Tìm hiểu về Bố Thí

27 Tháng Mười 20208:40 CH(Xem: 260)
Tìm hiểu về Bố Thí

Tìm hiểu về BỐ THÍ (布施)

           BỐ THÍ: Phạn ngữ: Đâna, phiên âm Đàn na, dịch là Bố thí. BỐ là bủa ra, rải ra. THÍ là cấp cho. Bố thí là đem cái sở hữu của mình giúp cho kẻ khác.

          Bố thí là hành động hiến tặng vật chất, năng lực hoặc trí huệ cho người khác, được xem là hạnh quan trọng nhất trong Phật pháp. Bố thí là một trong sáu hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ.), một trong Thập tùy niệm và là một đức hạnh quan trọng để nuôi dưỡng Công đức.

          Chính nhờ Bố thí trong những đời đã qua, mà Đức Thích Ca mau lên quả Phật.

Trong Tiểu thừa, bố thí được xem là phương tiện để đối trị tánh tham ái, vị kỷ và được thực hành để tránh khổ đau của đời sau.

          Theo Đại thừa, bố thí là biểu hiện của lòng Từ bi và là phương tiện để dẫn dắt chúng sanh đến giác ngộ. Hành động bố thí thức ăn cho các vị Khất sĩ hiện nay vẫn còn phổ biến tại các nước theo Phật pháp Nam truyền. Phật tử tại các nước này cúng tặng tiền bạc và phẩm vật cho chùa chiền và tăng sĩ, ngược lại các vị tỳ kheo “bố thí” Phật pháp bằng cách hướng dẫn tu học. Hành động này cũng được xem là để nuôi dưỡng phước đức.

Đức Thầy từng kêu gọi:
   “Cấp Cô Độc là nhà bá hộ,
Còn đành lòng bố thí xả thân.
Chữ vinh hoa phú quí chẳng cần,
Miễn hiểu Đạo hơn là châu báu”.
(Diệu pháp Quang minh)

          Bàn xét về ý nghĩa thông thường của chữ BỐ THÍ, chúng ta có thể phân ra làm ba loại sau đây:

          1/-Tài Thí: Đem những gì thuộc của mình, như: Tiền, vải, lúa gạo, thuốc men ban cấp cho kẻ nghèo đói, bệnh tật, hoặc góp công của vào việc từ thiện khác…Đức Thầy hằng dạy:

“Của dư cho mượn mới là,

Hảo tâm bố thí ngọc tòa được lên”.

Hoặc:

“Khá thương những kẻ bần cùng,

  Tâm lành dư của hãy dùng vào đây”.

                            (Khuyên người giàu lòng phước thiện)

Hay là:

Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi,

Lúc hạn hán từ bi giúp nón.

(Diệu pháp Quang minh)

          2/-Pháp Thí: Dùng lời lẽ trí tuệ giảng dạy Đạo lý, nhắc nhở cho người khác nhận biết sự hiểm nguy của sanh tử bằng những lời Phật dạy với hy vọng họ sẽ hiểu và vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử, hoặc ấn tống Kinh giảng để người khác được xem nghe, tỉnh ngộ tu hành. Đức Thầy hằng dạy:“Đi các nơi giảng dạy đạo Phật”. Hay:

   Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh Độ,
   Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.
          (Q.5. Khuyến Thiện)
Hoặc: 
      Có người tu niệm đáng thương,
      Điên mới chỉ đường Tịnh Độ vãng sanh.
           (Q.1, Khuyên người đời tu niệm)
Hay: 
Đồ lao muốn lánh sớm nghe ta,
Bố thí trì chay giữ giới mà.
Phật Đạo trau giối tâm tánh lại,
Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.
     (Ai người tri kỷ)
Về ấn tống Kinh Giảng, Ngài dạy rõ:
Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,
Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.
      (Q.5, Khuyến Thiện)
Và:  
“Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,
 Mà truyền bá đặng nhiều phước đức”.
      (Q.2, Kệ Dân)
“Ai làm phước in ra mà thí,
 Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy.”
      (Q.4, Giác Mê Tâm Kệ)

          3/-Vô Úy Thí: Những phương tiện giúp cho người khỏi cơn sợ hãi, bằng cách: Dùng lời lẽ an ủi hoặc đem tánh mạng đỡ gạt hay bảo vệ cho người được an ổn…

          Theo Kinh điển Phật giáo, Bố thí còn chia làm hai phần:

     a)-Sự tướng Bố thí: Cũng gọi là “Trụ tướng Bố thí”, tức là đem tài vật thí ra cho người mà lòng còn phân biệt người là kẻ thọ thí, ta là kẻ bố thí. Hoặc khởi tâm mong cầu tiếng khen và được phúc báo. Nhơn đó làm cho bản ngã càng tăng trưởng, sự tôn ti thêm nảy sanh, khiến cho sự bất bình đẳng một ngày một chất ngất, sẽ phải huởng cái quả sai biệt nhỏ nhen.

     b)-Lý tánh Bố thí: Cũng gọi là “Vô trụ tướng Bố thí”, tức lúc thi hành công việc Bố thí, xét vì lòng từ bi, vì bổn phận mà làm. Ngoài cảnh không chấp mắc, trong tâm chẳng nhiễm ô, không hề tham cầu phước báu, cũng không phân biệt nhơn ngã, tôn ti và chẳng trụ vào: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà bố thí.

          Kinh Kim Cang, Phật bảo: “Bố thí không trụ tướng thì được phước đức chẳng thể so sánh nghĩ lường được”.(Bất Trụ Tướng Bố thí, kỳ phước đức bất khả tư nghị). 

          Đức Phật còn nhắc nhở Ông Tu Bồ Đề về Bố Thí Vô Sở Trụ như sau:

          - Ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát thực hành phép bố thí phải nên “Vô sở trụ.” Nghĩa là không nên trụ vào sắc mà làm bố thí, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm bố thí. Ông Tu Bồ Đề! Tại sao mà Bồ Tát không nên trụ vào sắc tướng mà bố thí như thế? Vì nếu Bồ Tát không trụ vào hình sắc mà bố thí, thì phúc đức đó không thể suy lường được.

          - Lại nữa, ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát không trụ vào hình tướng mà bố thí, thì phúc đức đó cũng nhiều như thế, không thể suy lường được.

          - Ông Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ Tát còn trụ vào pháp sự tướng mà làm hạnh bố thí, thì cũng ví như người ở chỗ tối tăm, không thể trông thấy gì hết, còn nếu Bồ Tát làm hạnh bố thí mà tâm không trụ trược vào sự tướng, thì như người có con mắt sáng, lại được ánh sáng của mặt trời, trông thấy rõ cả hình sắc sự vật. 

           Đức Thầy nay cũng dạy:

Giúp đời đừng đợi trả ơn,
 Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng”.
       (Q.3, Sấm Giảng)

          Sau đây, chúng tôi xin trình bày thêm về Bố thí Ba La Mật, bởi vì nếu giải thích về Bố thí mà cho rằng có ba loại như trên thì cũng chưa đủ. Khi nói đến sự bố thí, chúng ta phải nhận ra có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và người nhận (sở thí).

          Ba món Bố thí mà chúng ta vừa kể trên (Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí) thuộc về Vật thí vì cần có người cho và người nhận nữa. Ba yếu tố nầy rất quan trọng, nếu thiếu một trong ba cái đó thì sẽ không có sự Bố thí.

Chẳng hạn như có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người cho và người nhận thì cũng không có sự bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự bố thí.

          Nếu muốn phân loại thì ta phải căn cứ trên ba yếu tố của sự Bố thí mà phân loại:

- Trên phương diện người cho thì có hai loại: Bố thí trong sạch và không trong sạch.
- Trên phương diện vật thí thì có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.
- Trên phương diện người nhận (tức đối tượng của sự bố thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì có hai loại: ruộng phước nhỏ và ruộng phước lớn.

          Trên đây chỉ là tạm phân loại tổng quát thôi, vì mỗi loại lại được phân ra làm các phần nhỏ nữa.

          I.- Trên phương diện người thí:

          Có hai loại bố thí: Trong sạch và không trong sạch.

          1) Thế nào là bố thí không trong sạch?

Đó là bố thí vì: tư lợi, bất kính, chán ghét, yếu hèn, muốn dụ dỗ, sợ chết, muốn chọc tức, ghen tức, ganh đua, kiêu ngạo, cầu danh, tránh né sự nguy hiểm, muốn mê hoặc lòng người,… Tóm lại bố thí vì một cái tâm xấu xa, không nghĩ đến sự an vui hay lợi ích cho người nhận.

          2) Thế nào là bố thí trong sạch?

Nói một cách giản dị, đó là sự bố thí có tánh cách ngược lại những gì đã kể ở phần trên.

Bố thí có nghĩa là muốn đem lại lợi ích cho người nhận nên gọi là sự bố thí trong sạch, cho tất cả mọi người. Riêng cho người tu hành thì Bố thí trong sạch còn có nghĩa là bồi đắp công đức cho sự giải thoát, tức Niết Bàn.

          II.- Trên phương diện vật thí:

          Có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.

          1.-Tài thí lại chia ra hai loại: Ngoại thí và Nội thí

          a) Ngoại thí 

          Ngoại thí là bố thí những đồ vật bên ngoài như: vàng, bạc, của cải, quần áo, đồ ăn thức uống…

          b) Nội thí 

           Đức Phật khi còn là Bồ Tát đã bố thí đầu, mắt, chân, tay…cho người khác. Ngày nay chúng ta không làm nổi như vậy thì chúng ta có thể ra công giúp sức như làm công quả cho chùa, kéo xe cho người già, v…v… Hoặc tiếp máu cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy hiến tặng những bộ phận trong cơ thể của mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử.

          c) Tài thí chân chính: là những đồ vật được bố thí không phải do từ trộm cắp hay cướp giựt. Nếu ngược lại là tài thí không chân chính.

          Ngoài ra nếu ta bố thí trong những trường hợp sau đây thì phước báo sẽ tăng lên gấp bội:

          1). Bố thí đúng lúc: Có nghĩa là bố thí cho: những người đi xa, người từ xa mới đến, người bịnh, người trông coi kẻ bịnh, trong những mùa giá lạnh.

          2. Bố thí luôn luôn mà không thấy mệt mỏi hay chán nản.

          3. Bố thí tùy theo sở thích của người xin.

          4. Bố thí những vật quí giá.

          5. Bố thí cho những người làm việc cho Chùa, làm vườn, đào mương.

          6. Bố thí cho chư Tăng.

          7. Bố thí mà kính trọng người nhận.

          8. Bố thí cho những người có đức hạnh.

          9. Bố thí tất cả những gì mà mình có.

          2). Pháp thí:

Thế nào là pháp thí? Được xem là pháp thí gồm có:

1. Tất cả những lời nói chân thật, hữu ích có thể đem lại an lạc cho người nghe.

2. Giảng dạy Chánh pháp của Đức Phật.

3. Giảng dạy ba Tạng pháp: Kinh, Luật và Luận.

4. Giảng dạy cho người biết hai pháp: Thanh văn và Bồ Tát.

* Pháp thí không chân chính là giảng dạy những giáo pháp của ngoại đạo, không đưa con người đến sự giải thoát sanh tử luân hồi (như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, v..v…)

* Pháp thí chân chính là giảng dạy những giáo pháp đưa con người đến giải thoát rốt ráo của Niết Bàn.

          3). Vô úy thí:

Vô úy thí có nghĩa là bố thí sự không sợ hãi, tức là làm cho người khác được an tâm yên chí, không sợ gì cả.

Theo nguồn gốc Kinh tạng nguyên thủy thì chỉ có hai loại Bố thí, đó là Tài thí và Pháp thí. Nhưng theo giáo lý Đại thừa, có thêm vào một loại bố thí thứ ba là Vô úy thí.

          4). So sánh ba loại Bố thí:

Vì thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí nên chúng tôi chỉ so sánh Tài thí với Pháp thí mà thôi.

Đa số chúng ta ai cũng biết là Pháp thí quý hơn Tài thí. Chính Đức Phật đã nói:“Trong hai loại Bố thí này, thì Pháp thí là trên”. Vì sao? Vì nhiều lý do:

- Phước báo của Tài thí vẫn thuộc cõi Dục giới còn phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi hoặc ngoài ba cõi.

- Tài thí (tiền của, đồ vật) có giới hạn, còn sự Pháp thí không có giới hạn, vì tiền cho lâu rồi cũng hết, còn Giáo pháp cho hoài không bao giờ hết.

- Quả báo của Tài thí còn thuộc về hữu lậu, trong khi quả báo của Pháp thí thuộc vô lậu.

- Tài thí cần phải đòi hỏi nhiều sức lực, phải ra công trong khi Pháp thí chỉ cần sự thông minh và trí tuệ.

- Chỉ có Pháp thí mới có thể gặt hái được những phước báo giống như các hàng Thanh Văn, Bích chi Phật hay Bồ Tát.

- Chỉ có Pháp thí mới có thể dẫn người khác đến con đường giác ngộ.

Chúng ta có thể nêu ra nhiều lý do nữa, nhưng tóm lại Pháp thí sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn Tài thí.

          III.- Trên phương diện người nhận hay ruộng phước:

          Tại sao lại gọi người nhận là ruộng phước? Tại vì chính ở nơi họ mà chúng ta gieo hạt giống phước đức nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà chúng ta mới thực hiện được sự Bố thí.

Có hai loại ruộng phước:

1) Ruộng phước nhỏ:

Vì lòng thương hại người nhận nên chúng ta phát tâm bố thí. Những hạt giống thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ.

2) Ruộng phước lớn:

Vì có tâm kính trọng người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn.

          Kinh Phật kể rằng: Một hôm Đức Phật đi tản bộ cùng với ngài A nan trên thành Vương Xá. Đến một quãng đường có hai trẻ nhỏ Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn thành những cái nhà nhỏ. Khi thấy Đức Phật đến gần, chúng rất vui mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn thành một cái bánh, thành kính cúi đầu cúng dâng cho Đức Phật, còn Vijaya lức đó cũng chắp hai tay lại cúi lạy theo bạn. Jaya, trong lúc cúng dường cái bánh đất, phát nguyện rằng sau này sẽ làm vua an trị cả một thế giới, rồi em tụng lên một bài kệ cúng dường Đức Phật. Đức Phật hoan hỷ đưa tay đón nhận cái bánh đất của em và mỉm cười. Thấy Đức Phật mỉm cười, ngài A nan lấy làm lạ nên hỏi lý do, Đức Phật trả lời rằng:“Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn, đứa bé này sẽ là một vị Chuyển luân thánh vương trông coi một trong bốn châu thiên hạ, và trong thành phố Kusumapura, nó sẽ làm một vị minh vương tên là A Dục. Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó sẽ xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài”.

          Sự tích trên cho chúng ta thấy ý nghĩa phước báo của một sự bố thí với lòng kính trọng người nhận, tức ruộng phước lớn.

           Sau khi phân tách và đi sâu vào chi tiết từng loại bố thí, ta có thể tóm tắt lại như sau:

Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước đức quả báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây:

1) Người bố thí phải có tâm trong sạch.

2) Vật được thí phải chân chính.

3) Người nhận phải được kính trọng tối đa.

          Tóm lại, hễ đứng ra Bố thí thì không cần sự báo đáp của người được Bố thí, mà cũng không cần cái phước báo của việc Bố thí.

          Trong kinh Kim Cang, Phật có dạy rằng Bồ tát có Bố thí thì đừng có kể chi là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Tức là đừng có chấp tướng…

          Kinh Phật cũng có cho biết: Ai Bố thí thì sẽ được sung túc, an lạc, phong lưu. Mà ai không Bố thí hoặc cản người khác Bố thí thì phải chịu nghèo hèn, khổ cực.

          Gương của bà Ca Can Ga Lác (Kâkangalâ), là mẹ của Đức Phật trong mấy đời trước vì cản không cho Đức Phật bố thí nên bà sanh ra chịu phần nghèo hèn, tủi hổ, phải ra thân gánh nước, làm công vô cùng vất vả.

Trái lại, Đức Hoàng Hậu Ma-Da là vợ vua Tịnh Phạn vì lòng nhơn từ mà cầu xin Đức Vua ra ơn giúp đỡ người cơ hàn, khốn khó:

“Xin Thánh thượng bao dung kẻ khó.

Lòng yêu dân ví như con đỏ,

Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.

Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,

Lấy đức rộng bủa trong bá tánh.”

          Có lẽ vì lòng vị tha, đức Bố thí ấy mà sau nầy Bà trổ sanh Thái tử Sĩ-Đạt-Ta là một vĩ nhơn của Thế giới. Ngài trở thành bậc Đại giác ngộ và đã được thế gian đời đời tán dương ca tụng, bởi vì:

“Cả hồng trần đau thương thống thiết,

Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân hồi.”

(Q.5, Khuyến Thiện)

          Trong kinh Địa Tạng, khi so sánh công đức bố thí, Đức Phật có phán với Ngài Địa Tạng rằng:“Như có hạng Vua, quan, Sát lỵ, Bà la môn, Trưởng giả đối với người hèn hạ, ốm yếu, tàn tật, câm, ngọng, điếc, ngây, đui mà muốn bố thí hoặc sai người bố thí, dùng lời dịu ngọt mà an ủi khuyến dụ, thì phần phước rất lớn, chẳng khác nào bố thí cho chư Phật, đông bằng số cát một trăm sông Hằng Hà vậy.”

          Là người tín đồ PGHH, sau khi ý thức được Tham Hiểm là một trong mười tội ác (thập ác) và những tai hại do lòng Tham mang lại, chúng ta phải tìm cách trừ khử chúng ra khỏi thân tâm bằng cách mở lòng Bố thí thể hiện đức tánh từ bi, bác ái. Điều nầy đã được Đức Thầy chỉ dạy trong bài “Luận về Tam nghiệp” như sau:“Hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố thí cho kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi miền Cực lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần nầy.”Và trong bài“Chư Phật co bốn đại đức”, Đức Thầy có bảo:“Ta cũng nên bố thí, nhẫn nhục, trì giới (để độ tham, sân, si).” 

          Sau hết, nếu đã quy y Phật pháp, tu hiền theo Phật đạo, thì hạnh Bố thí cũng rất cần để chúng ta thường xuyên huân tập, nhất là hạng Cư sĩ tại gia thì có rất nhiều cơ hội và điều kiện để thực hành công đức Bố thí, như lời Đức Thầy nhắc nhở trong bài “Khuyên người giàu lòng phước thiện”:   

“Nếu đã xả thần tầm Đạo đức,

Mở lòng bố thí ngộ thần ca.”./.

 Nam Mô A Di Đà Phật !
 VÔ DANH CƯ SỈ

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn