hóa.

Để tiện việc nghiên cứu Phật học, Đại sư Thiên Thai Trí giả đã hoạch định ra năm thời kỳ Phật thuyết pháp:

1. Thời kỳ Hoa Nghiêm túc là thời kỳ sau 21 ngày thành đạo, Phật giảng kinh Hoa Nghiêm

2. Thời kỳ A Hàm tức là thời kỳ Phật thuyết pháp tại vườn Lộc Uyển, sau chép lại thành kinh A Hàm, thời kỳ này trải qua 12 năm;

3. Thời kỳ Phương Đẳng tức là thời kỳ Phật thuyết các kinh Đại thừa; thời kỳ này phỏng độ 8 năm;

4. Thời kỳ Bát Nhã tức là thời kỳ Phật thuyết kinh Bát nhã, trong 15 năm;

5. Thời kỳ Pháp Hoa tức là thời kỳ Phật thuyết các kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, trong 8 năm.

Tuy trong việc hoạch định thời kỳ của Thiên Thai Trí giả có chỗ cưỡng ép, nhưng xét ra rất tiện lợi về phương diện nghiên cứu Phật học.

Thể theo phương pháp của Đại suy Thiên Thai chúng tôi có thể phân quá trình phát triển của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương ra làm ba thời kỳ như sau:

1. Thời kỳ thứ nhứt cũng gọi là thời kỳ thành lập, kể từ năm Kỷ dậu (1819) tức năm Đức Phật Thầy Tây An ra đời mở đạo cho đến năm Ất Hợi (1875) tức năm Đức Phật Trùm viên tịch.

2 . Thời kỳ thứ hai cũng gọi là thời kỳ củng cố, kể từ ngày Đức Bổn sư ra đời năm Canh Ngọ (1870)  cho đến ngày Ngài tịch năm Canh Dần (1890),

3. Thời kỳ thứ ba  cũng gọi là thời kỳ phổ biến, bắt đầu từ khi ông Sư vãi Bán khoai ra đời cho đến ngày Đức Huỳnh giáo chủ mở đạo trở lại đây.

1) Thời-kỳ thứ nhứt

Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ thành lập giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương do Đức Phật Thầy Tây An khai sáng và được Đức Phật Trùm thừa tiếp.

A.- Đức Phật-Thầy Tây-An

Chính Đức Phật Thầy Tây An đã sáng lập giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, Danh từ này được truyền ra là từ khi Ngài về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần Ngài thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì Ngài có phát cho một cái lòng phái có bốn chữ Bửu-Sơn Kỳ-Hương bằng son in trên giấy vàng. Người tín đồ thọ phái, xem đó như một vật rất thiêng liêng, cứ may đãy mà đeo, không dám tò mò tìm hiểu ý nghĩa. Danh từ Bửu-Sơn Kỳ-Hương từ đó một ngày một rộng truyền ra. Người nào có lòng phái tức là tín đồ của phái Phật thầy hay Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Một khi qui y thọ phái rồi, người tín đồ phải tu hành theo pháp môn của Ngài chỉ dạy. Về phương diện nghi thức thờ phượng, mỗi nhà, ngoài bàn thờ ông bà cha mẹ, còn có ngôi thờ Tam bảo, trên đó chỉ thờ đơn giản một tấm trần điều, chớ không có cốt hình chi cả.

Còn về phương diện hành đạo thì Ngài dạy tín đồ lo làm lành lánh dữ, đền trả Tứ Ân, sửa tâm sửa tánh, siêng năng niệm Phật, nghĩa là cả pháp môn Tu Nhân học Phật. Kỳ dư không có dạy tụng kinh gõ mõ hay ly gia cát ái. Ngay các đại đệ tử như ông Đạo Xuyến, Đạo Ngoạn… mặc dù quyết chí ly gia cát ái, nhưng Ngài không cho mà trái lại còn dạy trở về lập gia thất, cốt yếu là phải cứu dân độ thế, làm ích lợi cho đời, tự mình làm lấy mà sống.

Đó là về phương diện công truyền. Đến như đối với hàng đại đệ tử thì ngoài phương diện công truyền để phổ hóa chúng sinh. Ngài còn mật truyền bí pháp chỉ dạy cách tu luyện để đắc pháp thần thông có thay thế Ngài ra giúp đời độ bịnh. Chính trong hàng đệ tử thân tín ấy, Đức Phật Thầy đã truyền bài thơ “Tứ bửu linh tự”, bài “Đại Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận”… để thông đạt diệu lý và cơ huyền của phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Sau khi, cơ cấu đã vững đặt, hàng trăm đệ tử đắc pháp thần thông, Đức Phật Thầy mới bắt tay vào việc truyền bá. Hoặc giả, tự Ngài lập chùa, lập trại rồi giao phó cho đệ tử đảm đương việc phát phù trị bịnh, giáo hóa chúng sinh, hoặc giả, tự đệ tử đứng lên tạo lập, khuyến tu phát phái, thâu nhận tín đồ. Nhờ đó mà chẳng bao lâu hệ phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã đặt khắp miền Nam nước Việt. Người ta được biết, ngoài vùng Châu Đốc, Long Xuyên, công cuộc truyền giáo về miệt Cao Miên thì có Bà Năm Chòm Dầu, về miệt Sa Đéc. Vĩnh Long thì có ông Đạo Ngoạn, về các tỉnh miền Đông thì có ông Đạo Xuyến.

Trong một thời gian rất ngắn, từ ngày Đức Phật Thầy ra đời cho đến ngày Ngài viên tịch, chỉ trong vòng có bảy năm mà cơ sở của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã vững vàng, tín đồ qui y thọ giáo có mấy mươi vạn.

Có thể nói chính Ngài là người đầu tiên báo tin cho chúng sinh biết rằng nhân loại bước vào thời kỳ Hạ nguơn là thời kỳ cũng cuối của luật tuần huờn Tam nguơn để tạo lập đời Thượng nguơn vô cùng an lạc.

Đặc điểm của giáo lý nhà Phật không phải là những giáo điều cố định; nó luôn luôn uyển chuyển, tùy không gian thời gian, để thích nghi với căn cơ của chúng sinh.

Cũng như một vị lương y diệu thủ biết tùy theo tạng phủ của bịnh nhân mà gia giảm phương dược, Đức Phật Thầy Tây An, y cứ theo giáo pháp căn bản của Đức Phật, đã biết chọn pháp môn thích hợp với căn cơ của chúng sinh ở thời kỳ mạt pháp

Nhận rõ con người sanh ở thời kỳ Hạ nguơn này phần đông là hạng người thiểu căn thiểu trí, không thể lãnh hội hay tu theo những giáo lý cao siêu chỉ thích hợp với hạng người thượng căn thượng trí ở thời kỳ chánh pháp, nên chi Ngài khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật, là pháp môn gồm tu cả phước lẫn huệ, dù người ở trình độ cơ cảm nào cũng có thể tu hành được cả.

Với pháp môn Tu Nhân Học Phật, Ngài đã gây nên một phong trào đạo đức chưa từng có khắp miền Nam nước Việt. Ngài làm sống lại chánh pháp vô vi chân truyền của Đức Phật Thích Ca mà từ một ngàn năm trở lại đây khi Đức Lục tổ Huệ Năng bặt truyền y bát, đã thất truyền vì những lối tu âm thinh sắc tướng của Thần Tú.

Quả pháp môn Tu Nhân Học Phật là một pháp môn siêu thăng ở thời kỳ Hạ nguơn thứ nhứt là ở hoàn cảnh của Việt Nam.

Với điều Tu Nhân, nó đã giúp cho người hành trí nó, trả được nợ Tứ Ân, gây lấy phước duyên làm nền móng cho bước đường tu giải thoát và nêu cao tinh thần hy sinh vì đạo nghĩa như hồi đời Lý đời Trần. Trong lịch sử Cần vương, một danh dự rất lớn đã dành cho Trần Văn Thành, Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Nhu… đều là những  vị anh hùng cứu quốc, xuất thân trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Với điều học Phật, một số lớn môn nhân đệ tử của Ngài đã đắc pháp thần thông và liễu ngộ. Cần nhắc lại chăng gương ông Cử Đa, Đạo Lập, Đạo Xuyến, Đạo Sang, ông Ba Thới… đều là những bực tu hành đã có nhiều ấn chứng mà chẳng một ai ở miền Nam nước Việt không từng nghe danh hay ít ra cũng được mấy ngài hóa độ.

Đó là chưa kể những Đức Phật Trùm, Đức Bổn sư, ông Sư Vãi Bán Khoai, Đức Huỳnh giáo chủ… là những bực tỏ ngộ nối tiếp nhau hưng truyền giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và xướng minh pháp môn Tu Nhân Học Phật, gây nên một thịnh huống tu hành trong dân chúng.

Công nghiệp hoằng hóa lợi sanh của Đức Phật Thầy Tây An, đối với chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp thật vĩ đại lắm thay.

Riêng về dân tộc Rồng Tiên, công nghiệp ấy qui bằng núi báu (Bửu Sơn), vì nó đem lại một mùi thơm lạ (Kỳ Hương) trong Phật-giáo Việt Nam.


B.- Đức Phật Trùm

Điều mà ai đọc đến lịch sử Đức Phật Trùm đều phải kinh dị là trường hợp ra đời và mở đạo của Ngài không khác trường hợp của Đức Phật Thầy Tây An. Ngài vốn là một người Miên ở núi Tà Lơn vùng Xã Tón thuộc tỉnh Chấu đốc, nhưng bỗng một hôm, sau khi chết đi sống lại vì bịnh thời khí, Ngài hốt nhiên tỏ ngộ, không nói được tiếng  Miên, lại nói ròng tiếng Việt. Rồi bắt đầu từ đó, Ngài phát phù trị bịnh, mở đạo giáo đời, nhứt nhứt như được Đức Phật Thầy truyền lại. Thế cũng chưa làm cho người đời ngạc nhiên bằng khi thấy Ngài cũng phát lòng phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Thật là một điều kỳ diệu. Nếu không phải Đức Phật Thầy chuyển kiếp thì làm gì có trường hợp lạ lùng như thế.

Do những chỗ giống nhau ấy mà người đời quả quyết rằng: Đức Phật Trùm tức là Đức Phật Thầy tái sanh, nhiều đệ tử và tín đồ của Ngài tấp nập kéo đến. Nhân đó giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương lại một phen mạnh truyền trong dân chúng.

Cũng như đệ tử của Đức Phật Thầy, đệ tử của Đức Phật Trùm cũng được mật truyền bí pháp và đắc pháp thần thông, trong số đó người ta được biết ông Đạo Sĩ ở Trà Kiết thuộc tỉnh Long Xuyên, ông Đạo Ớt ở Tân Lược thuộc tỉnh Cần Thơ, là những vị còn lưu lại ít nhiều tung tích và có công trong việc xây nền móng cho giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Công cuộc truyền giáo có cơ phát triển thì chẳng may Đức Phật Trùm gặp phải tai nạn. Mặc dù sau một thời gian bị đày lưu, Đức Phật Trùm được trả tự do và tiếp tục công việc cứu bịnh, qui tụ tín đồ đông như trước, nhưng về giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương thì bắt đầu từ đó bước vào con đường khó khăn chẳng khác Phật-giáo gặp ách tam Võ (1) ở Trung Hoa.

Nên biết Đức Phật Trùm ra đời nhằm năm Mậu thìn (1868) tức là lúc quân pháp đã chiếm Nam kỳ Lục tỉnh. Các vị anh hùng ái quốc trong cuộc nổi lên gây phong trào kháng chiến Cần vương. Nào là Ngài Trương Công Định huy động nghĩa binh ở miền Đông, nào là ngài Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp, nào là các Ngài Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Khoa Huân, Trần Văn Thành tức Đức Cố Quản… phát cờ khởi nghĩa ở miền Tây. Đặc biệt là Ngài Nguyễn Trung Trực, kế đó Đức Cố Quản, là hai tướng lãnh kháng chiến, từng làm cho quân Pháp kinh hồn khiếp sợ. Ngài Nguyễn Trung trực đã hỏa công chiếm hạm Pháp tại sông Nhựt Tảo thuộc tỉnh Tân An và hạ đồn Kiên Giang tức tỉnh  Rạch Giá. Đến như Đức Cố Quản thì Ngài đã đánh nhau với Pháp ở đồng Bảy Thưa, giữa khoảng Châu đốc Long xuyên. Vả lại Ngài là đệ tử của Đức Phật Thầy có hàng vạn người làm hậu thuẫn, cho nên quân Pháp đặc biệt chú ý đến tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Sau khi Pháp phá tan lực lượng của Ngài vào năm 1873. quân Pháp truy nã tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và thi hành một chánh sách khủng bố nghiệt ngã.

Chính lúc ấy, Đức Phật Trùm lại truyền mạnh giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, qui tụ tín đồ hàng vạn thì tránh sao cho khỏi quân Pháp nghi kỵ. Thế rồi Đức Phật Trùm bị bắt và đày đi. Bắt đầu từ đó, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương bước vào giai đọan đình đốn ngưng trệ.

Nói tóm lại, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương từ khi Đức Phật Thầy Tây An khai sáng cho đến khi Đức Phật Trùm viên tịch, là ở vào giai đoạn thành lập xây dựng. Trong giai đoạn này, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương được Đức Phật Thầy và Đức Phật Trùm, cùng đệ tử  của hai Ngài đặt vững cơ sở khắp nơi. Nhiều cảnh chùa đã xây dựng còn lưu lại đến ngày nay.

Mặc dù giữa Đức Phật Thầy và Đức Phật Trùm không có sự ấn chứng hay truyền y bát như hệ thống tổ, tổ tương truyền, nhưng Đức Phật Trùm cũng như bao nhiêu vị giác ngộ sau này, vẫn kế truyền và xiển dương giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương như đã có một truyền cảm giữa vị giác ngộ này với vị giác ngộ khác.

Đó là một điều huyền diệu, chỉ giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương mới có.

2) Thời kỳ thứ hai.


C.- Đức Bổn-Sư

1. HÀNH TRẠNG.

Thời kỳ thứ hai là thời kỳ củng cố giáo hệ Bửu- Sơn Kỳ- Hương. Thời kỳ này kéo dài trong suốt thời gian Đức Bổn Sư ra mở đạo.

Cứ như được biết, trường hợp tỏ ngộ của Đức Bổn Sư cũng không khác trường hợp tỏ ngộ của Đức Phật Thầy Tây An và Đức Phật Trùm, nghĩa là hốt nhiên tỏ ngộ và dùng phép huyền điệu độ bịnh cứu dân. Điều làm cho mọi người phải ngạc nhiên, cũng như người ta đã ngạc nhiên về trường hợp của Đức Phật Trùm, là Đức Bổn Sư không hề được Đức Phật Thầy Tây An hay Đức Phật Trùm truyền giáng thế mà khi tỏ ngộ, Ngài cũng phát lòng phải Bửu-Sơn Kỳ-Hương và xiển dương pháp môn Tu Nhân Học Phật y như có suy truyền kế vậy.

Nhưng khổ nỗi! Khi Ngài ra đời lại gặp phải thời kỳ quân Pháp sang chiếm nước Việt Nam. khắp nơi trong nước, các vị anh hùng ái quốc nổi lên phong trào Cần vương kháng chiến, trong số đó có Đức Cố Quản Trần Văn Thành, Nguyễn Trung Trực, và môn đệ của Đức Phật Thầy Tây An. Vì thế mà quân Pháp cực lực truy nã tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Đức Phật Trùm bị bắt đày đi cũng vì duyên cớ ấy.

Vả lại, pháp môn Tu Nhân Học Phật của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương lại khuyên tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa, gây cho dân chúng một tinh thần hy sinh cao cả đối với đất nước quê hương, càng khiến cho quân Pháp, muốn đặt vững uy quyền của mình, phải thẳng tay đàn áp. Thế nên, không có thời kỳ nào mà giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương chịu nhiều gian nguy khổ ách bằng thời kỳ Đức Bổn Sư ra hoằng hóa. Có đọc qua lịch sử của Ngài mới thấy Ngài rất dày công trong việc củng cố giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương (1.)

Trong kinh Hiếu Nghĩa gồm có ba quyền do Đức Bổn Sư sáng tác thì vào giờ ngọ ngày mồng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867). Ngài dọn mình bỏ tục (chuyển thân khử tục). Trong bảy ngày bảy đêm, Ngài nằm đê mê cho đến ngày thứ bảy thì lặng nhiên tỉnh lại; Ngài cảm thấy lòng trần đã rửa sạch. Và bắt đầu từ đó, Ngài đi phổ hóa độ sanh. Tứ Dội, nơi quê quán thuộc tỉnh Châu Đốc. Ngài đi lần xuống Cù lao Ba, nơi đây Ngài ở một thời gian cứu dân đang gặp nạn ôn dịch.

Sau đó, Ngài đi vào vùng Thất Sơn, rồi thẳng theo kinh Vĩnh Tế, qua miệt Giang Thành. Khi đến hòn núi Nước, Ngài có lậy một cái ếm của người Tàu. Ý chừng phá vỡ mưu mô của họ, người Tàu sanh lòng thù oán cáo gian với nhà cầm quyền Pháp rằng Ngài có ý khởi nghĩa Cần vương. Vì thế mà Ngài phải một phen giả dạng làm nữ nhơn, ẩn lánh rày đây mai đó. Ngài có đến gặp Đức Cố Quản ở Nhà Láng.

Sau một thời gian đi hóa độ. Ngài trở về núi Tượng lập chùa phát phái, mở thành mối đạo Hiếu Nghĩa. Ngày Ngài chánh thức lấy danh hiệu Đức Bổn Sư là ngày rằm tháng 9 năm Canh Ngọ (1870), nhưng theo kinh Hiếu Nghĩa quyền thượng thì cho đến ngày 28 tháng 4 năm Kỷ Mão (1879) Ngài mới được thọ ký. Ngài dựng lên tại Núi Tượng ngôi Thanh Lương tự để thờ Địa Mẫu. cũng trên sở đất này, Ngài cho lập một cảnh chùa gọi là Chùa Lớn, chia làm hai ngôi; phía trước là An định miếu để thờ các vị công thần của đất nước, còn phía sau là chùa Phi Lai thờ Đức Phật Thầy Tây An ở bàn tỏ và một bức trần điều nơi bàn thờ chánh.

Công việc sắp đặt chưa được an bài thì một biến cố xảy ra. Nguyên trong một cuộc đàn áp Cần vương ở Tịnh Biên, quân Pháp có bắt được một tín đồ Hiếu Nghĩa trong hàng nghĩa binh. Thế là năm 1885 (Ất Dậu) quân Pháp đem binh đến Núi Tượng, một mặt thiêu hủy chùa miếu và nhà cửa, một mặt bắn giết và bắt bớ tín đồ. Đây là tai nạn đầu tiên mà đạo Hiếu Nghĩa đã gặp. Chừng như Đức Bổn Sư cũng đã tiên liệu tai nạn này, nên chi, trước đó mấy năm. Ngài nhìn bầy gà ăn lúa chung quanh cối xây ở trước chùa, có nói rằng: đầu cối gà bươi mà cuối cuối gà cũng bươi. Câu nói này không ai đoán ra. Đến năm Ất Dậu khi xảy ra tai nạn người ta mới hiểu. Nhưng đáo chỉ mới là đầu cối gà bươi, còn cuối cối gà bươi là năm 1945 cũng là năm Ất Dậu, chùa miễu ở núi Tượng bị đốt phá một lần nữa. Đó là hai lần đại nạn của tín đồ Hiếu Nghĩa.

Sau cuộc đốt phá và bắt bớ năm 1885, tín đồ Hiếu Nghĩa phần nào được thả thì trở về lo cất lại nhà cửa. Chùa miếu lần lượt cũng được trùng tu, nhưng nhà cầm quyền Pháp bắt phải đặt dưới sự chỉ huy của hương chức hội tề, nhứt cử nhứt động gì cũng phải xin phép, tín đồ không được tụ họp đông đảo như trước; mỗi lần vào chùa lễ bái không quá con số bốn người.

Từ ngày xảy ra tai nạn. Đức Bổn Sư cùng một số cao đệ đi lánh mặt. Để tránh sự truy nã của quân Pháp, Ngài phải giả dạng ra nữ nhơn rày đây mai đó. Khi thấy tình thế hơi dịu. Ngài trở về núi Tượng tu chỉnh chùa miễu và tiếp tục công cuộc phổ hóa.. Nhưng cho được ổn thỏa với hương chức hội tề luôn luôn đứng một bên chỉ huy, hay hơn nữa để đánh tan lòng nghi ngờ của quân Pháp. Ngài canh cải cách thờ phượng và tụng niệm. Thay vì thờ một tấm trần điều thì Đức Bổn Sư bảo thờ một bức tượng Đức Quan Đế. Thật ra thì bức tượng ấy không có để nguyên mà bị vanh bỏ chung quanh, chỉ lấy phần hình mà thôi. Và cái phần hình ấy được dán lên trên tấm trần điều. Chỉ những người có để ý mới nhận thấy.

Việc lọng hình Đức Quan Đế trên trần điều xét ra không khác trường hợp Đức Huỳnh Giáo chủ dạy tín đồ đổi trần điều ra trần dà và viết lên chín chữ “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu ni Phật”, trong lúc nhà cầm quyền Pháp làm khó khăn và khủng bố Đạo.

Ngoài Đức Quan Đế, tín đồ Hiếu Nghĩa còn thờ nhiều hình tượng khác nữa. Như ở thôn đạo An Thành thì thờ Đức Quan Âm. Thôn đạo An Hòa thì lập miếu gần chùa Phổ Đà thờ Na Tra. Còn ở gia đình của tín đồ Hiếu Nghĩa thì nhà nào cũng có thờ ông Táo.

Cách thờ phượng của đạo Hiếu Nghĩa, xem đó, không khác cách thờ phượng của nhà thiền mà chúng ta thường thấy. Cho đến cách tụng niệm cũng không khác. Nơi chùa cũng như nơi nhà của tín đồ Hiếu Nghĩa, hằng đêm đều có tụng kinh gõ mõ. Kinh được tụng phần nhiều là kinh Kim cang, Di Đà, Phổ môn, Bát Dương, Tâm Kinh… tức là những kinh trong nhà thiền thường đọc tụng. Nhưng ngoài mấy bộ kinh vừa kể, tín đồ Hiếu Nghĩa còn tụng những kinh chính của Đức Bổn Sư sáng tác, như Hiếu Nghĩa kinh, Siêu thăng kinh, Phổ độ, Thiên đồ, Âm chất, Đào viên minh thánh kinh…

Tóm lại từ cách thờ phượng tượng Đức Quan Đế cho đến cách tụng niệm, vì để đánh lạc hướng của nhà cầm quyền Pháp. Đức Bổn Sư đã rập theo hình thức của nhà thiền. Mặc dù Ngài cố gắng thay hình đổi dạng như thế, nhưng quân Pháp cũng không vì đó mà để cho Ngài và tín đồ Hiếu Nghĩa ở yên. Chúng vẫn tầm bắt Ngài và khổ khắc tín đồ Hiếu Nghĩa. Nhiều khi Ngài phải hóa trang và ẩn lánh. Có một lần nọ, trong lúc chùa có lễ cúng lớn, quân Pháp biết chắc Ngài có mặt tại đó, nên kéo binh đến vây bắt. Tín đồ đều hồn kinh phách tán, vì không còn ngõ nào cho Đức Bổn Sư thoát thân. Môn đệ đến cho Ngài hay tình thế nguy biến thì Ngài vẫn thản nhiên bảo mấy cao đệ hãy núp theo bóng của Ngài mà đi. Ngài cùng môn đệ đi ra một cách tự nhiên trước mặt quân Pháp mà chúng ta không thấy.

Tuy gặp nhiều lúc nguy biến như thế, nhưng Ngài cứ một mực phổ hóa chúng sinh, tiếp tục phát phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Thật không có thời kỳ nào tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương chịu nhiều tai ách bằng thời kỳ này. Trong suốt thời gian từ ngày Đức Bổn Sư ra đời cho đến ngày Ngài Tịch (năm canh dần 1890), không quyết tâm tiêu diệt, nhưng nhờ có Ngài ra công bảo thủ mà giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương được giữ vững, chỉ được giữ vững thế cũng là may lắm rồi, chớ không dễ gì bành trướng như hồi thời Đức Phật Thầy Tây An được.

Thế nên thời kỳ Đức Bổn Sư phổ hóa, có thể gọi là thời kỳ củng cố.


2. GIÁO LÝ

Như mọi người đều biết, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật. Đức Bổn Sư khi ra mở đạo cũng phát lòng phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương cho môn nhơn đệ tử; như thế đủ chứng rằng Ngài là vị kế truyền của Đức Phật Thầy Tây An.

Nhưng khi xét đến nghi thức thờ phượng và lễ bái của Đức Bổn Sư, không khỏi có người ngạc nhiên mà nhận thấy có sự bất đồng gần như tương phản giữa Ngài và Đức Phật Tầy về phương diện hành đạo. Đức Phật Thầy thì chủ về vô vi, còn Đức Bổn Sư thì trọng về sắc tướng.

Tại đâu có chỗ tương phản ấy? Thế thì Đức Bổn Sư chẳng cùng một tôn chỉ Bửu-Sơn Kỳ-Hương sao?

Tuy nhiên, nếu có đi sâu vào giáo lý của Đức Bổn Sư , mới nhận thấy Ngài cũng vẫn chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật và xiển minh giáo lý vô vi của Đức Thích Ca. Nhưng sở dĩ, về nghi thức thờ phượng, Ngài còn trọng về phần hữu vi, ấy chẳng qua vì hoàn cảnh lúc bấy giờ bắt buộc. Trước sự đàn áp nghiệt ngã của quân Pháp đối với giáo hệ bắt đầu, nếu Ngài không biến đổi cách thờ phượng và lễ bái trọng về sắc tướng như nhà thiền thì hẳn Ngài không sao gây được mối đạo Hiếu Nghĩa để bảo tồn giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Mặc dù hình thức có khác, và đó chẳng qua là sự bất đắc dĩ trong chỗ quyền xảo, chớ kỳ thật về giáo lý thì Đức Bổn Sư vẫn giữ chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật.

TU NHÂN

Cũng như Đức Phật Thầy Tây An, Đức Bổn Sư khuyến tu nhân đạo, vì đạo nhân là căn bản của các mối đạo, như Ngài đã nói:

Làm người thời phải tu nhân,

Nhân là thiên bổn can duơn vun trồng.

Vì đâu làm người phải tu đạo nhân trước hết? Vì rằng đạo nhân là bước đầu để đi đến con đường tu Tiên tác Phật. Nếu đạo nhân mà làm không rồi thì khó mong giữ được hột giống nhân luân. Mà đã không còn hột giống nhân luân thì lấy thân người đâu để tu thành Tiên thành Phật. Thế nên Đức Bổn Sư khuyên nhủ:

Làm người chẳng xét lo lường,

Cũng như se cát dã trường nhọc thân.

Sao bằng giữ đạo nhân luân,

Mang lông cũng khổ, đội sừng dễ chi.

Nhưng muốn tu nhân đạo, theo Đức Bổn Sư không chi bằng thực hành theo đạo Thánh Hiền, trước phải trau sửa thân mình để trở thành người quân tử:

Muốn cho tỏ đạo Thánh Hiền,

Đặng làm quân tử phải chuyên trau mình.

Và có làm được quân tử thì mới mong gần bực Thánh Hiền.

Sao cho văn chất lân lân,

Đặng làm quân tử Thánh nhân mới gần.

Ngoài việc tu thân theo đạo Nho để trở nên người quân tử. Đức Bổn Sư còn khuyến tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nhưng trong bốn ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước , ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Đức Bổn Sư đặc biệt biểu dương và xiển minh ân tổ tiên cha mẹ và ân quốc vương thủy thổ mà Ngài lập thành một mối đạo mạng danh là Đạo Hiếu Nghĩa.

Trong Hiếu Nghĩa Kinh. Đức Bổn Sư giải rõ lý do tại đâu tông phái của Ngài lại lấy tên Hiếu Nghĩa. Ngài cho biết rằng: Đường Tam Tạng qua Tây phương thỉnh kinh về Đông độ để cứu tế sanh linh, nhưng “từ Hậu Hán truyền lại đây khuyết đi Hiếu Kinh. Biết rõ cớ ấy nên nay Phật thuyết bổn tông, hoằng đạo lợi sanh, tự tha đều độ. Công đức của đạo Hiếu thật là rộng lớn”. Vì rằng hành được Hiếu Nghĩa thì “lợi nhân thủy vương sanh, quốc gia hưng xương thạnh, tam bảo đạo quang minh”.

Như thế đủ thấy Hiếu Nghĩa là đầu mối Tứ Ân. Nếu hành được Hiếu Nghĩa thì chẳng những trả được ân tổ tiên cha mẹ và ân quốc vương thủy thổ mà đồng thời cũng trả được ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Nói tóm lại, theo Đức Bổn Sư, muốn đền đáp Tứ Ân, chỉ cần làm xong Hiếu Nghĩa. Người mà làm xong Hiếu Nghĩa giữ trọn tam cang thì chẳng những làm tròn đạo nhân mà còn vượt khỏi nẻo luân hồi trong vòng lục đạo.

Quân Vương nghĩa trọng biết bao,

Làm tôi lo báo công lao ở đời.

Song thân ân lớn bằng trời,

Làm con lo trả biết đời nào xong.

Kiếp trần nhiều nỗi long đong,

Tam cang giữ trọn sau vòng đành qua.

HỌC PHẬT

Về phương diện học Phật. Đức Bổn Sư cũng chủ trương pháp môn Thiền tịnh song tu như Đức Phật Thầy Tây An. Không có pháp tu nào dễ bằng pháp môn niệm danh hiệu Phật A di đà cầu vãng sinh về Cực lạc. Chẳng lựa phải nhọc công nhiều, chỉ chuyên niệm sau chữ Nam mô A di đà Phật là được về cõi Tây phương Đức Bổn Sư hằng nói:

Di Đà hai chữ rộng suy,

Một câu liễu đặng luận chi muôn vàn.

Vì đâu chỉ niệm có 6 chữ Nam mô A di đà Phật lại được vãng sanh về cực lạc dễ dàng như thế? Là vì Đức Phật A di đà có phát ra 48 lời nguyện, trong đó có câu nói rằng nếu chúng sanh nào niệm đến danh hiệu của Ngài thì khi lâm chung sẽ được Ngài và các Thánh chúng tiếp dẫn về cõi Tịnh độ.

Phật xưa bốn tám lời thề,

Chúng sanh độ hết chớ hề bỏ ai.

Ai mà giữ đạo Như Lai,

Ngân kiều khỏi xuống, Kim đài bước lên.

Thế nên Đức Bổn Sư chẳng dứt khuyên người niệm Phật, niệm một cách tha thiết tinh chuyên thì chắc chắn sẽ được vãng sanh:

Niệm Phật đừng có lôi thôi,

Niệm cho chánh niệm mới ngồi tòa sen.

Cần nhứt là phải chánh niệm:

Ai mà chánh niệm tinh chuyên,

Trong tánh ắt trổ kim liên báu thành.

Ngoài pháp môn Tịnh độ tông tha cầu Phát lực. Đức Bổn Sư còn khai thị pháp môn Thiền tông, tức pháp môn tự lực tu hành, tự mình trau tâm sửa tánh, trừ diệt thất tình lục dục cho không còn ô nhiễm:

Thoát vòng tứ tướng mới khôn,

Ly đường lục tặc lập đồn minh quân.

Và cho đạt được Bồ đề diệu quả, đến bờ bên kia, cần phải tinh tấn tu hành, quyết tâm lướt mọi gian lao nguy khổ:

Quyết lòng lên chốn tháp san,

Tầm Ba la mật gian nan chi sờn.

Kỳ viên quyết dạ đời chon,

Tầm Bồ để quả làm huờn hộ thân.

Chủ yếu của phép tu Thiền tông là đạt đến chỗ minh tâm kiến tánh. Mỗi chúng sanh đều sẵn có bản tâm thanh tịnh, vĩnh viễn trường tồn, bất di bất dịch, nhưng vì thiên chấp sắc tướng mà lu mờ chơn giác; vì thế mà lầm nhận cái không làm có, cái có làm không. Do chỗ mê lầm ấy mà lăn lộn mãi trong tam đồ lục đạo. Chỉ có trở về với bản tánh thanh tịnh, nhận rõ cái lý: sắc tức thị không, không tức thị sắc thì mới dứt đường sanh tử, phản bổn hoàn nguyên, như Đức Bổn Sư đã nói:

Sao cho sắc tức thị không,

Một câu phản lão hoàn đồng mấy ai!

Phật xưa từ chốn kim giai,

Ma ha hai chữ giồi mài tánh gương

Và cho được đạt lý chơn không, theo Đức Bổn Sư, phải dùng phép tham thiền quán tưởng.

Trong siêu thăng kinh, Ngài có luận giải về phép quán như vầy: “Quán dung thông tức là chơn quán, như thanh tịnh quán, quảng đại trí huệ quan, từ bi quán; hễ thường nguyện thường chiêm ngưỡng thanh tịnh thì ánh sáng trí huệ hiện ra, phá tan mọi hắc ám. Khi đã đạt lý viện dụng, mới biết: có niệm như không niệm, có sanh như không sanh, có tu như không tu, có chứng như không chứng, có thuyết như không thuyết. Sự tức là lý, lý tức là sự, tướng tức là phi tướng, phi tướng tức tướng; vô lượng là một, một là vô lượng; Tha Phật tức ngã Phật, ngã Phật tức tha Phật, ta nói pháp tức Phật nói pháp, Phật nói pháp tức ta nói pháp. Thế nên tâm tức Phật, Phật tức tâm”.

Chỉ một cái tâm đó mà hễ giác thì thành Phật, còn mê thì làm chúng sanh.

Trong đời già trẻ ai ai,

Biết thời làm Phật, mê thời chúng sanh.

Thiên đàng Địa ngục chẳng quanh,

Nương theo bổn phận, lợi danh chớ gần.

Đó là yếu lý thiền pháp vô vi Phật. Trong Siêu thăng kinh, Đức Bổn Sư cũng nhận rằng: ”Hữu động chi động xuất ư bất động. Hữu vi chi vi xuất ư vô vi. Vô vi tắc thần qui, thần qui tắc vạn vật vân tịch. Bất động tắc khí manh, khí manh tắc vạn vật vô sanh.” Có nghĩa: Cái động là từ trong hữu động mà ra, cái vi là từ trong vô vi mà có. Hễ vô vi thì nguơn thần qui tụ mà nguơn thần qui tu thì vạn vật vắng lặng. Còn bất động thì khi ngưng, mà khi ngưng thì vật không sanh.

Vì vậy mà Ngài cực lực bài bác âm thinh sắc tướng, vì Ngài cho đó là phi đạo, nếu nương theo thì không khỏi huân tập tà kiến. Ngài có viết:

Xuất thế vi nhân tu hướng thiện,

Phỏng cầu Đại Đạo lão tham thiền.

Thinh âm sắc tướng giai phi đạo,

Thiết vật tin tà tập ngoại biên…

Tạm dịch: Kẻ xuất thế khá tua hướng thiện,

Sớm tham thiền mới kiến Ma ha.

Âm thinh sắc tướng đều tà,

Chớ nên tập nhiễm đọa sa lạc lầm.

Xem đó đủ thấy giáo lý của Đức Bổn Sư không khác giáo lý của Đức Phật Thầy Tây An. Sở dĩ về nghi thức hành đạo của Ngài còn thiên trọng về thinh âm sắc tướng như chúng ta đã thấy, chẳng qua là một phương tiện quyền xảo để bảo tồn giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương trong lúc quân Pháp thẳng tay đàn áp. Cốt yếu của một nền đạo là ở phần giáo lý, người hành đạo nên nhân chân để khỏi thiên trệ về hình thức Phật-pháp có quyền có thiệt, từ hoàn cảnh mà thực hành, miễn không trái nghịch đến giáo lý thì thôi. Nếu không dùng được thiệt pháp thì dùng đến quyền pháp. Đó là chỗ thắng diệu của giáo pháp nhà Phật.

Đức Bổn Sư thâm hiểu lý đó, nên chi có viết:

Học thời phải xét cho mình,

Phật Nho cũng cứ thơ, kinh mà quyền.

3) Thời-kỳ thứ ba

Thời kỳ thứ ba là thời kỳ phổ biến, bắt đầu từ ông Sư Vãi Bán khoai ra đời cho đến khi Đức Huỳnh Giáo chủ ra mở đạo.

A.- Ông Sư Vãi Bán Khoai.

Sau khi Đức Bổn Sư tịch diệt độ 11 năm thì ông Sư Vãi Bán khoai ra đời. Ông xuất hiện vào khoảng năm Tân sửu (1901) và năm Nhâm dần (1902) nghĩa là cũng còn trong thời kỳ quân Pháp đang thi hành chánh sách đàn áp gắt gao các tín đồ  của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Trước sự khủng bố của quân Pháp. Đức Bổn Sư phải đành thu hẹp phạm vi hoạt động, chỉ lo củng cố chớ không mong gì hành trướng ra được. Để cho nhà cầm quyền Pháp không theo dõi. Ngài phải sửa đổi cách thờ phượng theo nghi thức nhà thiền. Đó là sự bât đắc dĩ. Tình trạng củng cố này nếu mãi kéo dài thì giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương có lẽ phải ngưng trệ và không biết bao giờ mới hoàn thành sứ mạng.

Nhưng với sự xuất hiện của ông Sư Vãi Bán khoai, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã chuyển sang và mạnh tiến  vào thời kỳ phổ biến. Đứng trước chánh sách khắc nghiệt của quân Pháp, hẳn ông phải đổi phương lược mới có thể thoát khỏi kềm tỏa của Thực dân.

Với ông Sư Vãi Bán khoai, một kỷ nguyên mớivề sự truyền giáo mở ra. Bằng phương pháp giả dạng thay hình, khi thì làm người bán khoai, khi thì làm kẻ bán củi, ông xưng khùng xưng điên, đi nơi này chốn nọ, nhứt là ở vùng Kinh Vĩnh Tế và Cao Miên, khuyến hóa dân sanh lo tu hành niệm Phật. Chẳng bao lâu mà khắp dân gian ở miệt Cao miên cũng như ở vùng Long Xuyên và Châu Đốc, tinh thần Bửu-Sơn Kỳ-Hương được hưng khởi. Mặc dù ông không phát phái hay lập chùa chiền hóa độ, nhưng với quyển Sám giảng người đời gồm có 11 thiên mà ông cho truyền bá trong sanh chúng, không còn ai chẳng nhận ông là bực tiên giác trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Người ta thấy lại nhhững điều lập thuyết và giáo hóa của Đức Phật Thầy Tây An, Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư  phản chiếu trong quyền Sám giảng người đời ấy.

Lập thuyết của phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương, như mọi người đã biết, xây dựng trên lý tam nguơn. Cuộc đời xoay vần theo luật: từ Thượng nguơn, đến Trung nguơn rồi Hạ nguơn, khi Hạ nguơn mãn thì trở lại Thượng nguơn, và cứ như thế mãi mãi.

Cứ theo Đức Phật Thầy thì hiện nay xã hội loài người đã bước vào giai đoạn Hạ nguơn sắp mãn để lập lên cõi đời Thượng nguơn như Ngài đã cho biết:

Hạ nguơn đã cuối người ôi,

Nay ta giáng bút để thôi coi đời.

Và Ngài không dứt nhắc đi lại:

Bảo người niệm Phật cho cần,

Việc đời đã tới hầu gần đến đây.

Lập thuyết và giáo lý của Đức Phật Thầy Tây An được ông Sư Vãi Bán khoai hiển thị trong quyển Sám giảng người đời.

Về lý tam nguơn, ông cũng nhận như Đức Phật Thầy.

Tam nguơn nay sắp hết rồi,

Phật Trời hội nghị lập đời Thượng nguơn.

Và ông cho biết:

Trẻ già đừng có nghi ngờ,

Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây.

Thời kỳ mà ông Sư Vãi Bán khoai ra đời lại nhằm thời buổi cực kỳ khó khăn (1901) quân pháp đã đặt vững nền đô hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các cuộc kháng chiến cần vương lần lượt bị dẹp tất. Lòng dân đã chán ngán, đâm ra say đắm những quyến rũ của nền văn minh vật chất từ Tây phương mới du nhập. Trước làn sóng duy vật ồ ạt tràn đến, nền đạo đức cổ truyền một ngày một suy vi, thuần phong mỹ tục càng lúc càng bại hoại.

Trong cửa tu hành, những người thiệt tâm phụng sự Phật-pháp thì rất ít còn người ẩn dương nương Phật bày điều dối mị thì rất nhiều. ông Sư Vãi Bán khoai phải não lòng mà thốt ra những lời than trách.

Sao dám dối thế ngạo đời,

Lên cốt Phật Trời tội đáng hay chưa?

Cạo đầu dối thế nào vừa,

Vào ở nhà chùa gạt chúng nuôi thân.

Hoặc là:

Dối gian quyên tởi của người,

Đem về ăn uống vui cười nghinh ngang.

Cảnh tu hành suy đồi dường ấy thì còn nói chi đến cảnh thế gian. Những người ăn hiền ở lành, noi theo gương xưa tục cổ thì tựa hồ như máy tan trước gió, lần hồi thỏn mỏn, còn kẻ làm gian làm ác, khinh Thánh khi Thần, ngạo đời hại vật thì chẳng khác nào đám người đi hội, càng lúc càng đông. Thấy người tu hành chẳng những không kỉnh vi thì chớ họ còn ngạo báng chê bai, xu phu theo kẻ quyền qui, diễn thành một xã hội đớn hèn đồi bại.

Trong quyển Sám giảng người đời ông Sư Vãi Bán khoai đã mô tả về hạng người ngạo đời hại vật:

Kiêu ngạo cười nói văn vi,

Rủ nhau trâu chó vậy thì làm ăn.

Trần gian lời tục nhạo rằng:

Làm lành đâu có dư trăm tuổi ngoài.

Ăn trộm ăn cắp sống dai,

Chửi mắng nó hoài nào thấy chết đâu.

Về hạng khinh Bạc kẻ cơ hàn và xu phụ kẻ quyền quí:

Thấy ai đói khổ cơ hàn,

Thời lại chẳng màng bỏ xó khinh khi.

Chọn người điều đó phương phi,

Dù võng cậu dì chú thím lăng xăng.

Về hạng người lường công cướp của:

Cho vay gạo quỷ tiền ma,

Lấy lời thập bội đi ra cùng chùa.

Đến đâu nói nịnh nói hùa.

Lường công của thế quê mùa hàn vi.

Đói lòng phải rán mà đi,

Công làm thì có, tiền thì vốn không.

Về hạng người chửi Thánh mắng Thần:

Lại thêm hổn ẩu hùng hào,

Mắng nhiếc Trời Phật biết bao nhiêu lần.

Lại thêm chửi Thánh rủa Thần.

Cho nên mắc phải chung thân đọa đày.

Sống trong một xã hội hư hèn như thế, mà muốn thức tỉnh người đời trở lại con đường đạo đức thiện lương là một điều rất khó. Làm sao cho họ biết nhân biết nghĩa khi mà họ chỉ biết có danh có lợi, toan mưu thiết kế để được vinh thân phi gia, thua thiệt, nhục dục. Làm sao cho họ quầy đầu hướng thiện kính Phật kính Trời khi mà họ đã hoàn toàn mất cả đức tin.

Thế mới biết vai tuồng của ông Sư Vãi Bán khoai trong công cuộc chấn hưng đạo Nhân, xướng minh đạo Phật để làm sáng tỏ giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương là việc làm không phải dễ. Phải tùy cơ duyên của chúng sanh mà đưa ra phương pháp cứu độ, cũng như vị lương y phải tùy bịnh mà lập phương. Phật pháp xả diệu là chỗ đó.

Thế nên, mặc dù cũng đồng có nhiệm vụ xiển dương pháp môn Tu Nhân Học Phật của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, nhưng tùy ở hoàn cảnh xã hội mà ông Sư Vãi Bán khoai khéo léo áp dụng những phương pháp phổ hóa có khác hơn Đức Phật Thầy Tây An và các vị tiên giác, khái yếu có thể phân ra làm hai phần: 1- Phần cảnh tỉnh; 2- Phần chỉ pháp tu.

PHẦN CẢNH TỈNH

Con người một khi mất cả tin tưởng, tin tưởng có Trời Phật, tin tưởng có quả báo luân hồi, tẩm phải ba cái độc: tham, sân, si thì khó mà thức tỉnh họ bằng những lý lẽ cao siêu, khó hiểu. Tâm trạng của họ ví như kẻ đang chạy mau, dầu có khuyên bảo điều chi, họ cũng không nghe kịp. Vậy muốn cho họ nghe,  phải bảo họ dừng lại, cũng như muốn khuyên người làm lành, trước phải ngăn đừng cho họ làm ác nữa, như lời Phật đã dạy răn. Nhưng làm cách nào cho những người mất đức tin, đang giong ruổi trên con đường tội lỗi kia đứng lại?

Ông Sư Vãi Bán khoai đã khéo chặn đứng họ lại bằng cách báo động cho họ biết rằng phía trước có cái vực sâu, nếu họ cứ tiếp tục chạy tới mãi thì chẳng khỏi rơi xuống vực. Cái vực sâu mà ông Sư Vãi Bán khoai muốn nói đây là ngày “Phật Trời hội nghị lập đời Thượng nguơn”, vì lẽ “Tam nguơn nay đã hết rồi”. Và trong những ngày hội công đồng phán xét ấy:

Phật Trời Thần Thánh đâu dung,

Mấy đứa hung ác còn dung nỗi gì!

Người nào niệm Phật từ bi,

Thần lành theo giữ sợ gì mang tai.

Lung lăng hung ác ỷ tài,

Thời cơ thần dữ theo hoài hai bên.

Khuyên trong thiên hạ gần xa,

Phải suy phải xét trẻ già chớ ươn.

Tôi đã biết hết tỏ tường,

Tội phước hai lẽ không phương nào lầm.

Tu hành thì đặng thiện tâm,

Ác nhơn lại mắc cõi âm luân hồi.

Rồi nhân đó, ông cắt nghĩa lý luân hồi quả báo:

Luân hồi xem thấy mà ghê,

Làm trâu làm chó nhiều bề thiết tha.

Làm tôi làm mọi vậy mà,

Sanh ra heo ngựa, tội ta đền bồi.

Và khi người đời thức tỉnh, nhận rõ con đường tội phước, ông Sư Vãi Bán khoai mới khuyên tu:

Tôi khuyên hết thảy chợ quê,

Ráng mà tu niệm chớ hề nghinh ngang.

Rồi ông biện giải về ích lợi của sự tu hành, của người làm lành lánh dữ:

Nói cho già trẻ đặng làn,.

Rán mà tu niệm Ngọc Hoàng thứ dung.

Bớt bớt việc dữ việc hung,

Lo làm nhơn đức, việc hung đừng làm.

Thời là mới đặng thanh nhàn,

Có thuyền Bát nhã xuê sang rước về.

Ông quả quyết rằng kẻ tu hành thì chắc chắn được thanh nhàn, đắc đạo, vì theo ông:

Thú vật tu hỡi còn thành,

Người sao chẳng biết làm lành tu thân.

Mấy người ác đức bất nhân,

Không coi theo thú trau thân tu hành.

Thú vật cái ác còn thành.

Người cứ làm lành vốn thiệt Như Lai.

Sự tu đã quý báu và chắc chắn như thế, nhưng mà tu bằng phương pháp nào?

PHẦN CHỈ PHÁP TU

Giáo lý hay pháp môn hành đạo của ông Sư Vãi Bán khoai có thể tóm lược trong hai câu sau đây:

Niệm Phật phải giữ Tứ Ân,

Ơn nhà ơn nước xử phân trọn nghì.

Nghĩa là gồm có hai giáo pháp: Tu Nhân (Tứ Ân) và Học Phật (Niệm Phật).

Về Tứ Ân: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, và Ân đồng bào nhân loại, ông Sư Vãi Bán khoai cũng như  Đức Bổn Sư, đặc biệt biểu dương tinh thần Hiếu hạnh đối với Tổ tiên cha mẹ, và Nghĩa khí đối với quê hương đất nước, như ông thường nhắc nhở:

Minh tâm là sách Hớn đàng,

Hiếu chỉ rõ ràng sao chẳng học coi.

Luật Nam nghĩa lý hẳn hòi,

Ơn cha nghĩa mẹ sự vua trung thần.

Thiệt là luân lý Tứ Ân,

Sao không lấy đó xử phân lấy mình!

Về ân Tổ tiên, ông không dứt lặp đi lặp lại:

Cửu huyền thất tổ đừng quên,

Vừa hương bát nước chẳng nên sai lầm.

Hoặc là:

Tu là kính trọng mẹ cha,

Cầu Trời cầu Phật Di Đà cứu an.

Còn về ân đất nước, ông chỉ cho thấy gương những vị anh hùng vị quốc vong thân đã được người đời ghi công dựng miễu:

Không coi mấy vị Thánh Thần,

Trung quân ái quốc nhân dân miễu thờ.

Đến như giáo pháp Học Phật, ông Sư Vãi Bán khoai không chủ trương cả Thiền Tịnh song tu như Đức Phật Thầy Tây An hay Đức Bổn Sư, mà chỉ xiển dương và phát huy pháp môn Tịnh độ, nhứt tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu vãng sanh về Cực lạc. Ông cực lực tán thán pháp môn niệm Phật, vì theo ông niệm Phật sẽ được nhiều lợi ích như sau:

1. Cải sửa tánh tình:

Niệm Phật phải sửa tánh tình,

Ở ăn ngay thẳng chớ tình phang ngang

2. Diệt trừ tham, sân, si:

Niệm Phật bỏ tánh câu mâu,

Thì sau mới đặng một câu thanh nhàn.

3.Giải phiền não:

Niệm Phật vui thú thảnh thơi,

Buồn sầu giải hết, mặc người cười chê.

4. Tăng lòng thương người, mến vật:

Niệm Phật hầm hút cháo rau,

Thương người tàn tật sang giàu đừng ham.

5. Tiêu trừ tật bịnh:

Niệm Phật tật bịnh tiêu tan,

Như sương tan tác như hồ nước trong.

6. Được thần linh bảo hộ:

Niệm Phật có bốn thần linh,

Thường thường bảo hộ bên mình mộ khan.

7. Được Phật vãng lai cứu nạn:

Niệm Phật có Phật vãng lai,

Lâm cơn nạn tám Phật sai cứu mình.

8. Cứu được Cửu huyền thất tổ:

Niệm Phật thọ mạng tăng long,

Cửu huyền thất tổ đặng về Tây phương.

9. Được hiển vinh

Rán mà niệm Phật cứu  mình,

Đến chừng lập hội Long đình hiển vinh.

10. Được vãng sanh về Cực lạc

Niệm Phật sen nở đợi chờ,

Cây nào bóng nấy bốn mùa tốt tươi.

Hay là:

Niệm Phật Cực lạc hân hoan,

Ta bà khổ não giàu sang mấy hồi.

Pháp môn niệm Phật đã thù thắng như thế, cho nên ông Sư Vãi Bán khoai khuyên phải gắng công trì niệm, chí thành chí thiết thì chắc chắn được kết quả, chẳng khác người trồng cây thì thế nào cũng đâm chồi nảy tược:

Niệm Phật như thể trồng cây,

Vun phân tưới nước thì cây đâm chồi.

Ai mà niệm Phật thả trôi,

Cũng như cây bén mà người nhổ lên.

Lập vườn muốn lập cho nên,

Đặng nhiều cây nhánh vững bền dài lâu.

Ở đời ít kẻ lo âu,

Niệm Phật ít tiếng, câu mâu nhiều lời.

Sở dĩ ông Sư Vãi Bán khoai về Học Phật và khuyên người chí quyết niệm Phật là vì pháp môn này chẳng những dễ tu mà còn kết quả lại chắc chắn. Phương chi, người đời lúc bấy giờ tâm trí còn hoang mang, căn cơ còn thiểu bạc, nếu nhứt thiết đem giáo lý cao siêu của Thiền tông chỉ dạy thì không khỏi làm cho họ chán nản.

Vả lại, ông Sư Vãi Bán khoai ra đời trong một thời gian quá ngắn, rày đây mai đó, không kịp lập quy mô một nền đạo thì thiết tưởng sự giáo hóa của ông được bấy nhiêu kể cũng nhiều lắm rồi. Với cái hoàn cảnh xã hội như thế, ông không thể làm hơn nữa được, vì ông chỉ có sứ mạng chuẩn bị, đến như công trình chấn hưng giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương phát huy pháp môn Tu Nhân Học Phật trên những quy mô rộng lớn và xiển minh giáo lý siêu mầu của Đức Phật, còn phải chở công hoằng hóa của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

B.- Đức Huỳnh Giáo Chủ

Đến Đức Huỳnh Giáo Chủ, khi Ngài ra đời, để dễ bề phổ hóa, Ngài cũng giả dạng, xưng hiệu khùng điên, đi đây đi đó, thức tỉnh chúng sanh như ông Sư Vãi Bán Khoai. Nhờ phương pháp khi ẩn khi hiện ấy mà sự truyền bá được lan rộng khắp nơi, mặc dù lúc bấy giờ quân Pháp cực lực đàn áp và truy nã tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Nhân thấy thời kỳ đô hộ của Pháp sắp mãn và ngày biến chuyển hầu gần, Đức Huỳnh Giáo Chủ chánh thức ra khai đạo, nhằm ngày 18 tháng 5 Kỷ mão (1939), để kịp kỳ khởi sắc và xiển minh giáo pháp Tu Nhân Học Phật. Sau một thời gian ngắn dùng huyền diệu của Tiên gia bộ bịnh và ra Sám giảng thức tỉnh người đời, Ngài gây nên một phong trào đạo hạnh chưa từng thấy.

Mà được như thế là vì, sau khi đem đối chiếu ngôn hạnh của Ngài Đức Phật Thầy và Sư Vãi Bán Khoai, người đời nhận thấy có sự đồng nhứt tư tưởng và chuyển kiếp. Có thể nói, nơi  Đức Huỳnh giáo chủ, tập trung cả một thế hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương vì rằng chưa hoàn thành thì nay đều được Đức Huỳnh Giáo Chủ xiển minh và phát triển.

Về nghi thức thờ trần điều, khởi thỉ từ Đức Phật Thầy Tây An và đã biến hình trong giai đoạn của Đức Bổn Sư, đến Đức Huỳnh giáo chủ, đã được phục hồi như cũ. Về giáo pháp cũng thế, pháp môn Tu Nhân Học Phật do Đức Phật Thầy khai thị, đến Đức Huỳnh Giáo Chủ, được xiển minh và trình bày có hệ thống. Ngài luận giải về Tứ Ân, Tam nghiệp, Bát chánh, Tứ diệu đề, Thập nhị nhân duyên cùng mọi nghi thức thờ phượng và tu hành rất tin tưởng, rất dễ cho tín đồ nương theo đó mà tu học.

Mặc dù Ngài không phát phái, nhưng với sự đối chiếu tư tưởng, nghi thức thờ phượng và giáo pháp hành đạo mà Ngài đã giáo hóa, người ta nhận rõ Ngài là một vị kế truyền chánh thống của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Tại đâu Ngài không phát phái? Ngài có đáp đại khái: ở đời hung ác nầy, nếu phát phái thì rất có hại, vì rằng kẻ không có lòng phái sẽ tìm cách cướp đoạt khi họ có quan niệm rằng lòng phái sẽ có công hiệu để xuất trình đi đến hội. Như vậy, người có lòng phái sẽ gặp nhiều tai hại, chẳng khác người có tiền của trêu bẹo trước kẻ trộm cướp bất lương. Và càng hại hơn nữa là không tránh khỏi sự ruồng bắt và đàn áp của quân Pháp.

Tuy rằng không phát phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương nhưng trong sám giảng và thi thơ của Ngài, người ta vẫn gặp rất nhiều bài thơ khoán thủ bằng bốn chữ báu linh ấy. Chẳng hạn như:

Bửu châu công luyện chốn non Tần,

Sơn thủy môn giang bảo giác dân.

Kỳ quái chờ nơi thiên nhứt định.

Hương nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

Hoặc giả:

Bửu ngọc vãng lai rõ đạo mầu,

Sơn tầm hạnh Thích nẻo cao sâu.

Kỳ giả thức tâm tìm đạo lý,

Hương tuyệt đăng lai bái phục cầu.

Những bài thơ khoán thủ như trên, kể ra còn nhiều, không sao trích lục hết được. Xem đó, Ngài đã mặc nhiên cho đời nhận thấy Ngài là vị kế thống của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương rồi. Do đó mà tín đồ của các bực tiên giác, trước kia là những chi phái riêng biệt, đã kết thành một khối dưới sự hoằng hóa của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương nhờ vậy mà phổ biến rất mạnh trong sanh chúng.

Khi nhận thấy ảnh hưởng của đạo Phật Giáo Hòa Hảo do Đức Huỳnh giáo chủ khai sáng một ngày một lớn và thực ra là cùng một giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, quân Pháp ra tay khủng bố. Chúng cho điệu Ngài từ Hòa Hảo qua Châu Đốc rồi đưa đi an trí ở Sa Đéc, Cần Thơ, Sài Gòn và Bạc Liêu. Nhiều tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo lần lượt bị bắt đày đi Bà rá, Côn Nôn; Sám giảng bị tịch thâu bị cấm.

Quân Pháp tưởng thi hành chánh sách khắc nghiệt như thế là chặn được tiến triển của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, nhưng không dè, càng đưa Đức Huỳnh Giáo Chủ đi an trí đến đâu thì pháp môn Tu Nhân Học Phật  của Ngài càng  được phổ biến rộng ra chừng nấy.

Trong một bài thơ viết tại Sa đéc, Ngài có nói rằng:

Ta còn thương, thương trò lịu địu,

Chớ cũng mừng được dịp phổ thông.

Và theo Ngài:

Càng đi càng biết nhiều nơi,

Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.

Thế nên mặc dù bị quân Pháp đàn áp, nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo nói riêng, Bửu-Sơn Kỳ-Hương nói chung không vì thế mà ngưng trệ, trái lại càng phổ biến và bành trướng mạnh mẽ.

Cũng như gần đây; bọn vô thần tìm đủ phương pháp tiêu diệt, bằng cách thủ tiêu tín đồ và ám hại Đức Huỳnh Giáo Chủ, nhưng càng bị khủng bố, nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như cây được tưới nước, càng thêm phát triển. Có thể nói đây là thời kỳ cực thịnh và phổ biến rộng rãi của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

Đã hai lần bị Thực dân và Cộng sản, là hai đối địch nguy hiểm, đàn áp mà nó không tan rã thì không còn chướng ngại nào có thể chận đứng sức phát triển của nó được. Mà sở dĩ giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương còn tồn tại và phát huy là nhờ ở pháp môn Tu Nhân Học Phật, chẳng những thích hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp mà còn đào luyện nơi kẻ tính phụng nó, một tinh thần sùng đạo và vị  tha cao cả.

Đó là yếu tố siêu thắng của pháp môn Tu Nhân Học Phật của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.


1. Khai-triển Pháp-môn Tu Nhân Học Phật

Khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là Đức Phật Thầy Tây An, còn đem ra thực hành và áp dụng trong đời sống xã hội là Đức Huỳnh giáo chủ.

Từ Đức Phật Thầy Tây An trải qua Đức Phật trùm, Đức Bổn Sư, ông Sư Vãi bán khoai, pháp môn Tu Nhân Học Phật vẫn giữ cái  hình thức khái yếu cho đến ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời mới lập thành hệ thống.

Có thể nói Đức Huỳnh Giáo Chủ là người xướng minh pháp môn Tu Nhân Học Phật. Ngài đã dày công diễn giải Tứ Ân, luận về Tam nghiệp, thập thiện, Bát chánh, Tứ diệu đề, Thập nhị nhân duyên… một cách rành mạch tận tường. Ai đọc đến cũng dễ dàng lãnh hội mà nhận thấy rằng các ngài tiên giác trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương chính thật là những vị kế thống mối Đạo của Đức Phật Thích Ca truyền dạy từ Đức Ca Diếp cho đến Đức Lục tổ Huệ Năng.

Nhưng đạo Phật sở dĩ thất chơn truyền từ một ngàn năm nay, như Đức Huỳnh Giáo Chủ cho biết là bởi Thần Tú bày ra nhiều điều tà mị, mê tín dị đoan biến chốn thiền môn thành nơi ẩn thân của hạng người lỡ thời thất vận. Vì thế, kẻ tu hành thì nhiều mà đắc đạo thì chẳng có một ai.

Chính với mục đích hưng truyền mối Đạo vô vi của Phật và dìu dắt chúng sanh trở lại con đường chánh đạo để kịp kỳ dự Hội Long Hoa mà các vị tiên giác lâm phàm.

Nhưng trong thời kỳ mạt pháp này, muốn giáo hóa chúng sanh cho có đủ hạnh đức để kịp dự Hội Long Hoa là điều rất khó, vì rằng con người sanh ra trong thời kỳ này hầu hết đều căn cơ thiển bạc, công đức mỏng manh, lại gặp buổi Hạ nguơn gấp rút, nếu không có pháp môn hành đạo vừa thích hợp với trình độ cơ cảm của họ, vừa có công năng giúp họ hoàn bị công đức tự lợi lợi tha trong một thời gian ngắn thì không làm sao cho kịp.

Vả lại, giáo pháp của Phật chú trọng ở sự thực hành, luôn luôn thệ nguyện “Trên đáp bốn trọng ân, dưới cứu ba đường khổ” cho nên ngoài việc xiển minh đạo Phật hưng truyền chánh pháp của Đức Thích Ca, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương còn khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật để giúp chúng sanh có phương tiện và cơ hội lập công bồi đức, hầu gây lấy phước duyên làm nền móng cho bước đường tiến tu trong buổi Thượng nguơn hay vãng sanh về Cực lạc.

Nhận thức cơ biến chuyển hầu kề. Hội Long Hoa sắp mở và để kịp chuẩn bị đồ chúng đón rước sự giáng lâm của Đức Di Lặc, Đức Huỳnh Giáo Chủ sau một thời gian mở cơ phổ hóa, đem giáo lý của đức Phật rèn luyện tín đồ có được một nền đạo đức căn bản, bèn bước sang giai đoạn hành động, hướng dẫn môn nhơn đệ tử tham gia công cuộc ích nước lợi dân.

Gặp khi nước nhà tranh lại quyền tự chủ, gỡ ách thống trị của ngoại bang. Ngài chẳng ngại đứng lên thành lập quân đội và tham gia chánh trị.

Có người e ngại cho sự hoạt động của Ngài có trái với giáo pháp của Đức Phật chăng thì Ngài có đáp rằng: “Đối với toàn thể tín đồ Phật-giáo, tôi vẫn  không quên tôi là một đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh  chẳng những được truyền bá ở thiền lâm mà còn phải được thực hiện trên trường chánh trị”.

Đối với đức Phật, giữa chúng sanh có sự bình đẳng về thể tánh, nếu như có kẻ lợi dụng sức mạnh trí khôn lanh của mình áp bức kẻ hèn yếu hay kém thông minh, chẳng là trái nghịch với giáo lý bình đẳng đấy ư?

Phương chi, trong sự binh vực lẽ công, bảo vệ quê hương đất nước, lại không vì lợi danh mà là vì đền đáp nợ Tứ Ân, vi vị tha bác ái của nhà Phật.

Trong pháp môn bố thí không có hạnh nào khó hành bằng hạnh vô úy thí, hy sanh cả tánh mạng, Đức Phật, trong vô lượng kiếp từng thí thân để làm lợi lạc cho cả muôn loài vạn vật. Nhờ công đức ấy mà trên đường tu hành, Ngài siêu được nhiều kiếp.

Thì nay, trong thời kỳ gấp rút của buổi Hạ nguơn muốn gây lấy công đức để đi đến Hội Long Hoa, sống còn trong buổi Thượng nguơn, thử hỏi còn hạnh nào siêu thắng bằng hạnh vô úy thí, xả thân giúp nước cứu đời.

Ai sanh ra ở đời lại không tiếc thân quí mạng. Đến như tiền của là vật phù du mà người ta còn tiếc tham không đành đem ra bố thí thì hà huống là xả thân hiến mạng. Việc khó làm mà làm được, làm không chút tư lợi mới là đáng quý.

Thử nghĩ, gặp buổi ngoại tặc xâm lăng quê hương đất nước, nạn binh lửa tràn lan, cướp bóc hành hung nhà tan cửa nát, thân người không yên, cha lạc con, vợ mất chồng mà có người đem thân ra chống ngăn dẹp loạn, đem lại an ninh trật tự, nhà nhà ở yên, không còn lo âu sợ sệt, thì còn công đức nào bằng.

Chính với ý nguyện muốn cho tín đồ có cơ hội lập công bồi đức mà Đức Huỳnh Giáo Chủ tham gia chánh trị và thành lập nghĩa quân.

Nếu làm tròn bổn phận đối với đất nước đồng bào, chẳng những đền đáp Tứ Ân mà còn trả xong nợ tiền khiên túc nghiệp. Một khi oan trái đã dứt thì có khó gì chẳng đến được cảnh giới siêu mầu của Tiên Phật.

Đức Huỳnh Giáo Chủ có nói:

Trả cho rồi nợ tiền khiên,

Đến ngày hiệp mặt kiểng Tiên vui vầy.

Ông Thanh Sĩ cũng nhận rằng:

Luân thường người hãy thích ưa,

Đạo nhân vẹn phận tam thừa cũng xong.

Phải làm tròn đạo nhân, phải xả thân giúp đời, phải làm theo lời dạy của Phật, đó là yếu chỉ của pháp môn Tu Nhân Học Phật mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã tự thân đứng ra thực hành và hướng dẫn môn nhơn đệ tử cùng thực hành theo.

Dầu lập quân đội hay hoạt động chánh trị, đó chỉ là những phương tiện để đạt đến mục đích là xả thân giúp đời, tạo lấy công quả bồi đắp cho bước đường cầu đạo siêu sanh mà cứu cánh là đi đến cõi Thượng nguơn nghe pháp mầu của Đức Di Lặc hầu được hoàn toàn giải thoát, hay vãng sanh về cõi Cực lạc.

Đã hiểu được mục đích của bước đường tiến tu thì không còn phải e ngại khi dùng đến phương tiện.

Vả lại thời cơ đã đến cho mình trả nợ Tứ Ân và cũng là vận hội lập công bồi đức thì còn tiếc gì mà chẳng xả thân giúp đời.

Với ý nguyện vị tha lợi chúng, người hành giả Tu Nhân Học Phật, dầu gặp phải hoàn cảnh khó khăn, gian lao nguy hiểm, vẫn xem thường tánh mạng, say sưa với nghĩa vụ giúp đời, không mong được trả ơn, vì đó là một bổn phận.

Đức Huỳnh Giáo Chủ há chẳng khuyên:

Giúp đời đừng đợi trả ơn,

Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.

Thế nên, dầu có được địa vị sang trọng nào, người hành giả tu Nhân học Phật cũng không lấy làm thích thú hay trước nhiễm, vì họ xem đó như là một lớp áo mưa mặc bên ngoài, khi hết mưa lại cởi ra cũng như kẻ lữ hành phải bỏ thuyền khi đến bến.

Huống chi, trò đời là một tuồng huyền hóa, mọi vật đều tạm giả thì có gì trường tồn vĩnh cửu đâu mà trước nhiễm đắm say. Kia nào có khác chi những vai khanh tướng công hầu trên sân khấu, chỉ vì lớp lang phải múa meng rối rít, chớ một khi hết lớp hạ màn, hia mão cởi  ra thì đào kép vẫn hoàn đào kép. Còn chăng chỉ những tiếng khen chê của khán giả.

Nếu mọi người đều biết tuồng đời là một sân khấu, con người là một trò hề thì dầu có đóng vai chi cũng không lấy đó làm thực mà luyến tiếc mão hia.

Đức Huỳnh giáo chủ đã từng nói:

Thuyền bát nhã ta cầm tay lái,

Quyết đưa người khỏi bến sông mê.

Nên phải đành mang lốt làm hề,

Mặc bá tánh khen chê cũng phải.

Như thế đủ thấy, dầu có dùng phương tiện “làm hề” mà đạt được mục đích “đưa người khỏi bến sông mê” thì chẳng ngại gì tiếng “khen chê” của bá tánh.

Phải giúp đời, xả thân cứu đời, không màng lợi danh quyền tước, đó là bản nguyện của chư Phật Thánh Tiên, mà đó cũng là phương châm của hành giả Tu Nhân Học Phật trong buổi Hạ Nguơn gấp rút này mà Đức Huỳnh Giáo Chủ lãnh lấy sứ mạng thực hiện.


2. Sứ-mạng Đức Huỳnh Giáo-Chủ

Về sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ, ông Thanh Sĩ có viết:

“Chúng ta dù phải lăn lóc gai chông, lấm lem bùn trịnh mà lòng không núng nao thối chuyển là vì chúng ta thấy rõ sứ mạng của Đức Thầy đối với nhân sanh trong buổi này. Và hiểu biết tường tận tâm đức của Đức Thầy, chúng ta mới đeo đuổi đạo lý đến cùng không để tâm lui sụt.

Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

Đức Di Đà truyền mở đạo lành.

Bởi vì Ngài thương khắp chúng sanh,

Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.

“Đoạn này Đức Thầy nói người đời nay muốn tu tỉnh rất may được gặp Đức Di Đà sắc lịnh cho Ngài ra đời khai mở mối đạo thì cứ mạnh mẽ tin tưởng để qui đầu theo Phật pháp.”

“Sở dĩ Đức Di Đà sắc lịnh cho Đức Thầy ra đời khai sáng mối đạo, vì tâm Đức Phật  quá thương xót chúng sanh ở buổi Hạ nguơn đã chịu lắm đau khổ và sẽ không khỏi bị tận diệt, nên Ngài không những sắc lịnh cho Đức Thầy xuống trần mà còn truyền cho các vị Bồ Tát, La hán khác đồng hạ phàm tùy căn cơ, tùy bản xứ và tùy nhân tâm dạy bảo giáo pháp thích ứng khiến cho chúng sanh vui vẻ thực hành theo hầu được chút phước duyên để tránh khỏi ngày thống khổ.

“Xem đoạn trên đây, chúng ta thấy Đức Thầy ra đời có sắc lịnh của Đức Di Đà, Đức Phật Tổ, chớ không phải việc ngẫu nhiên.

“Thiệt ra đối với Đức Thầy, dù chúng ta chưa được cảm thông máy huyền vi, chưa được sự mách bảo của các đấng vô hình đi nữa, nhưng chỉ xét trong kệ giảng của Ngài, chúng ta cũng được hiểu biết một phần về sứ mạng của Ngài ra đời trong thời kỳ nầy với mục đích thi hành năm khoản chính như sau:

1. Báo tin ngày tận diệt sẽ tới;

2. Đưa các thiện căn đến kỳ đại hội Long Hoa;

3. Đánh thức các linh hồn đã gieo rắc thiện duyên cùng Ngài ở nhiều tiền kiếp;

4. Phò trợ Thánh Vương;

5. Chấn hưng đạo Phật.

“Lẽ thứ nhứt, Đức Thầy ra đời là Ngài nhận thấy buổi tận diệt của nhân sanh gần đến, Ngài không nỡ ngồi nơi ngai vị Phật quốc hưởng lấy yên vui một mình để cho nhân sanh chết dưới cảnh tàn hại của nạn binh lửa ở thế gian, nên Ngài xuống trần, trong kệ sám Ngài luôn luôn nhắc đi nhắc lại việc tận thế để đánh thức lòng người sớm bỏ dữ về lành, cải tà quy chánh, trừ việc lòng tham, khởi tâm bố thí, dứt sạch mê muội trở lại bổn tánh minh mẫn và luôn luôn lo việc lành việc phải để nhờ sự ủng hộ của Thần Thánh ngày kia, dù quả Địa cầu biến đổi, nhân sanh đa nạn, chẳng những mình được thoát qua mà còn được sống đến ngày ơn trên lập đời Thượng nguơn.”

“Lẽ thứ hai Đức Thầy ra đời là Ngài dùng đủ cách để đưa con người hiền thảo đi đến Hội Long Hoa. Cách thức đưa rước ấy là Ngài dùng thuyền Bát nhã, tức là trí huệ của Ngài mở mang tâm tánh đưa chúng sanh được khỏi mê si tà kiến và chỉ bày lẽ huyền diệu đạo lý cho người khỏi tiêm nhiễm ngông cuồng, Khi chúng ta cùng trở lại đường chơn chánh, đó là mỗi chúng sanh đã lên thuyền Bát nhã vững vàng đến cõi giải thoát.

“Lẽ thứ ba Đức Thầy ra đời là Ngài có mỹ ý đánh thức các linh hồn đã bao nhiêu kiếp qua từng gieo sâu duyên lành cùng Ngài, mà giờ nầy họ còn đeo mãi danh lợi, họ còn đương tươm ướp vật dục cho họ có cơ nhớ lại kiếp trước đã từng tu hành, đã từng gặp đạo tu tỉnh, nếu bây giờ quên đi là không khỏi sanh các cảnh giới đê hèn. Vì tiền kiếp Đức Thầy đã từng vào ra ở cõi nầy, phần nhiều là ở xứ sở Việt Nam cũng đã đem lắm lời đạo lý dạy cho nhân sanh, từ vùng nầy đến vùng khác, hoặc dùng diệu dược cho chúng sanh lành bịnh hầu cảm ơn cứu khổ mà tu hành. Chúng sanh ở thời ấy, được sự hóa độ của Đức Thầy và Đức Thầy cũng từng nhờ sự giúp đỡ của họ, nên thời kỳ này là thời kỳ tận diệt. Đức Thầy nghĩ vì các con lành kiếp trước, nên Ngài ra đời để gần họ, nói bên tai họ, hoặc dùng bút mực dạy cho họ ăn năn cải hối, khỏi ngày tận diệt. Nhứt là Ngài muốn cho con hiền thảo ấy cùng Ngài đến Hội Long Hoa hay về cõi Cực Lạc.

“Bởi ngày Hội Long Hoa, có Đức Từ Thị ra đem lời cao siêu như Đức Phật Thích Ca dạy cho chúng sanh nghe tu hành để khỏi chốn mê lầm, khỏi cảnh eo hẹp ở kiếp phàm. Nếu sự tu hành ấy được tinh tấn sẽ đến quả vị bất sanh bất diệt. Nhược bằng kiếp này, chúng sanh chơn chánh mà còn bị quả ác do kiếp trước trả lại, hoặc bị người giết hại mất xác, song linh hồn kia cũng được Thầy Tổ tiếp dẫn về Tây phương an hưởng quả vô sanh. Nếu ý nguyện cứu đời của người ấy chưa mãn thì sẽ trở lại cõi trần dìu dắt chúng sanh tu hành giải thoát.

“Lẽ thứ tư Đức Thầy ra đời là Ngài vì mến ân đức của vị Minh Vương, nên vị Minh Vương ra đời thì Đức Thầy có bổn phận ra theo để giúp đỡ cho Ngài sớm được hoàn thành nhiệm vụ; từ chỗ nước nhà bị thống trị trở lại tự do; từ chỗ nhu nhược được trở nên cang cường; từ chỗ đen tối trở lại màu sáng sủa v.v…

“Lẽ thứ năm Đức Thầy ra đời là nỗ lực chấn chỉnh trùng hưng mối đạo của Phật-Thích Ca đã khai sáng từ lâu mà ngày nay đã biến đổi cái tánh chất tinh vi của nó, nghĩa là đạo Phật trước kia rất chơn chánh cao siêu, các hạng học Phật rất tín thành, nhưng gần đây, vì sự mua danh chác lợi của kẻ nương bóng từ bắt đầu bi, mượn lời Phật pháp làm cho nó suy đồi đi; cảnh  chùa chiền là nơi tượng trưng cảnh Tây phương, cõi giải thoát, nơi thanh tịnh, thế mà bây giờ họ lại chứa đựng kẻ bất lương xảo quyệt, phạm trai phá giới, vì vậy Đức Di Đà cũng như Đức Phật lấy làm đau xót, nên sắc chỉ cho các vị Bồ Tát và La Hán len lỏi xuống cõi thế gian, hoặc vào hạng người làm ruộng rẫy, hạng người buôn bán, hạng vua quan hoặc lẫn lúc trong hàng đĩ điếm v.v… để đánh thức lòng người chưa hiểu đạo lý sớm biết ăn năn. Việc làm ấy, đến chừng nào chúng sanh trở lại bản nguyên rộng lớn của Phật pháp thì lòng chư Phật mới thỏa được.

“Các Ngài có mỹ ý làm cho chúng sanh đến cõi giải thoát song chúng sanh hành sai lạc chơn lý thì phải sa đọa, như thuốc rất hay mà dùng không nhằm bịnh thì có hại. Nên lẽ thứ nhứt các Ngài chủ ý làm cho chơn lý được nêu cao; lẽ thứ hai làm cho chúng sanh hành chánh đường; lẽ thứ ba khi chúng sanh được hành chánh đạo sẽ đến cõi giải thoát. Được thế sẽ không còn chia rẽ chùa này chùa khác, tăng nọ ni kia nữa.

“Mỗi khi xét lại năm khoản vừa kể qua, chúng ta thấy rằng Đức Thầy là vì sao cứu khổ chúng sanh ở thời kỳ nầy, cũng là một tiếng chuông rất thanh, rất lớn trong nền đạo Phật. Ngài sẽ có phương thuốc mầu nhiệm làm cho bịnh mê trong các từng lớp nhân loại hết mê. Thấy vậy lòng chúng ta càng tin mạnh lên và tin chắc rằng: Vì thời quay vận kiểng mà Ngài vắng mặt, chờ ngày kia đến việc thì Ngài cũng trở về làm xong nhiệm vụ, vì nhiệm vụ ấy, với kẻ khác dù có tài hơn cũng không thể thay thế Ngài được.

“Nói tóm lại, đến chừng nào Hội Long Hoa được khai mở cách rõ ràng cho muôn mặt đều thấy, những người thiện, kẻ hiền đức được trở lại vị cũ, nghĩa là những người  tiền kiếp có gieo duyên lành với Ngài nay cùng một nhịp quay về con đường Phật pháp; những kẻ đã làm được việc lành việc phước, từng bố thí chẩn bần, từng thi  ân lập đức đến ngày Hội Long Hoa sẽ chứng đắc quả vị  tại tiền; công việc của Đức Thánh Vương ở thời kỳ ấy khi nào được xong xả … và chót hết khi nào nền đạo Phật được trở lại chơn chánh, từ hạng tại gia, hạng xuất gia đều giữ giới luật tinh nghiêm, không còn sự chê bai hay dối trá nhau thì chừng ấy sứ mạng Đức Thầy mới tạm gọi là xong.

“Nhược bằng ngày tận diệt chưa tới Long Hoa chứ mở, kẻ làm ác chưa quày đầu, người làm lành làm phước chưa hưởng sự vui tươi…  nền Phật giáo chưa được quang minh thì nhiệm vụ Đức Thầy còn nặng và Ngài còn trụ thế lâu ngày để làm xong sứ mạng. Mặc dù kỳ xuống thế này Ngài gặp nhiều tai ách và bị Ma vương khuấy nhiễu song Ngài không nao núng và nhờ các vị Long Thần Hộ Pháp luôn luôn bảo vệ Ngài được bình an, nên sớm muộn gì Ngài cũng làm xong Phật sự.”

Chương thứ IV: Thắng-diệu của Pháp tu Tứ Ân

Giữa lúc Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của họa diệt vong, dân trong nước cả tăng lẫn tục, người thì hoảng hốt vì tiếng đại bác thần công của quân Pháp bán phá khắp nơi, đến mất cả lòng tự tín, kẻ thì trầm mình trong lối tu chán đời, chẳng thiết gì xã hội nhân quần, thì đột nhiên Đức Phật Thầy Tây An xuất hiện, mang lại ánh hào quang minh cho Đời lẫn Đạo.

Trải qua những cuộc loạn lạc dai dẳng hằng mấy trăm năm, hết phân tranh giữa Nguyễn với Trịnh, đến phân tranh giữa Nguyễn với Tây Sơn, các nền tảng đạo lý cổ lai cơ hồ đổ nát.

Đạo nhân nghĩa của Thánh Hiền cũng như đạo giải thoát của Đức Phật, không còn giữ được săc thái truyền thống như đời Lý đời Trần, cái tinh thần khinh tài trọng nghĩa, cái khí phách tiết liệt thanh liêm do đạo Khổng Mạnh đào luyện nên phải thối bộ trước trào lưu khu danh trục lợi; cũng như lối tu thanh tĩnh vô vi chơn truyền của Đức Phật Thích Ca đã pha trộn, hay có thể nói biến thành một lối tu mê tín dị đoan của đám người chán đời thất thế.

Giữa cơn hỗn loạn về tinh thần ấy, sự xuất hiện của Đức Phật Thầy Tây An ví chẳng khác một ánh sáng rọi vào nơi hắc ám, mội hồi chuông cảnh tỉnh, đánh thức những kẻ miên man trong giấc mộng tràng.

Ngài khôi phục lại đạo nhân nghĩa của Thánh Hiền chấn chỉnh thuần phong mỹ tục. Trai thì trung cang nghĩa khí, giữ vẹn ngũ luân; gái thì hiếu hạnh tiết trinh, gìn câu tứ đức. Đó là cả nền tảng đạo Hiếu nghĩa. Tứ Ân mà Đức Phật Thầy Tây An và các vị tiên giác trong giáo hệ Bửu- Sơn  Kỳ- Hương đã dày công hoằng hóa.

Điều quan trọng trong Tứ Ân là Ân đất nước, một ân mà phàm là phận con đâu phải lo đền đáp.

Về Ân đất nước, ông Thanh Sĩ đã giảng giải như sau:

“Năm vóc thân của chúng ta được có là nhờ ở cha mẹ chia xương xẻ thịt cho. Còn sự sống của chúng ta được vững vàng có đủ điều kiện về mặt ở ăn đều nhớ ở đất nước quê hương cung cấp. Hái những cây cỏ lá rau và đứng trên miếng đất của Tổ quốc, cũng như từng nhờ sự truyền thu của nòi giống, đều giúp cho sự sống của chúng ta được có đủ mọi điều nhu cầu, khỏi phải thiếu thốn.

“Nói rõ là sự sống của chúng ta rất nhờ ở đất nước cung phụng, vì thế mà chúng ta lúc nào cũng nhận thấy nơi mình có bổn phận phải nâng thánh đỡ vạc trong lúc quốc gia bị kẻ ngoài vây đạp bức bách.

“Chúng ta phải có đủ cách khôn ngoan khéo léo để làm cho người nhà từ chỗ yếu ớt trở nên mạnh mẽ. Từ chỗ bị thống trị trở lại độc lập phú cường. Gặp lúc nước nhà bị kẻ nước ngoài xâm lấn, chúng ta cần phải nỗ lực cứu cấp như lửa cháy mày, dù phải hy sinh rất nhều và phải vào sinh ra tử, lòng vẫn hăng hái lướt tới và có quả cảm để làm xứng đáng một dân tộc tự giác. Với sự đối địch cùng kẻ ngoại lai là một bổn phận mà lúc nào chúng ta cũng thiệt thi cho kỳ được, nghĩa là làm đến khi nào gót chơn của kẻ ngoại nhân không còn giẫm trên đất nước chúng ta, và họ không còn đàn áp dân tộc chúng ta nữa. Chừng đó nước nhà chúng ta mới được độc lập và dân tộc mới thật tự do.

“Nghĩ vì nước nhà được thanh bình thì đời sống chúng ta mới được vui tươi, cũng như dân tộc có tự do thì sự sinh hoạt của chúng ta mới đầy đủ thế nên dù tốn bao nhiêu xương máu, tâm lực để cứu quốc an dân, chúng ta vẫn hy sinh làm cho đến chỗ vinh quang sáng lạn. Song muốn cứu quốc; lẽ thứ nhứt, chúng ta phải tùy sức lực, tùy tài năng; tùy những điều kiện của mình đã có mà cung phụng cho xứ sở. Chúng ta có thể hy sinh những gì của mình đã có để làm cho xứ sở nhờ đến những lúc đau thương cảnh giặc giã. nhược bằng, chúng ta kém tài, thiếu sức không thể gánh vác mọi việc to tát được thì hãy nhận lấy những việc vừa sức mình để làm; hoặc giả xét vì thời cơ chưa thuận tiện giúp đất nước thà là chúng ta ngồi yên để chịu lấy tiếng không công cán gì, tuyệt nhiên không mó tay vào việc tai hại cho quê hương, nhứt là không giúp tay kẻ địch bằng cách giúp lương tiền hay chỉ ngõ đem đường cho họ tiến chiếm và tàn sát dân tộc mình.

“Dân tộc Việt Nam hơn bốn ngàn năm lịch sử vẫn tự cường và ngang nhiên ở vùng đất chữ S, mặc dầu sống gần con hạm Trung Hoa mà không bị mất một miếng thịt nào cả. Và từng sản xuất rất nhiều anh danh tuấn kiệt, với những chiến sách, với những oai hùng đã từng sức một chống mười, chống trăm, chống ngàn được thắng luôn một cách anh dũng. Bằng chứng là quân nhà Minh, nhà Nguyên, Nhà Thanh qua đây đều thất bại một cách nhục nhã. Với những thế kỷ trước như thế nào thì thế kỷ này cũng vậy. Ông cha chúng ta đẻ chúng ta, nếu ông cha có khí hùng cường thì chúng ta cũng phải có chí hùng cường để làm cho nước nhà đôc lập phú cường, để sánh ngang hàng với các cường quốc, làm cho hương danh của Tổ phu được thơm tho và giúp nước nhà được miên viễn. Với sự cứu quốc quan hệ nhứt là ở giai đoàn này, chúng ta cần nỗ lực đem tài năng của mình để cán đáng một công việc làm lớn nhỏ nào, có thể giúp cho Tổ quốc sớm phục hưng. Có được như thế, chúng ta mới đáp ân đất nước một phần nào vậy.” (1)

Nhờ hấp thu và đào luyện trong pháp môn tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa, các môn nhân đệ tử của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương là những phần tử thiết tha yêu nước đề cao tinh thần dân tộc.

Đức Phật Thầy Tây An ra đời và viên tịch trước khi quân Pháp sang chiếm Việt Nam độ mười năm, Ngài đã biết trước vận nước sắp đến hồi đen tối, quân Pháp sắp giày xéo non sông đất Việt. Tuy không thể cưỡng lại mạng trời, nhưng phàm là phận con dân, đã chịu ân của Tổ phụ dày công xây dựng nên đẫy giang san gấm vóc lưu lại cho cháu con thì há lại để cho ngoại nhân xâm chiếm đễ dàng mà không đau lòng xót dạ. Huống chi trong việc bảo vệ nước non chẳng nhưng tỏ ra được chí hào hùng bất khuất của một dân tộc đã có bốn ngàn năm lịch sử mà tròn bổn phận của con dân đối với quê hương đất nước . Một khi làm tròn bổn phận con dân tức là hành sử được đạo Nhân vậy.

Thế nên khi quân Pháp đặt chân đến đất Việt Nam, hầu hết khối tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đều khởi lên phong trào chống Pháp và bất hợp tác. Từ Đức Phật Thầy Tây An ra mở đạo cho đến ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ ra cứu đời, suốt một thời gian Pháp đô hộ Việt Nam, cái tinh thần kháng Pháp và bất hợp tác không hề lay chuyển trong tin đồ Bửu-Sơn  Kỳ-Hương.

Người nào có đủ khả năng đảm lược thi cử đổ đại sự chiêu mộ nghĩa quân, đứng ra kháng chiến, còn người nào không đủ tài sức thì một mực cự tuyệt không hợp tác với giặc.

Do đó quân Pháp xem giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương là một kẻ thù, một chướng ngại nguy hiểm cho tham vọng thực dân của chúng, cho nên thẳng tay đàn áp, tìm đủ cách tiêu diệt.

Có cần kiểm điểm chăng những thành quả mà đạo Tứ Ân đào tạo nên những đứa con tận trung tận hiếu trong hồi quốc phá gia vong?

Về phương diện kháng chiến chống Pháp, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương có những vị anh hùng như Đức Cố Quản tức Trần Văn Thành, cụ Nguyễn Trung Trực và gần đây Đức Huỳnh giáo chủ. Đạo Tứ Ân đã đào nơi những vị anh hùng kháng chiến, chí hy sinh cao cả, vì nước quên mình.

Những gương trung nghĩa, hiền từ, kiên trinh, khí tiết… còn nhiều không sao kể xiết. Nói tóm lại trong thời kỳ quân Pháp sang chiếm Việt Nam, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương nhứt tâm chủ trương kháng chiến và đề cao tinh thần bất hợp tác.

Đó là chỗ thắng diệu của pháp môn Tu Nhân Học Phật.

 

Những anh-hùng kháng Pháp

A.- Đức Cố Quản

Ông tên tộc là Trần Văn Thành, hồi trào vua Thiệu Trị và Tự Đức làm đến chứng chánh quản cơ. Có lẽ người đời gọi ông Trần Văn Nhu trưởng nam của Ngài bằng cậu, nên vì kính trọng mà gọi Ngài là Đức Cố. Ngài quê quán ở cù lao Nhỏ thuộc xã Bình Thạnh Đông. Tổng An lương, tỉnh Châu đốc. Trên bước đường võ nghiệp, Ngài đã lập nhiều chiến công hiển hách. Ngài đã cầm quyền đánh tan giặc Miên nhiễu hại biên thùy và đã thu phục được hai tướng Miên là Ông Bướm và ông Vôi.

Khi Đức Phật Thầy Tây An giáng lâm ở Xẻo môn rạch Ông chưởng, tỉnh Long Xuyên, cứu dân độ thế, Đức Cố Quản thân đến ra mắt, nhưng vì bịnh nhơn đông đảo nên Ngài phải ở đợi trong ba hôm mới được Đức Phật Thầy Tây An cho mời vào và được Đức Phật Thầy tiếp đón và đàm đạo rất tâm đắc.

Ngài trở về Bình Thạnh Đông cùng khuyên gia quyến quy y. Khi Đức Phật Thầy Tây An về ở Núi Sam. Ngài phế cả sự nghiệp mà theo Thầy, đem gia cư về núi Doi, phá rừng dựng lên làng Hưng Thới. Ngài được Đức Phật Thầy giao phó trọng trách đi cắm 4 cây thẻ tại vùng Thất Sơn và giữ trại ruộng Bửu Hương Các ở Láng Linh.

Ngài là một trong Thập nhị HIền thủ được Đức Phật Thầy truyền nhiều bí pháp. Có thể nói Ngài là một đệ tử bậc nhứt của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đã hành sử và thực thi đạo Tứ Ân trong công cuộc phục vụ chánh nghĩa quốc gia.

Gặp hồi nhà nghiêng nước đổ, quân Pháp đến xâm chiếm Việt Nam, các nơi nhiều vị anh hùng như Trương Công Định ở miền Đông, Thiên hộ Võ Duy Dương ở Đồng Tháp dấy binh khởi nghĩa Cần vương, Đức Cố Quản chiêu mộ nghĩa binh kháng địch.

Ông Vương Thông, có tả tình hình nước nhà lúc bấy giờ trong những câu:

Bây giờ đến lúc gập ghình,

Giặc thời lấy nước lánh mình đi đâu.

Các quan ẩn ánh san đầu,

Chiêu binh ra đánh giải sầu một phen.

Nam Kỳ có tướng qua Thiên.(Thiên hộ Dương)

Cùng quan lớn Định (Trương Công Định) cầm quyền đánh Tây.

An Giang có một ông đây, (Đức Cố Quản)

Chữ dạ nghe Thầy ái quốc trú quân…

Nghe theo lời Thầy dạy phải tận trung báo quốc, Đức Cố Quản rút về rừng Bảy thưa ở khoảng Thất Sơn Núi Sập, lập đồn lũy, huấn luyện quân binh chờ ngày đánh Pháp. Ngài đánh nhau với Pháp trong hai trận.

Trận thứ nhất là trận quân Pháp hãm đồn Hưng Trung cũng gọi Sơn Trung. Trong trận này vì quân ta bị tấn công thình lình nên bị đánh bại. Dầu vậy, quân Pháp không chiếm đồn, vì địa thế hiểm yếu sợ bị phản công nên rút lui.

Về trận này, ông Vương Thông có viết:

Sơn trung quan mới đặt bày,

Khen ai khéo mách Tây hay kéo vào.

Anh hùng một trận đề đao,

Ngay vua sống thác quản bao thân này.

Dốc làm một trận với Tây,

Sống thời làm tướng thác nay thành Thần.

Rồi thì:

Giặc vô bốn phía phủ này.

Rập bô nó bắn gẫy cây hư đồn.

Đội cai thất vía kinh hồn.

Đâm đầu mà chạy lũy đồn tan hoang.

Sau trận thất bại này, Đức Cố Quản về ẩn lánh ở Láng Linh lo việc tu hành, khai kinh mở đất, sống một cuộc đời vô cùng vất vả.

Thời Trời còn khiến nhơn dân,

Nghe Ngài về đó rần rần đến thăm.

Chịu bề khổ hạnh mấy năm,

Khai kinh mở ruộng nhứt tâm tu hành.

Thân Ngài chẳng quản rách lành,

Ở trong Láng đó lều tranh chờ thời.

Nhưng đến năm Nhâm Thân (1872) Cố được sắc lịnh của triều đình mưu việc cần vương khởi nghĩa. Cố lại dựng cờ ở Bảy Thưa lập lên quân đội, mạng danh là “Binh Gia Nghị”, lo việc tích trữ quân lương rèn luyện võ khí, đợi ngày hưng binh phạt địch. Song chưa kịp khởi binh thì quân Pháp từ ba mặt tấn công vào, quân Gia nghị tận lực chống ngăn nhưng cự đương không nổi, phải đành tan rã. Trong trận đánh lần thứ hai này, Đức Cố Quản mất tích luôn, nhằm ngày 21 tháng 2 năm Quí Dậu (1873), nêu một tấm gương sáng vị  quốc vong thân cho muôn đời ngưỡng vọng.

 

B.- Ông Trần-Văn-Nhu

Ông Trần Văn Nhu, trưởng nam của Đức Cố Quản mà người đời gọi là Cậu Hai, cũng là môn nhân của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, một lòng theo đuổi chí cha. Ông đã theo cha khởi binh chống Pháp, nhưng khi Đức Cố Quản thọ nạn, ông dìu dắt mẹ chạy về Láng Linh, ẩn tích mai danh và nuôi dưỡng mẹ già, vì lúc bấy giờ quân Pháp tầm nã ông rất gắt. Chẳng bao lâu thì Bà Cố Quản mất.

Về đoạn này, ông Vương Thông, môn đệ của Cậu Hai có thuật lại:

Cậu còn dìu dắt lịnh bà,

Đem ra cho khỏi lánh mà lúc nguy.

Thiên cơ trần thế bất tri,

Khiến nên phụ tử chia ly rã rời.

Cậu Hai lời nguyện giữa Trời,

Thuận thời trở lại ẩn đời tu thân.

Phong trần ai cũng phong trần,

Nương theo phước mẹ thảo thân cho toàn.

Lịnh bà về cảnh Tây phang,

Cậu còn ở lại sửa sang chùa chiền.

Về Láng Linh, Cậu Hai lo xây dựng lại ngôi chùa Bửu Hương Tự. Vì không đủ tiền mua gạch cẩn nền chùa, hơn nữa để khỏi quyên tởi của thập phương Cậu Hai đem bán chiếc ghe sáu bổ tục gọi là Ông Sấm của Đức Cố Quản và vòng vàng của Bà Cố. Từ đấy Cậu Hai tiếp tục công trình hoằng hóa lợi sanh của Đức Phật Thầy Tây An. Cậu dùng cái ấn Bửu- Sơn Kỳ- Hương của Đức Phật Thầy trao cho Đức Cố Quản mà in lòng phái phát cho môn nhơn đệ tử. Cậu thu nhận nhiều đệ tử lỗi lạc như ông Nguyễn Văn Thới tục danh ông Ba Thới tác giả Kim cổ Kỳ quan, ông Vương thông ở núi Két, tác giả bài Sám giảng về Đức Cố Quản.

Năm Quý Sửu (1913) nhân có cuộc lễ kỷ niệm ngày chiến đấu của quân Gia nghị và cũng là ngày Đức Cố Quản mất tích (21 tháng 2 âm lịch)., tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương tụ họp rất đông ở Bửu Hương Tự.

Cậu Hai có một người cháu tên là Nguyễn Văn Phẩm thường gọi Sáu Phẩm, vì có lòng ganh tỵ với những môn đệ được Cậu Hai tin cậy, nên lén mật báo với nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc rằng Cậu Hai mưu toan khởi nghĩa. Quân Pháp ập đến bao vây Bửu Hương Tự, nhưng nhờ có Trần Văn Chánh, con nuôi của Cậu Hai cõng cậu thoát khỏi vòng vây. Quân Pháp bắt tất cả 56 người, trong đó có 36 người bị án 13 tháng tù còn kỳ dư 20 người kia chống án và bị đày đi Côn đảo.

Sau khi vượt khỏi vòng vây. Cậu Hai  được đưa ra Cái Dầu rồi xuống ghe thẳng đến xã Kiến An. Ở đây không bao lâu, vì quân Pháp gắt gao truy nã, nên Cậu Hai lên tận Nam Vang lánh nạn, cải trang giả dạng làm người khách trú. Nhưng liệu ở Nam Vang không tiện, Cậu trở về nương ngụ ở Cần Thơ, sau đó vào Trà bang thuộc tỉnh Rạch giá rồi tịch nơi đó.

Mặc dù thể xác trả về cho cát bụi. Cậu Hai Trần Văn Nhu đã thể hiện được tinh thần bất khuất của một tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, trung thành với pháp môn Tu Nhân Học Phật, một lòng tận trung báo quốc, cùng cha khởi nghĩa cần vương, kháng chiến chống  Pháp.

Ông Vương Thông đã tả cuộc đời của Cậu Hai trong mấy câu:

Láng Linh Cậu ở lần hồi,

Lập chùa cầu Phật dạy thôi lời lành.

Quản cho thân phận rách lành,

Lần hồi rẫy bái chư thành thầy ghi.

Như vầy mới trọn đạo nghi,

Ngay vua thảo chúa kính vì Thánh Tiên.

C.- Ông Nguyễn-Trung-Trực

Tên ông là Nguyễn Văn Lịch cũng gọi Quản Lịch sanh trưởng trong một gia đình chài lưới ở tỉnh Mỹ Tho. Từ bé đã mồ côi cha, lớn lên theo nghiệp võ làm đến chức Quản cơ.

Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông, quân Pháp tiến binh đánh miền Tây. Tháng giêng năm Kỷ mùi (1859) tức năm Tự Đức 12, quân Pháp đem binh vào cửa Cần giờ và ngày 15 tháng 2 năm ấy vây thành Gia định. Tiến đến đâu, giặc Pháp dở trò giết hại cướp giựt.

Lòng công phẫn của dân lên đến cực độ. Những nhà ưu quân ái quốc quyết chí đứng lên chiêu binh chống Pháp. Sĩ dân trong nước nhiệt liệt hưởng ứng Cần vương. Ở Gò công thì có Phó Quản cơ Trương Công Định, ở Đồng Tháp thì có Thiên hộ Dương tức Võ Duy Dương phất cờ khởi nghĩa.

Đau lòng trước cảnh cửa nát nhà tan, đồng bào đau khổ, ông hiệp cùng bạn là ông Nguyễn Văn Cầm chiêu tập nghĩa binh, áp dụng chiến thuật du kích đánh Pháp.

Ngày 10/4/1861, ông đem nghĩa binh đánh vào thuyền Pháp, giết chết tên thuyền trưởng Bourdais và 30 bộ hạ, khi bọn này định đổ bộ đi ruồng bố vùng Bảo định hạ.

Ngày 11/12/1861, ông đem binh hỏa công chiến thuyền Espérance tại vàm Nhựt Tảo (Tân An) tiêu diệt cả địch quân, bêu đầu tên trung tá Parfait.

Trên lịch sử kháng chiến, trận Nhựt Tảo là một kỳ công hy hữu, vì rằng ông là người đầu tiên hạ được chiến hạm địch bằng một chiến thuật dùng thế yếu của du kích thắng được thế mạnh của đại bác thần công.

Vua Tự Đức được tin bèn ban chiếu tuyên dương công trạng.

Tiếp theo đó, ông không dứt danh phá đồn địch ở Thuộc nhiêu, Thủ Thừa, Bến Lức, Mỹ Hạnh, Phước Lý, Long Thạnh, Phú Lâm, Bà Hom.

Lúc bấy giờ Trương Công Định đang chiến đấu ở Gò công. Mặc dầu sau khi ký hỏa ước 1862, quân Pháp thừa cơ tăng cường quân lực rất mạnh, Trương Công Định vẫn hăng say chiến đấu. Chẳng may ông lầm mưu quân Pháp nên bị bắt giết trong đêm 1864.

Cũng trong thời gian đó, Thủ Khoa Huân bị bắt và bị đày sang đảo Rêunion; hàng ngũ kháng chiến của Thiên bộ Dương bị tan rã trong trận tấn công (tháng 4 năm 1866) của quân Pháp vào Đồng Tháp.

Khí thế kháng chiến ở miền Đông cơ hồ tiêu hoại miền Tây. Binh sĩ thì cho đóng ở Tà Niên thuộc Rạch Giá, còn ông thì náu nơi gia đình họ Lâm tại Mỹ Hội Đông thuộc tỉnh Long Xuyên. Gia đình này đã qui y theo giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương  khi Đức Phật Thầy ra đời ở Xẻo môn. Có lẽ trong thời gian ẩn trú nơi một gia đình theo môn phái Phật Thầy mà ông đã qui ngưỡng theo giáo pháp Tu Nhân Học Phật.

Từ ngày về tá túc ở gia đình họ Lâm, ông thường mặc nâu sòng và lâu lâu ngồi thuyền lên cù lao Nhỏ ở Bình Thạnh Đông thăm Đức Cố Quản. Sự liên lạc với đệ tử Phật Thầy cũng như cách phục sức mộc mạc như một tín đồ nhà Phật, đủ biểu lộ chí hướng ông đã nghiêng về giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, Ông sống rất đạm bạc; mỗi bữa cơm chỉ dùng không quá một con khô sặc. (1)

Hình vóc ông mảnh khảnh, nhưng võ nghệ của ông cao cường, tinh thần rất khẳng khái. Khi gặp ông lần đầu tiên, xuyên qua tướng mạo nho phong của ông, Phan Khắc Thân Tổng Đốc An giang lúc bấy giờ không khỏi hiểu lầm. Ông điềm đạm ứng đáp: “Nước có loạn, người tôi trung được đánh giá xuyên qua hành động giết giặc cứu nước nhiều hơn cân đai trật phẩm của trào đời. Với dân cư là như thế, còn như với  tướng sĩ, cái dũng, cái trí, cái nghĩa khắc phục người chiến hữu nhiều hơn là tiếng hò hét dõng dạc.”

Câu này đủ nói lên khí phách bất khuất của ông để đối lại chí hèn yếu của Tổng đốc Phan Khắc Thân, trước áp lực đành giao nạp cụ Thủ Khoa Huân cho Pháp.

Mặc dù ẩn náu ở Mỹ Hội Đông, ông vẫn liên lạc luôn với các đồng chí lập quân khu ở Tà Niên và thường đến huấn luyện, đôn đốc việc chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương.

Tin ông Nguyễn Văn Cầm bị giết tại đồn Kiên Giang thúc giục ông sớm toan hành động. Sau khi hợp quân hạ được thành này trong một trận giao phong ác liệt. Trên lịch sử kháng chiến, ông ghi thêm một chiến công hiển hách.

Nhà văn Huỳnh Mẫn Đạt cũng là một chí sĩ đương thời đã tán thán công nghiệp của ông trong hai câu: “Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạt Kiên Giang khiếp quỉ thần.”

Đạt đồn thì dễ, giữ đồn mới khó. Không đầy một tuần quân tiếp viện của Pháp kéo đến. Liệu yếu thế, ông rút binh sang đảo Phú quốc và được hai nhà hào phú ở đây là Tổng Điền và Xã Ngợi hổ trợ. Ông chống cự với Pháp mấy ngày mấy đêm. Trong lúc bà Nguyễn Trung Trực  lâm sản nhưng vì thiếu săn sóc nên kiệt sức bỏ mình. Đứa con sanh ra thiếu sữa cũng chết theo mẹ. Tình cảnh ấy không làm cho ông nản chí chiến đấu.

Bọn Thực dân bèn sai Lãnh binh Tấn tìm cách dụ hàng. Không tìm ra tung tích, Tấn bắt mẹ ông và tra tấn dân làng Dương Đông bảo phải chỉ nơi ông trú ẩn. Nghe tin dân thọ khổn, ông chi xiết đau lòng; liệu thế không cưỡng lại được định mạng khắt khe, nên ông ra nạp mình để xử tròn câu hiếu nghĩa.

Giặc Pháp điệu ông về Sài Gòn, dùng mọi cách khuyên dụ, nhưng ông một mực chối từ tất cả mọi sự mua chuộc, hiên ngang nhận lấy cái chết để giữ toàn khí tiết.

Ngày 27 tháng 10 nắm 1868, quân Pháp đem ông ra hành quyết tại Kiên giang do một tên Thổ làm đao phủ vì người Việt không ai chịu lãnh việc làm bạc nghĩa điếm nhục ấy.

Trước giờ hành quyết, ông còn làm một bài thơ tuyệt mạng đầy chí khí:

Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,

Yêu gian đảm khí hữu long tuyền.

Anh hùng nhược ngộ vô dung địa,

Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.

***

Theo việc binh nhung tự thủa trai.

Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.

Anh hùng gặp phải hồi không đất,

Thù hận chan chan chẳng đội trời.

Ông đã dõng dạc bước lên pháp trường nghểnh cổ bảo người Thổ chém một nhát cho ngon tay. Lưỡi đao của thủ phủ vừa bay qua, đầu ông đã rơi nhưng hai tay vẫn chụp lấy đặt lại như cũ, rồi thân mới từ từ ngã xuống, cái khí phách ấy làm cho mọi người cảm phục. Trong một bài thơ điếu, ông Huỳnh Mẫn Đạt có câu:

Anh hùng cường cảnh phương danh thọ.

Tu sát để đầu vi tử nhân.

Anh hùng cứng cổ danh còn mãi.

Thẹn chết bao nhiêu lũ cúi đầu.

Trong cuộc hành quyết này, có người tự vận theo để tỏ lòng trung nghĩa.

Được tin ông chết, vua Tự Đức sanh dạy làm lễ truy điệu có câu:

Ứng bỉ ngư nhân,

Hùng tài quốc sĩ!

Hỏa Nhựt tảo thuyền,

Đồ Kiên giang lũy.

Định khái đồng cừu,

Thân tiên tự thỉ.

Huyết thực thiên thu,

Chương ngã trung nghĩa.

Thân ông dầu mất, khí hùng vẫn còn sống mãi với non sông. Dầu không thành công, cái chết của ông là một ngọn lửa thiêng nung nấu trong lòng dân Việt, mầm móng cách mạng, tinh thần bất khuất, luôn luôn vì nước quên mình quyết chống xâm lăng không để quân thù giày đất tổ.

Ông có thể sánh với Quan Thánh bên Trung Hoa về chánh khí, về tiết nghĩa, gồm đủ cả: Dũng, Trí, Nhân.

Về đức Dũng, ông nhẫn chịu mọi sự đau khổ và thắng mọi nỗi gian lao, không khuất phục trước bạo quyền, không mềm gan trước mối chung đỉnh.

Về đức Trí, ông có đủ mưu lược để hỏa công tàu Pháp tại Nhựt Tảo và hạ thành địch tại Kiên Giang không bao giờ bị lầm mưu của giặc.

Về đức Nhân, ông đã thấy cụ Phan thanh Giản “Nếu chiến thì sẽ mất luôn cả mà lại thêm phí uổng máu xương của dân Việt”, nên ông chọn con đường “Sát thân thành nhân”.

Ngoài ra ông còn được lòng hiếu, tuy không sánh kịp gương vua Thuấn, chớ cũng có thể với Bàn cử ngang hàng. Do đó, người đời gọi ông là Nhạc Phi của nước Việt.

Sở dĩ ông được dường ấy đức tánh cao quí là nhờ thấm nhuần điều Tứ Ân Hiếu Nghĩa của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương.

D.- Đức Huỳnh Giáo Chủ, một nhà cách-mạng dân-tộc

Ngoài địa vị giáo chủ của nền Phật giáo Hòa Hảo. Đức Huỳnh Giáo Chủ còn là một nhà chí sĩ, một nhà cách mạng, một nhà kháng chiến chống Pháp, chẳng huy động môn nhơn đệ tử tranh đấu, cho lợi quyền của dân tộc.

Trong sám giảng thi văn của Ngài, tinh thần dân tộc luôn luôn được đề cao:

Đừng chia lìa Bắc tổ Nam tong,

Chỉ một giống Lạc Hồng thượng cổ.

Với tinh thần ấy, Ngài cương quyết đấu tranh cho giang san chủng tộc:

Thương sanh chúng đòi cơn dạ ngọc,

Ta quyết gìn chủng tộc giang san.

Khi đã mang nặng một mối tình dân tộc thì lòng yêu nước yêu dân càng thêm đậm đà tha thiết, tràn trề trong những dòng thơ hoán tỉnh:

Chúng sanh phải tưởng giống dòng,

Hiệp tâm hiệp lực cột đồng nhà Nam.

Ngài đã bộc lộ lòng ái quốc ưu đời trong bài tứ tuyệt:

Thâm hiểu lòng ta nỗi cuộc đời,

Một bầu nhiệt huyết chẳng xa lơi.

Mến yêu quốc thủy anh đồng chủng,

Phải tính sao xong nỗi cuộc đời.

Và theo Ngài, có trả xong nợ nước, phổ cứu đồng bào mới làm rồi bổn phận con dân, mới được quyền thảnh thơi tu tỉnh.

Đâu là ái quốc với yêu đời,

Phổ cứu cho rồi mới thảnh thơi.

Thế nên, với tinh thần truyền thống bất hợp tác với giặc, Ngài kêu gọi tín đồ sớm rời dứt quan trường lánh xa bọn thống trị, vì nhục cho giống nòi dân tộc.

Cả kêu kia hỡi là ai,

Quan trường rời dứt mặt mày chùi lau.

Lui chơn ra khỏi cho mau,

Tìm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ngài, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, những người có chơn trong bộ máy cai trị của Pháp, nhứt luật từ chức, gây thành một phong trào bất hợp tác sâu rộng. Do đó, quân Pháp nhận thấy Đạo Phật Giáo Hòa Hảo không phải là một nền Đạo tu tiêu cực, chuyên lo tu hành không tham gia việc nước mà là một nền Đạo đề cao và un đúc tinh thần dân tộc bất khuất, ái quốc ưu dân, cho nên ra lịnh truy nã. Nhiều tín đồ thuần thành của Phật Giáo Hòa Hảo bị bắt, hoặc đưa đi an trí, hoặc tù đày và một số lớn đã bỏ mình nơi Côn đảo vì chánh sách hà khắc của Thực dân. Riêng về bản thân của giáo chủ thì chúng lưu đi nơi này nơi nọ, hết Sa đéc đến Cần Thơ rồi Bạc liêu…

Cơ hội đã đến cho Việt Nam vùng lên cởi ách nô lệ. Đức Huỳnh Giáo Chủ phát động phong trào “Việt Nam Độc lập Vận Động” và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh chống Pháp. Noi gương các vị Thiền sư như Khuông Việt, Tuệ trung Thượng sĩ, Ngài đành:

Dứt áo cà sa khoác chiến bào.

Và:

Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.

Để rồi một khi:

Đền xong nợ nước thù nhà,

Thiền môn trở gót Phật đà Nam mô.

Không khác Tuệ trung Thượng sĩ đời Trần, một khi dẹp xong chân Mông Cổ, rút chiến bào mặc lại cà sa trở về am tự.

Trong bài Hiệu triệu của Việt Nam Độc lập. Vận động hội, Ngài đã kêu gọi:

“ Vậy thì mỗi người công dân Việt Nam đều phải nghĩ đến xứ sở mình, đến tương lai đất nước mình, đến sự sống còn của dân tộc mình; vì mặc dầu đã bị triệt hạ trên dãy đất Đông Dương, Đế quốc Pháp bên kia trời cũng vẫn còn hoài bão cái mộng tưởng khôi phục lại quyền chủ trị; vậy thì đồng bào hãy cố gắng lên!”

Rồi thì Ngài đứng lên thành lập nghĩa quân, phất cờ chống Pháp còn ôm mộng xâm lăng muốn đặt ách đô hộ lại trên đất nước Việt Nam. Ngài đã nhiệt liệt kêu gọi tráng sĩ:

Tiếng roi lại bình Ngô sát Đát,

Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm.

Trông phường giá áo túi cơm,

Trông phường úy tử mà nhờm đi thôi.

Hãy tỉnh giấc! Hỡi muôn ngàn tráng sĩ,

Nhìn thời xưa hùng vĩ nước nhà ta.

Bắc Nam một dãy san hà,

Mồ hôi giọt máu ông cha tài bồi.

Trải qua cũng lắm hồi vận bỉ,

Rồi anh em tráng sĩ đứng lên.

Liều mình dục pháo xông lên,

Liều mình giết giặc xây nền tự do.

Nay vận nước đến hồi thịnh thái,

Chí anh hùng ta hãy noi gương.

Một mai nước được phú cường,

Tấm thân tráng sĩ cột rường nhà Nam.

Nhưng họa nước còn chịu lắm hồi gian khổ. Bọn xâm lược chưa đuổi xong thì lại gặp phải ách độc tài đảng trị cộng sản. Ngài cực lực phản kháng. Cuộc biểu tình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tại Châu thành Cần Thơ năm 1945 là bằng chứng hùng hồn nói lên tinh thần dân chủ của dân chúng miền Tây quật khởi chống độc tài Cộng sản. Có thể nói trên lịch sử chống Cộng ở Việt Nam, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo là những chiến sĩ tiền phong đã ý thức sớm hơn đâu hết cái hiểm họa cộng sản.

Để thực hiện tham vọng độc tài, bọn cộng sản mưu sát Ngài và đồng thời thẳng tay đàn áp tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Nhưng may, Ngài đã thoát thân và ẩn lánh một thời gian trong rừng núi ở miền Đông. Rồi thì do những cuộc đàn áp của cộng sản mà ở miền Tây nhiều cuộc xô xát giữa Việt minh Cộng sản và tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo xảy ra, gây nên một cảnh tượng vô cùng bi đát:

Ngài rất đau lòng hạ bút:

Cường quyền một lũ người si,

Oan này hận ấy sử ghi muôn đời.

Truyền khắp nước muôn lời vu cáo,

Dùng trăm ngàn thói bạo hiếp dân.

Làm cho trong nước rẽ phân,

Làm cho giặc Pháp một lần sướng rang.

Vậy cũng gọi an bang định quốc,

Rồi rút lui bỏ mất thành trì.

Giống nòi nỡ giết nhau chi,

Bạng duật tương trì lợi lũ ngư ông.

Nhìn thấy non sông một ngày một tràn ngập bọn xâm lăng, Ngài chi xiết đớn đau, không thể ngồi yên để cho muôn dân chịu khổ, non nước tan tành, nên thống thiết kêu gọi đoàn kết, bỏ mối thù xưa để cùng đâu lưng chung cật chống Pháp:

Thù riêng muôn vạn cho cam,

Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.

Khắp Bắc Nam Lạc Hồng một giống,

Tha thứ nhau để sống cùng nhau.

Quí nhau từng giọt máu đào,

Để đem máu ấy tưới vào địch quân.

Rồi thì Ngài bắt đầu hoạt động trở lại, liên lạc với các đảng phái quốc gia để tiến đến sự thành lập Mặt trận Quốc gia liên hiệp; Sau đó Ngài hiệp cùng các nhà chánh trị, cách mạng lập lên Việt Nam Dân chủ Xã hội đảng và đồng thời xây dựng Quân đội Nguyễn Trung Trực, vì đại nghĩa bỏ thù riêng, hùng dũng phất cờ kháng chiến chống Pháp.

Như chúng ta đã biết, Ngài từng nói:

Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,

Nên truyền ban cho chúng sanh tường.

Thế thì, khi chủ trương quân sự và chánh trị, có gì trái với giáp pháp vô vi của Đức Phật Thích Ca không? Về điều này, Đức Huỳnh giáo chủ có giải thích:

“Theo sự nhận xét của tôi về giáo lý nhà Phật do nơi Đức Thích Ca mâu ni Phật đã khai sáng lấy chủ nghĩa từ bi bác ái đại đồng đối với tất cả chúng sanh làm nòng cốt thì tôi nhận Ngài là một nhà cách mạng triệt để về tư tưởng vì những câu “Nhứt thiết chúng sanh giải hữu Phật tánh” và “Phật cũng đồng nhứt  thể tánh như thế mà chúng sanh còn không bằng được Đức Phật là do nơi trình độ giác ngộ không đồng đều, chớ không phải họ không tiến hóa ngang hàng với chư Phật được. Nếu trong cõi nhân gian này còn có chúng sanh tiền tiến áp bức những chúng sanh lạc hậu thì là một việc trái hẳn với những giáo lý chơn lý chơn chánh ấy. Giáo lý đó Đức Phật Thích Ca Mâu ni không áp dụng được một cách thiết thực trong đời của Ngài là do nơi hoàn cảnh xã hội của Ấn độ xưa không thuận tiện. Thế nên Ngài chỉ phát dương cái tinh thần đó mà thôi. Ngày nay trình độ tiến hóa của nhân loại đã tới một mực khả quan, đồng thời với tiến hóa về khoa học thì ta có thể thực hành giáo lý đó để thực hiện một xã hội công bằng và nhơn đạo. Thế nên với cái tâm hồn bác ái từ bi mà tôi đã hấp thu, tôi sẽ điều hòa với phương pháp tổ chức xã hội mới để phụng sự một cách thiết thực đồng bào và nhơn loại.”

Phương chi chủ yếu của pháp môn Tu Nhân Học Phật lấy Tứ Ân làm căn bản, hơn nữa tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thuộc hàng cư sĩ tại gia; thế nên ngoài sự phụng hành Phật Giáo, họ còn có bổn phận bảo vệ đất nước khi quốc gia hữu sự.

Vả lại, bản hoài của Đức Huỳnh Giáo Chủ là muốn đem giáo pháp của Như lai áp dụng vào đời sống xã hội, nên chi Ngài từng tuyên bố:

Đối với toàn thể tín đồ Phật Giáo, tôi vẫn không quên rằng tôi là một đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca, tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh chẳng những được truyền bá ở thiền lâm mà còn phải được thực hiện trên đường chánh trị.”

Với những lý tưởng như trên, với những hoạt động chánh trị không ngừng, Đức Huỳnh Giáo Chủ quả là một nhà cách mạng, chẳng những trên địa hạt giải phóng dân tộc mà còn trên địa hạt giải phóng chúng sanh.

2) Tinh-thần bất hợp-tác

Đạo Nhân chẳng những rèn luyện nên hạng người trung hiếu mà còn un đúc nên hạng người khí tiết tự cường. Nếu nhận thấy mình không đủ sức cải tạo thời thế thì thà tìm nơi am thanh cảnh vắng ẩn nhẫn để di dưỡng tánh tình chớ chẳng để cho bã lợi danh rủ ren làm nhục khí nhơ tên, mang tiếng xu thời hương nguyện.

Nhờ thấm nhuần tinh thần sĩ khí ấy mà trong thời kỳ Pháp thuộc, các môn nhơn đệ tử của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương thà ẩn tu giữ tròn khí tiết chớ không ra hợp tác. Gương Đức Phật Trùm, ông Cử Đa, Đức Bổn Sư… đã hùng biện nói lên chi bất khuất của hành giả đạo Tứ Ân.


A.- Ông Đạo Đèn

Đức Phật Trùm cũng gọi ông Đạo Đèn bị thực dân Pháp bắt và sau một thời gian giam cầm tại đề lao Châu Đốc thì bị đưa đi đày ở một đảo xa xôi, có thể là đảo Rêunion trong biển Ấn Độ.

Bị án trí một thời gian, Ngài được trả tự do trở về quê quán. Nhà cầm quyền Pháp thấy dân chúng theo Ngài rất đông nên muốn khuyến dụ Ngài hợp tác hầu có trấn an vùng Bảy Núi, vì lúc bấy giờ phong trào Cần vương đang phát động mạnh khắp nơi; nhưng Ngài khéo từ chối, chỉ mong được tiếp tục cộng việc cứu dân đó thế bằng phương pháp mầu nhiệm Nhà cầm quyền bắt Ngài mỗi tuần trình diện một lần, và để mua cuộc cảm tình bèn cấp cho Ngài một cây súng.

Với pháp môn Tu Nhân Học Phật, Đức Phật Trùm phát huy tinh thần Hiếu Nghĩa Tứ Ân. Nhờ vậy mà tín đồ Bửu-Sơn Kỳ-Hương giữ tròn khí tiết, đặt nghĩa vụ quốc gia dân tộc trên hết, nếu không đủ sức gánh vác việc nước cũng giữ vẹn tinh thần bất hợp tác.

Sau đây là bài thơ của Đức Phật Trùm biểu lộ tấm can trung vì đời vì đạo:

Huyền thiên tạo hóa thiết âm dương,

Nhi tự danh vi vạn pháp đường.

Nhứt lạp túc trung toàn thế giới,

Bán biên hoa lý chữ sơn giang.

Thanh long giáng hỏa du liên thức,

Bạch hổ phong ba xuất động phòng.

Thử cá công phu chơn thí xảo,

Đắc lai binh bị thượng thiên đang. (1)



B.- Ông Cử Đa

Ông tên là Nguyễn Đa. Có lẽ là con thứ bảy nên thường gọi là Bảy Đa. Từ thuở bé…

Tuổi vừa khôn lớn một khi,

Cha mẹ cũng đã dĩ quy huỳnh tuyền.

Về quê quán, cứ theo “Giảng Tà Lơn” thì nói ông gốc ở Thuộc Nhiêu (tỉnh Định Tường), nhưng theo môn nhơn của ông thuật lại thì ông sanh ở làng Phù Cát, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Ông sanh năm nào không được rõ; khi lớn lên có học văn võ và thi đỗ võ cử, do đó ông được gọi là ông Cử Đa.

Gặp lúc nước nhà nghiêng ngửa vì giặc Pháp xâm lăng, khắp nơi phong trào Cần vương nổi lên chống Pháp, nhưng hiềm vì sức yếu không chống nổi súng đồng, nên các vị anh hùng yêu nước lần lượt bị sa cơ và các lực lượng quật khởi bị đánh tan. Có lẽ ông Cử có tham gia phong trào Cần vương do Thủ Khoa Huân phát động ở vùng Thuộc Nhiêu và sau khi phong trào thất bại, ông nhận biết thời vận nước nhà đến hồi đen tối, dù có cự đương cũng không cưỡng được mạng trời, trái lại làm khổ lự cho dân, nên chi ông đành ôm tấm cô trung ẩn lánh nơi non cao rừng rậm, tầm sư học đạo hầu giữ vẹn khí tiết của kẻ sĩ phu hơn là ra đầu hàng hay hợp tác.

Ông đã từ trần:

Lòng ta luống những ưu phiền,

Một mình trực tiếp không miền gió trăng.

Trong mình cũng biết võ văn.

Trãi chơi thế cuộc tiếng văn giang hà.

Thế là ông lìa quê, cất bước lên đường vào miền Bảy Núi. Ở đây một thời gian, tung tích ông bị phát giác, ông bèn chạy qua Phú Quốc, ở trọ nhà thợ Châu. Sau đó ông qua Cái Vừng, theo đường sông đi thuyền lên Vàm kinh qua Cù lao Ba đến nhà hai Võ. Ở đây một tháng, ông và hai Võ cùng nhau đi Giang Thành. Ông biểu lộ chỗ lo âu, sợ Pháp truy nã trong câu:

Dọn thoàn hai chiếc một khi,

Sắm sửa vậy thì đồ đạc đem ra.

Hai Võ phân nói thật thà,

Kinh kệ áo dà để lại chốn đây.

E khi đi có gặp Tây.

Nó coi thấy đặng, sắp bay không còn.

Tính thôi đã một buổi tròn.

Xuống thoàn ra biển hỡi còn canh hai.

Khi đến Giang Thành (Hà Tiên), ông đến nhà ông Cả Trị. Có lẽ ông Cả là người quyến thuộc nên chi tiếp ông rất niềm nở, gọi ông bằng cháu. Biết ông quyết chí đi Tà Lơn, ông Cả mới cắt đặt gia nhân là tên Nhâm  đưa ông qua Cỏ Thơm. Nơi đây ông lên bờ, rồi một mình đi bộ qua Vung Trách, Núi Kép đến Cần Giọt (Kampot). Ông vào núi Tà Lơn bằng con đường Cam Chại. Sau đó ông gặp chơn sư, rồi qui y cắt tóc:

Hắc y lại đổi dà sa.

Cải tên đặt lại hiệu là Ngọc Thanh.

Ông được truyền dịu pháp, trước hết ở động Trung Tòa, sau đời về động Cao Vân, rầy đây mai đó, vân Đức Phật Thầy Tây An khắp chốn:

Đói lòng ăn quả đào tiên,

Khát ta uống nước trong tuyền ma ha.

Bằng chừng hải giác sơn nha,

Non cao trải khắp về tòa Bửu châu.

Sau ngày ông đắc quả, công có thâu nhận một số đệ tử thật tâm cầu đạo. Nhiều người không đủ kiên tâm trì chí, đã bán đồ nhi phế, sau những cuộc thử thách quá gay go. Có lần, có người thân thuộc lên tầm kiếm, trải qua nhiều nỗi gian lao mà không gặp. Trong lúc buồn chán thì có một tiểu đồng đi đến hỏi han. Người ấy kể chuyện khúc nỗi thương nhớ thì được tiểu đồng khuyên lơn và bảo hãy trở về, vì ông Cử đã đắc quả Tiên không còn trở về trần nữa. Về sau, người ấy xuống núi thuật lại câu chuyện gặp tiểu đồng thì người ở dưới núi cho biết đó là ông Cử đã hóa trang. Người cầu đạo nhiều lần gặp ông với hình thức đó.

Ông đã được chơn sư truyền bửu linh và diệu pháp. Ông thấu rõ máy huyền cơ, như đã thổ lộ trong “Giảng Tà Lơn”:

Từ ta lên ở chốn này,

Sớm khuya tích đức, tháng ngày tu nhân.

Cậy nhờ một vật hộ thân,

Để sau cứu độ muôn dân khốn nàn.

Dầu ai tiền của muôn ngàn,

Không bằng diệu pháp, không bằng Ngũ linh.

Đi đâu có gặp yêu tinh,

Xem thấy linh bửu thất kinh chạy dài,

Giữ gìn sớm tối hôm mai,

Một mình ngày tháng non đoài cũng vui.

Gẫm trong thế sự ngược xuôi,

Nghinh ngang một thủa đọa thôi Diêm phù.

Sao bằng non núi ngao du,

Thoát chơn Địa ngục, khỏi tù Diêm la.

Đời này nhiều quỉ nhiều ma,

Cho nên trời đất khiến mà ngửa nghiêng.

Còn nhiều năm lắm chưa yên,

Nói chơi một chút thằng Điên ở rừng.

Ngụy Khôi trước loạn vô cùng,

Hạ thành sao lại giết người oan khiên.

Đến nay báo lại nhãn tiền,

Ít năm rồi cũng hết phiền lòng dân.

Bây giờ đồ khổ muôn phần,

Thôi thôi chớ nói dương trần làm chi.

Lòng ta còn hỡi hồ nghi,

Thiên cơ ai dễ nói đi hết lời.

Mặc dầu không có khoản nào cho biết ông là môn đệ của phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương song nếu đem đối chiếu quyển “Giảng Lan thiên” với “Sám giảng quyển ba của Đức Huỳnh giáo chủ, ta không khỏi ngạc nhiên về chỗ chẳng những trùng ý mà còn trùng câu chữ nữa.

Đây là đoạn mở đầu của quyển “Giảng Lan thiên” của ông Cử Đa:

Lan thiên một kiểng chép chơi,

Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi đùng đùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng lòng mai.

Mùa xuân tới kiểng lầu đài,

Tháng  giêng mồng chín thi tài hùng anh.

Tứ vi  mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cảnh hữu danh tu bề.

Kể từ Phú quốc mới về,

Long thoán (1) lên ở dựa kề hai năm.

Dạo chơi mấy điệu tri âm,

Tỏ lời sau trước mấy năm phản hồi.

Phận mình trong sạch đã rồi,

Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Dương trần húy hiệu tên Đa.

Cõi Tiên vốn thiệt hiệu là Ngọc Thanh

Ngày ra chơi chốn rừng xanh,

Tối về kinh kệ, cửi canh mặc người.

Và đây là đoạn đầu “Sám giảng” quyển ba của Đức Huỳnh giáo chủ:

Ngồi trên đảnh núi liên đài.

Tu hành tầm đạo một mai cứu đời.

Lan thiên một cõi xa chơi,

Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi lạnh lùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai

Mùa xuân hứng cảnh lâu đài.

Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh.

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cõi hữu danh chữ đề.

Kể từ Tiên cảnh Ta về,

Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.

Dạo chơi tầm bực tri âm,

Nay vì dân chúng trần gian phản hồi.

Nghĩ mình trong sạch đã rồi,

Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Phong trần tâm đã rời ra.

Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh.

Ngày ra chơi chốn rừng xanh,

Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.

Hai đoạn Thơ trùng điệp trên đây đủ chứng minh ông Cử Đa là môn nhơn của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Có lẽ trước kia khi đến Thất Sơn, ông Cử đã có liên hệ hay chịu ảnh hưởng của phái Phật Thầy Tây An nên mới quyết tâm tầm Đạo tầm Thầy:

Lòng ta dốc đạo tầm sư,

Lạy Thầy theo với nên hư nhờ Thầy.

Càng chứng tỏ ông Cử thuộc phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương là khi đắc đạo cũng tự xưng Khùng Điên, không khác các Ngài Tiên giác trong phái Phật Thầy:

Còn nhiều năm lắm chưa yên,

Nói chơi một chút thằng Điên ở rừng.

Nói tóm lại, khi đến Thất Sơn, ông Cử cũng như ông Nguyễn Trung Trực, mới liên hệ với giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, để rồi trở thành môn nhơn đệ tử của Đức Phật Thầy. Thế nên với tâm hồn để kháng chống ngoại xâm mà pháp môn Tu Nhân Học Phật đã đào luyện, nếu không đủ sức cử đồ đại sự bằng võ lực thì cũng tìm nơi lánh thân ẩn náu, biểu dương tinh thần bất hợp tác hầu giữ vẹn khí tiết của sĩ phu.



C.- Đức Bổn-Sư

Sau khi vào núi Tượng, sáng lập đạo Hiếu Nghĩa Tứ Ân, Đức Bổn Sư khuyến tu Nhân đạo hầu đền đáp ơn quốc vương thủy thổ và hiếu hạnh đối với tổ tiên cha mẹ.

Quân vương nghĩa trọng biết bao,

Làm tôi lo báo công lao ở đời.

Song thân ân lớn bằng trời,

Làm con lo trả biết đời nào xong.

Gặp lúc phong trào Cần vương thất bại, quân Pháp thẳng tay đàn áp nghĩa quân và truy nã ráo riết những người yêu nước, nhứt là sau khi dẹp xong giặc Bảy Thưa của Đức Cố Quản Trần Văn Thành và bắt được một nghĩa quân thuộc tín của Đức Bổn Sư, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương không sao tránh khỏi nạn khủng bố của quân Pháp. Đức Bổn Sư cố ẩn lánh và cải cách lối thờ phượng để đánh tan sự ngờ vực của quân Pháp, nhưng không vì thế mà quân Pháp để yên phái Hiếu Nghĩa Tứ Ân.

Trong hoàn cảnh khắt khe như thế, biết rằng không thể cưỡng được vận nước đã suy, nên chi tuy không thể cử đồ đại sự, nhưng Đức Bổn Sư vẫn một mực un đúc tinh thần bất hợp tác trong môn nhơn đệ tử của Ngài.

Người ta có kể lại rằng, trong số tướng sĩ của vua Hàm Nghi, sau khi bị  quân Pháp phá tan cơ sở Cần vương ở miền Trung, có người chạy sang Tàu, có người ra đầu giặc, có người chạy vào miền Nam, đến Thất Sơn ẩn lánh, nghe Đức Bổn Sư là bực siêu phàm, chủ trương chống Pháp, bèn tìm đến ra mắt, mong cầu  đứng lên chiêu tập nghĩa binh.

Đức Bổn Sư vốn có thần thông biết trước việc ấy, nên chi có dặn người thủ tự chùa Phổ Đà (ở Núi Tượng) rằng: “Mai này có hai  người  lạ mặt đến tìm ta, vậy anh hãy trả lời là ta đi vắng”.

Quả như lời ngài tiên đoán, hôm sau có hai người đến, một người có vẻ thông minh, và một người có vác theo một bao lớn có vẻ nặng nề.

Được biết Đức Bổn Sư đi vắng, hai người ấy lấy làm tiếc ra về, sau khi gởi lại cho Đức Bổn Sư một bài thơ:

Cửa thiền rày đã bặt hơi bon,

Quê hạc hương bay kiểng vẫn cồn.

Tiếng trống quân canh đâu lặng lẽ?

Kèn chiêu muôn dặm hãy còn non!

Dưới hồ mưa lấp sen tơi tả.

Trên đỉnh sương sa đá mỏi mòn.

Nghìn thủa diềm dà ghi dạ ngọc,

Chín trùng non nước biệt tôi con!

Về sau, Đức Bổn Sư cho biết: người có vẻ thông minh là cận thần của vua Hàm Nghi, người vác bao to là hộ vệ quân, còn bao to ấy là cổ đại đao, Vận nước đã đến hồi suy thì còn giúp vào đâu được nữa!(1)

Chương thứ V: Cứu cánh của môn tu nhân học Phật

Cứ theo Sám giảng của các Ngài Tiên giác thì thời kỳ này là buổi Hạ nguơn sắp mãn để tạo lập đời Thượng nguơn thánh triết an lạc. Để cứu độ chúng sanh cho kịp kỳ Long Hoa Đại hội, và nhứt là cho được phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời mạt pháp, Đức Phật Thầy Tây An cũng như các vị Tiên giác trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương xiển dương pháp môn Tu Nhân Học Phật.

Cứu cánh của pháp môn này, với điều Tu Nhân đồ chúng nếu hành vẹn đạo Nhân thì sẽ được dự vào Hội Long Hoa là một đại hội phán xét cuối cùng để chọn người hiền đức hầu tạo lập cõi đời Thượng nguơn vô cùng an lạc.

Đến như về điều Học Phật, các Ngài khuyên tu Tịnh độ. Những ai nhứt tâm thuần thành niệm Phật A Di Đà và hành sử những điều lợi lạc cho chúng sanh sẽ được vãng sanh về cõi Cực lạc hưởng quả bất thối.

Cứu cánh của pháp môn Tu Nhân Học Phật, nói tóm lại, là đào luyện nên người hiền đức để dự Hội Long Hoa và tiếp độ những người nhứt tâm niệm Phật về nơi An dưỡng để học đạo cho hoàn toàn trở lại cứu vớt chúng sanh.

A.- Cứu cánh của môn tu nhân – Hội Long-Hoa

Nói đến Hội Long Hoa tức là nói đến Đức Phật Di Lặc, vì theo Đức Phật Thích Ca cho biết trong Kinh Di Lặc, thì vào thời kỳ mạt pháp có Đức Phật Di Lặc ra đời là vị Phật thứ năm trong Hiền Kiếp, lập lên Hội Long Hoa, mở ba trường thuyết pháp hóa độ chúng sanh.

Trong Kinh chỉ nói Đức Phật Di Lặc ra đời vào thời kỳ mạt pháp, nhưng không nói rõ là vào khoảng nào, cho nên về ngày giờ lập Hội Long Hoa có nhiều giải thuyết khác nhau, mỗi người hiểu mỗi cách.

Để rộng đương nghiên cứu, chúng tôi xin trình bày tất cả các giải thuyết.



1) Phái Thiền-gia

Về Hội Long Hoa, trong quyển Qui nguơn trực chỉ, Đức Tông Bổn có viết:

“Từ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật giáng sanh, bấy giờ loài người sống đều chỉ trăm tuổi, bắt đầu kể đi, cứ qua trăm năm, loài người giảm đi một tuổi.

“Giảm đến thời đại mà loại người còn được 30 tuổi, thân người dài chừng 3 thước, toàn thế giới nổi lên tai cơ cẩn.

“Giảm đến thuở loài người chỉ còn 10 tuổi, thân dài 1 thước, toàn cầu nổi lên tai đao binh, ấy gọi là cái biến tướng của tiểu tam tai.

“Chỉ còn lưu lại nam nữ chừng muôn người, trốn vào trong núi để làm giống.

“Thuở đó với điều làm vợ người, con gái 5 tuổi đã gả, thế mới là con số đã cùng cực của kiếp giảm vậy.

“Lại từ đó cứ qua một trăm năm, loài người được thêm lên một tuổi, cứ như thế, thêm đến cái thời đại mà toàn thể loài người đều sống 8 vạn 4 ngàn tuổi, thế gọi là con số kiếp tăng đã cực điểm.

“Lại cũng vẫn từ đó thối lui, cứ qua mỗi một trăm năm, loài người bị giảm một tuổi, mãi thế, giảm đến thuở mà nhơn loại sống còn 8 vạn tuổi, Đức Di Lặc mới là giáng sanh. (1)

Theo Đức Tổng Bổn căn cứ theo sự tăng giảm của các kiếp mà tính.

Cứ theo tạng kinh thì mỗi Đại kiếp có bốn Trung kiếp:  Thành, Trụ Hoại, Không, mỗi Trung kiếp có 20 Tiểu kiếp; trong mỗi Tiểu kiếp có một lần tăng một lần giảm. Bắt đầu từ loài người sống  84.000 tuổi là cực điểm của số tăng, từ đây qua 100 năm giảm đi một tuổi cho đến khi nhơn loại còn 10 tuổi là cực điểm của số giảm. Rồi lại bắt đầu từ đó cứ 100 năm tăng lên một tuổi cho đến khi loài người sống 84.000 tuổi mỗi lần tăng và giảm như thế là một Tiểu kiếp. Cứ 20 Tiểu kiếp như thế làm thành một Trung kiếp và hiệp bốn Trung kiếp làm thành một Đại kiếp. Tính ra một Đại kiếp có 1.280.000.000 năm.

Đức Phật Thích Ca ra đời vào thời kỳ giảm của kiếp thứ 9 trong kiếp Trụ. Từ một trăm tuổi là thời kỳ Phật Thích Ca ra đời, giảm xuống còn 10 tuổi: lại từ 10 tuổi tăng lên 84.000 tuổi, rồi từ 84.000 giảm xuống còn 8.000 tuổi thì Đức Di Lặc hạ sanh.

Do những lý giải nói trên mà trong Thiền gia có quan niệm rằng Hội Long Hoa còn lâu lắm mới lập.

Tuy nhiên, ngoài lý giải của Đức Tông Bổn, trong Kinh Đại Tập có cho biết rằng: Thời kỳ sau khi Đức Phật Thích Ca tịch diệt chỉ có 2.500 năm phân làm 5 thời kỳ như sau, mỗi thời kỳ là 500 năm:

1. Thời Kỳ Giải thoát kiên cố là thời kỳ người tu hành đều y theo giáo pháp của Phật, nên chứng pháp giải thoát;

2. Thời kỳ Thiền định kiên cố là thời kỳ hành giả y theo giáo lý tu tập các pháp thiền na mà chứng đặc định quả hữu lậu và vô lậu;

3. Thời kỳ Đa văn kiên cố là thời kỳ hành giả y theo mười hai bộ kinh của Phật tu hành mà hiểu thấu các giáo pháp;

4. Thời kỳ Tháp tự kiên cố là thời kỳ người hành đạo chỉ ưa làm hạnh hữu vi lập chùa, đúc tượng, ấn kinh để hưởng phước báo của cõi Nhân Thiên;

5. Thời kỳ Đấu tranh kiên cố là thời kỳ phần nhiều kẻ tu hành hay háo thắng, chia bè kết đảng, chống báng lẫn nhau.

Mặc dầu, đem đối chiếu thời kỳ Đấu tranh kiên cố với hiện tình thời nay, ai cũng thấy có chỗ tương đồng, nhưng vì trong kinh không nói rõ Đức Di Lặc giáng sanh vào lúc nào, mà chỉ thấy nói là vào thời mạt pháp, cho nên về Hội Long Hoa, phái Thiền gia vẫn tin là còn xa lắm.

Vả chăng trong kinh điển còn phân từ Phật ra đời về sau làm ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp và phỏng định thời kỳ Chánh pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mạt pháp là 10.000 năm. Cứ theo Phật lịch mà tính thì hẳn chúng ta ở vào thời kỳ Mạt pháp, nhưng thời này lại kéo dài đến một muôn năm, thế nên phái Thiền gia chưa tin Đức Di Lặc hạ sanh trước khi thời kỳ Mạt pháp chấm dứt.

Tin tưởng Hội Long Hoa lập ra trong một ngày gần đây chăng chỉ thấy có giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và Cao Đài giáo.

2) Phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương 

Có thể nói Đức Phật Thầy Tây An, vị sáng lập ra giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương là người thứ nhứt đã báo hiệu và đánh thức người đời rằng thời kỳ Hạ nguơn sắp mãn để bước sang thời kỳ thượng nguơn, tức là thời kỳ Đức Phật Di Lặc hạ sanh lập lên Hội Long Hoa như Ngài cho biết:

Hạ nguơn đã cận người ôi!

Nay cho giáng bút đề thôi coi đời.

Lời báo hiệu này, Đức Phật Thầy thốt ra trên một năm nay. Ta không phải lấy làm ngạc nhiên về lời báo hiệu của Ngài, là bởi Ngài thấu rõ cơ huyền. Sự giáng lâm của Ngài là cả một sự kỳ bí làm cho mọi người phải kinh ngạc. Ngài không từng tu học, thế mà hoát nhiên tỏ ngộ, không khác trường hợp của Đức Lục tổ Huệ Năng. Ngoài những huyền diệu cứu độ chúng sanh, Ngài còn khai thị pháp môn Tu Nhân Học Phật là một pháp môn thích hợp với trình độ cơ cảm của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp. Ngài mở cơ phổ độ và khuyên hóa nhân dân mau kiếp tu hành cho kịp kỳ dự Hội Long Hoa, chầu Đức Di Lặc.

Danh từ Hội Long Hoa được quảng bá trong dân chúng là bắt đầu từ đó.

Sau Đức Phật Thầy Tây An, còn có các Ngài tiên giác trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương tiếp tục, cũng không dứt nói đến Hội Long Hoa, cho biết rõ những biến thiên sẽ xảy ra thế nào trong những ngày lập hội.

Nhận định về thời kỳ Hạ nguơn, ông Sư Vãi Bán khoai có viết:

Hạ nguơn giáp tý đầu tiên,

Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào.

Hoặc là:

Hạ nguơn giáp tý bằng nay,

Cơ trời đã khiến lập đời Thượng lai.

Về Hội Long Hoa, ông có viết:

Bởi trần lỗi quá muôn phần,

Cho nên lập Hội Long Hoa chọn người.

Hiền từ thì đặng thảnh thơi,

Nghinh ngang khó trốn lưới trời bớ dân!

Và ông quả quyết:

Trẻ già đừng có nghi ngờ,

Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây.

Gần đây Đức Huỳnh Giáo Chủ, cũng là một bực hoát nhiên tỏ ngộ, không học mà thông có cho biết về đời Hạ nguơn không khác gì các bực Tiên.

Hạ nguơn nay đã hết đời,

Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.

Với Đức Phật Thầy Tây An và ông Sư Vãi Bán khoai thì thời kỳ Hạ nguơn chỉ mới bắt đầu, đến Đức Huỳnh Giáo Chủ thì Ngài lại cho biết thời kỳ ấy đã hết.

Thế nên Ngài nói quyết;

Đời Nguơn hạ ngày nay mỏng mẻo,

Khuyên thế trần hãy ráng kiêng dè.

Về Hội Long Hoa, Ngài còn nói rõ hơn nữa, Ngài cho biết đó là một trường thi để tuyển chọn người hiền đức.

Lập rồi cái Hội Long Hoa ,

Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.

Gian tà hồn xác cũng tiêu,

Thảm thương bá tánh chín chiều quặn đau.

Nói tóm lại, các Ngài tiên giáo trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương đều quả quyết rằng đời mạt hạ đã sắp mãn và Hội Long Hoa chắc chắn sẽ được lập một ngày gần đây.

Những điều thuyết giáo này còn được Cao đài giáo xác nhận.

3) Cao-Đài giáo

Cao Đài giáo là một tôn giáo lập lên do Đức Cao Đài Tiên ông và các đấng thiêng liêng xuống cơ giáng bút chỉ dạy. Đã do các điển lành giáng cơ cho nên thấu đáo máy cơ huyền của tạo hóa.

Cũng như các Ngài trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Cao Đài giáo nhận cho rằng thời kỳ này là thời kỳ Hạ nguơn, thời kỳ tận diệt của nhân loại chúng sanh. Để cứu vớt một phần nào những người biết ăn năn, cải dữ về lành, các đáng thiêng liêng mới xuống cơ dạy đạo:

Thầy thương mở lượng từ bi,

Giáng trần khai hóa Tam Kỳ Hạ Nguơn.

Nay là đúng cuộc tuần hườn,

Phật Tiên giáng thế ra ơn độ người.

Chấn hưng giáo lý Đạo Trời,

Hầu toan đánh thức người đời tỉnh say.

Mục đích của Đạo Cao Đài, cũng như phái Phật Thầy là cốt thức tỉnh người đời quay đầu hướng thiện, gắng chí tu hành để một ngày kia dự Hội Long Hoa lập ra trong thời kỳ tận diệt có chọn người hiền đức hầu dựng lên cõi đời Thượng nguơn an lạc.

Cao Đài giáo cũng quả quyết rằng rồi đây Hội Long Hoa sẽ được lập nên không dứt khuyến tu để kịp kỳ dự hội:

Đời vừa gặp lúc Hạ nguơn,

Tang điền thương hải tuần huờn vần xoay.

Thiên cơ khó nỗi tỏ bày.

May duyên mới gặp Đạo Thầy kỳ ra.

Rán tu kịp hội “Long Hoa,”

Trễ rồi một kiếp đọa sa muôn đời.

Dầu cho vật đổi sao dời.

Tu hành cũng được Phật Trời chở che.

Và cũng như giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương. Đạo Cao Đài nhận cơ tận diệt đã hầu gần, vì đã đúng luật tuần huờn đã định.

Đức Cao Đài Tiên Ông đã giáng bút: “Vậy thì ngày nay thế giới đã đúng luật tuần huờn, Thầy đến đặng sẽ đem các con vào một thế giới khác mà cho an nghỉ hầu tầm cơ siêu xuất đến cảnh Thần Tiên. Các con chẳng nên khinh lời ấy là lời dĩ đoan, một ngày kia sẽ có”. (1)

Cứ xem đó, giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và Cao Đài giáo đồng một nhận định về lậu tuần huờn của vũ trụ, tức là cùng một quan niệm về lý Tam nguơn. Trước hết nhận thời kỳ này là thời kỳ Hạ nguơn sắp mãn để bước sang thời kỳ Thượng nguơn, sau là nhận rằng rồi đây sẽ có Hội Long Hoa lập ra để chọn người hiền đức.

Chẳng những thế, mà ngay trong quyển “Di Lặc tôn kinh” cũng đồng một quan niệm như vậy.

4) Quyển Di-Lặc tôn-kinh

Xuất xứ – Quyển Di Lặc tôn kinh ra đời trong một trường hợp khác thường, Cứ như trong kinh đã nói thì quyển kinh này xuất hiện tại thôn Vương gia trang, huyện nhạc Dương, Phủ Bình Dương, tỉnh Sơn Tây, bên Trung Hoa, từ trong tảng đá nứt nẻ ra, sau một tiếng sấm nổ vang.

Năm Bính Thân thuộc đời vua Quang Tự, tức là năm 1896, bản khắc thứ nhứt được in ra, Nay tại Triều nguyên động, ở núi La phù còn giữ nguyên bản. Khi đem vào Việt Nam, quyển Di Lặc tôn kinh được tôn giáo Quý Nam Phật đường ở Hải Phòng cho trùng san. Ông Vũ Xuân Tăng, có dịch ra Việt văn, nhan đề là Di Lặc độ thế chơn kinh, do nhà in Thạnh Mậu cho xuất bản vào cuối năm Canh dần, tức năm 1950.

Có đọc quyển Di Lặc tôn kinh mới hiểu vì đâu Đức Từ Thị hạ sanh rất sớm, khác hẳn thuyết của phái Thiền gia, nhưng trái lại rất phù hợp với Sám giảng của Bửu- Sơn Kỳ- Hương và Thánh Điển của Cao Đài giáo; từ sự nhận định thời kỳ mạt kiếp cho đến việc lập Hội Long Hoa, nhứt nhứt đều không có chỗ nào khác nhau cả.

Lần lượt, chúng tôi xin trình bày nội dung quyển Di Lặc tôn kinh và đối chiếu với tài liệu trong Sám giảng để chúng ta có một nhận định rõ rệt về Hội Long Hoa và thời kỳ Đức Di Lặc giáng thế.

Vì đâu Đức Di Lặc chưa hạ sanh – Cứ như quyển Di Lặc tôn kinh cho biết thì Đức Phật Thích Ca và Đức Di Lặc đã thành tựu công đức trong ba đời, nhưng vì nhân duyên Đức Phật Thích Ca độ thế trước nên Ngài giáng sanh trước Đức Di Lặc.Trong lúc Đức Thích Ca giáng sanh thì Đức Di Lặc an trụ nơi cung trời Đâu suất, đợi ba ngàn năm sau, đến thời kỳ mạt pháp mới hạ sanh lập nên Hội Long Hoa mở ra ba trường thuyết pháp cứu độ chúng sanh.

Đức Phật Thích Ca xuống thế cho đến nay, từ thời kỳ Chánh pháp, bước sang thời kỳ Tượng pháp cho đến ngày nay là thời kỳ Mạt pháp, trải qua một thời gian có trên hai ngàn năm trăm năm. Trong khoảng thời gian ấy “nhân dân giàu nghèo vui khổ chẳng đồng, năm giống thóc ít được mùa, các nước cạnh tranh nhau, bốn phương chẳng yên, trộm giặc thường sanh, tà thần tự nhiên bày ra trăm điều quái dị, khiến cho chúng dân thảm khổ.”

“Nếu đợi ba ngàn năm thì chúng sanh phải khổ, vì rằng trong năm trăm năm đầu mở ra một kỳ sa thải nhơn loại tiếp đó thêm một ngàn năm nữa lại mở ra một kỳ đại sa thải, rồi đến năm trăm năm lại có cuộc biến đổi nữa. Đời mạt kiếp hầu đến, mọi khổ đều sanh, sợ năm giống thóc kém đi, trăm quái vầy đảng. yêu ma họp bầy, kịp sau hai ngàn năm trăm năm. chính là thời kỳ Hạ nguơn.

Thế nên để cứu độ chúng sanh xa lìa những khổ nạn của thời mạt kiếp, “Đức Quan Thế Âm cùng các Thánh chúng” yêu cầu Đức Di Lặc sớm hạ sanh.

Cũng đồng một ý tưởng này, Đức Huỳnh giáo chủ có viết trong sám giảng:

Minh Vương khó đứng khôn ngồi,

Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.

Trước đền mắt ngọc lụy rưng,

Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.

Làm sao cho dạ được vui,

Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.

Và ông Sư Vãi Bán khoai cũng có viết:

Hạ nguơn gian ác rất nhiều,

Thiên đình ngài muốn xử tiêu cho rồi.

Minh Vương không xiết hỡi ôi!

Lo mưu định kế cứu đời Hạ nguơn.

Liền qua Tây Vức Linh Sơn,

Cầu Phật giải cứu cõi trần Hạ nguơn.

Trong lúc các Thánh chúng ai cầu Đức Di Lặc hạ sanh thì giữa pháp hội “có ông Đầu Đà Tôn giả, bực đệ tử thượng thủ của Đức Thế Tôn, thần thông bực nhất, công đức không hai, mười hiệu sắp thành, hành đức viên mãn, thân có vô lượng vô biên hào quang, bước ra lễ bái Đức Thế Tôn mà bạch rằng: Sau hai ngàn năm trăm, chính là thời kỳ mạt kiếp, lòng người gian ác, chẳng tin chánh đạo, nên trời khiến Ma vương trừ bớt kẻ ác, nào là tật ách đao binh, nạn nước lửa, thất mùa cứ đồn đến mà Ngài không hạ sanh, tôi nguyện thay Ngài xuống trần cứu độ năm trăm năm mạt kiếp, người có phước duyên được giữ lại để đợi đến lúc Ngài hạ sanh, thế giới thái bình muôn dân hào vui, vua tôi mừng rỡ, cha con sum vầy, lòng người đều thuận, sẽ thỉnh Ngài xuống trần…”

Đức Di Lặc nhận lời và thọ ký cho Đầu Đà tôn giả với danh hiệu là Ngọc Phật. Rồi đó Ngài vào đại định và khi gậy vàng tự kêu, khánh ngọc tự đánh, Ngài mở mắt pháp thì chợt nghe tiếng nhạc trời loạn tấu và cùng một lúc có ba thiên sứ đến quì trước mặt Ngài mà tâu rằng: Hạn ba ngàn năm, nay đã gần đủ, xin Đức Phật hạ sanh, cứu độ quần mê, khỏi nạn mạt kiếp.

Đức Di Lặc bèn nói với Ngọc Phật rằng: Ngươi từng phát nguyện thay ta xuống trần. Nay có chiếu chỉ của Đức Ngọc Đế, ngươi nên hạ sanh.

Về đoạn này, trong Sám giảng người đời, ông Sư Vãi Bán khoai có viết:

Ta nay vưng lịnh Phật Trời,

Rao cho thiên hạ dưới đời đặng hay.

Hoặc là:

Phật Trời Tiên Thánh sầu bi.

Cậy ông Sư Vãi sau đi giải trần.

Sư Vãi vội vã ân cần,

Đi hết khắp bốn cõi trần van khuyên.

Trong Sám giảng của Đức Huỳnh giáo chủ, cũng có đoạn viết:

Cúi đầu tâu lại cửu trùng,

Ngọc hoàng ban chiếu cho Khùng giáo dân.

Hoặc giả:

Lời văn tao nhã hữu tình,

Bởi vưng sắc lịnh Thiên đình sai ta.

Đức Di Lặc dặn dò – Sau khi được chiếu chỉ của Đức Ngọc Đế dạy xuống trần, Đức Ngọc Phật bạch với Đức Di Lặc rằng: Được Ngài dạy bảo, đệ tử xin hết dạ tuân theo. Nhưng đến năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, đệ tử nên hạ sanh?

Đức Di Lặc đáp: Ngươi phụng ngọc chỉ nên hạ sanh ngay.

Đức Ngọc Phật bạch hỏi: Có Long Thần nào cùng đệ tử xuống trần không?

Đức Di Lặc đáp: Có hai mươi bốn vị Thiên vương hộ trì; lúc ngươi đi có gặp ma nạn quản thủ, nhưng chẳng hại gì, ngươi cứ nhẫn nại giữ mình.

Đức Ngọc Phật bạch hỏi thêm: Làm thế nào cứu được cả thảy nhân dân?

Đức Di Lặc nói: Rộng ban rải mưa pháp, cứu khắp chúng sanh cả thảy Long Thần tự nhiên cảm ứng.

Đức Ngọc Phật bạch hỏi: Làm thế nào cứu được các vị quân vương qui y theo chánh pháp?

Đức Di Lặc dạy rằng: Ta sai các vị Tinh quân lần lượt xuống, lúc ngươi đến đều tụ hợp cho ngươi giáo hóa. Nay ngươi xuống trần giữa lúc đao binh trước hãy cứu độ cho kẻ kia khỏi nạn tên đạn, sau đó gặp lúc bịnh khổ dấy lên hãy cứu độ cho kẻ kia khỏi nạn ôn dịch… Ngươi hãy tuân lịnh, chẳng nên trái ý. Nay ngươi hạ sanh, hết thảy Long Thần, đại chúng cùng theo ngươi xuống trần. Sau khi ngươi giáng sanh, hãy nhớ lời ta dặn bảo, hóa độ chúng sanh, đợi khi ta hạ sanh, ngươi sẽ chứng đắc thượng quả… Thiên hạ thái bình, bốn mùa trường xuân, nhân dân lạc nghiệp. Chính đó là thời kỳ Thánh nhân trị đời, phổ hóa vô cùng, cứu độ chúng sanh, nên người lương thiện chứng bực Thánh nhân.

Về đoạn Đức Di Lặc sai các vị Tinh quân và Thiên Long xuống trần, ông Sư Vãi Bán khoai có viết:

Phật Tiên thôi mới đổi phiên,

Xuống ngay trần thế giả người bần nhơn.

Về điều này, Đức Huỳnh giáo chủ cũng có viết:

Kể từ ngày vàng lộn với thau,

Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.

Hay là:

Cờ thế giới ngày nay gần thúc,

Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.

5) Sứ-mạng của Ngọc-Phật

Sau khi lãnh chiếu chỉ của Đức Ngọc Đế và trước khi xuống trần, Đức Ngọc Phật bèn đến thỉnh giáo với Đức Di Lặc về sứ mạng của mình.

1. Cứu độ người hiền – để hiểu rõ sứ mạng phải thi hành cách nào lúc hạ sanh, Đức Ngọc Phật bạch với Đức Di Lặc rằng:

Vào thời mạt pháp này, chúng sanh mê tới gian ngoan, kết bè hiệp đảng, làm chuyện hung ác, vậy phải  sửa trị thế nào? Dạy bảo thế nào? Khuyến hóa thế nào? Cứu độ thế nào?

Đức Di Lặc cho biết đại khái: Trời đã sai Ma vương xuống trần trừ kẻ hung ác. Những người ở thế gian, tăng cũng như tục, quan lại cũng như chúng dân, kẻ nào bất trung bất hiếu, làm điều tội lỗi, không biết cải hóa thì bị nạn đao binh nước lửa ôn dịch mất mùa trừ diệt. Chỉ người hiền lành thì được giữ lại.

Đức Ngọc Phật bạch hỏi: Thế nào là cực ác nên trừ diệt, cầu xin phân giải.

Đức Di Lặc đáp: Nay ta cùng ngươi đến đây mở xem ngọc chiếu, phóng hào quang soi khắp mười phương, nhứt nhứt trong ngọc chiếu đều có chỉ dạy. Phàm kẻ làm ác. Trời khiến Ma vương cùng Linh quan cứ theo tên họ đã ghi trong sổ mà trừ diệt đi. Ngươi xuống trần sẽ thấy công án đã lập thành.

Bấy giờ, Đức Di Lặc cùng Đức Ngọc Phật mở pháp nhãn, xem bổ sở của Ma vương ghi chép thì thấy rõ, nào là:

Hạng tu hành giả dối như thầy tu, đạo sĩ, cư trú nơi danh sơn, ở những đền chùa nguy nga, chạm trổ hoa mỹ, sơn son phết vàng, mặc hàng lụa chẳng công nuôi tầm ăn cơm gạo chẳng công cầy cấy, có ruộng miễn thuế, hưởng cảnh thanh nhàn, từ bỏ họ tổ tiên, quên công ơn cha mẹ; đó không phải là hạng chơn tu.

Hạng dân dâm như làm chuyện loạn luân với người trong họ hàng quyến thuộc, hoặc dâm vợ con hằng hữu, chiếm cả mẹ lẫn con, giết chồng người đoạt vợ, làm xấu xa tổ tiên cha mẹ. Lại có hạng gái lăng loàn trắc nết, hợp đoàn kết lũ, làm chuyện dâm ô, trăng gió đê hèn mê hoặc người cho hao tiền tổn mạng.

Hạng sát sanh hại vật như giết người đoạt của làm thịt các loài vật không có chút lòng nhơn, cúng tế tà thần, uống ăn hỗn tạp.

Hạng trộm cướp như chặn người giựt của, tìm cách đào ngách khoét tường, tính toan trăm mưu ngàn kế bất lương để cưỡng đoạt tài sản người.

Hạng tham quan ô lại chẳng chút thanh liêm, chỉ mong vơ vét cho đầy túi tham, bày ra đủ cách tàn hại dân lành, lấy dại làm ngay, binh tà bỏ chánh, không lòng trung thành, hiếu thuận.

Hạng cường hào ỷ thế lực đồng tiền, cậy trí óc khôn ngoan, húng hiếp kẻ nghèo nàn cô thế, những toan tóm thâu ruộng đất người, vợ con người, lường công cướp của, gian ác hung tàn.

Hạng gian thương lường công tráo đấu, mua một bán lời mười, tăng cao thời giá làm hại dân lành, chỉ mong thủ lợi, giả mạo hàng hóa, gạt gẫm người đời, mà mắt thế gian, đầu cơ lũng đoạn.

Hạng hủy báng Thần Thánh không tin có Trời Phật, ngạo báng Thánh Thần, khi dễ kẻ tu hành, chê người lương thiện, phá chùa đốt miểu, đập tượng hại tăng, không hiếu thuận mẹ cha, làm lắm điều hung ác.

Hạng mê tín dị đoan thờ phượng tà thần, sát sanh cúng tế, không tin ở luật báo ứng, tin nhảm làm càn, mê mê muội muội, hoặc loạn thế gian theo mị tà ma quỉ.

Hạng quân lính bất lương cậy thế lực nhà binh, đánh người lương thiện, hôi của lấy đồ, trăm cách lừa dối, làm khốn khó dân lành, lớn lối mắng chửi.

Đó là những hạng người có tên trong bộ sổ của Ma vương, trước sau gì cũng bị trừ diệt.

Đến như hạng người hồi tâm tu niệm, hiếu thuận hai thân, sửa tánh trau tâm, làm phước làm đức, đều được hộ trì, cứu độ được sống, khỏi gặp tai nạn, dầu ở trong chỗ giặc giã binh đao cũng không hề tổn hại.

Về việc trừ diệt kẻ hung ác, cứu hộ người hiền lành, trong Sám giảng người đời của ông Sư Vãi Bán khoai có đoạn nói đến.

Bởi trần lỗi quá nhiều phần,

Cho nên lập Hội Long Hoa chọn người.

Hiền từ thời đặng thảnh thơi,

Nghinh ngang khó trốn lưới trời bớ dân!

Đức Huỳnh giáo chủ cũng có viết:

Tu kíp kíp nếu không quá trễ,

Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng;

Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,

Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.

Hay là:

Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,

Cảnh sông máu núi xương tha thiết.

Về việc Trời khiến Ma vương xuống thế, Đức Huỳnh giáo chủ cũng có cho biết:

Thời kỳ này nhiều quỉ nhiều ma,

Trời mở cửa quỉ vương xuống thế.

2. Tiêu diệt Tà thần – Ngoài những hạng người hung ác, còn thấy những hạng tà thần, như Thần đàn xã miếu đều là tinh đá tinh gỗ; các loài tinh rắn, trùng, cáo, thỏ, chó, ngựa, trâu, dê; các loài yêu quái do vàng, đá, khí, huyết biến thành; các loài quỉ thọ hưởng đồ cúng tế, chuyên làm hại người.

Lại thấy các loài thần quái làm ngăn trở gió mưa sái mùa sái tiết, hư hại giống thóc; các loài thủy tinh như rồng, rắn, rùa, trạnh; các loài yêu như cá, lươn, ốc, hến làm cho nước sông tràn lụt, tổn hại nhơn dân.

Lại thấy các thần ở miễu lớn, các tướng ở núi cao, đòi hưởng đồ cúng tế khó kiếm, cố ý phò hộ người ác, làm hại kẻ hiền.

Lại thấy giáo pháp của Đức Thích Ca, trong ba ngàn năm, giới luật dần sai, khiến cho các thiền sư bắt chước, không giữ ngũ giới tam qui.

Lại thấy các tòa minh ty ở địa phủ, chỗ tra khảo quỉ ma biến hiện ra nhiều hình phạt, như cưa xẻ dã đăm, gông cùm khảo kẹp, hóa hiện ra cháo lú bắt hồn mê phải ăn, cho không còn nhớ những việc làm lúc sanh tiền để khai sanh làm người, làm súc sanh, sâu bọ, chẳng biết được thân ác, rồi gây lấp nghiệp, bị sa vào địa ngục, chịu mọi sự khổ, lăn lộn mãi trong vòng luân hồi sanh tử.

Lại thấy một trăm hai mươi hung thần chuyển việc xem phương hướng, đem điều hung kiết về năm, tháng, ngày, giờ bày ra dạy người tin theo.

Lại thấy người thế gian tin thầy địa lý, dạy nhưng điều huyễn hoặc nào là chọn nơi long hổ kỳ tú mà chôn thì được phước, còn gặp phải cuộc đất hung  nghịch mà chôn thì mang họa v.v…

Các loài tà ma quỉ quái, hung thần ác sư đó đều bị trừ diệt; các nơi địa ngục, minh ty với những hình phạt gớm ghê kia đều được dẹp bỏ. Những cảnh tối tăm sẽ biến thành nơi thanh tịnh. Những hố lửa làm đài sen chúng sanh đều được an vui như ở cõi Tây phương cực lạc.

Tạo lập đời Thượng nguơn – Về việc trừ diệt kẻ hung ác và tà thần. Đức Di Lặc và Đức Ngọc Phật hiểu qua nhưng còn công cuộc kiến thiết thế nào?

Đó là điều trước khi lãnh ngọc chiếu xuống trần, Đức Ngọc Phật muốn biết nên chi Ngài bạch Đức Di Lặc rằng: Tôi nay thay Đức Thế Tôn xuống trần, nên thay đổi sửa chữa cách nào?

Đức Di Lặc nói: Đương lúc này, khiến người trước khi ta xuống trần, thành Phật nói pháp, phải tận diệt tất cả những vật không ích lợi, làm hại người ; chỉ nên lưu lại những vật có ích cho thế gian mà thôi. Những loài sâu, rắn, hùm, sói, chồn, cáo, khỉ, thỏ, rít, thằn lằn, muỗi, rận, rệp… những vật độc ấy đều trừ bỏ hết khiến cho người thế gian được hưởng yên vui.

Sau khi ta xuồng trần, sẽ khiến cho các tòa Trời mưa xuống vàng ròng, gạo trắng hoặc trong năm hôm hoặc trong mười ngày một lần, làm cho mặt đất thay đổi, tự nhiên no đủ, được thọ dụng các vật ấy.

Lại khiến hết thảy loài cỏ vô ích trên thế gian đều trừ diệt, khắp núi đồi khắp mặt đất đều có sanh các thứ thóc, chóng lớn chóng sanh, giúp cho nhơn dân lấy đó mà nuôi sống.

Lại khiến hết thảy loài cây vô ích ở thế gian cũng đều trừ khử, khắp trên mặt đất, chỗ cao cũng như chỗ thấp, đều mọc lên cây cối có trái ăn được, trái lớn thì bằng cái đấu, trái nhỏ thì bằng cái thăng mùi vị thơm tho ngon ngọt, ăn một bữa no nhiều ngày, ăn vào sống lâu, làm tươi nhuận nhan sắc, không hề có tật bịnh hay chết yểu

Lại khiến sanh ra một thứ cây lá dài lại mềm mại như gòn như lụa, dùng làm y phục, để cho nhân dân lấy đó mà may mặc.

Khí hậu không lạnh không nóng, nhân dân không nghèo không giàu, người người đều đoan chánh, tướng mạo thanh kỳ, chẳng dâm dục, chẳng xướng hát, chẳng giỡn cợt, chẳng loạn động; kẻ kẻ tu hành, người người niệm Phật, Người thảy sống lâu, từ 3 vạn 9 ngàn tuổi; thân hình cao lớn, khi mới sanh biết đi, Lúc bấy giờ, hễ muốn mặc thì liền được y phục như ý muốn, từ chỗ hư không đưa đến, hễ muốn ăn thì liền được đồ ăn ngon lành, tự nhiên dưng lại, ăn bao nhiêu tùy ý.

Cõi đất cũng như Thiên đàng, cùng được thọ ký với ba cõi Trời, chẳng sanh chẳng diệt, càng nhiều càng rộng. Đời không có khí trược, đất thở ra mùi thơm. Cả thảy nhơn dân ở các phương trời khác, đều niệm danh hiệu ta, nguyện sanh về nước ta. Vừa sau khi ta hạ sanh, chủ trương khuyến hóa độ cả nhân dân.

Từ đó về sau cả thảy việc gì cũng lạ lùng mầu nhiệm, không thể lường được, chẳng khá nghĩ bàn nói không hết được.

Này Ngọc Phật! Này Ngọc Phật! Người hãy đi trước, ta sẽ thân đến.

6) Kết-luận

Sau khi đọc quyển “Di Lặc tôn kinh” và hiểu rõ sứ mạng của Đức Ngọc Phật vì đâu thay thế Đức Di Lặc xuống trần, chúng ta tin chắc rằng Hội Long Hoa sẽ được lập lên không bao lâu, đúng với Sám giảng của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương và cơ bút của Cao Đài giáo đã cho biết.

Nhưng Hội Long Hoa được lập ra sớm hay chậm, điều đó một phần lớn tùy ở chúng sanh  cả.

Sở dĩ Đức Ngọc Phật phải thay thế Đức Di Lặc xuống trần sớm, không như phái thiền gia đã hiểu cái thời kỳ hạ sanh ấy còn rất xa xôi, là bởi chúng sanh ở thời kỳ Hạ nguơn này quá nên hung ác.

Căn cứ theo Sám giảng thì cơ tận diệt đã mở màn từ năm Giáp tý (1864), tức là thời kỳ nhân loại bước vào Hạ nguơn như ông Sư Vãi Bán khoai đã viết:

Hạ nguơn giáp tý đầu niên,

Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào.

Nếu đem đối chiếu, chúng ta thấy rằng thời kỳ Hạ nguơn mà Sám giảng đã nói, tương đương với thời kỳ mà các nước văn minh Âu Tây bước vào giai đoạn kỹ nghệ cơ khí phát hưng.

Chính bắt đầu từ thời kỳ này, con người vì đắm say theo sự phát triển của các cuộc phát minh cơ khí, mang lại những kết quả nhãn tiền về vật dục, cho nên mất dần bản tánh thiện lương, đi sâu vào cuộc tranh đấu một ngày một thêm tàn khốc. Với mục đích tranh lấy quyền lợi cho mình, cho dân tộc mình, con người trở nên hung ác bày ra lắm mưu mô xảo trá bất nhân, mong hại người để đem lợi về mình. Sự tranh chấp ấy thúc đẩy xã hội loài người tiến mạnh trên con đường tội lỗi. Do đó, thuần phong mỹ tục suy đồi, đạo lý luân thường đảo ngược.

Đó là nguyên động lực thôi thúc Đức Ngọc Đế ra sắc chỉ cho Đức Ngọc Phật cùng các vị Thánh Tiên gấp rút lâm phàm, giáo hóa nhân dân chuẩn bị ngày Đức Di Lặc hạ sanh, lập Hội Long Hoa. chọn người hiền đức hầu xây dựng cõi đời Thượng nguơn an lạc.

Đã đành Hội Long Hoa sẽ do Đức Di Lặc tạo lập, nhưng lập sớm hay muộn đều tùy ở chúng sanh cả. Nếu mọi người đều hiền lành, đối xử nhau bằng nhân nghĩa, thương yêu nhau, các quốc gia đồng cùng nhau gây nền hòa bình, hạnh phúc chung cho cả nhân loại thì Hội Long Hoa chắc sẽ còn lâu lắm mới lập.

Ví bằng con người quá hung ác, tìm cách tiêu diệt lẫn nhau, xem nhau như thù địch thì chính đó là thời kỳ Hội Long Hoa được lập ra để cứu độ những người hiền đức.

Giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương cũng như Cao Đài giáo nhận định ngày Hội Long Hoa lập ra không còn xa, chẳng qua đã rõ thấu huyền vi của cơ tạo hóa. vả lại mấy Ngài trong giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương cũng như các bậc Thánh Tiên giáng bút trong Cao Đài giáo đều được lịnh của Đức Di Lặc và Đức Ngọc Đế xuống trần mở cơ phổ hóa, mấy Ngài đã có sứ mạng thì hẳn mấy Ngài phải cho chúng sanh biết trước để dọn mình cho được hiền đức có kịp kỳ đón rước Đức Di Lặc giáng lâm và dự vào Long Hoa Đại hội.

B.- Cứu-cánh của học Phật

1) Cõi Cực-Lạc

Cứu cánh của Học Phật là đạt đến cõi Cực lạc của Đức Phật A- Di- Đà. Vậy cõi Cực lạc là thế nào mà các Ngài khuyên ta tu về cõi ấy?

Trong kinh A-Di-Đà, Đức Phật Thích Ca có cho biết rằng: Từ đây trải qua 10 muôn ức cõi Phật, thuộc về hướng Tây có một thế giới tên là Cực lạc. Cõi đó có Đức Phật A- Di- Đà, hiện nay đang thuyết pháp. Sở dĩ có tên Cực lạc là vì những người sanh về cõi đó hoàn toàn an vui không còn chịu mọi sự khổ.

Cảnh trí rất mực đẹp xinh, làm toàn bằng bảy thứ báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Khắp nơi đều có ao báu, trong ao chứa một thứ nước có 8 công đức, mọc đầy sen quí, mùi vị thơm tho, sắc màu rực rỡ.

Trên bờ có cây báu sấp thành bảy, có bảy lớp lan can, bao phủ bởi bảy lớp lưới kết bằng diệu chơn châu chiếu ra ánh sáng.

Ngoài ra, còn có đường sá, lầu các cung điện, nhứt nhứt món gì cũng làm bằng bảy báu cả. Chung quanh cung điện có cả trăm thứ hoa lá kỳ tú, khi gió động thì phát ra những tiếng nhạc pháp, có nhiều thứ chim, tiếng hát hòa nhã, diễn thành hưng pháp vi diệu.

Trong cảnh trí thanh tịnh trang nghiêm ấy, con người đều từ trong hoa sen sanh ra, hình thể khinh thành, không còn ô trược, lại hằng làm bạn với các bực thượng thiện, cho nên tâm không thối chuyển, một mực tu hành cho đến ngày quả mãn công thành.

Thật là một thế giới an vui tột bực, ngoài sức nghĩ bàn. Thế mà, người muốn sanh về cõi ấy lại không khó, chỉ chuyên tâm niệm danh hiệu Đức Phật A- Di- Đà, khi lâm chung mà tâm không tán loạn thì chắc chắn được Ngài tiếp độ.

Khi thuyết kinh A-Di-Đà, Đức Phật Thích Ca cho là một việc hy hữu, hơn nữa, sợ chúng sanh ở cõi ngũ trược ác thế không thể tin được nên Ngài không dứt lặp lại câu: Đây là “nan tín chi pháp” (Pháp khó tin).

Đức Phật sợ người đời sau hoài nghi, nên dè dặt nói trước là “pháp khó tin” để cho mọi người “hoan hỷ tín thọ” (vui vẻ tin theo). Hầu tránh cái đoạn nghi chấp.

Mặc dầu Đức Phật đã nói trước, nhưng kẻ hậu học ngày nay, khi đọc kinh A-Di-Đà vẫn còn nhiều người ngờ vực. Trong số những luận điệu hô hoặc, đại khái có thể phân làm ba loại như sau:

1. Nói cõi Cực lạc không thật có. Bất cứ sự vật nào, dầu làvật vô hình như tư tường, cũng không ở ngoài luật hằng chuyển, biến dị, dịch hóa. Đã có sanh thì phải có diệt, không có vật nào trường tồn bất biến. Thế giới Cực lạc cũng là một thế giới như bao nhiêu cõi khác, đương nhiên phải chịu luật biến dị, thế mà trong kinh A-Di-Đà nói rằng nhân dân ở cõi đó thọ mạng “vô lượng vô biên A tăng kỳ diếp” và Đức Phật A- Di- Đà đã thành Phật đến nay kể có 10 kiếp. Như vậy là không có luật biến dịch chi phối sao? Do đó mà nhiều người không tin cõi Cực lạc có thật.

2. Nói Phật A- Di- Đà là một thần thoại. Cùng một quan niệm phủ định như trên, có người cho rằng: Đức Phật “A- Di- Đà chỉ là một vị thần trong thần thoại” “chỉ là Thích già thì hóa ra”, “chỉ là lý tưởng hóa của trí từ bi mà thôi” (1)

3. Nói kinh  A- Di- Đà là một bài ngụ ngôn – Không đến đỗi phủ định tiêu cực như hai hạng trước, có một hạng người còn tin Phật, thay vì nói cõi Cực lạc không thật có, họ lại cho rằng kinh A- Di- Đà là “một bài học ngụ ngôn, ví chẳng khác những ngụ ngôn của thi sĩ kiêm luân lý gia Lã phụng tiên (La Fontaine) của Pháp”. Bởi không dám bài bác lời Phật nói, vì Phật không bao giờ nói ngoa, “họ bèn nghĩ đến cái lối ngụ ý của Phật, dùng “hiển”  chỉ  “ẩn”,  dùng sắc tướng vật chất để chỉ cái vô vi tinh thần”.

Rồi để minh chứng cho lập luận của mình, họ mới tìm tòi những lối biện giải thích dương như sau:

Họ cho rằng Ao bảy báu là chỉ thất Thánh tài (bảy báu của Thánh) như:

1- Giới (giới cấm);

2- Tín (đức tin);

3- Văn (nghe kinh);

4- Tinh tấn (Sấn sướt);

5- Tâm (Hổ thẹn);

6- Huệ (sáng tỏ);

7- Xả (bỏ dục lạc).

Nước Tám công đức là ám chỉ tinh thần sảng khái, thân thể được 8 đặc điểm:

1- Mắt trong;

2- Thân mát;

3- Miệng thơm;

4- Thịt mềm;

5- Da trơn;

6- An hòa;

7- Không đói khát;

8- Thân được giải thoát.

Bảy hàng cây là thí dụ bảy điều giác ngộ:

1- Trạch pháp (Chọn pháp);

2- Tinh tấn (Quyết đi tới);

3- Hỷ xả (Vui bỏ mọi cố chấp);

4- Kinh an (Coi nhẹ sự an ổn xác thân);

5- Niệm (Nhớ điều lành);

6- Định (Tâm không xao động);

7- Hành xả (Bỏ cách tu hành bề ngoài).

Bảy lớp lan can là ám chỉ bảy điều răn:

3- Của thân là: sát sanh, trộm cắp, tà dâm,

4- Ở miệng là: nói dối, đâm thọc, chưởi mắng, ỷ khôn lanh.

Bảy lớp lưới là ám chỉ 7 đức tánh của người tu Đại thừa:

1- Tâm

2- Pháp

3- Giải

4- Tịnh (Trong sạch)

5- Tư (Nuôi dưỡng tâm trong sạch)

6- Thời (Biết ngày giờ tu tập),

7- Quả (Kết quả).

Đại loại lối biện giải ngụ ngôn là như thế, nghĩa là tìm tòi những đoạn văn hay pháp ngữ nào trong điển phù hợp với kinh A-Di-Đà thì đem ra áp dụng, rồi biện giải rằng Đức Phật muốn mượn ý đó mà dạy người đời những pháp tu để được phá vỡ vô minh phát khai trí tuệ.

Nói tóm lại dầu không phủ nhận lời nói của Đức Phật Thích Ca, nhưng luận điệu của phái thứ ba cũng không khác gì hai phái trước, tựu trung đều nhận cõi Cực lạc là không thật có.

Có qua cõi Cực lạc chỉ là một danh từ tượng trưng chăng?

Trước khi đề cập đến những luận cứ trên, chúng ta nên xét coi lời nói của Đức Phật có hàm ý nghĩa ngụ ngôn hay không?

Điều mà người đều công nhận là không bao giờ Đức Phật nói chơi hay nói quanh. Các kinh điển cho ta thấy rằng lời nói của Ngài luôn luôn chơn thật, không hý luận. Trong các Kinh Luật. Ngài nghiêm cấm nói dối thì ta không thể nghi ngờ lời của Ngài là hý luận.

Kinh Kim cang có viết: “Như lai thị chân ngữ giả,thiệt ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả.” Lời nói của Như Lai là lời nói chơn thật, lời nói như một, không nói dối không nói khác.

Trong kinh Đại Tập cũng có viết: “Mãnh phong khả thuyết tác hệ phược. Tu di khả thuyết khẩu suy động. Bất khả thuyết Phật hữu nhị ngữ, Thiệt ngữ, như ngữ cập tịnh ngữ”. Gió bạo có thể nói là sợi dây ràng buộc, núi Tu di có thể nói dùng miệng thổi bay, nhưng không thể nói Phật nói hai lời. Vì lời nói của Ngài là lời nói chơn thật, như thật, lời trong sạch.

Vậy đủ cho ta tin rằng lời nói của Phật bao giờ cũng chơn thật, những điều Ngài nói ra không phải là những câu chuyện thần thoại. Nếu cần phải dùng đến cái “hiển” để chỉ cái “ẩn thì Ngài cũng không bao giờ dùng lối ngụ ngôn hay thần thoại mà thường dùng lối tỷ dụ, dùng quyền pháp để dắt dẫn chúng sanh đi đến thiệt pháp. Thế thì kinh A-Di-Đà có phải là một pháp quyền dùng hiển để chỉ ẩn, như luận điệu đã nhận đó là một bài học ngụ ngôn không?

Nếu cõi Cực lạc không thật có và kinh A-Di-Đà là một bài học ngụ ngôn, dùng quyền pháp để hiển lộ thiệt pháp thì lẽ nào các vị Bồ tát như Đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Phổ Hiền, các vị Tổ như Long Thọ, Mã minh, cùng các vị Thiền sư như Bách Trượng, Thiên Như, Linh Chi, Viễn Công Trí giả, các Tổ trong Tịnh độ tông… là những bực tiên giác, sáng tỏ lại không nhận ra, mà trăm người như một, hết lời tán thán cảnh trang nghiêm của cõi Cực lạc khuyến tấn chúng sanh cùng tu Tịnh nghiệp.

Một bằng chứng là các ngài đã gia công sáng tác rất nhiều kinh sách xiển dương pháp môn Tịnh độ, như Liên tông bửu giám, Tịnh độ cảnh quán yếu môn, An lạc tập Quyết nghi luận, Tịnh độ cảnh quán yếu môn, An lạc tập, quyết nghi luận, Tịnh độ chỉ qui, Tịnh độ văn, Tây quí trực chỉ, Thập nghị luận. Hoặc vấn, An dưỡng phú v.v..

Ngay trong khế kinh của Đức Phật, ngoài ba bộ kinh: A-Di-Đà, vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ là những chánh kinh về Tịnh độ, còn có những kinh: Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng nghiêm, Bảo tích… trong đó Đức Phật thường nhắc đến cõi Cực lạc và pháp môn niệm Phật.

Các vị Bồ tát và Tổ sư không một vị nào nhân kinh A-Di-Đà  là quyền pháp cả, chúng ta sanh vào thời mạt pháp, căn cơ thiển bạc, há lại tỏ ngộ hơn mấy Ngài ư?

Phương chi, trong phần duyên khởi kinh quán vô lương thọ, Đức Phật đã dùng thiệt ngữ chỉ cho bà Vi đề hy thấy cảnh Cực lạc là một cõi hiện thực. Nhắc lại khi bà Vi đề hy vợ của vua Tần Bà sa la bị con là A xà thế nghe theo lời của Đề bà đạt đa giam cầm vào lãnh cung thì sanh lòng buồn thảm. Đức Phật bèn hiện đến khai ngộ bà, dùng uy lực cho bà thấy rõ các cõi uế tịnh. Sau khi thấy được cảnh Tịnh độ thì bà rất hoan hỷ quyết sanh về cõi đó. Nếu cõi Cực lạc không thật có, vậy thì cảnh mà bà nhớ uy lực của Phật trợ cho thấy đó chẳng phải là thiệt cảnh Tịnh độ sao?

Thêm một dẫn chứng nữa là trong kinh Bồ Tát xứ thai có cho biết rằng: từ cõi Diêm phù đề, cách 12 ức Na do tha thuộc về hướng Tây, ở phân nửa đường đi cõi Cực lạc, có một quốc độ tên là giải mạn giới là cõi không kém gì cõi Cực lạc về sự trang nghiêm khoái lạc. Sở dĩ có tên là Giải mạn quốc là vì những người tu Tịnh nghiệp nhưng tâm còn giải đãi (giải). kiêu mạn (Mạn), nhiễm trước dục lạc thì vì tâm mê trước ấy mà sanh về cõi Giải mạn, không tiến nổi đến cõi Cực lạc.

Như thế cõi Cực lạc không sao có thể nói được là không thật có Đức Phật A-Di-Đà  là một thần thoại.

Dầu vậy, chúng ta cũng nên tiến thêm một bước nữa xét coi Cực lạc có ở ngoài sự tác động của luật hằng chuyển như nghi vấn đã nêu ra không?

Cứ theo kinh điển thì các quốc độ hay thế giới sở dĩ thành lập, điều kiện then chốt là do nghiệp lực sanh khởi, Tất cả vạn tượng đều do nghiệp lực của chúng sanh cảm sanh ra. Mỗi thế giới trong vũ trụ, từ thô hình cho đến khinh thanh đều là quốc độ của mỗi hạng chúng sanh đồng một nghiệp cảm. Trong kinh Lăng nghiêm, Đức Phật đã giải rõ các hạng chúng sanh và các cõi đồng nghiệp cảm của họ, từ cõi Địa ngục cho đến các cõi Trời hữu sắc và vô sắc, Các cõi ấy không do quyền lực hữu ngã nào sáng tạo, mà là do nhân duyên của các đồng nghiệp sanh khởi. Như cõi Ta bà chẳng hạn, khi các nhân duyên hòa hợp thì tu, đến khi các nhân duyên chia ly thì tán.

Các cuốc độ khác thành lập cũng không ngoài nguyên lý nhân duyên hòa hợp ấy. Nhưng đối với các cõi Phật, ngoài nghiệp cảm duyên khởi, sự thành lập còn tùy thuộc ở nguyện lực của vị Phật giáo chủ ở cõi đó. Như trường hợp cõi Lưu ly của Dược sư Như lai hay cõi Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà mà các kinh thường nói đến, thì ta thấy rõ cái chủ lực sáng tạo đều hoàn toàn do công đức của vị  Phật giáo chủ cả. Với một vị Phật công hạnh, viên mãn thì không ai dám phủ nhận là không đủ uy lực để tạo ra một thế giới theo biệt nguyện. Mà đã do nguyện lực của một vị Phật tạo thành thì thử hỏi cõi đó còn bị chi phối bởi luật vô thường như các cõi do nghiệp cảm của chúng sanh duyên khởi chăng?

Cứ như khế kinh thì từ cõi Nhị thiền trở lên, các tam tai (Thủy tai, Hỏa tai, và phong tai) khởi lên trong thời kỳ Hoại kiếp vẫn không hề đả động đến. Trong lúc đó thì các cõi từ Nhị thiền trở xuống đều bị phá hoại. Nếu nói rằng vạn vật đều ở trong luật biến di, vậy chúng ta phải cắt nghĩa thế nào khi nói đến các cõi từ Nhị thiền trở lên. Chẳng lẽ chúng ta lại cho rằng kinh điển nói không thật.

Các cõi Thiền do nghiệp lực của chúng sanh duyên khởi còn bền vững lâu dài như thế thì với những cõi do nguyện lực của một vị Phật tạo thành như cõi Cực lạc của Phật Vô lượng thọ, Vô lương quang, chúng ta lại hoài nghi sự trường tồn của nó sao?

Chúng tôi nói đến trường tồn, chớ chưa nói là không có dịch biến, nhưng sự dịch biến không phải mau chóng như các cõi hữu hình hay thế gian. Như cõi Ta bà là cõi hữu hình mà còn biến hoại trong vòng một Đại Kiếp (1.280 triệu năm) thì cõi khinh thanh như cõi Cực lạc, dầu có biến dịch cũng phải muôn triệu lần lâu hơn. Phương chi cõi ấy lại nhờ nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà và các hàng Bồ tát duy trì thì sự dịch biến dầu có, đâu phải với óc phàm mà biện luận được.

Trong kinh Bí Hoa có nói rằng: Sau khi Phật A-Di-Đà nhập Niết bàn thì Đức Quán Thế Âm thành Phật, hiệu là Biến xuất Nhứt thiết quang Công đức Sơn Như Lai. Xem đó, cõi Cực lạc nào đâu chẳng có sự dịch biến.

Nói tóm lại, với những lý giải như trên, chúng ta tin rằng cõi Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà là một cõi có thật và từ trước đến nay những người tu Tịnh nghiệp, đa số đã được vãng sanh. Người sanh về cõi này chẳng phải trụ luôn ở đó mà chỉ lưu ngụ trong một thời gian học Đạo, đến khi quả mãn công thành thì trở lại cõi trần từ duyên hóa độ.

Đức Huỳnh giáo chủ chứng minh điều đó trong câu: “Nếu ai giữ được trọn lành trọn sáng, về cõi Tây phương an dưỡng mà học đạo cho hoàn toàn đặng trở về cứu vớt chúng sanh“.

Và Ngài còn thổ lộ cho ta biết:

Ta chịu lịnh Tây phương thọ ký,

Giữ nghiệt long đặng cứu bá gia.

Và rõ hơn nữa:

Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

Đức Di Đà truyền mở đạo lành.

Bởi vì Ngài thương khắp chúng sanh.

Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.

Nếu những biện giải, chứng minh trên đây chưa đủ cho người đời nay tin cõi Cực lạc là một cõi hiện thực thì chúng ta cũng không lấy làm lạ về thái độ dè dặt của Đức Phật Thích ca khi Ngài nói kinh A-Di-Đà  là “pháp khó tin của tất cả các pháp thế gian”.

2) Gấp tu Tịnh-nghiệp

Phải tu Tịnh nghiệp mới kịp kỳ cấp bách của Hạ nguơn, vì là một pháp môn phù hợp với căn cơ của chúng sanh ở thời mạt pháp, bởi dễ tu nên hầu hết chúng sanh đều có thể tu hành được.

Trong Thập trụ Bà xa luân có nói rằng: Cái hiện tình tu Phật ở thế giới này có hai con đường:

1- Đường khó đi;

2- Đường dễ đi.

Đường khó đi là nói: ở trong đời, ngũ trược ác thê mà trải qua thời kiếp của vô lương Phật ra đời để cầu lên bực bất thối chuyển là khó được.

Nỗi khó ấy không thể kể xiết, nhưng ước lại có năm điều:

1- Vì thân cận với ngoại đạo mà tạp loạn pháp Bồ Tát;

2- Vì kẻ khác phá mất đức thù thắng;

3- Vì cái quả điên đảo mà làm bại hoại phạm hành;

4- Vì hàng Thinh Văn tự lợi mà chướng ngại cái tâm đại từ;

5- Vì chỉ có tự lực mà không có tha lực hộ trợ.

Thí như người què đi bộ, dầu cố sức cho mấy cũng không qua một ngày đi vài dặm đường là cùng thì đủ thấy sự gian nan không sao kể xiết. Đó là nói đường khó đi, tức là con đường tự lực vậy.

Con đường dễ đi là nói: tin theo Phật mà tu pháp môn niệm Phật cầu sanh về Tịnh độ thì chắc chắn nhờ nhiếp lực của Đức Phật A-Di-Đà mà được vãng sanh… Việc ấy dễ dàng như người đi đường nước mà nhờ sức thuyền chuyên chở thì trong giây lát đi ngàn dặm. Đó là nói đường dễ đi, tức là con đường tha lực vậy.

Và trong kinh Đại Tập Nguyệt tạng cũng có nói: Ức triệu chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp tu hành mà chưa có một người được chứng quả là vì đời ngụ trược ác thế tập học khó thành, chỉ có một môn niệm Phật là dễ thông vào đường chánh đạo mà thôi”.

Thì ra các kinh luận đều nhận chỉ có pháp môn niệm Phật cầu sanh về Tịnh độ là thích hợp với căn cơ của chúng sanh ở mạt pháp.

Vì sao? là vì con người sanh ra trong thời kỳ ngũ trược ác thế này, phước mỏng tội dày không thể tự lực tu hành để được giải thoát như hạng thượng trí. Thế nên cần phải nhờ có thuyền chuyên chở mới đem đi được.

Niệm Phật là một pháp môn phổ cập cho tất cả các hạng người, dầu thiểu căn thiểu trí, nghiệp chướng sâu dày cũng đều có thể thực hành không phải, Chỉ chuyên niệm danh hiệu của Đức Phật A-Di-Đà là được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc, không còn bị ác duyên chướng ngại hay thối chuyển như tu các pháp môn khác.

Pháp môn niệm Pháp đã thù thắng và dễ dàng như thế. Nhưng muốn niệm cho có hiệu quả, ngoài việc chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà, còn phải thi thiết một vài công hạnh để gây lấy trợ duyên và làm nền tảng vững chắc cho bước đường tu Tịnh nghiệp, nghĩa là ngoài tha lực còn cần phải vận dụng tự lực. Có như thế mới mau kết quả, cũng như muốn cho người trên mạn thuyền cứu hộ, kẻ trầm nịch phải cố hết sức mình vọt lên mặt nước.

Trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật có nói rằng: “Dục sanh Tịnh độ, đương tu tam phước, nhứt giả; hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp; nhị giả; thọ trì tam qui cụ túc chúng giới, bất phạm uy nghi; tam giả; phát Bồ đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng Đại thừa”. Muốn sanh về cõi Tịnh độ, phải tu ba phước:

1- Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ các bực sư trưởng, giữ lòng hiền lành, không giết hại sanh mạng và tu mười nghiệp thiện;

2- Thọ trì pháp tam qui, cụ tác giác hạnh và đừng phạm uy nghi;

3- Phát tâm Bồ đề, tin lý nhân quả và đọc tụng các kinh Đại thừa.

Cứ xét ba điều phước đã kể, chúng ta nhận thấy điều thứ nhứt gồm cả những việc Tu Nhân, còn hai điều sau là thuộc về việc Học Phật.

Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ kính trọng các bực sư trưởng, giữ lòng hiền lành đối với tất cả mọi người. không giết hại sanh mạng và tu mười nghiệp thiện để sửa trị thân, khẩu, ý cho được chánh chơn thuần mỹ; thế chẳng phải là những điều căn bản của việc sử thế tiếp vật thuộc về đạo làm người đó sao?

Đến như thọ trì tam qui, tức qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, cụ túc các giới hạnh, đừng phạm các uy nghi của người tu tại gia hay xuất gia, phát tâm Bồ đề, tin sâu lý nhân quả báo ứng và đọc tụng các kinh Đại thừa để tầm cầu chân lý; thế chẳng phải là những điều thuộc về Học Phật sao?

Thì ra pháp tu Tịnh nghiệp cũng chỉ là pháp Tu Nhân và Học Phật của hàng tại gia cư sĩ. Nó thích hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp. Nếu mọi người đều tu hành y theo lời dạy của Đức Phật thì chắc chắn sẽ được vãng sanh về cõi Cực lạc. Ví bằng chẳng muốn vãng sanh… nguyện dự vào tam trường thuyết pháp của Đức Di Lặc, trong Hội Long Hoa thì nhờ có Tu Nhân mà đạo quả thêm trang nghiêm và đủ đầy phước duyên sống còn trong buổi lập Thượng nguơn vô cùng an lạc.

Pháp môn niệm Phật quả là một pháp tu thù thắng trong thời kỳ gấp rút của buổi Hạ nguơn. Vậy muốn được vãng sanh về Cực lạc hay dự vào tam trường thuyết pháp của Đức Di- Lặc trong buổi Thượng nguơn chúng ta phải gấp tu Tịnh nghiệp. Đó là cứu cánh của pháp môn Tu Nhân Học Phật của giáo hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương khai thị.

Vả lại, gặp buổi Hạ nguơn mạt kiếp bao nhiêu nạn ách dồn đến cho con người, nếu chẳng sớm tu hành thì khó mong tồn tại. Huống chi sự tu, ngoài việc được vãng sanh và sống đời Thượng nguơn an lạc, còn giúp ta cứu rỗi tổ tiên và đền xong nợ thế, như Đức Huỳnh giáo chủ đã viết:

Tu là tâm trí nhu mì,

Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.

Tu cầu cứu vớt tổ tông,

Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.

Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,

Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.

Tu đền nợ thế cho rồi,

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen./.

 

                      HẾT

  • Chương thứ I
  • Chương thứ II
  • Chương thứ III: Các thời-kỳ phổ-hóa
  • Chương thứ IV: Thắng-diệu của Pháp tu Tứ Ân
  • Chương thứ V: Cứu cánh của môn tu nhân học Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn