Anh Hùng NGUYỄN TRUNG TRỰC - Bài của Dương Thanh Tồn

22 Tháng Chín 20201:06 CH(Xem: 2307)
Anh Hùng NGUYỄN TRUNG TRỰC - Bài của Dương Thanh Tồn

Anh Hùng NGUYỄN TRUNG TRỰC

(Trích từ quyển “Tiền tam giang, Hậu thất lĩnh”

của Dương Thanh Tồn)

119936970_955652128288365_1743286009695647022_oBàn thờ Quan Trượng Đẳng Đại Thần Nguyễn Trung Trực 

          Quân Pháp đã đem tử hình Tướng quân tại pháp trường chợ Kiên Giang. Trước khi Ngài hy sinh, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn nói: “Nếu Ngài bằng lòng chịu hợp tác với nhà nước Đại Pháp sẽ được phong chức cao bổng hậu “. Tướng quân đáp: “Tôi chỉ xin nhận một chức thôi“. - Chức gì ? Tấn mừng rỡ dồn dập hỏi. - Chức gì mà ta có quyền chặt đầu hết bọn giặc Pháp và mổ bụng moi tim hết những lũ chó săn Việt gian như ngươi thì ta mới nhận.

          Giờ hành quyết sắp bắt đầu, tên Huỳnh Công Tấn hỏi: “Ngài có điều gì muốn nói không ? Nguyễn Tướng quân khẳng khái đáp:

          “Chừng nào hết cỏ tháng Mười,

          Thì dân nước việt (mới) hết người chống Tây.

          Đầu ta có thể rơi, máu ta có thể đổ nhưng “Sĩ Khả Thác, Bất Khả Nhục”.

         Có lẽ đây là một sự kiện lạ lùng chưa từng xảy ra trong lịch sử hành hình. Người đao phủ thủ có tên Bòn Tưa (người Miên), anh ta vì quá kính trọng và cảm mến khí phách anh hùng của Ngài, nên Bòn Tưa tự quỳ xuống lạy Ngài ba lạy và xin Ngài tha lỗi trước khi chém Ngài.

          Với thái độ trầm tĩnh và đầy hào khí của bậc anh hùng cái thế nước Nam, Đức Quan Ngài cười nói với Bòn Tưa rằng: “Ta vì bổn phận với Tổ quốc đành chịu chết. Mi chém ta cũng vì bổn phận đối với chủ là quân Pháp, không có lỗi gì đối với ta, khỏi cần phải trói tay chân ta, có điều mi chém nhớ chém cho tốt, cho ngon đao thì khỏi sợ ta oán.

          Thế rồi mắt Ngài đăm chiêu nhưng không thiếu sự quắc thước hướng về dãy Thất Sơn chập chùng hùng vĩ đầy huyền bí của Tổ Quốc cảm khái ngâm bốn câu thơ tuyệt mệnh như sau:

Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,

Yêu gian đảm khí hữu long tuyền.
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa,
             Báo hận thâm cừu bất đái thiên.
Thi sĩ Đông Hồ dịch:
Theo việc binh nhung thủa trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời.

          Lời ngâm vừa dứt ngọn đao oan nghiệt lấp lánh như một tia chớp ngang trời chặt đầu Ngài lìa khỏi cổ, thế nhưng vì thần khí quá dũng liệt, Ngài vẫn kịp đưa hai tay lên nâng thủ cấp đặt vào cổ, thân còn đứng vững, tóc dựng đứng, mắt trợn ngược với tia nhìn tràn đầy lửa uất hận căm hờn rồi sau đó mới chịu ngã xuống đất trước sự kinh hoàng trào lệ cảm thương và nghiêng mình cúi đầu bái phục của mọi người đang chứng kiến đối với vị anh hùng áo vải vị quốc vong thân.

          Đó là buổi sáng trời sầu đất thảm ngày 27 tháng 10 năm 1868 nhằm ngày 28 tháng 8 năm Mậu Thìn.

Quan Tuần phủ Hà Tiên là cử nhân Huỳnh Mẫn Đạt đã khóc vị anh hùng dân tộc đầy tiết tháo bằng một bài thơ còn lưu truyền trong dân gian tới ngày nay:

Thắng phụ nhung trường bất túc luân,
Đồi ba chỉ trụ ức ngư dân.
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.
Nhất đám phi thường tiêu tiết nghĩa,
Lưỡng toàn vô uý báo quân thân.
Anh hùng cường cảnh phương danh thọ,
             Tu sát đê đầu vị tử nhân.
Thái Bạch tiên sinh dịch:
Thắng bại chi bàn việc tướng quân,
Người chài trụ đá khúc gian truân.
Lửa hồng Nhựt Tảo rêm trời đất,
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần.
Một sớm nhẹ mình nêu tiết nghĩa,
Đôi đường trọn chữ báo quân thân.
Anh hùng cứng cổ danh thơm mãi,
Lũ sống khom lưng chết thẹn dần.

          Trong bài nguyện cho tín đồ của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo lại có câu: “Nam Mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, Chư Quan Cựu Thần, Chư Vị Sơn Thần, Chư Vị Năm Non Bảy Núi ...“ Quan Thượng Đẳng Đại Thần tức là Anh hùng NGUYỄN TRUNG TRỰC áo vải lẫm liệt nêu cao tấm gương TRUNG HIẾU TIẾT NGHĨA vẹn toàn, thiên thu được ghi vào thanh sử./.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn