KỶ NIỆM NGÀY KHAI SÁNG NỀN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO - 18/5 NĂM KỶ MÃO (1939). - Bài viết của HUỲNH MINH QUANG.

05 Tháng Sáu 20248:55 SA(Xem: 766)
KỶ NIỆM NGÀY KHAI SÁNG NỀN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO - 18/5 NĂM KỶ MÃO (1939). - Bài viết của HUỲNH MINH QUANG.

KỶ NIỆM NGÀY KHAI SÁNG NỀN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO.

18/5 NĂM KỶ MÃO (1939).

Bài viết của Huỳnh Minh Quang

... "Tháng năm mười tám rõ-ràng,
Cùng xóm cuối làng ai cũng cười reo.”…
(Trích: DẶN-DÒ BỔN-ĐẠO).
            Kính thưa chư quý vị đồng đạo! Ngày 18/5 năm Kỷ Mão, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã Cáo Hoàng Thiên và chính thức khai sáng một nền Đạo mang đậm nét bản sắc Việt Nam tính, và được xem như là một Tôn Giáo Trong Lòng Dân Tộc Việt Nam.
            Với giáo thuyết Học Phật Tu Nhân và hành xử Tứ Đại Trọng Ân, đã chính thức lấy danh xưng là PHẬT GIÁO HOÀ HẢO và được hàng triệu tín đồ qui ngưỡng.
             Đối với người tín đồ PGHH, ngày 18/5 năm Kỷ-Mão là một ngày mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Ngày đó như in đậm trong tâm hồn của mỗi người con Hòa Hảo.
            Hàng năm cứ đến ngày 18/5 ÂL, tín đồ PGHH khắp nơi trên thế giới, đều hân hoan tổ chức ngày Đại Lễ Khai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo trong sự trang nghiêm và tôn kính.
            Ngày này còn mang một ý nghĩa trọng đại thiêng liêng và cao quý đối với hàng triệu con tim tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo:
     Dù ai cuộc sống bộn bề,
Tháng năm mười tám sẽ về bên nhau.
     Anh Đồng Tháp, em Cà Mau,
Hoa Kỳ, Pháp, Nhựt, Úc châu trở về.
     Dù cho kẻ Sở người Tề,
Tháng năm mười tám cũng về bên nhau.
            Kính thưa chư quý đồng đạo! “Phật vị nhất đại nhân duyên xuất hiện ư thế” nhằm để “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”.         
             Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng cho biết:
    ... “Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn,
    Khắp hạ giái truyền khai Đạo pháp.”…
         (Trích: DIỆU PHÁP QUANG-MINH).
             Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo thế danh là Huỳnh Phú Sổ, sanh ngày 15-01-1920 nhằm ngày 25-11- Kỷ Mùi. Là con trưởng nam của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, một gia đình trung lưu nhiều phúc hậu và phước đức trong vùng. Đản Sanh tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, một vùng xa xôi giáp biên thùy Miên-Việt.
            Từ thuở nhỏ, Ngài bị bịnh triền miên không có thầy thuốc nào chữa trị được. Sau khi hướng dẫn các môn đồ đi viếng các núi non am động trong vùng Thất Sơn-Tà Lơn, những núi non linh thiêng hùng vĩ, Ngài đã chính thức Khai Đạo cứu đời, vừa hốt thuốc trị bịnh, vừa thuyết pháp và viết ra kinh giảng để cứu độ quần sanh, có rất nhiều nho gia, khoa bảng, trí thức, thi nhân, luật sư, bác sĩ …đã được Ngài thu phục một cách hết sức kỳ diệu.
            Kính thưa quý vị! các chư Phật lâm phàm độ thế đều bát lãm sự việc trong Trời đất, Trên thông thiên văn - Dưới đạt địa lý - Trung quán nhân sự. Trường hợp của Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH cũng thế, Ngài đã quán thông tất cả sự việc vạn hữu, như Ngài đã cho biết:
      ... “Thân bần tăng mặc bộ sồng nâu,
            Cuộc thiên-lý một bầu đều hãn.”…
               (Trích: “NANG THƠ CẨM-TÚ”).
            Thấu triệt được khế lý khế cơ, nên Ngài đã dùng phương pháp Tam Độ Nhứt Như mà cứu thế độ đời…“Trên thì nói Phật pháp cho kẻ có lòng mộ đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền diệu Tiên gia độ bịnh cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị với trăm quan.”… (Trích: THAY LỜI TỰA hay Sứ-mạng của Đức Thầy).
            Có rất nhiều chứng bệnh nan y mà các thầy thuốc lừng danh thời bấy giờ đành bó tay, nhưng Đức Thầy chỉ dùng nước lạnh, giấy vàng và bông hoa cho uống, vậy mà bệnh gì cũng hết một cách lạ kỳ. Sau khi đã gây được niềm tin tưởng trong dân chúng bằng phương pháp trị bệnh, đồng thời Đức Huỳnh Giáo Chủ còn thuyết giảng giáo lý nhà Phật để độ tất cả hạng người, từ hạ căn thiểu trí đến thượng căn đại trí để quay về nẻo chánh tu hành.
            Với cách thuyết giảng bình dị, khiêm tốn nhưng rất cuốn hút và hấp dẫn, thuyết cả ngày lẫn đêm mà không biết mệt mỏi, ai nghe qua cũng đều thán phục và hành theo lời dạy của Ngài hầu ăn năn cải quá làm lành.
            Ngoài việc chữa bệnh và thuyết pháp, Đức Thầy vì:
      …”Lòng mến yêu chẳng nệ công-lao,
          Mượn bút mực đôi lời trần-thuyết.”….                        
              (Trích: KHUYẾN THIỆN).
      Hay là:
    …”Tùy phong-hóa dân-sanh phù-hạp,
        Chấp bút thần tả ít bổn kinh.”…
             (Trích: “DIỆU PHÁP QUANG-MINH”).
            Ngài chí dốc vào việc viết kinh giảng. Đầu tháng 9 -1939 Ngài viết quyển Nhứt mang tựa đề “SẤM GIẢNG KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM” để có dịp thức tỉnh mọi người rằng đã có Phật Tiên giáng thế và tiên tri về cảnh lầm than khốn khổ do chiến tranh thế giới lần thứ Hai mà loài người tàn bạo gây nên như sau:
... “Mèo kêu bá tánh xôn xao,
Đến chừng Rồng - Rắn máu đào chỉn ghê.
     Con Ngựa lại đá con Dê,
Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.
     Khỉ kia cũng bị xáo xào,
Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng.”…
             Thật chính xác! đệ nhị thế chiến khởi đầu vào năm Mẹo (1939) và kết thúc vào năm Dậu (1945) khi phe Đồng Minh thả hai quả bom nguyên tử xuống Quảng Đảo và Trường Kỳ buộc nước Nhựt phải đầu hàng.
            Cuộc tàn sát chưa dừng lại tại đó, mà nó còn lan tràn mọi nơi như Đức Thầy cho biết:
... “Đời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
     Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia”…
            Cũng trong quyển Nhứt này, Đức Giáo Chủ đã hé lộ về việc Ngài hóa hiện ra những kẻ đui mù, buôn bán, lúc già lúc trẻ dạo khắp Lục châu để thử lòng nhân gian, giác tỉnh họ quay về đường ngay nẻo chánh.
            Ngày 12-9-1939 Đức Thầy viết tiếp quyển Hai ”KỆ DÂN của NGƯỜI KHÙNG ”. Đức Huỳnh Giáo Chủ vạch rõ máy huyền cơ cho nhơn sanh được biết để sớm quày đầu trở lại tu hành, hầu được cứu khỏi trong ngày tận diệt:
    ... “Đến chừng đó bốn phương có giặc,
          Khắp hoàn cầu thiết thiết tha tha.
          Vậy sớm mau kiếm chữ Ma Ha,
          Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa”…
    Hoặc là:
       …”Đau nhiều chứng dị-kỳ khó kể,
           Sắp từ nay lao-khổ đến cùng.
           Kẻ dương gian khó nổi thung-dung,
           Người bạo ác không toàn tánh mạng.”…
             Đức Huỳnh Giáo Chủ mạnh mẽ đánh đổ những âm thinh sắc tướng, tu hành giả dối như:
      …”Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,
         Từ xưa nay có mấy ai thành!
         Phật từ bi độ tử, độ sanh,
         Là độ kẻ hiền lương nhơn ái.
         Xá với phướn là trò kỳ quái,
         Làm trai đàn che miệng thế gian.
         Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,
         Mướn tăng chúng để làm chữ hiếu.”…
            Chẳng những thế, Ngài còn phá bỏ những tập tục mê tín dị đoan kỳ quái..." Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy tiền vàng bạc, xá phướn lầu kho. Vì đó là chuyện tốn tiền vô ích..." (Trích: TANG LỄ).
        …”Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,
                 Chớ có đốt tốn tiền vô lý”…
    Hoặc là:
      …”Kinh với sám tụng nghe thảnh-thót,
          Lũ nhưn-bông tập luyện đã rành.
          Đẩu với đờn, kèn, trống, nhịp sanh,
          Làm ăn rập đặng đòi cao giá.”…
            Bởi thời mạt hạ này, người tu quá chú trọng vào hình tướng bề ngoài, mà quên đi trao sửa tâm tánh bên trong, nên làm cho Đạo Phật suy đồi:
      …” Đúc Phật lớn chùa cao bối rối,
          Mà làm cho Phật-Giáo suy đồi.
          Tu vô vi chẳng cúng chè xôi,
          Phật chẳng muốn chúng-sanh lo-lót”…
            Ngài cương quyết bài bác những việc làm của kẻ tu hành giả dối như sau:
         …”Phật tại tâm chớ có đâu xa,
            Mà tìm kiếm ở trên Non-Núi.
            Chúng đục đẽo những cây với củi,
            Đắp xi-măng sơn-phết đặt tên.
            Ngục A-Tỳ dựa kế một bên,
            Chờ những kẻ tu hành giả-dối.
            Khuyên sư-vãi mau mau cải-hối,
            Làm vô-vi chánh Đạo mới mầu.
            Đạo Thích-Ca nhiều nẻo cao sâu,
            Hãy tìm kiếm cái không mới có.
            Ngôi Tam-Bảo hãy thờ Trần-Đỏ,
            Tạo làm chi những cốt với hình.
            Khùng nói cho già trẻ làm tin,
            Theo Lục-Tổ cho theo Thần-Tú”…
            Theo Đức Lục Tổ Huệ Năng ở đây có nghĩa là trực chi nhân tâm Kiến Tánh thành Phật, tìm sự giác ngộ và giải thoát ở nơi tự tâm của mình. Còn theo Thần Tú là tu theo hình thức bề ngoài, chuông mõ, đọc tụng ó la, xá phướn, lầu kho, giấy tiền vàng bạc...vv.
            Đến trung tuần tháng 9-1939 Đức Giáo Chủ lại cho ra đời quyển ba mang tên “SẤM GIẢNG “ Đức Thầy dạy về tu nhân đạo để đền đáp Tứ Đại Trọng Ân hầu có mặt ở Long Hoa Đại Hội:
          …”Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
    Đặng coi hiền-đức được là bao nhiêu,
             Gian-tà hồn xác cũng tiêu,
   Thảm-thương bá-tánh chín chiều ruột đau.”…
    Hay là:
…”Nào là luân-lý Tứ-Ân,
Phải lo đền-đáp xác thân mới còn”…
    Đức Thầy còn giảng dạy về chữ Tu thế này:
... “Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
    Tu cầu cứu vớt Tổ-Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.
    Tu cầu Cha Mẹ thảnh thơi,
Quốc vương thuỷ thổ chiều mơi phản hồi.
    Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
    Người tu phải lánh hơi men,
Đừng ham sắc-lịch lắm phen lụy mình.
    Tu là sửa trọn ân tình,
Tào-khang chồng vợ bố-kình đừng phai.
    Tu cầu Đức Phật Như Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi này.”…
     Hoặc là:
…”Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.”…
            Ngài còn khuyên thanh niên nam nữ đã bị nền văn minh vật chất và dục vọng lôi cuốn vào vòng trụy lạc, mau trở lại với thuần phong mỹ tục của Thánh nhân và nghe lời dạy dỗ của mẹ cha:
                  …”Lớn lên phận gái cần-chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục-vọng lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân.
Nghe lời Cha Mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió-mây ngoại-tình.
Đi thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trao.”…
    Hay là:
  …”Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
     Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá-hoại chữ đồng gái trinh.”…
   Với anh em huynh đệ trong nhà thì:
 …”Anh em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.”…
     Vậy bốn phận của người con đối với cha mẹ như thế nào?
             …”Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,
             Đất khô nảy mụt rõ lòng hiếu-nhi.”…
     Cho nên:
 …”Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già."
            Đến đây thì phần nhân đạo đã đạt đến bậc Trung-Hiếu để có mặt tại Long Hoa Hội vậy.
…”Cõi Trung-Ương luân chuyển phương Nam.
      Mở hội Thánh chọn người trung hiếu.”…
Hay là:
        …”Long Hoa Tiên Phật đáo ta bà,
            Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.”…
          (Trích: Thức tỉnh một nữ tín đồ ở Bạc Liêu)
     Và:
… “Trở chơn cho kịp Long Hoa,
Long Hoa có mặt ấy là hiền nhơn...”.
    (Trích: THIÊN LÝ CA).
            Ngày 20-9-1939 Đức Giáo Chủ viết quyển Tư tựa đề là “GIÁC MÊ TÂM KỆ”. Qua ba quyển Giảng-Kệ vừa nêu trên, nếu người học đạo còn chưa được tường tận, thì phẩm Kệ thứ tư này Đức Thầy sẽ chỉ rõ nẻo đường để chúng sanh dễ biết.
      …”Trong sấm-giảng nếu ai không hiểu,
         Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường.
         Quyết dạy trần nên nói lời thường,
         Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.”…
            Ngài đưa ngôn ngữ tiếng Việt Nam vào trong Kinh Giảng một cách tài tình, dễ đọc, dễ hiểu, nên được sự hưởng ứng mãnh liệt bởi nhiều tầng lớp, từ nông dân chất phác hiền lành, đến bậc khoa bảng trí thức Nho gia như: ông Chín Diệm (Nguyễn Kỳ Trân), Bác sĩ Trần Văn Tâm, Luật sư Mai Văn Dậu, Thi sĩ Việt Châu (Nguyễn Xuân Thiếp)...v.v.
Như Đức Thầy cho biết:
 ..."Quá mắc mỏ bởi chưn Phạn ngữ,
     Nên người đời khó kiếm cho ra.
     Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
     Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý..."
Thử hỏi, nếu người tu hành không hiểu rõ ý nghĩa của Kinh Giảng, thì làm sao hành Đạo đúng đắn cho được. Nên Ngài mạnh mẽ canh tân phương pháp hành Đạo và diễn giải chữ Tu rất dễ hiểu phù hợp cho người hạ căn thiểu trí.
..." Tu đầu tóc không cần phải cạo,
      Miễn cho rồi cái Đạo làm người..."
            Đức Thầy truyền dạy các pháp môn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni một cách rõ ràng hơn như: Tứ Khổ, Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo, Ngũ Uẩn, Lục Căn, Lục Trần. Đặc biệt là diệu pháp Nhẫn Nhục như vầy:
    ...“Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
        Đợi cho người hết giận ta khuyên.
        Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,
        Thì đâu có mang câu thù oán.
        Việc hung ác hễ vừa thấp thoáng,
        Chữ Từ Bi ta diệt nó liền.
        Sự oán thù đáp lại chữ hiền,
        Thì thù oán tiêu tan mất hết.”…
             Đức Thầy cho biết về Tứ Khổ và Lục Căn, Lục-Trần như sau:
   …”Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,
      Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.
      Bịnh với Tử từ kim chí cổ,
      Sanh với Già hai chữ hoài-hoài,
      Đức Thích-Ca xưa ở lầu-đài.
      Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.
      Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,
      Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.
     Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,
     Hương với Vị xác trần nên lánh.
     Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền-Thánh,
     Tránh Sáu Đường cũng đặng về Thần.”…
            Thời pháp đầu tiên mà Đức Phật Thích Ca thuyết cho năm anh em Kiều Trần Như là Tứ Diệu Đế, cũng được Đức Thầy nhắc đến:
       …”Tứ-Diệu-Đề nay đà mở cửa,
         Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.”…
    Để đi đến chỗ trọn sáng và hành Đạo đúng đắn Đức Thầy đã cho biết thêm:
      …”Chữ Bát-Chánh rõ ràng trong giấy,
          Là chơn truyền của Đức Thích-Ca.”…
     Hoặc là:
       …”Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
          Thì mới được thân sau cao-quí.”…
     Vì:
          …”Thời kỳ này nhiều quỉ cùng ma.
             Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.”…
      Hay là:
                    …” Đạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,
   Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.”…
            Ngài không ngừng khuyên chúng sanh rán tìm diệu lý trong Giảng-Kệ để tu hành đắc quả, vì thời kỳ này chỉ có người hiền đức sẽ được chọn lọc để sống còn sau ngày tận diệt của thế gian, như ăn chay giữ giới và niệm Phật:
     …”Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,
         Để giữ trọn trong nền Phật-Pháp.
         Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,
         Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.”…
      Hoặc là:
     …”Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
         Ghi vào lòng sáu chữ Di-Đà.
         Thì hiền-lương quên mất điều tà,
         Đặng hạnh-phúc nhờ lòng cố-gắng.”…
    Độc đáo hơn nữa khi Ngài diễn giải Pháp Vô-Tướng trong Ngũ-Uẩn như vầy:
       …”Lời Ta dạy hãy nên suy-nghiệm,
          Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.
          Chữ  tham trong ý muốn mặc tình,
          Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
          Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,
          Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.
          Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,
          Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
          Chữ Nhơn-Ngã cũng là quá gắt,
          Ta chớ nên phân-biệt với người.
          Dẹp năm tên được mới mừng cười,
          Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.”…
            Trong quyển tư này Đức Thầy cũng kêu gọi trở về với vô vi của Đạo Thích-Ca để chấn hưng nền Phật Giáo:
      …”Đồng dẹp bớt âm-thinh sắc-tướng,
         Lo chấn-hưng Phật-Pháp mới là.”…
     Hoặc:
       …”Đạo vô-vi của Phật ân-cần,
          Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.”…
            Phải nói rằng, với pháp Vô-Vi từ cách thờ phượng cho đến sự cúng lạy và niệm Phật, đây thực sự là nét vàng son trong giáo lý PGHH. Vì người tín đồ PGHH có thể cúng bất cứ nơi đâu, bất cứ hoàn cảnh và thời gian nào, đi trên máy bay, trên xe, trên tàu bè, đi chợ, đi làm, đi chơi, đi ngủ..vv. Cúng lạy trong tứ tướng oai nghi không cần gì phải đợi khi có bàn thờ hay nhang đèn chẳng hạn:
..."Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.”…
             Đến năm 1941 tại nhà Thương Chợ Quán Đức Huỳnh Giáo Chủ đã viết quyển năm “KHUYẾN THIỆN” vì:
      …”Giảng với kệ ra đà bốn cuốn,
         Ít có người khám rõ cơ-huyền.”…
         (Trích: “DIỆU PHÁP QUANG MINH”).
             Trong quyển Năm này Đức Thầy chỉ mọi người tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ, trừ Thập ác, hành Thập Thiện và cách diệt trừ Ngũ-Trược.
            Đặc biệt khuyên nhơn sanh tu theo pháp môn Tịnh Độ, nương nhờ tha lực của Đức Phật A-Di-Đà cầu sanh về Tây phương Cực lạc mà học Đạo cho hoàn toàn để trở lại cứu vớt chúng sanh:
  ... “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,
        Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.
        Nếu như ai cố chí làm lành,
        Chuyên niệm Phật, cầu sanh Phật quốc.
        Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,
        Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỷ, Súc sanh.
        Cứ nhất tâm tín nguyện phụng hành,
        Được cứu cánh về nơi an dưỡng.
        Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng,
        Thoát mê đồ, dứt cuộc luân hồi...”.
     Và:
     …”Ao sen báu Tây-phương đua nở,
        Chờ chúng-sanh niệm Phật chí tâm.”…
     Về Thập-Ác Đức Thầy có dạy rằng:
    …”Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu,
       Phải trừ thêm Thập-Ác huyễn thân.”…
     Trong phẩm “KHUYẾN THIỆN” này Đức Giáo Chủ cũng nhắc nhở để nhớ lại nguyên nhân Phật Giáo.
      …”Có một điều già trẻ ân-cần,
          Là phải biết nguyên nhân Phật-Giáo.”…
       Ngài cũng nhắc lại tám điều khổ mà Đức Thích-Ca ngày xưa dạy bảo:
       …”Đức Thích-Ca từ xưa dạy bảo:
           Khổ Ta-ba nhiếp lại tám phần.”…
    Bên cạnh đó Đức Giáo Chủ cũng dạy thêm rằng:
    …”Thắng Thất-Tình giữ vẹn Đạo-Trung,
        Trừ Lục-Dục chớ cho ô nhiễm.
        Thập-tam Ma diệt bằng trí-kiếm,
        Rứt xong rồi vô sự thảnh thơi.
        Biển hồng-trần lao-lý diệu-vơi,
        Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ-Trược.”…
    Ngoài ra Ngài cũng thiết tha cảnh tỉnh đến hạng người tu xuất gia như sau:
     …”Muốn Phật-Giáo từ đây bền vững,
        Đừng riêng lo lợi-dưỡng một mình.
       Nếu xuất-gia thì phải hy-sinh,
       Cả vật chất tinh-thần lo Đạo.
       Chớ giả-dối mà mang sắc áo,
       Mượn bồ-đề chuỗi hột loè người.
       Làm cho dân khinh-dễ ngạo cười,
       Tội-lỗi ấy luật nào dung-thứ.
       Tu còn ham chay to đám bự,
       Đặng thế-gian dưng cúng bạc tiền.
       Dối rằng: lo tu-bổ chùa chiền,
       Mà làm của xài riêng cho thoả.
       Bảo làm sao dân không sa-ngã,
       Nghe lời rù Tông nọ phái kia.
       Cả tăng-đồ trong nước chia-lìa,
       Riêng pháp-bảo, riêng chùa, riêng Phật.”…
            Trong phần cuối của phẩm thứ Năm này, Đức Thầy cũng giải thêm về chữ Tu như sau:
      …”Tu cầu trăm họ hiền lương,
      Đồng thinh niệm Phật tai-ương chẳng còn .
          Tu cầu gia-đạo vuông tròn,
      Chồng hòa vợ thuận cháu con thảo hiền.”…
            Đến tháng 5-1945 tại Sài Gòn, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã viết quyển Sáu “NHỮNG ĐIỀU SƠ LƯỢC CẦN BIẾT, CÁCH TU HIỀN VÀ SỰ ĂN Ở CỦA NGƯỜI BỔN ĐẠO” để chỉ dạy tường tận hơn về Cách thờ phượng cúng lạy, nghi thức cử hành tang lễ, hôn nhân….
            Có lẽ ai cũng biết rằng: Thuyết Học Phật Tu Nhân và hành sử Tứ Đại Trọng Ân là nét tinh hoa của Phật Giáo Hòa Hảo. Trong phẩm thứ sáu này Đức Thầy có giảng giải như sau:…”Muốn làm tròn Nhân-Đạo, phải giữ vẹn tứ ân. Nhưng trước hết hãy tránh Tam-nghiệp và chưa Thập-ác.”…(Trích: LUẬN VỀ TAM NGHIỆP).
            Đây là nấc thang tiên quyết để tròn Đạo-Nhân, hầu có mặt trong Long Hoa Hội của những người trung hiếu vẹn toàn cũng gọi là TRỌN LÀNH.
            Vì trong Đạo Gia Toàn Chí có cho biết như sau:
       …”Dục tu Tiên-Đạo,
          Tiên tu Nhân-Đạo.
          Nhân-Đạo bất tu,
          Tiên-Đạo viễn hĩ.”…
    Tạm dịch rằng:
      …”Muốn tu Đạo-Tiên,
         Trước tu đạo làm người.
         Đạo làm người không tu,
         Đạo-Tiên xa vời lắm vậy.”…
            Nếu Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo chỉ dừng lại ở đây thôi, thì chỉ hoàn thành về mặt Nhân-Đạo như một số người đã ngộ nhận, nên Đức Giáo Chủ đã chỉ dạy rõ ràng thêm cho những ai muốn tiến lên trên con đường Giải thoát.
            …”Trừ xong ba nghiệp-chướng, hãy làm theo tám điều chánh……., cần phải hành luôn Đạo Bát-Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh Nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê-đồ, tấn-triển trên đường Giải-Thoát.”… (Trích: LUẬN VỀ BÁT CHÁNH).
            Như vậy từ chỗ diệt Thập-ác tức là Tu Nhân để được TRỌN LÀNH và thực hiện Bát-Chánh-Đạo là Học Phật để được TRỌN SÁNG thì người tu học chắc chắn sẽ có mặt tại cõi Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà an dưỡng để sau trở lại cứu độ chúng sanh như Đức Thầy cho biết:
            …”Nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây-phương an-dưỡng mà học Đạo cho hoàn-toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.”… (Trích: Điều Răn Cấm Thứ Tám).
            Như vậy với Giáo Thuyết Học Phật Tu Nhân và hành xử Tứ Đại Trọng Ân của Phật Giáo Hoà Hảo quan yếu đến dường nào, đến đây người tu đã chấm dứt cuộc luân hồi sanh tử để đạt đến cứu cánh giải thoát.
            Trong quyển thứ Sáu này Đức Thầy cũng ít chỉ rõ “CÁCH THỜ-PHƯỢNG” không nên tạo thêm  âm thinh sắc tướng và hình tượng nữa.
             …”Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm-hồn hơn ở vào sự hào nhoáng bề ngoài.”…(Trích: THỜ PHƯỢNG).
            Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyến tấn như sau:
            …”Nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình … Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật.”… (Trích: THỜ PHƯỢNG).
            Đặc biệt là Ngài Khéo dùng các thiện pháp để khế cơ thành “Tám Điều Răn Cấm” rất phù hợp với căn cơ của chúng sanh dễ tu, dễ hành , dễ đắc, còn gọi là “LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO” rất gần gũi với mọi tín đồ.
            Nghiên cứu qua Tám Điều Răn Cấm của Đức Thầy dạy, chúng ta thấy rất tương đồng với Tam Tụ Giới của nhà Phật.
            1/-: Nhiếp luật Nghi Giới: Giữ giới để tránh các điều xấu ác từ 3 nghiệp Thân, Khẩu, Ý như Điều 1: tránh xa tửu, sắc, tài, khí; Điều 2: bỏ tánh lười biếng, giải đãi, thù hận, sân si; Điều 3: trừ lòng tham lam ích kỷ, lợi dụng tiền tài, tham sang phụ khó; Điều 4: chừa ác khẩu; Điều 5 và 6; không sát sanh và mê tín dị đoan; Điều 7: diệt sạch mê si tà kiến (gốc tội lỗi).
         2/-: Nhiếp Thiện Nghiệp Giới: Giữ giới để hoàn thành hạnh nghiệp tốt lành, hhư Điều 1: xử vẹn Tam cang, Ngũ thường; Điều 2: tu được các đức tánh thanh đạm, cương trực và chơn chánh; Điều 4: hành được chánh ngữ; Điều 5: được đức hiếu sanh và chánh tín; Điều 6: được tánh tiết kiệm và bố thí; Điều 7: được chánh trí và chánh kiến; điều 8: được lòng từ bi và đoàn kết; tự giác giác tha và trọn lành trọn sáng.
            3/-: Nhiêu Ích Hữu Tình Giới: Nương giới để làm lợi ích cho các giới chúng sanh, thi thố đức bác ái vị tha, phát tâm thi hành Bồ tát hạnh, lúc nào cũng muốn mình và mọi người, mọi giới đều được an vui giải thoát.
            Tóm tắt, Tám điều răn cấm bao hàm đủ muôn hạnh, muôn giới cho người tu. Từ Cư sĩ đến xuất gia hạng nào cũng được kết quả như ý.
            Ngoài hàng trăm bài Thi Thơ xuất chúng, Đức Giáo Chủ còn để lại Tám Bài Pháp Luận rất giá trị được viết tại Bạc Liêu vào năm Nhâm-Ngũ (1942).
   1/-: THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN.
   2/-: MÔN HOÀN DIỆT.
   3:-: ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH.
   4/-: LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO.
   5/-: PHẬT LÀ GÌ? - ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO CỦA PHẬT.
   6/-: CHƯ PHẬT CÓ BỐN ĐẠI-ĐỨC.
   7/-: SƠ GIẢI VỀ TỨ DIỆU-ĐỀ.
   8/-: “TRONG VIỆC TU THÂN XỬ KỶ”.
             Trong Tám Phẩm Pháp Luận này, Đức Giáo Chủ đã diễn giải và chỉ  ra nhiều phương pháp hành Đạo rất hữu ích cho người tu học.
            Như trong bài: THẬP NHỊ NHƠN-DUYÊN, Đức Thầy cho biết:
            … “Nhơn-duyên thứ nhứt phát khởi từ màn vô-minh mà che lấp bản-ngả (linh hồn) nên làm cho người phải tăm-tối mê-say, gây tạo ác-nghiệp, chịu nẻo luân-hồi thống khổ.”…
            Cho nên Ngài đã dạy những cách thức trọng yếu để diệt màn vô minh mà bất cứ người tu hành nào cũng muốn đạt đến, như trong bài: MÔN HOÀN DIỆT:…  “Nếu ta tìm con đường bát-chánh-đạo của Phật mà đi, giữ tâm thanh-tịnh, làm việc nhơn-từ, không lòng hờn giận, chẳng dạ ghét-ganh, chuyên tâm niệm Phật, giúp thế độ đời, đừng chứa điều phiền-não và để bụng tham-lam ích-kỷ, gây mối thiện-duyên, lần lần trí-huệ mở-mang, cõi lòng sáng-suốt, thì màn vô-minh sẽ bị diệt mất.”…
            Sau khi vô-minh bị diệt và đi đến điểm cuối cùng là: …”lão, tử diệt. Ấy là giải-thoát vậy.”
            Kế đến Đức Thầy cũng luận giải về lý Bình-Đẳng của Đạo-Phật trong: ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG-SANH như sau:
         …”Một ông cha ở trong gia-đình vẫn có lòng thương xót hết các con, dù lớn nhỏ, khôn dại gì cũng vậy…….Cũng mường-tượng như trên, hỡi các người! Đức Phật đối với chúng-sanh và môn-đồ như người cha đối với các hạng con trên đây vậy.”…
            Do duyên nghiệp của mỗi đứa con khác nhau nên người cha chỉ ban thưởng cho đứa nào có đạo đức, biết giữ gìn gia sản và bảo tồn danh giá của dòng họ, cũng như không thể ban thưởng cho đứa nào bất hiếu,chơi bời, tàn phá sự nghiệp ông cha, làm điều nhục nhã tổ tông. Cũng như vậy Đức Thầy có cho biết:
            …”Người tín-đồ nào hằng ngày vâng lời Phật dạy, rán lo học hỏi, tìm kiếm đạo mầu, quí trọng chuyện lành thì Phật thường gần-gũi hơn đứa đã dạy nhiều lần mà chẳng chịu nghe theo, và thường ban thưởng cho kẻ tín-đồ nào quí trọng kinh luật của Phật, chăm lòng giữ theo giới-luật, cẩn-thận từ lời nói việc làm, đừng để cho người ta nhạo-báng Phật hay chê-bai Thầy của mình.”…
            Đến bài: LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO Đức Thầy đã giải nghĩa về chữ Qui-Y như vầy:
            … “Qui là về, mà về đâu? Về cửa Phật. Y có nghĩa là vâng lời theo khuôn-mẫu.
            Vậy qui-y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời Phật dạy. Phật tử-thiện cách nào ta phải từ-thiện theo cách nấy. Phật tu cách nào đắc Đạo rồi dạy ta, ta cũng làm theo cách nấy. Thầy cảnh tỉnh giác-ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng ngày. Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc, là món trợ đạo để nhắc-nhở các trò nhớ phận sự mà làm.”…
            Đức Thầy cũng chỉ cách diệt Khẩu-nghiệp như sau:
             … “Hãy lấy gươm trí-huệ mà dọn sạch ma lòng, hãy lấy lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau, hãy lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cứ-xử với mọi người. Cần hiểu cái lý vô-ngã của nhà Phật. Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng-hộ.”…
            Đức Giáo Chủ cũng giải thêm: PHẬT LÀ GÌ ? ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO CỦA PHẬT như thế này:
            …”Phật giả là Giác giả. Giác giả là Tỉnh giả.
            Khi Đức Thích-Ca thành Phật thì Ngài nói pháp tứ-đế mà độ đời trước hơn các pháp. và chỉ con đường Trung-Đạo cho người hành theo.”…
            Đường Trung Đạo Của Phật được Đức Thầy rút gọn như vầy:
            …”Vậy Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung-sướng, chẳng ép ai ăn chay,chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình-độ và lòng nhơn của mình.
            Điều cần yếu là phải:
       . Làm hết các việc từ-thiện.
      . Tránh tất cả điều độc ác.
      . Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch.”…
            Tiếp đến Đức Giáo Chủ cũng giảng giải về: CHƯ PHẬT CÓ BỐN ĐẠI-ĐỨC là Từ-Bi-Hỉ-Xả và mục đích của việc niệm Phật như sau:
             … “Vậy ta niệm danh-hiệu Phật để nhớ Phật và rán sức làm theo bốn đại-đức của Phật đặng ngày sau chứng quả như Ngài.”…
            Ngoài ra Đức Thầy cũng dạy thêm rằng;
             … “Ta cũng nên bố-thí, nhẫn-nhục, trì-giới (để độ Tham, Sân, Si).
            Còn phương-pháp niệm Phật là để trừ cái vọng niệm của chúng-sanh, vì trong tâm của chúng-sanh niệm niệm mê-lầm chẳng dứt… hễ thành tâm niệm Phật thì nếu được một niệm Phật ắt lìa được một niệm chúng-sanh, mà niệm niệm Phật thì lìa tất cả niệm chúng-sanh. Cho đến khi nhứt tâm bất loạn. Chừng ấy vọng niệm chúng-sanh đã dứt thì lòng ham muốn và các tình dục còn đâu mà nảy sanh ra được?.
            Nên niệm Phật là niệm cái bản-lai thanh-tịnh của Phật cho lòng của mình nương theo đó mà được thanh-tịnh và chẳng còn trược nhiễm trần-ai.
            Cần tu thập-thiện thì sự niệm mới có hiệu quả. Tu thập-thiện, dứt được thập ác (cũng gọi là tịnh tam nghiệp).”…
            Có lẽ trong chúng ta ít nhiều gì cũng biết, bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-Ca tại vườn lộc uyển độ năm anh em Kiều Trần Như  là Tứ Đế Pháp Luân, cũng được Đức Thầy sơ giải như sau:
            … “Đức Phật nói rằng tất cả chúng-sanh trong cõi trần này chịu muôn ngàn điều khổ-não, kể chẳng xiết, nhưng có thể tóm tắt lại làm tám điều, vì trong tám điều khổ ấy nó có thể nảy ra muôn ngàn sự khổ-não kia.”…
  …” 1/ Khổ-đề: Gồm các sự khổ trong đời.
      2/ Tập-đề: Gồm có các tập nhơn-sanh ra quả khổ.
      3/ Đạo-đề: Gồm có tám đường chánh.
      4/ Diệt-đề: Phương-pháp diệt khổ, hưởng quả niết-bàn.
      5/ Mưu cầu bất đắc…
      6/ Biệt ly …
      7/ Oan tắng hội…
      8/ Lo ngại…”.
             Cuối cùng là bài Pháp Luận thứ tám với tựa đề là:”TRONG VIỆC TU THÂN XỬ-KỶ” Đức Thầy chỉ dạy rốt ráo như sau:
            … “Ta hãy đem đức-tin trong sạch mà thờ kỉnh Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y theo lời phán dạy của Phật.”…
            Trong phẩm này lại một lần nữa Đức Thầy chỉ cách tiêu diệt cái vô-minh để mở-mang tri huệ như sau:
            … “Muốn diệt cái vô-minh trước hết phải điêu-luyện khối tinh-thần cho mạnh-mẽ đặng tự lập con đường rõ-ràng, duy nhất của mối Đạo mình đang học để lấy đó làm cương-mục mà bài-trừ những thành-kiến, cố chấp, thói quen, sự chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu-ngạo, tật đố, gièm-siểm, dua-nịnh, ích-kỷ tư tâm, sự gây-gổ, mê đắm trong bể dục-tình và sự phiền-não nó làm cho náo loạn cõi lòng. Nên bài-trừ được nó rồi trí-huệ tất mở-mang vậy.”…
            Đức Giáo Chủ còn dạy tín đồ cần phải tìm cách làm cho Tâm và Trí phát triển cả hai, để nhận xét một cách rõ ràng mà các mối tà đạo đang thịnh khởi.
             … “Người có tâm nếu không tập suy-gẫm cho mở mang trí thì hay dễ bị lường gạt.
            Người có trí mà vô tâm thì hay xảo trá. Nên trí và tâm của người học Đạo cần tìm cách làm cho nó được phát-triển cả hai để lấy tâm làm chủ trì mọi việc, lấy trí mà phán xét mọi việc trước khi ta sắp đưa cho tâm chủ trì. Được như thế chắc-chắn ta học Đạo mau thành công đắc quả.
            Đừng thấy ai theo mối Đạo nào đông-đảo rồi ta cũng vội vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta chưa hiểu giáo-lý ấy như thế nào.”…
            Sau khi đã học Đạo xong rồi thì bước kế tiếp là hành Đạo cũng được Đức Thầy dạy rằng:
             … “Sự đầu tiên của người hành Đạo là cốt sửa những tư-tưởng, tìm cách đánh đổ tư-tưởng xấu xa, đem thay vào những tư-tưởng ôn-hòa, đạo đức.”.
            Để việc hành Đạo được chơn chánh và đúng ý nghĩa của nó, Đức Giáo Chủ còn dạy thêm rằng:
            …”Cái hành Đạo đúng theo ý-tưởng xác-thực của nó là làm thế nào phát-hiện được những đức-tính cao cả và thực-hành trên thiệt-tế bằng mọi biện-pháp để đem lại cái phước-lợi cho toàn-thể chúng-sanh thì đó là sự thỏa mãn trong đời hành Đạo của mình.”…
            Đến đây chúng ta thấy rõ Giáo-Lý Phật Giáo Hòa Hảo là cả một kho tàng pháp bảo, được Đức Huỳnh Giáo Chủ rút gọn trong các Luật, các Kinh của Đạo Phật một cách vi diệu như thế nào.
            Qua đây chúng ta mới thấu hiểu tình thương yêu vô bờ bến của Đức Huỳnh Giáo Chủ:
      … “Thương quá sức nên Ta bịn-rịn,
          Quyết độ đời cho đến chung thân
          Nếu thế gian còn chốn mê tân,
          Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.”…
          (Trích: GIÁC MÊ TÂM KỆ).
Ngài đã để lại cho đời một công trình vĩ đại to lớn, một đại thệ nguyện của Bồ-Tát mà cả ngàn năm mới xuất hiện một lần.
   … “Nếu chừng nào khai thông đại Đạo,
        Đuốc từ-bi rọi khắp cả nhơn-gian.
        Bể trầm-luân khô cạn sáu đàng,
        Tăng-Sĩ mới trở về nơi thanh-tịnh.”
       (Trích: “TRAO LỜI CÙNG ÔNG TÁO”)
            Ngược dòng thời gian ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939). Trong bối cảnh lịch sử đen tối, xã hội băng hoại, đạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán, thảm họa chiến tranh sắp tràn lan. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khai sáng nền Đạo PGHH để cứu độ và:
... “Dìu nhân sanh khỏi chốn mê lầm,
  Bờ giác ngạn chuyên tâm lần bước tới..."
     (Gởi Bác sĩ Cao Triều Lợi ở Bạc Liêu)
           Như Ngài đã tiết lộ trong phần Sứ Mạng: “...Vì thời cơ đã đến, lý Thiên Đình hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan..." và... “Thiên Tào đà xét định, khắp chúng sanh trong thế giới, trong cái buổi Hạ Nguơn nầy, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả, luật trời đà trị tội, xét kẻ thiện căn thì ít, người tội ác quá nhiều..." (Trích: THAY LỜI TỰA hay Sứ-mạng của Đức Thầy).
           Vì lẽ đó nên Ngài... “Khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh thì mới mong Thiên Đình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long Hoa chầu Phật.”…(Trích: THAY LỜI TỰA hay Sứ-mạng của Đức Thầy).
            Đức Huỳnh Giáo Chủ đã minh định rõ ràng như sau:... “Nên ngày 18/5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh..." (Trích : THAY LỜI TỰA hay Sứ-mạng của Đức Thầy).
            Đức Huỳnh Giáo Chủ đã tóm lược yếu lý của Đạo Phật để đưa thẳng vào đời sống con người. Đào tạo con người có thái độ nhập thế, sống ở thế gian, tu với thế gian, phục vụ thế gian, đó là hành động thực tế để lập công bồi đức, về cõi Niết Bàn sau khi chấm dứt ở thế gian. Người tín đồ PGHH nào cũng hiểu rằng:
    … “Bạch trinh giữ lấy nghĩa-nhân,
       Muốn về cõi Phật, lập thân cõi trần.”…
               (Trích: THU ĐÃ CUỐI).
            Nếu không làm xong bổn phận tại thế gian hôm nay, tất nhiên ngày mai không có hy vọng tiến lên cõi Cực Lạc:
…”Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.”…
        (Trích: SÁM GIẢNG).
     Hay là:
          ..." Đến ngày biển cạn non mòn,
             Tứ-ân đã trả chẳng còn tội căn.”…
               (Trích: Cho ông Cò tàu HẢO).
Tính chất nhập thế của giáo lý PGHH và thái độ nhập thế để hành đạo của người tín đồ PGHH đã diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa Đạo và Đời qua câu nói của người đời:
..." Đời không Đạo, đời vô liêm sỉ,
     Đạo không đời, Đạo biết dạy ai...".
Và Đức Thầy cũng dạy:
… “Ai ai cũng ở trong đời,
Chốn nào không Đạo là đời vô liêm.”…
(Trích: ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC).
Hơn thế nữa Đức  Huỳnh Giáo Chủ luận giải hết sức tài tình về sự tương quan giữa Đất-Nước và Tôn-Giáo như sau: …”Khi nào nước nhà được cường-thạnh, đạo Phật mới đặng khuếch-trương tự-do, hầu gieo rắc tư-tưởng Thiện-Hòa và tinh-thần Từ-Bi, Bác-Ái khắp bàng-nhân bá-tánh.”… (Trích: HIỆU-TRIỆU).
            Đức Huỳnh Giáo Chủ không những nhắc nhở con người nên có lòng từ bi, bác ái, mà còn khuyến tấn thực thi giáo lý của Đạo Phật vào đời sống thế gian một cách thực tế. Để thực hành Bồ Tát Đạo ngay tại thế gian, ngày 14-11-1946 Đức Huỳnh Giáo Chủ tuyên bố trên tờ báo Quần Chúng như sau:..."…tôi tin chắc rằng giáo-lý giải-thoát chúng-sanh chẳng những được truyền-bá ở Thiền-lâm mà còn phải thực-hiện trên trường chánh-trị.”…
           (Trích: ĐỨC HUỲNH GIÁO-CHỦ TUYÊN-BỐ. LỜI-TOÀ SOẠN Báo QUẦN-CHÚNG 14-11-1946).
            Truyền-bá ở thiền-lâm là: học giáo lý của Đạo-Phật.
            Thực-hiện trên trường chánh-trị là: áp dụng giáo lý của Phật vào trong đời sống hằng ngày.
            Vì trước mắt là một xã hợi bất công, phân chia giai cấp trầm trọng, để đáp ứng tình hình lúc bấy giờ Đức Huỳnh Giáo Chủ đã thành lập ĐẢNG VIỆT-NAM DÂN-CHỦ XÃ-HỘI.
            8/- Chủ-trương “Toàn-dân chánh-trị “.
            9/- Chống độc-tài bất cứ hình-thức nào...".
            (Trích: CHƯƠNG TRÌNH).
Qua Giáo lý PGHH và lời kêu gọi của Đức Thầy, nhiều điền chủ đã qui y, từ bỏ thủ đoạn bóc lột, chấm dứt áp bức, tự xé giấy nợ và chia đất cho tá điền làm chủ. Từ mối quan hệ chủ tớ, đã trở thành mối tương quan Hòa Hảo thân ái yêu thương, thuận hòa tốt đẹp, để hố chia ngăn cách không còn nữa.
            Trước hiện tượng xã hội băng họai, đạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán được Đức Thầy cho biết như sau:
..."Ở thị-thiềng đua chen xướng-khởi,
    Những tuồng hư, cho bọn gái lẫn trai.
    Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,
    Nào trùm-đĩ, ma-cô, nghề hút máu.”…
           (Trích: “TRAO LỜI CÙNG ÔNG TÁO”).
    Hay là:
        …”Nào kể chi là đạo Quân-Thần,
           Tôi giết chưa, con đành sát phụ.
           Lúc nguy-cơ tớ mong hại chủ,
           Trò giết thầy tội ấy đáng không.
           Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,
           Niềm huynh-đệ cùng nhau xâu-xé.
           Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,
           Giành của tiền cốt-nhục giết nhau.
           Tranh lợi-danh giết lẫn đồng-bào,
           Tình nhơn-loại phân chia yểm-bách.”…
              (Trích: KHUYẾN THIỆN).
            Qua Điều Răn Cấm Thứ Nhứt: "Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm. Phải giữ cho tròn luân lý Tam Cang Ngũ Thường". Đã phát huy và hình thành được cuộc sống hài hòa lương thiện, cần kiệm, nói chung là lối sống đạo đức, cho nên rất ít chuyện chơi bời đàng điếm, cờ bạc hút xách, trụy lạc rượu chè, đầu trộm đuôi cướp tại những vùng PGHH ảnh hưởng.
            Đến đây chúng ta thấy rằng, Giáo Lý PGHH chẳng những làm thay đổi bộ mặt xã hội thời bấy giờ được tốt đẹp hơn, mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã đưa tinh thần Đạo Phật vào đời sống một cách tài tình nhằm kiến tạo một xã hội Văn-Minh - Phú-Cường - Công-Bằng và Nhân-Đạo.
            Để Sứ Mạng cứu độ chúng sanh sớm thành công viên mãn, từ căn bản Đạo Phật, Ngài đã xiển dương pháp môn Học Phật Tu Nhân mà cốt lổi là hành sử Tứ Đại Trọng Ân. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã làm nổi bật sự liên hệ giữa Đạo Pháp và Dân Tộc như sau:…"Hễ nước mất thì cơ sở Đạo bị lấp vùi, nước còn thì nền Đạo mới được phát khai rực rỡ.”… (Trích: ÂN ĐẤT-NƯỚC).
           Đức Thầy đã khế lý khế cơ, dùng các món thiện pháp khơi dậy tinh thần yêu nước, nên được sự hưởng ứng mãnh liệt của quần chúng thời bấy giờ. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã giải thích sự nghịch lý giữa Tu Hành và Tranh Đấu như sau:..."Nếu trong cõi nhơn gian này còn có chúng-sanh tiền-tiến áp-bức những chúng sanh lạc-hậu thì là một việc trái hẳn với những giáo-lý chơn-chánh ấy.”…
            (Trích: ÔNG HỒN-QUYÊN VÀO CHIẾN-KHU PHỎNG-VẤN ĐỨC HUỲNH GIÁO-CHỦ).
            Vì hành động xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, trái hẳn với tinh thần Từ Bi và Bình Đẳng của Đạo Phật qua câu: "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh" (Phật cũng đồng nhất thể bình đẳng với chúng sanh).
            Đã có sự bình đẳng như thế, nên sự xâm lăng của thực dân Pháp buộc người tín đồ PGHH phải tranh đấu đòi sự công bằng, đòi lại quyền độc lập, tự chủ cho nước nhà. Họ đấu tranh không phải vì tham danh đoạt lợi hay ích kỷ nhỏ nhen. Mà người tín đồ PGHH tranh đấu vì:…"Cảm thấy bổn phận phải bảo vệ quê hương khi bị kẻ xâm lăng dày đạp. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị...". (Trích: ÂN ĐẤT-NƯỚC).
           Bảo vệ quê hương đất nước là thương dân Ái-Quốc, mà ái-quốc là khía cạnh của Từ Bi. Họ đấu tranh vì chính nghĩa, vì đức hiếu sanh, dám hy sinh cứu nguy một đất nước, cứu khổ một dân tộc giống nòi.
..."Ngàn năm Bắc địch vày-bừa,
    Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.
    Hồn chiến-sĩ ngàn thu rạng tỏ,
    Gương anh-hào chói đỏ như châu.
    Non-sông thanh-bạch một bầu,
    Ngọn cờ độc-lập bay hầu khắp nơi.”…
                (Trích: GỌI ĐOÀN).
            Khi chúng sanh đang điêu linh đắm chìm trong bể khổ, khi một dân tộc đang bị đọa đày oằn oại đớn đau, khi một đất nước bị mất quyền tự chủ sống trong ô nhục tối tăm. Lẽ nào kẻ tu hành nhắm mắt làm ngơ, ngồi nhìn ngoại bang giày xéo trên quê cha đất tổ.
            Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ đã hóa thân thành nhà Cách mạng tiên phong trong Phong trào giành độc lập tự do để giải thoát cho một đất nước, một dân tộc giống nòi:
..."Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
     Quyết rứt cà-sa khoác chiến-bào.
     Đuổi bọn xâm-lăng gìn đất-nước,
     Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao.” …
        (Trích: QUYẾT RỨT CÀ-SA).
            Vào tháng 4-1945, trong lúc đi khuyến nông tại Phụng-Hiệp, Đức Thầy có hỏi rằng: "Tôi là một nhà tu-hành, lẽ thì vào chốn non cao, núi thẳm tu tâm dưỡng tánh, cớ nào hôm nay lại xen vào chánh trị ?!”…Không một ai trả lời, sau đó Ngài có ngâm bài thơ Tứ tuyệt sau đây:
"Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
Thương đời chưa vội ẩn non cao.
Quyết đem tâm sự tâu cùng Phật,
Coi lịnh từ-bi dạy lẽ nào." …
           (Trích: YÊU NƯỚC).
            Kể từ ngày Khai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo đến nay, thời gian tuy ngắn so với các Tôn Giáo khác, nhưng dưới sự dìu dắt của vị Giáo Chủ siêu phàm độ thế, với bảo pháp Học Phật Tu Nhân, và giáo lý Tứ Ân thực tiễn đã phát triển mạnh mẽ, ăn sâu vào quần chúng và sớm trở thành một Tôn Giáo Dân Tộc. Một sức mạnh tinh thần dũng mãnh, một khối nhân lực không nhỏ đã đóng góp vào công cuộc giành độc lập tự do cho nước nhà.
            Ngày hôm nay dù Đức Tôn Sư còn xa vắng, người PGHH phải giữ vững niền tin, kiên trì chịu đựng, giữ Đạo chờ Thầy. Cho dù phải hy sinh cho đại nghĩa như đã từng dâng hiến trong quá khứ.
            Người tín đồ PGHH vẫn giữ được bản chất trong sáng của kẻ tu hành, không màng vật chất, gạt bỏ lợi danh. Đó chính là nét độc đáo và tinh hoa của Phật Giáo Hòa Hảo. Họ chưa thể ngồi yên, nhắm mắt làm ngơ, mà còn phải dấn thân tranh đấu cứu lấy non sông giống nòi.
            Đến khi nào đất nước hết thương đau, dân lành không còn thảm khổ, thì họ sẽ trở về vui câu đạo hạnh, tiếp tục tu hành đến ngày thành công viên mãn. Như Đức Thầy đã minh định:
..."Tăng sĩ quyết chùa, am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô.
Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,
Bụi hồng trần rứt sạch cửa không.
Chuông linh ngân tiếng đại đồng,
Ta bà thế giới sắc không một màu.”…
           (Tặng thi sĩ Việt Châu)
            Đức Huỳnh Giáo Chủ đã thể hiện hình ảnh cao đẹp của bậc chơn tu ái quốc. Vua Trần Nhân Tông, Điều Ngự Giác Hoàng của Trúc Lâm Yên Tử. Một Đại Đức Khuông Việt mặc dù đã lánh bụi hồng trần nhưng vẫn ra tay gánh vác san hà. Đức Thầy là tấm gương chói sáng cho hậu thế, là ngọn hải đăng dẫn đường trong tăm tối, là ánh sáng chân lý đưa chúng sanh đến bờ giải thoát.
            Hôm nay Kỷ Niệm lần thứ 85, Ngày Khai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, 18/5 năm Kỷ Mão (1939). Hầu hết khắp mọi nơi trên thế giới, ở nơi nào có tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo, thì ở nơi đó mọi người hân hoan vui mừng tổ chức và nghinh đón ngày Lễ Trọng Đại này đúng như lời Đức Thầy đã cho biết:
      ... “Ước-mơ thế giới lân Hòa Hảo,
        Nhà Phật con Tiên hé miệng cười ...”.
          (Trích: PHÒNG VẮNG ĐÊM KHUYA).
            Trân trọng kính chào chư Quý vị đồng đạo. Kính chúc chư quý vị thân tâm thường an lạc, Đạo quả sớm viên thành, Tinh tấn tu hành để được diện kiến Đức Thầy khi Ngài trở gót./.
                Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu Ni Phật.
                Nam Mô A-Di-Đà-Phật.
                HUỲNH MINH QUANG
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn