Quyển Thượng Tập 1/3

11 Tháng Tám 20207:52 CH(Xem: 1389)
Quyển Thượng Tập 1/3
sam-giang-thi-van-giao-ly-quyen-thuong-1diendanpghh-duc-hunh-giao-chu
ong-thien-tam-bui-van-uong
Ông Thiện Tâm
BÙI VĂN ƯỞNG (1927-2007)


PHẬT GIÁO HÒA HẢO

NĂM THỨ 36

(1939 – 1975)

---oOo--- 

SẤM GIẢNG

THI VĂN TOÀN BỘ

CHÚ  GIẢI

 

QUYỂN THƯỢNG (TẬP 1)

 

CHÁNH VĂN: ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

                                                                          CHÚ GIẢI: THIỆN TÂM

                                     LỜI NÓI ĐẦU

 

          Đọc qua bộ SẤM GIẢNG THI VĂN của ĐỨC GIÁO CHỦ PHẬT GIÁO HÒA HẢO, chắc ai cũng thấy Ngài “Nối theo chí Thích Ca ngày trước”. Song vì, “Tùy phong hóa dân sanh phù hạp”, nên Ngài dùng phương tiện “Rút trong các Luật các Kinh” của chư Phật, Thánh, Tiên mà lập thành một giáo thuyết mới; một giáo thuyết có Tông chỉ sáng tỏ, có phương thức tu hành giản dị, giúp cho người hành Đạo dễ đạt đến cứu cánh.

          Giáo pháp của Phật Thánh xưa kia nhiều như rừng như bể, thế mà thời nay Đức Giáo Chủ sáng tác chỉ có một bộ Sấm Kinh dày khoảng 500 trang thì đủ biết Ngài chỉ rút toàn những yếu lược thì đương nhiên trong đó phải hàm súc nhiều ý nghiã. Cho nên, bên cạnh những lời lẽ ôn hòa giản dị, còn thấy có hằng ngàn từ ngữ Phật học, Hán học, hằng trăm từ ngữ văn chương, điển cố, đòi hỏi người tu học phải có nhiều Kinh sách để tra cứu mới mong thấu rõ lý nghiã và dụng ý của Ngài.

          Kinh xưa đã bảo: “Tùng Văn Tư Tu Nhập Tam Ma Địa”. Ý dạy người hành Đạo trước phải học, nghe cho rõ ràng, rồi đem chỗ học nghe đó suy nghiệm cho chính xác, phân biệt lẽ thật hư, rõ thông Chân Lý và nhứt tâm phụng hành theo một cách sáng suốt mới vào được cảnh trí thanh tịnh.

          Ngày nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng dạy:

“Coi rồi phải nhận cho hiểu lý”.

          Hoặc là:

“Nghe cạn lời chớ có mờ hồ,

Tìm hiểu nghiã làm theo đắc Đạo”.

         

          Bởi nhằm mục đích phổ truyền Chánh Pháp và giúp phương tiện cho những ai muốn tìm hiểu về giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, nên Ban Hoằng Pháp Tây An Cổ Tự trước kia và Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương ngày nay đã có biên soạn khá nhiều về tài liệu tu học, Kinh sách và chú thích một số bài trong SẤM GIẢNG THI VĂN của Đức Giáo Chủ. Song với kho tàng Pháp Bảo Phật Giáo Hòa Hảo thì còn vô tận “Đạo Lý tầm sâu sâu chẳng cạn”, thế nên công tác tra cứu biên soạn nầy phải cần có nhiều người tiếp tục và tiếp tục mãi mãi…

          Cách đây mười năm, chúng tôi có ý định chú giải bộ SẤM GIẢNG THI VĂN để cùng các bạn Giảng Viên và Chư Tín Hữu nghiên cứu tu học; nhưng trong những năm đầu tiên Giáo Hội mới tái phục hoạt, công tác giáo sự quá bề bộn nên chúng tôi không đủ thời gian để biên soạn.

          Mãi đến 1974, Học Viện Phật Giáo Hòa Hảo hình thành, các Giảng Viên chúng tôi mới có cơ hội trở về đây tu nghiệp và soạn thảo thêm Kinh sách. Thế là ý định chú giải bộ SẤM GIẢNG THI VĂN mà chúng tôi đã nuôi dưỡng trong tâm trí nười năm trước, giờ đây mới bắt đầu thực hiện.

          Bộ SẤM GIẢNG THI VĂN chú giải nầy, chúng tôi chia làm ba quyển:

          * Quyển Thượng, gồm có bài Sứ Mạng và các quyển: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm.

          * Quyển Trung, gồm có các bài văn xuôi như Quyển Sáu và các bài pháp luận trong THI VĂN GIÁO LÝ phần nhì.

         * Quyển Hạ, gồm có những bài văn vần thi thơ trong THI VĂN GIÁO LÝ phần nhì.

          Để cho sự tra cứu tìm học giáo lý được dễ dàng, trước hết chúng tôi chép phần chánh văn từng mỗi đoạn (nếu bài dài), hoặc từng mỗi bài (nếu bài ngắn). Kế đó là phần lược giải đại ý và chú thích các từ ngữ.

          Ở đây chúng tôi chỉ lược giải và chú thích các từ Hán Học, Phật Học, các thành ngữ văn chương, điển tích và những pháp môn hành Đạo. Còn phần Thiên Cơ thì không dám bàn đến. Tuy nhiên, cũng có thể xác định một ít sự trạng đã xảy ra để chứng minh cho việc sắp tới. Về các bài thi thơ hoàn toàn bằng Hán Văn mà Đức Giáo Chủ viết bằng chữ Việt, chúng tôi dành lại ở một dịp khác.

          Công việc biên soạn cần phải có nhiều công phu và dành một thời gian khá dài, nhưng ở đây chúng tôi làm với khả năng còn sơ kém và thời gian quá cấp bách thì điều khuyết điểm hẳn nhiên phải có. Vậy nhờ các bậc Thượng Thiện Tri Thức và Chư Tín Hữu điểm xuyết cho những chỗ còn thiếu sót. Chúng tôi xin thành kính nhận lãnh và đa tạ.

                            Viết tại Học Viện Phật Giáo Hòa Hảo

                                     Kim Cổ Tự, Quận Chợ Mới

                               Mạnh Xuân năm Ất Mão (1975)

                                               Thiện Tâm 

                                                LƯỢC SỬ ĐỨC HUỲNH  GIÁO  CHỦ
                                                    PHẬT GIÁO HÒA HẢO 

          I. THÂN THẾ:

          Đức Giáo Chủ PGHH tộc danh là Huỳnh Phú Sổ. Ngài sanh vào giờ Tý, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ-Mùi (15-1-1920) tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Một tỉnh thuộc miền Tây, Nam phần Việt Nam, giáp biên giới Miên-Việt, nơi ruộng đất phì nhiêu, dân cư trù phú.

          Ngài sanh trong một gia đình lễ giáo, con trưởng nam của Đức ông Huỳnh Công Bộ, vị Hương Cả trong làng được nhiều người kính nể. Thân mẫu là Đức bà Lê Thị Nhậm, một bậc hiền thục nhân từ.

          Lúc thiếu thời, Ngài có những đức tánh vượt hẳn người thường: ít nói cười, không thích tiêu khiển đờn ca xướng hát, hoặc các trò vui như người cùng lứa tuổi. Ngài rất giàu lòng nhân ái đối với người và sanh vật. Có ai đề cập đến việc gia thất thì Ngài cực lực phản đối, thường tìm nơi thanh tịnh để mặc tưởng trầm tư. Như bao nhiêu ấu niên khác, Ngài được thân phụ cho vào trường học Việt Ngữ ở xã nhà rồi chuyển lên Tân Châu, nhưng vì lý do sức khoẻ, Ngài phải dừng ngay sự học tập ở bậc tiểu học.

          Trong buổi tráng niên của Ngài, cả một chuỗi dài thời gian, thân xác phải chịu vày vò bởi nhiều chứng bệnh trầm kha, với thân hình gầy yếu, da mặt xanh xao, nhiều danh y diệu dược không trị nổi cơn đau của Ngài.

         Tình trạng ấy tự nhiên biến mất khi Ngài đến tuổi trưởng thành. Đối với giáo lý nhà Phật, Ngài đã tu học suốt thông từ nhiều tiền kiếp, nay chuyển hóa trở lại, chờ đúng thời kỳ đứng ra tế độ quần sanh.

          Lòng Ngài hằng hoài bão:

“Lòng yêu sanh chúng luân chuyển kiếp,

Dạ ái dương trần đổi xác (sắc) thân”.

                                                            (Lời Đức Thầy)

          Thời cơ đã đến, Ngài tự nguyện: “Quyết cứu đời dùng Đạo phổ thông”. Cho nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), Đức Giáo Chủ khai sáng đạo PGHH mở đầu kỷ nguyên Giáo Dân Hướng Thiện.

      II. PHƯƠNG TIỆN ĐỘ ĐỜI:

          Trong công cuộc cứu thế độ dân, Đức Giáo Chủ dùng ba phương tiện chính yếu được gọi là Tam Độ Nhất Như:

          1.- Trị Bịnh Độ Đời: Bởi chúng sanh thời Mạt Pháp đa số là hạ căn thiểu trí, phước mỏng nghiệp dày nên Đức Giáo Chủ tạm dùng “Huyền diệu của tiên gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị với trăm quan”. Ngài khéo léo đưa họ từ chỗ hết bịnh đến quy y Tam Bảo.

          2.- Thuyết Pháp Độ Đời: Sau ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), tức là ngày “Ta chịu lịnh Tây phương thọ ký”, Đức Giáo Chủ nói chuyện nhiều hơn trước, gặp ai cũng nói và khuyên mọi nguời nên làm lành lánh dữ, niệm Phật, xem Kinh. Ngoài ra, Ngài còn thuyết pháp hằng trăm, hằng ngàn lần trước đa số thính giả. Ngài biện minh Chánh-Pháp Vô-Vi và con đường tội phước để cho mọi người nhận thức được Chân Lý mà phát tâm hành thiện. Như trong bài Sứ Mạng, Ngài đã nói: “Phương pháp của ta tùy trình độ cơ cảm của Tín nữ, Thiện nam. Trên thì nói Phật Pháp cho kẻ có lòng mộ đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ”.

          3.- Sáng Tác Sấm Giảng Độ Đời: Ngoài sự trị bịnh và thuyết pháp, Đức Giáo Chủ còn sáng tác rất nhiều thi thơ Sấm Giảng để tiện bề truyền bá giáo lý khắp bàng dân bá tánh, như Ngài đã nói: Đến trung tuần tháng Tám, Ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn bút mực tiết lộ lấy Thiên Cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rõ biết hầu ăn năn cải quá làm lành, còn kẻ chẳng tỉnh tâm, sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ bảo”. Trong Giác Mê Tâm Kệ Ngài cũng nói:

            “Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,
             Mà chẳng tu là bởi không ưa.
             Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
             Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.
             Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
             Đem Đạo-mầu như hạn cho mưa.
             Đặng tố-trần tâm ý Người Xưa,
             Chữ thậm thâm trong kinh Phật-Giáo”.
Và:
             "Ngọn bút sắt chỉ đường người tối,
             Gậy kim cang đưa chúng lên đàng.
             Kíp nương theo trực chỉ Tây phương,
             Đến Cực Lạc tìm nơi An Dưỡng”.

      III. BƯỚC TRUÂN CHUYÊN TRUYỀN ĐẠO:

          Khởi nguyên từ ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), Đức Giáo Chủ khai truyền Chánh pháp tại Tổ Đình (Thánh Địa HH). Qua bốn lượt, Ngài hướng dẫn Đức ông (thân sinh Ngài) và một số tín đồ đi viếng khắp vùng Thất Sơn và Tà Lơn. Đến ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn (1940) nhà đương cuộc Pháp dời Ngài qua Châu Đốc, độ 2 giờ sau họ đưa luôn Sa Đéc. Sau cuộc xét hỏi ba hôm, nhà cầm quyền ở đây cho biết là Ngài không được phép truyền Đạo ở các tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, nhưng họ cũng để Ngài được chọn nơi nào tùy ý. Thế là vào ngày 18 tháng 4 năm Canh Thìn (1940), Ngài đến cư ngụ tại nhà ông Hương Bộ Võ Mậu Thạnh, tại rạch So Đủa (Cần Thơ).

          Ở đây trên hai tháng, nhà cầm quyền Cần Thơ đòi Ngài đến trình diện rồi đưa luôn vào nhà thương khám bệnh, hôm ấy nhằm ngày 29 tháng 6 năm Canh Thìn (1940), với dụng ý là họ muốn quản thúc Ngài. Đến hôm mùng 4 tháng 7 năm Canh Thìn (1940), họ đưa Đức Giáo Chủ vào nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn).

          Ở đây ngót 10 tháng 7 ngày, vào ngày 11 tháng 5 năm Tân Tỵ (1941) nhà cầm quyền đưa Ngài qua sở Công An Pháp (bót Catina) để điều tra, thời gian 8 ngày. Đến ngày 19 tháng 5 họ mới cho Ngài về Bạc Liêu cư ngụ tại nhà ông Ký Giỏi, nhưng họ buộc Ngài mỗi tuần vào sáng thứ hai, phải đến trình diện với Sở Cảnh Sát tại đây:

              “Việc chi mà phải đi trình báo,
                Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.
                Đợi máy huyền cơ xây đến mức,
               Tính xong cuộc thế lại Non Bồng”.

          Đó là một trong ba bài thi Ngài đã diễn tả lại hoàn cảnh trong lúc ấy.

          Lúc bấy giờ, quân đội Nhật có mặt khắp Đông Dương, thế lực người Pháp yếu dần, mà số người đến thọ giáo với Đức Giáo Chủ càng lúc càng đông, nên người Pháp quyết định đày Đức Thầy sang Lào, nhưng họ chưa kịp thi hành quỉ kế. Bỗng đêm mùng 2 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (1942), Sở Hiến binh Nhật cho Thượng Sĩ Kishi đem xe xuống Bạc Liêu chở Đức Thầy về Sài Gòn để Ngài ở tại Sở Hiến binh Nhật. Cư ngụ tại đây 2 tháng, Ngài bèn dời về căn lầu 168 đường Lefèbre rồi sang qua căn 150 kế đó.

          Sau ngày quân đội Nhật lật đổ chánh quyền Pháp (đêm 24 rạng ngày 25 tháng Giêng năm Ất Dậu 1945), Đức Giáo Chủ về thăm Tổ Đình (HH) và các tỉnh miền Tây, rồi Ngài cũng trở lại Sài Gòn lo hoạt động cứu nước.

          Vào khoảng đầu tháng 5 đến hết tháng 6 năm Ất Dậu, Đức Giáo Chủ đi thuyết pháp khắp nơi, gồm 107 vị trí. Cuộc đi này mệnh danh là “Khuyến Nông” vì trận Đệ Nhị Thế Chiến tạo ra sự đói khổ khắp nước Trung Hoa, lan dần qua Bắc Việt, khiến đồng bào ta phải chết đói hằng triệu.

          Với đường lối cứu quốc chánh nghiã của Đức Giáo Chủ không khỏi làm trở ngại chánh sách độc tài đảng trị của Trần Văn Giàu. Cho nên họ vu cáo rằng Đức Thầy và tín đồ sắp tạo phản và cướp chính quyền. Do đó vào đêm mùng 4 tháng 8 năm Ất Dậu (11-9-1945), người ta cho lệnh bao vây căn phòng số 8 góc đường Sohier-Miche để bắt cho kỳ được Đức Giáo Chủ, nhưng Ngài vẫn thoát ra một cách dễ dàng, rồi di chuyển từ Gia Định đến Biên Hòa, Long Thành, vào tá túc tại khu vườn trà Huế, sau rốt Ngài phải xuống tận Bà Rịa.

          Trong tình cảnh ấy, Đức Thầy có viết 7 bài thi tứ cú, mang tựa đề là “Tiếng Súng Bên Lầu”:

             Nước non tan vỡ bởi vì đâu?
             Riêng một Ta mang nặng khối sầu.
             Lòng những hiến thân mưu độc lập,
             Nào hay tai họa áp bên lầu.
                           *  *  *
             Bên lầu tiếng súng nổ vang tai,
             Trời đất phụ chi kẻ trí tài.
             Mưu quốc hóa ra người phản quốc,
             Ngàn thu mối hận dễ nào phai.
                             *  *  *
             Từ ấy lao mình vượt khổ nguy,
             Băng rừng lội suối giả man di.
             Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,
             Đem sức ra nâng lá quốc kỳ.
                              *  *  *      
             Nhưng khổ càng mong càng vắng bặt,
             Trời Nam tràn ngập lũ Tây-di.
             Biết bao đồng-chí phơi xương máu,
             Thức-giả nhìn nhau hỏi tội gì?
                            *  *  *
             Vì tội không đành phụ nước non,
             Phô bày tiết tháo tấm lòng son.
            Ngăn phuờng sâu mọt lừa dân-chúng,
            Chẳng nệ thân danh nỗi mất còn.
                           *  *  *
            Nếu mất thôi đành xong món nợ,
            Nay còn há dễ ngó lơ sao?
            Dọc ngang chí cả dù lao-khổ,
            Thất bại đâu làm dạ núng nao.
                           *  *  *
 
            Thất bại đâu làm dạ núng nao,
            Non-sông bao phủ khí anh-hào.
            Phen nầy cũng quyết đền ơn nước,
            Máu giặc nguyện đem nhuộm máu đào.
                                                Miền Đông, năm 1946.

          Khoảng cuối năm Ất Dậu, quân Pháp chiếm đóng Việt Nam trở lại. Trần Văn Giàu tìm đường đào tẩu, Đức Giáo Chủ liền trở về Chợ Lớn, bắt đầu liên lạc với tín đồ và các chánh đảng để mưu cuộc cứu quốc. Mãi đến tháng 10 năm Bính Tuất (1946) Ngài nhận tham gia vào Hành Chánh Nam Bộ với chức vụ “Ủy Viên Đặc Biệt”, nhưng chỉ được một thời gian rồi vì xảy ra cuộc xô xát giữa cán bộ Việt-Minh và Đảng Viên Dân Xã nên Ngài phải rời miền Đông trở về miền Tây dàn xếp.

          Thế là sáng ngày 6 tháng 4 năm 1947, Đức Giáo Chủ khởi hành vượt qua Đồng Tháp Mười, Cái Bèo; lúc 5 giờ chiều Ngài đến vàm Kinh Xáng Phong Mỹ, rồi thẳng đến văn phòng tại xã Phú Thành, thuộc tỉnh Long Xuyên (Kiến Phong ngày nay). Qua ngày 24 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi (15/4/1947) Đức Giáo Chủ đến diễn thuyết tại chợ Ba Răng (xã An Phong). Ngài kêu gọi mọi người hãy xóa bỏ tỵ hiềm thiệt thi Tinh Thần Đoàn Kết Dân Tộc.

          Sáng ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi (16/4/1947), Ngài tiếp tục dàn xếp giữa đôi bên. Trưa lại được thư của Bửu Vinh, mời Ngài hội nghị tại văn phòng của y, đặt nơi nhà ông Sư Huê trong ngọn Đốc Vàng hạ, xã Tân Phú, quận Thanh Bình ngày nay. 

          Trước khi đi Đức Giáo Chủ có thốt rằng: “Ngày nay là ngày đồng bào đau khổ nhứt! Ôi ! Sao mà khổ quá như vầy? Nhịn thì đồng bào chết ít, bằng không nhịn phải chết nhiều”. Thế rồi, Ngài quyết định đi họp, mặc dù khi ấy có nhiều Tín Đồ đề nghị Ngài không nên đi! (Ghe đi gồm có 9 người: Đức Thầy, thư ký Giữ, 4 phòng vệ và 3 người chèo).

            Hai giờ chiều hôm đó, cuộc họp hòa giải suốt hai tiếng đồng hồ cũng không ổn, Ngài xuống ghe nghỉ đến 5 giờ chiều mới về. Khi ghe chèo ra tới vàm kinh Thầy Cai Cần, đường tắt về Phú Thành (Ba Răng), anh Huỳnh Hữu Thiện (Ký Giữ) chỉ tay bảo 3 người chèo về đường tắt cho gần, nhưng Đức Thầy không cho và nói: “Mình đi đại lộ thì về đại lộ, người ta có ý gì không tốt, để sau này lịch sử phê phán”.

          Ghe đi một đoạn đường nữa, Đức Thầy kêu mọi người dưới ghe hỏi: “Bây giờ nếu thả các anh tại đây, có anh nào biết đường về Phú Thành không?”

          Anh Mười Tỷ, một trong bốn phòng vệ, đáp:

          - Bạch Thầy! con biết.

          Đức Thầy nói tiếp: “Có gì khó, cứ nhắm hướng sao Cày chạy riết thì tới chớ gì!” Nghe nói, ai cũng lo ngại và ghi nhớ lời dặn dò ấy.

          Khoảng 7 giờ 30 tối, trời tối mịt, ghe chèo tới bến sông nhà ông Mười Đủ thì có lính gác rọi đèn kêu ghé lại, thư ký Huỳnh Hữu Thiện đứng lên trả lời:

          - Ghe của Ủy Viên Đặc Biệt Hành Chánh Nam Bộ, đi họp với Ban Quân sự Tỉnh Long Xuyên về.

          Trên bờ có tiếng đáp lại:

          - Ghe của ai cũng phải ghé trình tờ giấy rồi mới được đi!

          Anh Thiện lấy giấy bước lên bờ thì Bửu Vinh ra mặt hỏi:

          - Có ông Ủy viên Đặc biệt dưới ghe không?

          - Có. Anh Thiện trả lời.

          - Vậy mời ông lên đây tiếp tục họp nữa.

          Đức Thầy bước ra và đi thẳng lên bờ, anh Ký Thiện (Giữ) đi theo, Ngài không cho, bảo: “Để bốn phòng vệ theo thôi!” (Đoạn nầy theo lời anh Thiện (Ký Giữ) thuật lại).

          Tại đây (nhà ông Mười Đủ), Bửu Vinh đã bố trí: y đặt cây súng máy (FM) ngoài sân kiểng ghim họng ngay chỗ Đức Thầy ngồi. Ngài bước vào, bốn phòng vệ bước theo đứng bốn góc. Bửu Vinh mời Ngài ngồi ghế giữa ngó ra, y ngồi một bên, liền đó 8 người lính của y bước vào, cứ 2 người đứng cặp kè một phòng vệ.

          Trong lúc luận cãi, Bửu Vinh dằn mạnh ly nước xuống bàn rồi ngã ngữa ra, tức thì loạt súng máy nổ ngay Đức Thầy. Ngài lẹ tay quạt tắt cây đèn, nhờ đó anh Mười Tỷ hụp xuống, 2 người lính của Vinh đâm lầm nhau, ba phòng vệ kia đều bị đâm chết hết. Anh Tỷ thoát ra chạy nhào xuống rạch, rủi quai súng mắc vào nọc cầu, trên bờ súng bắn vãi theo, anh Tỷ núp dưới cầu, quay họng súng lại bóp cò nổ hết băng đạn (Mi-Trây-Dết) rồi lội qua rạch chạy về. Còn anh Ký Giữ và ba người chèo (1. Ông Phùng văn Khả, 2. Ông Quắn và 3. Ông Dùng. Ông Khả hiện giờ 64 tuổi thuật rõ điều nầy) nghe tiếng súng nổ, biết việc không yên, đã lội qua rạch và y theo lời Đức Thầy dặn, tất cả đều nhắm hướng sao Cày chạy về Phú Thành trước.

          Sau mấy phút, tiếng súng vừa dứt, Bửu Vinh kêu chủ nhà đốt dùm cây đèn khác đem ra. Anh Khâm (con ông Mười Đủ) bưng cây đèn ra, thấy Đức Thầy xách cái ghế Ngài ngồi lúc nãy đang nằm cạnh bàn thờ Cửu Huyền, đem đặt lại chỗ cũ rồi Ngài ngồi xuống. (Cha con ông Mười Đủ là chủ nhà, đã thấy đích xác việc xảy ra và kể lại).  

          Lúc ấy Bửu Vinh đinh ninh Đức Thầy đã chết theo loạt súng máy, không ngờ cái bàn và vách nhà thì lủng mà Ngài vẫn tự nhiên, Vinh cuống quít tìm lời chối cãi âm mưu thâm độc của mình nên nói lớn:

          - Người ta ám sát cả tôi và ông, nhưng may quá, chúng ta không sao hết.

          Kế đó, một toán lính xông vào vác 4 xác chết đem ra. Đoạn rồi Bửu Vinh mời Đức Thầy trở vào văn phòng của y (nhà ông Sư Huê, trong đó khoảng 4 cây số), có lính theo bảo vệ chung quanh.

          Sau cuộc biến cố, tiếng mõ và tù dà nổi lên báo động khắp làng xóm, lính Bảo An Dân Xã và Tín Đồ kéo theo Đức Thầy rất đông. Đi một lát, Ngài quay lại nói lớn: “Bà con về đi, đi !” Đi ít phút, Ngài cũng quay lại và nói câu đó, luôn ba lần như vậy.

          Lúc ấy có ông Năm Tạo, là Hội Trưởng đương nhiệm của Đạo trong xã Tân Phú và một số Tín Đồ hiểu ý Ngài, liền trở lại dọn đồ xuống ghe chèo về Hòa Hảo nên được sống; còn số nào ở trễ lại vài ngày sau đều bị Việt Minh bắt giết. (Đoạn nầy theo lời ông Tạo, Hội Trưởng Xã lúc đó).

          Khi vào văn phòng, Đức Thầy bảo Bửu Vinh: “Kêu giùm tôi ít người Đảng Viên Dân Xã”. Vinh kêu luôn ba lần thì có 3 anh: Lăng, Thôi và Mùi bước vô. Đức Thầy hỏi:“Ba người là ai?”

          Ba người xưng tên và nói:“Chúng tôi là Tín Đồ của Ngài”.

          Đức Thầy liền bảo: “Hãy nhìn Thầy cho kỹ! Không ai giết Thầy được hết nhen! Giờ đây tôi nhờ 2 anh: Lăng và Thôi, hãy mang cái thơ nầy về Phú Thành, trao cho ông Trần văn Soái và ông Nguyễn Giác Ngộ”.

          Hai anh lãnh thơ bước ra đường suy nghĩ “nếu mình đi theo đường mòn, chắc bị họ theo giết, vậy phải đi tắt mới xong”. Hai anh ra mé vườn định thần nhìn về hướng Phú Thành, thấy có ngôi sao sáng tỏ chớp chớp gần đọt cây, rồi nhắm đó làm chuẩn mà chạy tắt trên đất cày. (Đoạn nầy theo lời anh Lăng kể lại cho anh sáu Trọng nghe, anh Trọng kể lại với tôi. Tháng 10 năm ấy anh Lăng bị cảm gió rồi mất).

          Bởi Đức Giáo Chủ quá thương xót đồng bào nhân loại, lúc nào cũng muốn đôi bên thôi xô xát lẫn nhau, nên sau khi hòa giải không được, Ngài mới chọn cách vắng mặt trong sào huyệt của đối phương và còn ra lệnh “án binh bất động”, để vừa làm cho tín đồ ít chết và vừa khiến cho đối phương yên tâm, bớt gây nghiệp sát hại người tu. Thật là lòng từ bi của Ngài bao la vô bờ bến: “Tình yêu mà chẳng riêng ai cả, Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sanh”.

          Đây là nguyên văn bức thơ của Ngài viết:

          Ông TRẦN-VĂN-SOÁI và Ông NGUYỄN-GIÁC-NGỘ

          Tôi vừa hội-hiệp với ông Bửu-Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên-nhân còn điều-tra ; trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo-cáo rằng tôi bị bắt hay mưu-sát thì các ông đừng tin và đừng náo-động. Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.

         Sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu-Vinh điều-tra kỹ lưỡng rồi về sau.

          Phải triệt-để tuân lịnh.

                                        Ngày 16-4-47  9 giờ 15 đêm

                                                        Ký tên: S.

          Đức Giáo Chủ ở tại vị trí này một đêm, 5 giờ sáng ngày 26 Bửu Vinh đưa Ngài ra rạch Cái Nga rồi họ đem Ngài luôn xuống xã Phong Mỹ, Quận Cao Lãnh, Tỉnh Sa Đéc, cách Tân Phú bảy tám cây số. Đến đây, họ để Ngài  ở trong nhà lầu của ông Cưu sát lộ mới, phía dưới cầu rạch Cái Bí. (Đoạn nầy thuật theo lời thân tộc ông Cưu, là do chính ông Cưu kể lại) Sau đó hai hôm (27-28), bỗng nhiên Đức Thầy đâu mất. Theo chủ nhà và đồng bào ở đây kể lại: Hôm ấy đội lính chận hết ghe xuồng lại, họ giở ván từng khoang ghe, xem xét và lục soát các nhà lân cận, tìm kiếm tở mở.

          Có người hỏi các anh lính: “Chuyện gì vậy?” Họ trả lời: “Việc quan trọng lắm! Mấy ông không nên hỏi!”

          Chính giờ phút ấy, Đức Giáo Chủ PGHH vắng mặt và ẩn dạng cho đến ngày hôm nay.

      IV.- SỰ NGHIỆP TÔN GIÁO VÀ GIÁO LÝ:

          Vì nặng một hoài bão lớn lao nhằm dẫn dắt nhân sanh đi tầm Chơn Lý, cho nên dù Đức Giáo Chủ khai Đạo trong thời gian bị sự kềm kẹp gắt gao của thực dân Pháp; nhưng Ngài vẫn không sờn lòng trước bao nghịch cảnh đầy gió hãi mưa kinh. Như Ngài đã thốt:

             “Dù gian lao dạ sắt chẳng sờn,
             Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.
             Cơn giông tố mịt mù bụi cát,
             Chẳng nao lòng của đấng Từ Bi”.

                                         (Bài Sa Đéc)

          Ngài thuyết pháp khuyên tu không ngừng nghỉ và cho in những Sấm Kinh của Ngài đã sáng tác, hoặc các tín đồ chép tay ra để truyền bá khắp nơi, nhứt là Ngài tổ chức Ban Trị sự PGHH trên toàn quốc. Từ Xã, Quận đến Trung Ương, hoàn thành vào khoảng tháng 5 năm Ất Dậu (1945) chính Ngài giữ trách nhiệm Chánh Hội Trưởng. Ngoài ra, Ngài còn nhận xét chung về đạo Phật nước nhà đang lâm vào tình trạng “Riêng Pháp bảo riêng chùa riêng Phật”. nên Ngài đứng ra thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội. Ngài kêu gọi các tông phái Đạo Phật, các nhà sư, các Phật tử tín đồ và các nhà trí thức có xu hướng về đạo Phật hãy đoàn kết lẫn nhau trong tinh thần hòa ái, để:

          - Tìm cách nâng cao tinh thần Đạo Phật.

          - Tìm những phương tiện cứu giúp kẻ nguy nàn do thời cuộc gây ra.

          - Giúp đỡ lẫn nhau trong việc quan, hôn, tang, tế.

          - Bênh vực lẫn nhau trong sự tín ngưỡng tự do.

          Trong chương trình tổ chức (Hệ thống tổ chức), Ngài có ấn định: “Khi Ban Trị Sự cử xong, phải khẩn cấp lập thêm ba ban:

          I.- Ban Nghiên Cứu Đạo Phật.

          II.- Ban Huấn Luyện và Truyền Bá Đạo Phật.

          III.- Ban Chuẩn tế, lo tìm phương giúp đỡ kẻ khốn cùng”.

          Đặc biệt là sự cứu đói miền Bắc năm 1945 một đóng góp lớn lao của PGHH thể hiện đức vị tha bác ái.

          Về giáo lý thì tất cả Sấm Kinh của Đức Giáo Chủ sáng tác đều được tín đồ sưu tập trong bộ SẤM GIẢNG THI VĂN mà Ngài thường khuyến dạy tín đồ:

                        “Từ Sấm Kinh cho đến thi thơ,

                         Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
                                                   (Giác Mê Tâm Kệ)

Và:                  “Ta yêu chúng viết ra giảng kệ,

                         Khuyên Tăng đồ cùng các tín đồ.

                         Nghe cạn lời chớ có mờ hồ,

                         Tìm hiểu nghiã làm theo đắc Đạo.
                                               (Giác Mê Tâm Kệ)   

Hoặc là:
                   “Giảng kinh đọc tụng chiều mai,
                     Làm theo lời chỉ ngày rày gặp Ta.
                                         (Bài Dặn Dò Bổn Đạo)

Ngài luôn dặn dò hầu hết tín đồ:

                  “Lòng trẻ thảo biết đoàn biết kết,
                    Phí xác phàm mê mệt đâu nầy.
                    Băng rừng dẹp phá gốc gai,
                    Đưa người lương thiện đến ngay Niết Bàn”.
                                                        (Bài Thu Đã Cuối)

          Ngoài ra, còn phần thuyết pháp ứng khẩu của Ngài suốt thời gian 8 năm truyền Đạo, thì có vô số đề tài và lời lẽ, nhưng rất tiếc là không ai ghi chép được đầy đủ, mỗi người chỉ nhớ một ít rồi kể lại cho người khác nghe. Trong các lời lẽ ấy, chuyện nào có chứng cứ xác thực trong các tín đồ sưu tầm lại viết thành hai bộ sách “CHUYỆN BÊN THẦY và LUẬN NGỮ PGHH”.

    V.- SỰ NGHIỆP CỨU QUỐC:

   Bởi Đức Giáo Chủ không thể lặng nhìn trước cảnh quốc phá gia vong:

                  Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
                  Thương đời chưa vội ẩn non cao”.

                                                   (Bài Yêu Nước)

         Và Ngài cũng quan niệm rằng: “Hễ nước mất thì cơ sở của Đạo phải bị lấp vùi; nước còn nền Đạo phát khai rực rỡ…” và: “Có chấn chỉnh Quốc gia, có làm cho nước nhà được cường thịnh thì Đạo Phật mới được khuếch trương tự do hầu gieo rắc tư tưởng thiện hòa và tinh thần từ bi bác ái khắp bàng nhân bá tánh”.(Hiệu Triệu)

          Cho nên Ngài quả quyết lên đường cứu quốc: 
                   “Rứt áo cà sa khoác chiến bào." 
                     (Quyết rứt cà sa)

          Hoặc là:

                    “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,

                    Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha”.

                                                  (Tặng thi sĩ Việt Châu)

          Song sự cứu quốc của Ngài khác hơn nguời thường là khi lấy lại được nền độc lập tự do cho nước nhà, thì Ngài trở về vị trí của một nhà tu, chớ không bám vào lợi danh huyền ảo:
                   “Đền xong nợ nước thù nhà,
                Thiền môn trở gót Phật Đà Nam mô”. (Tặng thi sĩ Việt Châu)

          Sau cuộc đảo chánh Pháp (9/3/1945), những nhà lãnh tụ các đảng phái ở Sài Gòn vô cùng lạc quan; họ hô hào nước nhà đã được thống nhất và độc lập, nhưng riêng Đức Huỳnh Giáo Chủ đã đoán biết không thể nào độc lập một cách dễ dàng như thế được, nên Ngài thành lập ngay Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội.

          Trong bài Hiệu Triệu, Ngài kêu gọi đồng bào các giới hãy tích cực đoàn kết để chung lo cứu nguy dân nước. Quả nhiên, thời cuộc đi đúng lời tiên đoán của Ngài, lúc bấy giờ ai cũng nể phục.

         Kế tiếp là Ngài thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất (14/8/1945), rồi Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp. Chính Ngài lãnh trách nhiệm Chủ Tịch Mặt Trận nầy và dùng biệt danh là Hoàng Anh, nhưng tình thế cứ mãi xáo trộn bởi một số người không thật tâm cứu quốc gây ra.

          Đến ngày 21/9/1946, Ngài thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng. Ngài vạch rõ chương trình, đường lối nhằm mục đích xây dựng đất nước và nhân loại được sống trong một xã hội công bằng đạo đức, tự do dân chủ và tiến đến nhân loại đại đồng:

                    “Đem nguồn sống mới cho nhân loại,

                      Để tiến tiến lên cõi Đại Đồng”.

Và:              “Dựng cuộc hòa minh khắp Đại Đồng”.

          Đảng nầy ngoài số Tín Đồ PGHH còn có rất nhiều nhà Cách Mạnh chân chánh hưởng ứng.

          Sau rốt, Ngài muốn nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc và thống nhất lãnh thổ Quốc Gia, nên vào khoảng tháng 10 năm 1946, Ngài nhận tham gia vào Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ với chức vụ Ủy viên Đặc Biệt.

          Lúc đó Ngài có lời tuyên bố trước báo chí như sau:

          “…Hôm nay, nhận rõ cuộc đấu tranh cho Tổ Quốc còn dài và cần nhiều nổ lực, hưởng ứng với tiếng gọi đại đoàn kết của Chánh phủ Trung Ương, Tôi quyết định tham gia hành chánh với những mục đích nầy:

            1- Để tỏ cho quốc dân và chánh phủ thấy rằng chúng tôi chủ trương thống nhất lãnh thổ và độc lập quốc gia.

            2- Để biểu dương tinh thần đoàn kết của dân tộc hầu mau đem thắng lợi cuối cùng.

            3- Để tỏ cho đảng phái thấy rằng chúng tôi không khi nào có những tham vọng cao sang vương bá hay vì hiềm riêng mà hờ hững với phận sự cứu quốc.

           Biểu lộ tấm lòng thành thật ấy, tôi chỉ nhận một nhiệm vụ cần thiết, hạp với hoàn cảnh và năng lực mình, cố gắng giàn xếp về hành chánh và quân sự để củng cố và tăng cường lực lượng của Quốc gia.

            Đối với toàn thể tín đồ PGHH, Tôi vẫn không quên rằng Tôi là một đệ tử trung thành của Đức Thích Ca, Tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh chẳng những được truyền bá ở thiền lâm mà còn phải thực hiện trên trường chính trị.

            Đối với các đồng chí hiện đang cùng Tôi đeo đuổi một chương trình “Dân Chủ Xã Hội”, Tôi tuyên bố luôn luôn sát cánh với họ để chung lo gầy dựng một nước Việt Nam công bình và nhơn đạo, một nước Việt Nam tương xứng với các nước dân chủ tiền tiến trên hoàn cầu”.

            Từ ấy cho đến cuộc biến cố tại Đốc Vàng, tức đêm 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi (16/4/1947).

          Tóm lại, trong thời gian 8 năm, từ ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), đến ngày 25 tháng 2 nhuần Năm Đinh Hợi (16/4/1947) bước lưu hành của Đức Giáo Chủ PGHH đến đâu và ở đâu Ngài cũng:

          “Quyết cứu đời dùng Đạo phổ thông”.

:

           “Dìu nhân sanh khỏi chốn mê lầm,

            Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới”.

Cho nên:

          “Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,

           Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn hưng”

                  SẤM GIẢNG THI VĂN GIÁO LÝ TOÀN BỘ
                                         XUẤT XỨ:

          Khởi nguyên từ ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939) sau buổi chiều hôm ấy, Đức Giáo Chủ bắt đầu thuyết giảng Đạo lý cho mọi nguời nghe để khuyên họ quay đầu hướng thiện. Đồng thời với sự cứu trị các bịnh nhân, Ngài lần luợt sáng tác Thi thơ, Sấm Giảng. Trong số người đến nghe Ngài thuyết pháp, họ chép tay, đem về chuyền với nhau xem; song số người đọc Kinh Giảng càng lúc càng đông, sự chép tay cung ứng không đủ, nên Đức Giáo Chủ cho các tín đồ đem in từng quyển Nhứt, Nhì, Ba, Tư… Còn các bài thi thơ ngắn thì cứ chép tay như trước.

          Thời gian Đức Giáo Chủ còn truyền đạo tại Tổ Đình (Thánh Địa Hòa Hảo) thì tất cả Kinh Giảng bản chánh do tự tay Ngài viết ra được Đức Ông (thân sinh Ngài) lưu giữ. Còn thời gian Ngài lưu hành khắp nơi thì mỗi khi Ngài viết ra, hoặc gởi về Tổ Đình, hoặc giao cho các tín đồ có dịp thân cận với Ngài, đem chép truyền ra cho người khác và lưu giữ bản chánh.

          Sau khi Đức Thầy vắng mặt, khoảng năm 1949-1952 tín đồ mới nghĩ cách cần sưu tập tất cả thi thơ Sấm Giảng để in chung lại thành hai quyển: Quyển tựa đề Sưu Tập Thi Văn Giáo Lý thì gồm các bài thi thơ ngắn. Còn quyển tựa đề SẤM GIẢNG thì gồm có các bài giảng dài. Cứ thế mà tiếp tục tái bản nhiều lần. (Có thể tổng kết con số đã ấn hành Sấm Giảng từ năm 1939 đến năm 1974 có trên 300 lần tái bản và số quyển có trên 2 triệu. Coi như mỗi gia đình tín đồ ít nhứt đều có một quyển.)

           Đến năm 1964 Giáo Hội PGHH có đủ tư cách pháp nhân, tổ chức lại các cơ cấu, hệ thống từ Trung Ương xuống các Tỉnh, Quận, Xã, Ấp v.v…Được lịnh Ban Trị Sự Trung Ương, Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương triệu tập đại hội vào ngày 17/5/1965 tại văn phòng Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương (Thánh Địa HH). Đại hội gồm có đại diện Tổ Đình, đại diện Giáo Hội Trung Ương, các Nhân Sĩ, các tín đồ cao niên có dịp gần gũi Đức Thầy lúc trước và các cấp Phổ Thông Giáo Lý trên toàn quốc. Mục đích của Đại Hội là đính chánh những chữ sai lệch trong thời gian chép tay và ấn hành nhiều lần (tam sao thất bản).

          Khi đính chánh xong các bài Sấm Giảng Thi Văn ấy, Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương sắp in chung tất cả lại thành một quyển với tựa đề là SẤM GIẢNG THI VĂN GIÁO LÝ TOÀN BỘ của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

          Công việc tra cứu và chú giải, chúng tôi căn cứ vào bộ SẤM GIẢNG THI VĂN nói trên.

 

SẤM GIẢNG GIÁO LÝ

QUYỂN THƯỢNG

 

          Như chúng tôi đã giới thiệu trong lời nói đầu SẤM GIẢNG GIÁO LÝ là phần nhất trong SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ. Trong đấy gồm có bài SỨ MẠNG CỦA  ĐỨC THẦY và sáu quyển như sau:

          1.- Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm. (Quyển Nhứt)

          2.- Kệ Dân Của Người Khùng. (Quyển Nhì)

          3.- Sấm Giảng. (Quyển Ba)

          4.- Giác Mê Tâm Kệ. (Quyển Tư)

          5.- Khuyến Thiện. (Quyển Năm)

          6.- Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của một người Bổn đạo. (Quyển Sáu)

          Tại sao những Giáo Lý của Đức Thầy không gọi là Kinh mà gọi là Sấm Giảng Giáo Lý?

          Bởi Phật Pháp đối với nhơn sanh lúc nào cũng khế cơ và khế lý. Đức Thích Ca thuở xưa sau khi thành Đạo, Ngài có quán xét căn cơ của mỗi chúng sanh mà biệt lập ra tam thừa để tiện bề giáo hóa.

          Trong Tam tàng giáo hải ấy, thỉnh thoảng Đức Phật có tiên tri (di chúc) cho các đệ tử biết rõ thời gian sau đó, và dẫn đến thời Mạt pháp trong Đạo Phật có những gì xảy ra, để cho các đệ tử sau nầy tăng lòng tin tưởng.

          Ngày nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng tùy theo căn cơ của chúng sanh trong thời Hạ Ngươn Mạt Pháp, cho nên công cuộc độ đời, Ngài cũng phải áp dụng đủ các pháp: Quyền, Thiệt, Đốn, Tiệm.

         Trước nhứt là Ngài dùng phương tiện làm cho mọi người có niềm tin đối với Phật Pháp, rồi sau đó họ mới hành trì Kinh Luật để đạt đến mức cứu cánh giải thoát.

          Đại khái trong Sấm Kinh của Đức Thầy, Ngài áp dụng hai phương tiện Thiên Cơ và Đạo Lý, tức là Ngài vừa báo tin cho nhơn sanh biết rõ cơ chọn lọc của cõi đời Hạ Ngươn mạt pháp và vừa đem Kinh, Luật, Luận giác tỉnh quần sanh, sớm dứt nghiệp trần mê trở về với Niết Bàn Cực Lạc. Do đó nên phần nhất nầy được gọi là SẤM GIẢNG GIÁO LÝ.

 

* Quyền là pháp huyền biến, cũng gọi là Phương Tiện Pháp.

    Thiệt là Pháp Chơn Thật, Nhứt thừa.

    Đốn là Pháp tu mau. Tiệm là Pháp tu tiến lần lần.

*  Trong các Kinh, lời tiên tri của Phật có rất nhiều, ở đây chúng tôi chỉ nêu một vài chuyện:

A/- Một hôm Đức Phật đi khất thực giữa đường, bỗng gặp một đứa bé đem dâng cho Ngài một món đồ chơi bằng đất mà nó cho là lúa gạo. Ngài nhận lấy và cho ông A-Nan biết rằng:“Nhờ công đức hoan hỷ bố thí nầy, mà sau khi Ngài tịch diệt 100 năm, đứa trẻ ấy đầu thai làm vị Quốc Vương tên là A-Dục (Asoka), thống lãnh toàn cõi Ấn Độ và truyền bá Phật pháp khắp nơi, xây dựng 8 vạn 4 ngàn bảo tháp kính thờ xá lợi của Phật (dẫn theo lược truyện Đức Phật Thích Ca).

B/- Trong kinh Di Lặc, Đức Phật có cho biết:“Vào thời Mạt Pháp sẽ có Đức Phật Di Lặc ra đời, là một vị Phật lập ra Hội Long Hoa, giáo hóa chúng sanh trong ba trường thuyết pháp”.

 

THAY LỜI TỰA

SỨ MẠNG CỦA ĐỨC THẦY

 

XUẤT XỨ - VĂN THỂ

          Bài Sứ mạng của Đức Thầy sáng tác vào ngày 18 tháng 5 năm Nhâm Ngũ (1942), lúc Ngài đang cư trú tại nhà ông Võ văn Giỏi (Bạc Liêu). Ngài viết bằng thể văn xuôi, lối tự thuật và thuyết giáo.
                                       NỘI DUNG – TIÊU ĐỀ

          Đại ý bài nầy Đức Thầy cho biết các lý do và sứ mạng lâm phàm khai đạo cộng với trách nhiệm và phương cách độ đời của Ngài. Do đó, bài thuyết giáo nầy được mang tiêu đề là “Sứ Mạng của Đức Thầy” và Ban Sưu tập sắp đứng đầu quyển “Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ”.’
                                               BỐ CỤC

          Bài nầy có 3 phần chánh:

          I.- Lý do lâm phàm.

          II.- Phương pháp độ đời.

          III.- Trách nhiệm hiện tại và tương lai, gồm tám tiểu đoạn như sau:

          1/- Đức Thầy cho biết: đúng thời cơ khai đạo và nguồn gốc tiền kiếp. Bắt đầu từ các chữ “Ngày 18/5 năm Kỷ Mão…đến câu…chớ bao lìa.”

          2/- Ngài thuật lại từ khi gặp Minh Sư sắc truyền Phật Pháp và lòng Từ bi đối với vạn loại chúng sanh. Từ các chữ “Những kiếp gần đây...đến câu…chúng sanh vạn khổ”.

          3/- Ngài kể lại nhiều tiền kiếp đã từng hy sinh tinh thần, thể xác để bảo vệ Tổ Quốc và nhân loại, huống chi nay đã suốt thông Đạo Pháp, và tại sao Ngài nhập thế cứu đời. Từ câu “Nghĩ lúc làm người trong biển tục…đến các chữ…chịu cảnh chê khen”.

          4/- Đức Thầy vâng sắc lịnh Phật Vương để hoàn thành sứ mạng. Từ các chữ “Vì lòng từ ái…đến câu…vạn quốc chư bang”.

          5/- Ngài cho biết nay luật Trời đã xét định khắp chúng sanh hiền còn dữ mất, nên Ngài cùng các bậc chơn Tiên lâm phàm khuyến hóa chúng sanh sớm hồi tâm hướng thiện; để kịp hưởng cảnh thái bình an lạc. Từ câu “Thiên tào đà xét định…đến các chữ…Ma Vương quấy rối”.

          6/- Đức Thầy cho biết sở dĩ Ngài lâm phàm là vì:

          - Ai chứng Đạo nơi đâu thì trở về đó.

          - Vì lòng Từ bi bác ái.

          - Vì đáp lại những người trợ duyên, Ngài mới chuyển kiếp chờ đúng thời cơ Khai Đạo. Từ những chữ “Ta là một…đến các chữ…ra trợ thế”.

          7/- Ngài tùy theo căn cơ trình độ của mỗi chúng sanh mà áp dụng nhiều phương cách cho thích hợp. Từ câu “Nên phương pháp…đến câu…Phật Tiên không chỉ bảo”.

          8/- Đoạn kết, Ngài đề cập đến chánh sách cay nghiệt của người Pháp đối với Đạo giáo và sự hy sinh của Ngài. Từ các chữ “Vẫn biết đời Lang-sa thống trị…đến các chữ…bớt nỗi cực hình”.

                                        CHỦ ĐÍCH

         Đức Giáo Chủ muốn cho tất cả tín đồ biết trước khi thọ giáo phải hiểu rõ lý do và nhiệm vụ lâm phàm của Ngài.

                                  CHÁNH VĂN (Đoạn 1)

          Ngày 18 tháng 5 năm Kỹ-Mão, vì thời-cơ đã đến, lý Thiên-Đình hoạch-định, cuộc nguy-cơ thảm-họa sắp tràn-lan. Ta đây tuy không thể đem phép huệ-linh mà cứu an tai-họa chiến-tranh tàn khốc do loài người tàn-bạo gây nên, nhưng mà thử nghĩ: Sinh trong vòng đất Việt-Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa-cầu lăn-lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại để thu-thập những điều đạo-học kinh-nghiệm huyền-thâm, lòng mê-si đã diệt, sự vị-kỷ đã tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt. Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng quỉ thần đất Việt chớ bao lìa..

                                  LƯỢC GIẢI (Đoạn 1):

          Xưa nay trong xã hội loài người không ai phủ nhận được luật công bằng và lẽ phải. Chính nó là chân lý, là nhân quả nghiêm minh.

          Sở dĩ nhân loại đang gánh chịu cảnh đau thương tang tóc là do nghiệp nhân loài người đã gây ra từ trước. Giờ đây đã đúng thời kỳ mà họ phải thọ hưởng, (Năm 1939 trận Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra) hễ nhân tham sát đã gieo thì quả chiến tranh chết khổ hẳn phải có. Phật Tiên vốn đầy lòng từ bi bác ái, nhưng không thể dùng phép mầu làm ngược lại luật nhân quả. Song các Ngài có thể cứu chúng sanh bằng cách là giác ngộ họ biết đổi nghiệp, nếu sớm quày đầu hướng thiện gieo giống nhơn hiền thì sau đó sẽ gặt được quả an vui. Đó là một trong các lý do mà Đức Giáo Chủ PGHH có sứ mạng lâm phàm độ thế.

          Vì muốn tiến thân trên đường tu học Phật pháp để tế độ quần sanh, nên Đức Thầy đã có nhiều lần chuyển kiếp sang nước ngoài. Nhưng, xét lại từ nguồn gốc phát sinh cho đến nay, Ngài đã từng mang dòng máu dân tộc Việt Nam, đã từng chan sớt những nỗi: vui, buồn, sống, chết với đồng bào và cũng đã từng bảo vệ giang san tổ quốc giữ vững cuộc sống còn cho dân tộc. Nên giữa thời đại nhiễu nhương nầy, Ngài phải có trách nhiệm với quốc dân và cả thế giới chúng sanh.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 1)

          SỨ MẠNG: Cũng gọi là sứ mệnh. Cái mệnh lệnh thượng cấp sai làm việc gì, như lệnh của Phật Trời hay Vua Quan. Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng, niềm tây sá gì!”

          Chữ Sứ Mạng ở đây ý nói: Đức Thầy lâm phàm giáo độ nhân sanh là có sắc lịnh của chư Phật và Đức Ngọc Đế, như Ngài đã cho biết:

Ngọc Hoàng ban chiếu Lão Khùng giáo dân.”

(Ông Mười ở chợ Mỹ Luông thuật lại: vào khoảng 3 giờ chiều ngày 18/5 năm Kỷ Mão, sau khi làm lễ Khai Đạo trước bàn thờ hương án đặt tại sân Tổ Đình, Đức Thầy ứng khẩu đọc bài sứ mạng nầy, nhưng đợi tới về Bạc Liêu, Đức Thầy mới chịu viết ra trên mặt giấy).

          và câu;

Sắc của A Di là Phật Tổ,

Bốn chữ xuống trần chớ ở đâu?”

                                                                           (Bài đáp lời Ông Tùng)

          NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM KỶ MÃO: Nhằm ngày 14/7/1939.

          THỜI CƠ: Thời là thời gian, ngày giờ. Cơ là cơ hội, là dịp. Thời cơ là cơ hội thuận tiện, rất hợp với việc làm trong thời gian ấy.

          LÝ THIÊN ĐÌNH: Lý là cái Đạo tự nhiên, là hợp với lẽ phải, là cái lý huyền diệu của Trời Đất. Thiên Đình là triều đình trên Trời. Đức Thầy có viết:

“Lời văn tao nhã hữu tình,

Bởi vưng sắc lịnh Thiên Đình sai Ta”.

                                                (Bài Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          Vậy lý Thiên Đình là định luật mầu nhiệm của Trời Đất sắp đặt rất công bằng và hợp theo lẽ phải. Nho giáo cho là Mệnh, Lão giáo gọi là Đạo tự nhiên, còn Phật giáo gọi là Định nghiệp nhân quả.

          HOẠCH ĐỊNH: Hoạch là vạnh ra, bày ra. Định là phân định hay quyết định một sự việc gì. Nói chung là phương thức luật pháp đã phán định sẵn.

          NGUY CƠ: Nguy là nguy hiểm, nghèo ngặt. Cơ là máy, là đường mối. Nguy cơ là cái mối sinh ra nguy hại thảm khốc cho lê dân. Đức Thầy viết:

“Này hỡi chúa xuân ta rán chờ,

  Khỏi ngày thảm họa buổi nguy cơ.”

                                    (Bài Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          THẢM HỌA: Tai họa thê thảm.

          PHÉP HUỆ LINH: Phép mầu nhiệm linh diệu của người tu Phật khi đắc được Lục Thông (sáu pháp Thần Thông).

“Ngày nào đắc được lục thông,

 Vớt hồn Cha Mẹ Tổ Tông bảy đời”.

             (Bài cho ông Cò tàu Hảo)

          TÀN KHỐC: Tàn ngược khốc hại.

          TÀN BẠO: Tàn ác hung bạo, tánh người tàn bạo.

          VIỆT NAM: Quốc hiệu nước ta. Một nước thuộc Đông Nam Á Châu, hình cong như chữ S, Bắc kỳ và Nam kỳ thì phình rộng ra. Trung kỳ (ở giữa) thì hẹp lại và dài. Từ thượng cổ tên gọi là Văn Lang; đời Thục An Dương Vương gọi là Âu Lạc; khi bị nhà Tần đô hộ gọi là Tượng Quận; khi nhà Hán cai trị thì bị chia làm ba quận Cửu Chân, Giao Chỉ và Nhật Nam đến đời Đông Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu; nhà Đường đặt là An Nam Đô Hộ Phủ. Khi nhà Đinh dẹp hết sứ quân đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt; qua đời Lý, vua Thánh Tông đổi lại là Đại Việt. Triều vua Lý Anh Tông nhà Tống công nhận là An Nam Quốc. Khi vua Gia Long thống nhất được Nam Bắc, đặt quốc hiệu là Việt Nam. Đông và Nam giáp biển Nam Hải và vinh Thái Lan. Tây giáp Miến Điện, Lào và Cam Bốt, Bắc giáp Trung Hoa. Diện tích 312.000 km vuông, năm 1939 dân số trên 25 triệu người. Năm 1974, có trên 30 triệu. Kể từ lập quốc tới nay gần 5.000 năm lịch sử.

          ĐỊA CẦU: Cũng gọi là quả đất hay trái đất, nơi có người và nhiều sinh vật khác ở, một trong bốn hành tinh quay chung quanh mặt trời. Bề mặt được 510 triệu km vuông, vòng tròn được 40.000 km, trực kính 12.470 km. Biển chiếm hết ¾ bề mặt địa cầu.

          Ca dao có câu:

“Lạy trời thổi quả địa cầu,

Để cho ta được bạn bầu cùng trăng”.

         TÙY CƠ PHÁP: Cơ là cái căn cơ tánh chất riêng của mỗi người, như người có căn tánh hiền lành thì từ đó sẽ phát ra hoặc mau, hoặc chậm. Pháp là giáo pháp, tức là

lời lẽ giáo lý của Phật thuyết ra để giáo hóa chúng sanh. Pháp cũng gọi là Pháp Giới, là tất cả sự vật, bất cứ Hữu Tình hay Vô Tình, Hữu Vi hay Vô Vi, Chơn Thật hay Hư Vọng.

          Vậy chữ Tùy Cơ Pháp ở đây có nghiã là tùy theo cơ duyên căn tánh và giáo pháp thích hợp với cảnh giới đó, nhân loại đó.

          Đức Thầy có câu:

“Tùy phong hóa dân sanh phù hạp,

Chấp bút thần tả ít bổn kinh”.

                                    (Bài Diệu Pháp Quang Minh)

          CHUYỂN KIẾP: Sanh trở lại, chuyển từ kiếp này qua kiếp khác. Như tiền thân Đức Phật và chư Bồ Tát, vì nguyện lực rộng độ mà thường từ kiếp này chuyển qua kiếp khác, nơi khác để giác chúng độ đời. Đức Thầy cũng đã từng cho biết:

“Lòng yêu sanh chúng luân chuyển kiếp,

Dạ ái dương trần đổi xác (sắc) thân”.

                                    (Bài đáp lời ông Nguyễn Thanh Tân)

          LUÂN HỒI: Phạn ngữ là Samrara gati, dịch là Luân hồi. Luân là bánh xe, Hồi là trở lại. Ý nói chúng sanh từ vô thỉ đến nay cứ sống rồi chết, chết rồi đầu thai trở lại. Cứ thế mà lăn lộn lên xuống mãi trong sáu Cõi Phàm (Trời, Người, Thần A-Tu-La, Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục) như bánh xe xoay tròn không có đầu mối. Luân hồi còn có nghiã là sanh tử, đối tượng với Niết Bàn (Bất Sanh Bất Diệt).

          Kinh Di Lặc có kệ:
                                “Bồ Tát ký thành Phật,
                                 Từ mẫu chư quần sanh.
                                 Chúng khổ hiểm nan truy,
                                 Luân hồi thường bất tức”.

          Nghĩa là:

Tới chừng Bồ Tát thành nhân,

Chạnh lòng thương chúng sanh tồn khắp nơi,

Trải bao nạn khổ tơi bời,

Luân hồi mãi mãi nghỉ ngơi chẳng hề.

          Đức Thầy nay cũng bảo:

“Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,

Mắc trong vòng sanh tử luân hồi”.

                                                (Giác Mê Tâm Kệ)

          Nhưng chữ luân hồi ở đây ý chỉ cho sự chuyển kiếp độ đời của bậc Giác Ngộ.

          HẢI NGOẠI: Nước ngoài, xứ ngoài.

          KINH NGHIỆM: Điều đã thực nghiệm qua, sự việc đã từng trải lão luyện. Ví dụ: Già kinh nghiệm, có nhiều kinh nghiệm.

          Đức Thầy từng nói:

“Kinh nghiệm rồi Ta mới diễn ca”.

                                           (Giác Mê Tâm Kệ)

          HUYỀN THÂM: Mầu nhiệm sâu kín. Phật pháp rất mầu nhiệm sâu kín, vượt ngoài sự luận bàn thường pháp.

          Trong quyển Khuyến Thiện, Đức Thầy có nói:

“Tu cho rõ mối huyền thâm,

Quy đầu Phật Pháp khỏi lâm tai nàn”.

          MÊ SI: Tối tăm mê muội, không nhận rõ sự lý. Mê si là một trong thập ác, một trong Tam Độc (Tham, Sân, Si) và cũng một trong Ngũ Độn Sử (Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi).

          VỊ KỶ: Vì mình, chỉ biết lợi riêng cho mình. Ví dụ: Người ấy có tánh vị thân, vị kỷ đối với vị tha (vì lợi ích cho người khác).

          Đức Thầy cho biết:

“Từ ngày thọ giáo với Thầy,

Dẹp lòng vị kỷ đầy lòng yêu dân”.

                                                (Sám Giảng Q.3)

          GIÚP NƯỚC VÙA DÂN: Hết lòng thương lo cho dân cho nước, một dạ trung thành bảo vệ quốc dân.

          SINH CƯ: Nơi sinh ra và sanh sống ở đó.

 

CHÁNH VĂN (Đoạn 2):

          Những kiếp gần đây, may mắn gặp minh-sư, cơ truyền Phật-pháp, gội nhuần ân-đức Phật, lòng đã quảng-đại từ-bi, hềm vì nỗi cảnh quốc phá, gia vong, máy huyền-cơ đã định, lòng thương trăm họ vướng cảnh đồ lao, chi xiết xót thương chúng sanh vạn khổ.

 

C GIẢI: (Đoạn 2)

          Đoạn nầy ý nói sau khi được Minh Sư mật truyền cơ pháp, Đức Thầy thấu suốt lẽ huyền cơ, rõ thông chánh pháp. Với lòng từ bi bác ái Ngài nhìn thấy nhân sinh đang lâm cảnh nước mất nhà tan điêu linh thống khổ mà lòng vô cùng chua xót.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 2)

          MINH SƯ: Ông Thầy sáng suốt, mọi việc đều thấu hiểu rồi đem dạy người. Theo đạo Phật, là các Tăng Sư tu hành chơn chánh, đã chứng đắc đạo quả, thông suốt chánh pháp, thấu đạt giáo lý và giáo hóa chúng sanh. Minh Sư cũng chỉ cho bậc Phật, vì Đức Phật có hiệu là Thiên Nhơn Sư tức là Đấng Đạo Sư của hàng Trời và Người.

          CƠ TRUYỀN PHẬT PHÁP: Cách truyền pháp cơ mật. Khi nhà tu thân tâm được thanh tịnh, hạnh đức viên vun thì được Đức Phật hoặc chư Tổ ấn chứng và mật truyền cho chánh pháp. Các Ngài chỉ lấy Tâm truyền Tâm dụng Ý truyền Ý; bởi Phật pháp quá cao sâu không thể dùng văn tự, hình tướng mà truyền đặng.

          Đức Thầy có nói:

“Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền”.

                                                (Khuyến Thiện Q.5)

          Trước kia tại Linh Sơn Hội, Đức Phật Thích Ca cầm một hoa sen đưa ra trước đại chúng. Lúc bấy giờ không ai hiểu gì cả, duy có mình Đại Đức Ca Diếp lộ vẻ tươi cười. Đức Phật liền nói rằng:”Ta có cái Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn Diệu Tâm…nay ông Ca Diếp hiểu đặng ta sẽ truyền cho ông làm Tổ thứ nhất”. Rồi từ đó cứ Tổ Tổ tương truyền. Cho đến Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn truyền cho Lục Tổ Huệ Năng cũng thế. Trong Quyển I, Đức Thầy có kể lại việc cơ truyền Phật pháp:

“Điên này xưa cũng như ai,

Vào các ra đài tột bực giàu-sang.

Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,

Bèn lên ẩn dật lâm san tu-trì.

Nhờ Trời may mắn một khi,

Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn.

Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn,

Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.

Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,

Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ”.

          GỘI NHUẦN: Gội là rửa, là thấm nhuần ơn trạch: “Ơn Vua gội thấm, tiếng chồng thơm lây” (Cổ thi). Nhuần là nhuần thấm tươi tốt:“Chiếu trời mưa vỗ, ơn trên gội nhuần” (Cổ thi).

          GỘI NHUẦN ƠN ĐỨC PHẬT: Là nhờ Đức Phật ban phước huệ cho được thấm nhuần lý diệu mầu của Phật Pháp.

          Đức Thầy có câu:

                    “Đệ tử gội nhuần ân đức cả,

                    Chung thân quyết chí dốc tu hành”.

                                                            (Thiên lý ca)

          QUẢNG ĐẠI: Rộng lớn, lòng từ bi rộng lớn. Ví dụ: đức độ quảng đại.

          TỪ BI: Hai trong bốn đại đức của chư Phật. Có nghĩa hiền lành thương xót, thường ban vui cứu khổ cho muôn loài. Cho nên, Đức Từ làm cho tất cả chúng sanh được an vui, hạnh phúc. Đức Bi là làm cho tất cả chúng sanh hết nỗi khổ đau. Do câu:“Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc, Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ”.

          Đức Thầy có câu:

                    “Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,

                     Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng” (Khuyến Thiện Q.5)

          HIỀM VÌ: Cũng viết là hềm vì. Có nghiã là tại vì, ngặt vì, ngại vì. Đức Thầy có câu:

                         “Hiềm vì mắc lá Thiên Thơ,

                    Đôi điều ghi chép cõi bờ chưa xong”.

                                                            (Tự Thán)

          HUYỀN CƠ: Huyền là sâu kín mầu nhiệm. Cơ là máy. Nói chung là máy Trời mầu nhiệm sâu kín.

                          “Huyền cơ máy tạo xoay vần”.

                                                     (Bóng Hồng)

          TRĂM HỌ: Do chữ Bá Tánh, chỉ chung cho tất cả mọi người.

          ĐỒ LAO: Đồ là bị đày, khổ sở; Lao là khó nhọc. Nói chung là chịu cảnh rất nhọc nhằn khổ sở. Đức Phật bảo rằng: “Chúng sanh ở cõi Ta bà khổ não chẳng khác nào bị giam cầm trong chốn đồ lao ngục thất”.

          Đức Thầy cảnh tỉnh:

                    “Bá tánh say sưa mùi phú quí,

                      Sau nầy sẽ vướng cảnh đồ lao”.

                                                  (Ai người tri kỷ)

          CHÚNG SANH: Tiếng Phạn SATTVA, phiên âm là Tát Đỏa, dịch là Chúng Hữu Tình hay chúng sanh. Chỉ chung cho những loài có mạng sống (hàm linh), hễ có sanh thì có tử, cứ triền miên mãi trong vòng luân hồi.

          Chúng sanh gồm có 4 loại: Thai Sanh (sanh bằng bào thai); Noãn Sanh (sanh bằng trứng nở ra); Thấp Sanh (sanh nơi ẩm thấp); Hóa Sanh (sanh tự biến hóa).

          VẠN KHỔ: Muôn khổ, chỉ cho sự khổ não thật nhiều không đếm xiết, “Muôn vàn khổ não”.

                                          CHÁNH VĂN (Đoạn 3)

          Nghĩ lúc còn làm người trong biển tục, lăn-lộn chốn mê đồ, mà chẳng quản thân giúp thế cứu dân, vong thân vị quốc, huống chi nay cơ mầu đà thấu tỏ, sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh, ngao du tứ-hải, dạo khắp Tiên-bang, cảnh an-nhàn của người liễu-đạo, muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm tâm, sao chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ-đề trường thọ mà còn len lỏi xuống chốn hồng-trần, đặng chịu cảnh chê khen?

 

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 3)

         

          - Đức Thầy xét nghĩ lúc còn mang thân người ở thế gian. Ngài đã chẳng quản sự gian khổ trong công cuộc bảo tồn Tổ quốc và đồng bào chủng loại. Huống chi nay được sống bên Đức Phật, thông suốt lẽ cơ huyền Đạo Pháp, nhưng tại sao Ngài chẳng thụ hưởng cảnh tiêu dao giải thoát ấy, lại còn phải nhập thế nhiều lần để chịu lắm tiếng đời khinh chê nhạo báng? Âu cũng là do một đại sự nhân duyên: “Phật vì chúng sanh mà sinh”.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 3)

          BIỂN TỤC: Do chữ bể trần tục, chỉ cho cõi đời chúng sanh đang sống, đầy nhớp nhơ tội lỗi nhiều như bể cả.

          MÊ ĐỒ: Đường mê lầm, con đường tối tăm lầm lỗi. Mê đồ là con đường chúng sanh đang đi, đối với Giác Lộ là con đường của Phật Thánh.

          Đức Thầy khuyên:

                    “Thờ Phật đạo tỉnh cơn ác mộng,

                    Thoát mê đồ thường phóng quang minh”.

                                                  (Khuyến Thiện Q.5)

          QUẢN THÂN: Quản là ngại; Thân là thân mình. Quản thân là chẳng ngại chi thân mình.

          Đức Thầy có câu:

                    “Tớ với Thầy nào quản thân lươn,

                       Muốn cứu thế sá chi bùn trịn”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          VONG THÂN VỊ QUỐC: Vì nước quên mình, vì vận mệnh sống còn của quốc dân mà không kể đến thân mình.

         CƠ MẦU: Máy mầu nhiệm khó thấu hiểu. Cái lý tạo hóa thật cơ mầu lắm, chỉ có bậc Phật Tiên mới rõ thấu được.

          NGAO DU TỨ HẢI: Dạo chơi khắp bốn biển. Ý chỉ cho người đã thong thả siêu thoát, không còn bận đến việc trần thế. Chữ Ngao Du Tứ Hải ở đây ý nói Đức Thầy đã chứng đạo giải thoát và thường lưu hành khắp đó đây để rộng độ chúng sanh. Trong “Giác Mê”, Đức Phật Thầy có nói:

                    “Lấp ba đường đã thông một cửa,

                     Thuyền ra vời mặc thủa rộng khơi.

                         Sớm thời Nam Thiện dạo chơi,       

                     Tối về Trước Quốc gần đời Ma Ha”.

          Đức Thầy nay cũng bảo:

“Trượng phu chí cả dọc ngang,

     Dạo trong bốn biển mới trang Thánh Hiền”.

                                                  (Cảm Tác)

          LIỄU ĐẠO: Xong rồi việc Đạo, là viên tịch, là liễu giải thông suốt việc Đạo. Vậy, liễu Đạo là chỉ cho bậc tu hành đã xong rồi việc Đạo, đã được thành Đạo giải thoát.

          LÓNG SẠCH PHÀM TÂM: Thanh lọc hết lòng trần tục Tham, Sân, Si v.v…

          Đức Thầy có câu:

                    “Theo dõi gót Từ Bi mấy bữa,

                    Phàm tâm kia đã rửa hay chăng ?”

                                        (Tặng thi sĩ Việt Châu)

          QUẢ BỒ ĐỀ: Bồ đề, tiếng Phạn là Bodhi, phiên âm là Bồ đề, dịch là Chánh giác hay Giác ngộ. Cũng có nghiã là Đạo hay Trí. Quả Bồ đề là chỉ cho bậc tu hành khi chứng quả Chánh Đẳng, Chánh Giác (Phật).

          Đắc Bồ đề là diệt hết phiền não, chứng Niết Bàn.

          Đắc Bồ đề đầy đủ thì thành Phật Như Lai. Ấy gọi là Đại Bồ Đề, là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hay Vô Tướng Trí Huệ. Đức Phật Thầy xưa đã nói:

                    “Nợ tiền duyên Bồ đề giống trước,

                      Vẹn một mình mới trọn ba thân”.

          Đức Thầy nay cũng bảo:

                    “Say ngọc Bồ đề, đức hạnh cao”

                                                            (bài Say)

          TRƯỜNG THỌ: Sống hoài không chết. Đây chỉ cho cảnh Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử.

          HỒNG TRẦN: Hồng là màu đỏ lợt; Trần là bụi. Ý chỉ cõi chúng ta đang ở, đầy phiền lụy nhớp nhơ đau khổ. Truyện Kiều có câu:

“Đùng đùng gió giục mây vần,

Một xe trong cõi hồng trần như bay”.

          Đức Thầy từng cho biết:

                    “Biển hồng trần lao lý diệu vơi,

                      Xô đẩy mãi trong vòng ngũ trược”.

                                                  (Khuyến Thiện Q.5)

         

CHÁNH VĂN: (Đoạn 4)

          “Vì lòng từ-ái chứa-chan, thương bách-tính tới hồi tai-họa. Phật-Vương đà chỉ rõ máy diệu huyền chuyển lập hội Long-Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện-căn để giáo truyền Đại-Đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Hoà-Bình cho vạn quốc chư bang”.

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 4)

          Bởi Đức Thầy đầy lòng Từ bi bác ái, không nỡ để chúng sanh mãi trôi lăn trong vòng khổ nạn của cơ tận diệt, nên Ngài thừa sắc lịnh của Đức Phật Vương chuyển lập Hội Long Hoa tuyển chọn kẻ hiền tài, kiến tạo đời Thượng Ngươn Thánh Đức:

                    “Long Hoa Hội ân cần lo lập,

                      Lập cho rồi tam thập lục nhơn.”

                                                  (Thiên lý ca)

          Ngài cũng còn có trách nhiệm chọn những người tu hành được đầy đủ Thiện-Căn tức trọn lành trọn sáng để tiếp tục quảng truyền chánh pháp, rộng độ quần sanh khiến cả nhân loại đều biết giác ngộ, dứt lòng tham sát, tôn trọng lẽ công bằng nhân đạo, bác ái vị tha để cùng xây dựng cuộc hòa minh khắp thế giới. Như Ngài đã bộc lộ qua đoạn:

“Rằng bên thế giới Ta-Bà,

Chúng sanh tàn sát cũng là vì tham.

Di-Đà mở cuộc hội đàm,

Cùng chư Bồ Tát quyết đam pháp lành.

Tịnh bình rưới khắp chúng sanh,

Làm cho giác ngộ hiền lành như ta.

Cộng đồng hoạch định san hà,

Nước ai nấy ở nhà nhà tự do”.

                              (bài Lìa Sài Gòn)

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 4)

          TỪ ÁI: Lòng lành thương yêu. Lòng Từ Ái chứa chan là đầy lòng từ bi bác ái đối với muôn loài.

          PHẬT VƯƠNG: Vua Phật, tiếng tôn xưng các Đức Phật đã chứng quả Như lai, như Pháp Vương, Phật Vương. Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có tán thán Đức Phật Nhơn Trung Tôn hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh: “Đấng Thánh Chúa Pháp Vương an cư vô lượng chúng sanh…” Chữ Phật Vương ở đây chỉ cho vị Phật có trách nhiệm thời hiện đại là Đức Thích Ca. Cũng có nghiã chỉ cho vị chuyển luân Thánh Vương ngự trị đời Thượng Ngươn Thánh Đức tới đây.

          Trong câu nguyện thứ nhứt, Đức Thầy có dạy: “Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật Vương độ chúng, thế giới bình an”. Và trong Sấm Giảng quyển Nhứt, Ngài cũng nói:

“Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,

Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân”.

          MÁY DIỆU HUYỀN: Sâu kín, tốt đẹp, khéo léo. Máy diệu huyền là máy Trời đất rất sâu kín mầu nhiệm, khó thể dùng trí phàm lượng xét được.

“Thiên cơ biến đổi diệu huyền,

Hiệp chung tam cõi dưới miền trần ai”.

                              (Xuân Hạ tác cuồng thơ)

          HỘI LONG HOA: Hội là cuộc họp lại đông đảo. Long là rồng, chỉ cho Vua Thánh (chánh vì Vương). Hoa là các loại bông tốt đẹp. Người ta thường nói đẹp như hoa, đây chỉ cho người hiền lương, đức hạnh.

          Vậy, Hội Long Hoa là do Tiên Phật lập ra để tuyển chọn bậc hiền tài và đức hạnh tốt đẹp, họp lại chào mừng Chúa Thánh đời Thượng Ngươn Thánh Đức tới đây.

          Đức Thầy từng bảo:

“Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,

Người hiền đức đặng phò chơn chúa”.

                                        (Kệ Dân, Q.2)

          Đây là một cuộc thi cử chọn lọc hiền còn dữ mất:

                    “Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà,

                      Lừa lọc con lành diệt quỷ ma”.

                                        (Thức tỉnh một nữ Tín đồ)

            Và:
                                                                       “Lập rồi cái Hội Long Hoa,

Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.

Gian tà hồn xác cũng tiêu,

Thảm thương bá tánh chín chiều ruột đau.”

                                        (Sấm Giảng Q.3)

          Cho nên Ngài thường giục thúc:

“Trở chơn cho kịp Long Hoa,

Long Hoa có mặt ấy là hiền nhơn”.

                              (Thiên lý ca)

          Đức Huệ Lựu (Sư Vãi Bán Khoai) cũng bảo:

“Bởi trần lỗi quá muôn phần,

Cho nên lập Hội Long Hoa chọn người.

Hiền từ thì đặng thảnh thơi,

Nghinh ngang khó trốn lưới Trời bớ dân!”

          Nghiên cứu qua Sấm Giảng của Đức Thầy thì độ khoảng 10 ngàn năm, hoặc trên hay dưới con số đó là có một lần lập hội như vậy để chọn lọc hiền còn dữ mất, lập lại đời Thượng Ngươn Thánh Đức:

“Muôn thu thiên định nhứt kỳ,

Hạ ngươn sắc lịnh khai Kỳ Long Hoa”.

                                        (Thiên lý ca)

          Hoặc là:
“Chớ mong yến thử ẩm hà,
Mười ngàn năm lẻ cửa nhà đâu con.
 Ta nhắc lại héo hon cho trẻ,
     Cứ đâu lưng đừng rẽ đừng chia.
Cả kêu lớn nhỏ quày vìa,
Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân.
     Long Hoa Hội ân cần lo lập,
       Lập cho rồi tam thập lục nhơn”.

                                                                                 (Thiên lý ca)

           Thế nên Đức Thầy thường kêu gọi:

                    “Mau chơn bước đến Long Hoa hội,

                      Chầu Phật hòa vui cõi đại đồng”.

                                                  (Cho Bà Năm Cò)

          TU HÀNH: Tu là trau sửa, gọt bỏ những điều tội lỗi. Hành là thực hành theo giáo pháp và giữ gìn luật giới trong đạo. Vậy, tu hành là vừa sửa đổi các điều sái quấy và vừa thực hành y theo pháp môn, hạnh đức mà Tổ Thầy đã chỉ bảo.

          Đức Thầy từng dạy:

“Tu hành sau được đức ân,

Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên”.

                              (Sấm Giảng Q.1)

          CÔNG QUẢ: Công là dùng sức lực, tâm trí làm một việc gì; Quả là cái hiệu quả của việc làm ấy. Như Công quả cho nhà Thiền (chùa) là làm những việc gánh nước, bửa củi, tưới hoa, quét sân, v.v…sau được phước báo. Công quả tu hành là thi hành hạnh Tự Giác, Giác tha, trau dồi hạnh đức, phúc huệ, dịch Kinh, viết sách, giảng dạy Đạo Pháp để khuyên người tỉnh ngộ tu hành.

          Trong “Cửu Khúc”, ông Ba Thới có câu:

“Ai trau công quả cho dày,

Đất bùn có thuở mọc rày hoa sen”.

          Đức Thầy cũng khuyên:

                    “Lập thân giúp thế nên công quả,

                      Muôn kiếp danh hiền sách vẫn biên”.

                                                  (Luân việc tu hành)

          THIỆN CĂN: Căn lành, là gốc lành. Nhà tu khi ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý đều trọn lành, tức là có Thiện Căn; nhưng trong đó Ý nghiệp là nguồn gốc quan trọng hơn hết. Như một cội cây, hễ rễ gốc tốt thì cành lá, bông trái đều tốt. Ý căn trọn lành thì Thân và Khẩu cũng trọn lành, do đó được sanh ra diệu quả phúc lạc ở cõi người hoặc Tiên Phật. Tất cả vị quả ấy đều từ Thiện Căn mà ra. Và công đức tu tập 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều được bồi bổ Thiện Căn rồi kết thành Phật quả.

“Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

                                    (Truyện Kiều)

          Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Phật nói: “Như có hàng thiện nam tử, thiện nữ nhơn gieo trồng Thiện Căn thì đời nào sanh ra cũng gặp bậc Thiện tri thức, bậc Thiện tri thức nầy làm nổi Phật sự. Chỉ dạy cho mình sớm vào Phật quả”. Theo ý pháp Đức Thầy dạy thì người tu đặng trọn lành trọn sáng là đầy đủ Thiện Căn.

          Ngài bảo:

“Đem tâm hồi hướng gốc lành,

Làm tôi Phật Tổ chí thành chí nhơn”.

                              (Cho ông Cò tàu Hảo)

          ĐỊNH NGÔI PHÂN THỨ: Phân định sắp đặt thượng hạ đều có thứ bậc, trật tự và công bằng.

          ĐẠI ĐẠO: Đạo rộng lớn, tức chỉ cho Đạo Phật. Bởi, Đạo Phật rất cao sâu huyền diệu, bao trùm cả vũ trụ vạn hữu, cả pháp thế gian và xuất thế gian; cũng đồng với bản thể của Tâm “Đại đồng Đạo cả khắp trùm bao”. Đại Đạo còn có nghiã là Đại Giác, Đại Bồ đề tu thành. Đại Đạo tức là thành Phật. Câu “Giáo truyền Đại Đạo” là truyền dạy chánh pháp của đạo Phật.

          Đức Thầy từng khuyên:

                    “Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu pháp,

                      Cho đời thấu tỏ Đạo Ma Ha”.

                                                  (Vén Màn Bí Mật)

         

          HÒA BÌNH: Là êm ái, yên ổn không có chiến tranh loạn lạc. Trong nước hòa bình, thế giới hòa bình.

                    “Hòa bình thế giới kiến Tiên bang”.

                                                  (Tối Mùng Một)

          VẠN QUỐC CHƯ BANG: Chỉ chung các nước khắp thế giới.

“Các nơi liệt quốc chư bang,

Chúc cầu bình trị trướng loan sum vầy”.

                              (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

 

CHÁNH VĂN: (Đoạn 5)

          “Thiên-Tào đà xét định, khắp chúng sanh trong thế-giới trong cái buổi Hạ-Nguơn nầy, say mê vật-dục, chìm đắm trong biển lợi-danh, gây nên nghiệp-quả, luật trời đà trị tội xét kẻ thiện-căn thì ít, người tội-ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ-bi cùng các vị Chơn-Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rõ cơ-huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh thì mới mong Thiên Đình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long-Hoa chầu Phật, trước biết rõ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn-Sư, tu hành mau đắc quả, sau làm dân Phật quốc hưởng sự thái-bình, bởi đời nầy pháp-môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma-Vương khuấy rối”.

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 5)

          Chúng sanh trong giữa đời Hạ Ngươn Mạt Pháp mãi đắm say trong biển lợi danh tình ái, gây nên nghiệp tội. Thêm có lắm tà thuyết dị đoan quyến rũ, vật chất lôi cuốn cám dỗ. Chúng Ma Vương luôn đe dọa phá rối nên không còn được mấy người vững lòng theo chánh Đạo.

           Luật Trời đã quyết định sẽ trừng trị kẻ tà gian, nên Đức Phật cùng chư Bồ Tát và các bậc Chơn Tiên nhủ lòng từ bi lâm phàm mở cơ phổ hóa. Nếu ai biết quay về nẻo thiện, giác ngộ tu hành thì sau nầy sẽ được dự Hội Long Hoa, được gặp mặt đấng chơn sư nghe pháp mầu của Đức Phật và sống một cảnh đời thái bình an lạc.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 5)

          THIÊN TÀO: Cũng như chữ Thiên Đình, chỗ Trời ở, triều đình trên Trời.

          THẾ GIỚI: Theo định nghĩa thông thường thì thế giới là vũ trụ, hoàn cầu. Tiếng gọi chung các nước trên mặt đất. Nói hẹp lại là một xã hội, một nhóm người riêng biệt, như Thế Giới người mù, Thế Giới nhà tu.

          Theo Phật học thì thế giới ta đang cư trú có tên là Thế Giới Ta Bà, chúng tôi chỉ giải thích thế giới nhỏ chúng ta đang ở mà thôi.

          Một thế giới gồm có: 1 Tu Di Sơn, 1 Mặt Trời, 1 Mặt trăng, 1 Tứ Thiên Hạ xung quanh núi Tu Di, 1 Tứ Thiên Hạ ở lưng chừng núi Tu Di, 1 Đao Lỵ Thiên, 1 Dạ Ma Thiên, 1 Đâu Suất Thiên, 1 Hóa Lạc Thiên, 1 Tha Hóa Thiên, 1 Sơ Thiền Thiên.

          Trong Tứ Thiên Hạ có 4 châu lớn nằm bốn góc núi Tu Di:

          1.- Đông Thắng Thần Châu.

          2.- Tây Ngưu Hóa Châu.

          3.- Nam Thiệm Bộ Châu.

          4.- Bắc Cu Lư Châu.

          Trong Nam Thiệm Bộ Châu gồm có 5 châu nhỏ là Á châu, Âu châu, Phi châu, Mỹ châu, Úc châu. Vậy

 chúng ta ở Á châu thì thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu (một trong 4 châu lớn).

          HẠ NGƯƠN: Ngươn cùng cuối, ngươn sau rốt. Căn cứ vào luật tuần hườn của lý Tam Ngươn được phân định và diễn tiến như sau:

Thượng Ngươn Thượng.

Thượng Ngươn: Thượng Ngươn Trung.

Thượng Ngươn Hạ.

Trung Ngươn Thượng.

Trung Ngươn: Trung Ngươn Trung.

Trung Ngươn Hạ

Hạ Ngươn Thượng.

Hạ Ngươn: Hạ Ngươn Trung.

Hạ Ngươn Hạ.

          Cứ thế mà luân chuyển mãi, hễ hết Hạ Ngươn Hạ thì chuyển lại Thượng Ngươn Thượng, Thượng Ngươn Trung dần xuống. (Theo tài liệu của Vương Kim, tác giả quyển “Đời Thượng Ngươn”) Hiện nay nhằm Hạ Ngươn Hạ thì sắp chuyển sang Thượng Ngươn Thượng. Trong Giảng Ông Sư Vãi Bán Khoai có nói:

“Hạ Ngươn nay đã hết đời,

Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Ngươn”.

          Đức Thầy cũng bảo:

“Việc đời nhiều nỗi sầu bi,

Hạ ngươn đã hết loạn ly cơ đồ”.

                              (Để Chơn Đất Bắc)

          VẬT DỤC: Lòng ham muốn các thú dục vật chất trong đời, như Danh Lợi Tình.v.v…

          LỢI DANH: Tài lợi, tiền của và danh vị tước quyền, hai điều trong lục dục.

          Ca dao có câu:

“Cái vòng danh lợi cong cong,

Kẻ toan ra khỏi người mong bước vào”.

          Cổ nhân cũng cảnh tỉnh:

                    “Phù sanh, phù lợi nùng như tửu,

                      Túy đắc nhân tâm, Tửu bất tinh”.

                     (Níu đeo danh lợi nồng hơn rượu,

                      Đến chết lòng người chẳng tỉnh say).

          Đức Thầy đã từng nói:

“Đường danh lợi đua chen mùi ong ỏng,

 Đâu có màng tiếng vọng của người tu”.

                                        (Không Buồn Ngủ)

          NGHIỆP QUẢ: Nghiệp là những sự việc mình đã làm, đã gây ra, do nơi thân, khẩu, ý của mỗi người đã tạo tác điều lành hay dữ từ kiếp trước hoặc thời gian trước. Cái nguyên nhân đầu tiên gọi là nghiệp nhân. Cái duyên khởi trước hết gọi là nghiệp duyên.

          Quả là sự kết quả của cái nghiệp mình gây tạo. Khi mình đã tạo nghiệp hoặc lành hay dữ thì sớm muộn gì cũng hưởng lấy quả vui hoặc khổ, chớ không bao giờ sai chạy. Ví như gieo hột giống xuống đất thì nó sẽ mọc lên cây và có bông trái. Song sự kết quả của nó có khi chậm khi mau là do hột giống mạnh hay yếu và tùy theo mỗi loại giống. Nghiệp quả nhân tạo cũng thế: “Chưởng qua hườn đắc qua, chưởng đậu hườn đắc đậu”. (Trồng dưa thì đặng dưa, tỉa đậu thì đặng đậu).

          Nói tóm lại, hễ có tạo nghiệp thì phải có kết quả, Cổ Đức từng bảo:

“Xuân một hột giống gieo,
Thu gặt nghìn thóc mễ,
Người đời tạo dữ lành,
 Quả báo y như thế”.

          Tổ Qui Sơn cũng nói: “Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ, thính hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan; Nhơn quả lịch nhiên khởi vô ưu cụ”. (Nghiệp quả kéo lôi thật khó trốn tránh, như tiếng hòa vang thuận, hình ngay bóng thẳng. Nhân quả rõ ràng, đâu không lo sợ!)

          Nghiệp quả ở đây, Đức Thầy muốn nói cái quả chiến tranh chết khổ mà chúng sanh đang và sắp gánh chịu là do cộng nghiệp tham gian, sát hại của nhiều chúng sanh gây ra từ trước.

          NHỦ LÒNG: Nhủ là khuyên nhắc, nhắn nhủ:

                         “Nầy nầy ta nhủ cho đấy nhớ,

                          Ấy chốn hang hùm chớ mó tay”. (Cổ Thi)

            Nhủ còn có nghĩa là ban bố. Vì tình thương mà ban bố cho. Ví dụ: Xin ông nhủ lòng thương kẻ mồ côi!

          Vậy, nhủ lòng từ bi là mở lòng lành thương xót chúng sanh mà ban bố đức ân và khuyên nhủ lời Đạo pháp.

          CHƠN TIÊN: Bậc Tiên gia tu hành chơn chánh, từng xả thân giúp đời.

          HƯỚNG THIỆN QUÀY ĐẦU: Xoay trở lại con đường hiền lành đạo đức. Đức Thầy thường kêu gọi:

“Sao chẳng lo thức tỉnh quày đầu,

Cho khỏi thẹn với người Thiên Cổ”.

                                    (Diệu Pháp Quang Minh)

          CẢI TÀ QUI CHÁNH: Cải sửa, chừa bỏ các điều tà quấy, trở về con đường chơn thiện mỹ.

          ÂN XÁ BỚT TỘI CĂN: Gia ân tha cho những người có tội. Như các tội nhân gặp thời kỳ ân xá thì được tha hết tội cũ. Điều nầy có mâu thuẫn với luật nhân quả không? Chẳng những không mâu thuẫn mà còn làm sáng tỏ lý nhân quả. Bởi khi ta đã gieo hột giống xuống đất thì đợi thời gian và nhiều trợ duyên nó mới đơm bông kết quả. Nếu ta cần chuyên vun tưới, bắt sâu sửa nhánh thì sẽ gặt quả mau và năng suất cao. Ngược lại, nếu ta không trợ duyên cho hột giống ấy thì nó úng, chết, dầu có được sống cũng chậm kết quả và thâu gặt rất ít; giống lành hay dữ cũng thế.

          Mặc dầu từ trước đến giờ ta gây nhiều tội ác, giờ đây biết ăn năn cải hối tránh điều dữ, chuyên làm việc lành, thì cội lành sẽ sớm sum sê nảy nở và gặt nhiều quả, còn cây tội ác kia sẽ bị khô héo dần, bởi ta không trợ duyên cho nó,

          Luật trời đất rất công bằng, nhưng chư Phật vì lòng từ bi bác ái nên xin cho chúng sanh được hưởng sự ân xá một lúc, hầu lo ăn năn cải ác tùng thiện. Đức Thầy đã nhiều lần khuyên nhủ:

                    “Kỳ xả tội nay còn một lúc,

                    Sao chẳng tu đặng co hưởng nhờ.

                    Gặp Giảng Kinh trần cứ làm ngơ,

                    Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.”

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          Luật Thiên Đình căn cứ vào định nghiệp thiện ác của mỗi chúng sanh mà tự chiêu cảm phước hay họa. Như một quốc gia thể theo hiến pháp của những người đại diện do dân lập ra (quyền Lập pháp) rồi giao cho những người có trách nhiệm thi hành (quyền Hành pháp) áp dụng với dân chúng trong nước.

          Kinh Minh Thánh nói: “Tích thiện thiên báo chi dĩ phước, tích bất thiện thiên báo chi dĩ họa”. (Làm điều lành thì Trời trả cho bằng phước, làm việc chẳng lành thì Trời trả cho bằng họa). Đức Thầy cũng bảo:

“Luật Trời báo ứng nhãn tiền,

Khắp trong thiên hạ đảo huyền từ đây”.

                    (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          Và:

“Xử những kẻ hung hăng tồi tệ,

Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn”.

                    (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          PHẬT PHÁP: Phạn ngữ là Bouddhadharma. Giáo pháp của Đức Thích Ca Như Lai. Suốt 49 năm Phật còn trụ thế Ngài tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà thuyết ra vô số lời lẽ pháp môn. Sau khi Ngài tịch diệt, các đại đệ tử kết tập những giáo pháp ấy thành Tam tạng Kinh, Luật, Luận. Từ ấy đến nay, người tu Phật nhờ nương theo đó mà được đắc Đạo vô số. Giáo pháp là một trong ba ngôi quí báu: Phật, Pháp, Tăng. Phật pháp bao trùm cả thế gian, trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Phật nói: “Tất cả Thế Gian Pháp là Phật Pháp”. Ngày nay, Đức Thầy cũng rút trong Tam tạng ấy mà đem ra giáo hóa chúng sanh:

“Rút trong các Luật, các Kinh,

Tùy lòng không ép làm in Giảng nầy.”

                              (Dặn dò Bổn Đạo)

          Và Ngài từng khuyên:

                    “Tìm tõi Đạo mầu trong Phật Pháp,

                      Cho đời hiểu rõ lý Chơn Không”.

                                             (Khuyên Bỏ Dị Đoan)

          KIẾN DIỆN: Thấy mặt, được giáp mặt.

          CHƠN SƯ: (Xem chữ Minh Sư đoạn 2 bài Sứ Mạng).

          PHẬT QUỐC: Nước của Phật. Như Quốc độ của Đức A Di Đà có tên là An Dưỡng Quốc hay Cực Lạc Quốc. Phật Quốc còn có nghĩa là nước của vị Chuyển Luân Thánh Vương cai quản. Bởi vị vua nầy đã tu hành gần chứng quả Phật, có đủ 32 tướng hảo và phúc báo như Phật. Quốc độ của Ngài dân chúng hưởng đủ sự thái bình an lạc. Ý chỉ cho đời Thượng Ngươn Thánh Đức tới đây. Đức Thầy đã cho biết cảnh ấy:

“Trên non Tiên văng vẳng tiếng phụng hoàng,

Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc”.

                                        (Không Buồn Ngủ)

          Và ngày ấy chính là ngày:

                      “Địa cầu sanh chúng được nhàn an.

                        Bốn biển một nhà: Cha, Phật, Thánh,

                        Thì là dân sự hết tàng ngang”.

                                                (Hai Mươi Tháng Chạp)

          PHÁP MÔN: Cửa Pháp, cách thức tu học. Những giáo lý của Đức Phật truyền dạy, người tu lấy đó làm phép tắc nên gọi là Pháp. Pháp ấy là nơi thông đạt cho chúng sanh vào Đạo và đắc Đạo nên gọi là Môn. Đức Phật tùy căn cơ và trình độ của chúng sanh mà thuyết ra vô số pháp môn, nhưng pháp nào cũng thông đến quả Niết Bàn cả, như pháp môn Thiền định, pháp môn Tịnh độ v.v.. Trong Tứ-Hoằng Thệ-Nguyện có câu: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

          BẾ MẠC: Hạ màn, cùng cuối, đóng lại. Chữ Pháp Môn Bế Mạc ở đây chỉ cho chánh pháp của Phật bị thất chân truyền, và cũng là nhằm thời kỳ Mạt Pháp.

          Sau ngày Đức Lục Tổ Huệ Năng tịch diệt và bặt truyền y bát (638-713) thì người tu Phật đắc được Tâm Ấn (đắc đạo) cũng đi truyền giáo mà người không đắc tâm ấn cũng đi truyền giáo; nhứt là các đệ tử của phái Thần Tú lại truyền mạnh lối tu âm thinh sắc tướng, nên trong số tu hành không mấy người được đắc đạo. Điều nầy Đức Thầy đã nói:

                    “Từ ngàn xưa Phật pháp gài then,

                       Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo.”

                                           (Diệu Pháp Quang Minh)

          THÁNH ĐẠO TRĂN VU: Thánh Đạo nói chung về đạo Phật và đạo Thánh. Trăn vu là cỏ trăn và cỏ vu, hai loại cỏ rậm rạp và vô dụng, thường mọc lan che lấp lối đi, do câu sách:“ Dị đoan phong khởi, Thánh đạo trăn vu”. (Các manh mối của tà thuyết dấy lên, làm cho nền Đạo Thánh bị lu mờ). Đây chỉ cho những tà thuyết dị đoan và các thứ văn minh vật chất lấn áp, câu nhử, khiến không còn được mấy người vững lòng tin theo Chánh Đạo.

          MA VƯƠNG: Phạn ngữ là Mara, tức là Vua các loài Thiên Ma ở cõi Trời Tha Hóa Tự Tại, tức từng Trời thứ sáu trong cõi Dục Giới, tên gọi là Ba Tuần; thường đem quyến thuộc xuống cõi người làm chướng ngại Đạo Phật.

          Lúc Đức Thích Ca thành Đạo dưới cội Bồ Đề, Ma Vương bèn đem binh và khí giới đến làm hại Phật, chúng dùng đủ cách phép mầu, nữ sắc phá quấy, nhưng Phật vẫn an nhiên tự tại. Phá Phật chẳng được, Ma Vương còn thệ nguyện qua đến đời Mạt Pháp chúng hiện vào làm đệ tử của Phật để phá Đạo cho đến kỳ cùng.

          Điều nầy, Đức Thầy có nói trong Giác Mê Tâm Kệ Q.4:

                  “Hồi thuở trước Thích Ca Phật Tổ,

                    Ngồi tham thiền bị nó ghẹo hoài.

                    Mà cũng không rúng động đặng Ngài,

                    Nên cố oán phá đời mãi mãi”.

 

CHÁNH VĂN: (Đoạn 6)

          Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế nhân dân, vì thể lòng từ-bi bác-ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh. Tuy là nhơn-dân mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng chớ có dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế”.

 

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 6)

          Đoạn nầy ý nói Đức Thầy là một trong các vị Phật Thánh, có trách nhiệm độ đời giữa thời Hạ Ngươn Mạt Pháp. Mỗi vị đều quán xét căn cơ nơi nào có đủ nhân duyên thì giáng lâm độ thế nơi đó.

          Vì lòng từ bi bác ái, Đức Thầy không nỡ ngồi nhìn chúng sanh đang quằn quại dưới tai ách nghèo đói, bệnh tật của cơ tận diệt, và đang ngụp lặn trong bể trầm luân thống khổ. Vì những người có duyên lành với Ngài đã từng trợ trưởng lẫn nhau trong lúc Ngài còn tu thân lập hạnh. Giờ đây con đường tiến sang bờ Giác số người ấy vẫn còn bơ vơ nơi bán lộ mà Ngài có trách nhiệm dìu dắt họ tới nơi tới chốn, nên phải gấp rút nhập thế khai Đạo độ đời.

          Công cuộc cứu thế, Đức Thầy áp dụng phương tiện khéo léo đánh lạc hướng người Pháp để họ không nhận ra Ngài là nhân vật quan trọng. Thế nên lúc ấy có nhiều người hiểu lầm Đức Thầy cũng như bao nhiêu kẻ phù thủy khác. Họ không ngờ Ngài là bậc đã giác ngộ, nay vì lòng từ bi, vì có sứ mạng và vì nguyện lực mà Ngài chuyển kiếp để chờ đúng ngày giờ (18/5) xuất hiện để cứu quần sanh.

CHÚ THÍCH: (Đoạn 6)

          LIỄU ĐẠO: (Xem chữ Liễu Đạo ở Đoạn 3 bài Sứ Mạng).

          QUÔC ĐỘ: Cõi nước, thế giới. Một thế giới do một Đức Phật giáo hóa. A DI ĐÀ KINH nói: “Cực Lạc Quốc độ hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung”. (Ở cõi Cực Lạc có ao bằng bảy báu, trong ao có chứa đầy nước, đủ tám món công đức).

          Quốc độ còn có nghĩa là ranh rấp, mức độ của một nước do vị nguyên thủ chủ quyền. Trong Kinh Phạm Võng có nói: “Nhược nhất thiết, quốc độ trung, quốc nhơn sở trước y phục. Tỳ Kheo giai ưng giữ kỳ tục hữu vị”. (Như hết thảy trong nước người ta ăn vận những y phục gì thì chư Tỳ Kheo đều ăn mặc khác với người thế tục).

          TRỢ TẾ: Cũng như chữ Cứu tế. Có nghĩa là cứu giúp kẻ nghèo khó, tật bịnh, hoạn nạn. Do lòng từ bi mà Phật và chư Bồ Tát lâm phàm trợ tế cho chúng sanh hết nguy nàn thống khổ, dùng diệu pháp đưa họ qua bờ giác khỏi biển sanh tử luân hồi. Trong Giác Mê Tâm Kệ, Đức Thầy có nói:

                    “Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

                      Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế.

                      Nên ta mới ra tay cứu tế,

                      Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng”.

          TỪ BI: (Xem chữ Từ Bi ở Đoạn 2 bài Sứ Mạng)

          BÁC ÁI: Lòng thương yêu rộng lớn khắp cả chúng sanh.

          Đức Thầy có câu:

                    “Bác ái xả thân tầm đạo chánh,

                    Độ người lao khổ dạ không phiền”.

                                                  (Luận Việc Tu Hành)

          THÙ ĐÁP: Đền đáp lại. Ý nói người ta đã thi ân với mình, thì mình đáp lại cho cân xứng.

          LINH HỒN: Phần hồn thiêng trong người ta, linh hồn đối với thể xác. Có nhiều tên gọi khác nhau như: Bửu Quang, Thần Hồn, Tâm Hồn, Tâm Thức, Thần Thức, Hữu hay Ấm… đều chỉ cho phần khôn biết của con người. Khi người chết thì linh hồn xuất ra, đi đầu thai, tạo thành xác khác. Chữ linh hồn ở đây, chỉ cho những người có duyên với Đức Thầy trong nhiều tiền kiếp.

          TRỢ DUYÊN: Trợ là giúp đỡ. Duyên là mọi thứ giúp cho nhân để thành quả. Trợ duyên là những duyên cớ phụ giúp cho duyên cớ chánh. Người chánh thức tác động một việc gì đó thuộc về duyên cớ chánh, kẻ hộ trợ cho người kia làm nên việc ấy, gọi là duyên cớ phụ, và là trợ duyên.

          Đây chỉ cho những người trong nhiều tiền kiếp đã giúp đỡ cho Đức Thầy về tứ sự như: ăn, mặc, ở, thuốc men và mọi phương tiện lúc Ngài còn đang tu học.

          HÓA HIỆN: Hóa là biến hóa, thay đổi hình dáng, tính chất. Hiện là lộ hình ra; xuất bày ra một cách rõ rệt. Hiện còn đối với ẩn. Vậy, hóa hiện là bỗng nhiên thay đổi và hiện ra.

         THƯỢNG XÁC CỠI ĐỒNG: Lên xác ngồi đồng. Lối chữa bịnh của các phù thủy, họ thường sai đồng khiển tướng để trục bắt quỉ ma, có tánh cách dị đoan mê tín.

          Đức Thầy đã cảnh tỉnh số người ấy:

“Dương gian làm huyễn nói càn,

Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.

Hò reo giục trống nhiều câu,

Sai đồng khiến quỉ nói lâu nực cười.

Ta khuyên hết thảy các người,

Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.

Đừng hò đừng réo làm chi,

Nghinh ngang kêu múa có khi hại mình”.

                              (Sám Giảng Q.3)

          Thế mà lúc bấy giờ có nhiều người hiểu lầm Đức Thầy và cho Ngài cũng như hạng người nói trên.

 

CHÁNH VĂN (Đoạn 7)

          “Nên phương-pháp của Ta tùy trình độ cơ cảm của Tín-nữ Thiện-nam, trên thì nói Phật pháp cho kẻ có lòng mộ Đạo qui căn, gây gốc thiện-duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền-diệu của Tiên-gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ-bi của Chư Vị với Trăm Quan, thảm-thiết lê dân lầm than thống-thiết, mà lời lành nghe tựa hồ như nhớ như quên, nên kẻ xa-xôi từ-văn chẳng tới, người láng-diềng tiếng kệ nhàm tai. Đến trung tuần tháng tám, Ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn bút mực tiết lộ lấy Thiên-cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rõ biết hầu ăn-năn cải quá làm lành,còn kẻ chẳng tỉnh tâm sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ bảo”.

 

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 7)

          Bởi căn cơ của chúng sanh có cao thấp khác nhau. Nên phương pháp độ đời Đức Thầy áp dụng có nhiều cách. Đối với hạng người đã gieo sâu duyên lành với Đạo thì Đức Thầy dùng Chánh Pháp Vô Vi cảm hóa họ. Còn những người căn cơ hạn hẹp thì Ngài giác tỉnh họ bằng cách dùng huyền diệu của Tiên gia trị bịnh khiến họ tăng lòng kính tin Trời Phật và phát nguyện quy y.

          Đức Thầy còn cho biết những cảnh đao binh nước lửa đang vây khổn chúng sanh mà lời lành của Ngài chưa được truyền rộng khắp bàng nhân bá tánh. Ngược lại những kẻ ở gần hay nhạo chê nhàm chán, nên Ngài phải sáng tác Sấm Kinh để cho nguồn mưa Pháp sớm chan hòa trong đại chúng. Vả lại cơ huyền Đạo Pháp của Ngài là hồi chuông cảnh tỉnh; nếu những ai còn ngủ vùi trong màn danh lợi thì sau nầy đừng trách cứ Phật Trời thiếu lòng từ bi chỉ giáo.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 7)

          PHƯƠNG PHÁP: Cách thức, phép tắc, qui củ để làm một việc gì, sau khi nghiên cứu kỹ. Ví dụ như phương pháp độ đời của Đức Thầy.

          TRÌNH ĐỘ: Mức độ học vấn và trí thức cao thấp nhiều ít của mỗi người.

          CƠ CẢM: Cơ là nền tảng, là căn gốc (căn cơ). Theo Phật học, cảm có nghĩa là do việc làm của thân, khẩu, ý mà cảm động tới, vời tới; tức là chiêu cảm hay nghiệp cảm. Như hạnh nghiệp bố thí và cúng dườngTam Bảo thì cảm được phúc báo. Vậy, cơ cảm là chúng sanh có cái Thiện Căn thì được Phật cảm ứng cho.

         TÍN NỮ: Phạn ngữ là Upâsikê, phiên âm là Ưu-bà-di, dịch là Cận sự nữ. Nghĩa là những người nữ thọ pháp tam qui ngũ giới tu hạnh tại gia, thường thân cận các Tự Viện để lễ Phật, nghe Kinh và giúp đỡ các Tăng Sư.

          THIỆN NAM: Phạn ngữ là Upâsaka. Phiên âm là Ưu-bà-tắc, Tàu dịch là Cận sự nam. Nghĩa là những người nam thọ Tam qui ngũ giới, thường thân cận các chùa, lễ Phật nghe Pháp và giúp đỡ các Tăng Sư.

                    “Tín nữ thiện nam gìn mối Đạo,

                      Dầu cho lăn lóc rán kiên trinh”.

                                             (Tỉnh Bạn Trần Gian)

          MỘ ĐẠO: Lòng ham muốn tu học Đạo Pháp.

          QUI CĂN: Trở về với gốc lành, tánh lành. Trở về với tánh Phật, đạo Phật.

          Đức Thầy có câu:

“Nay con qui Phật tu hành”.

                              (Bài cúng Cửu Huyền)

          THIỆN DUYÊN: Duyên lành. Do thân, khẩu, ý của người phát ra hành động, ngôn ngữ và tư tưởng lành hoặc trên đường tu học Phật pháp làm được những việc ấn tống Kinh Giảng, công tác từ thiện, trợ trưởng Tam bảo đều là kết thiện duyên với Phật Pháp.

          Lại như người dốc chí tu hành mà gặp được Chánh Đạo, Minh Sư, bạn thiện, ấy là người thiện duyên. Đức Thầy có nói:

“Duyên lành rõ được Khùng Điên,

Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          HUYỀN DIỆU CỦA TIÊN GIA: Những pháp mầu nhiệm linh ứng của bậc Tiên. Lúc Đức Thầy điều trị bịnh nhân, Ngài chỉ dùng nước lã, giấy vàng và một ít thứ bông lá… thế mà bịnh chi cũng hết, nhờ đó họ cảm ơn đức mà phát tâm quy y thọ giáo.

          Đức Thầy bảo:

“Có đeo bịnh tật vào thân,

Giầy vàng xé nhỏ vái thần độ vô.

Thành lòng nước lã nên hồ,

Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban”.

                              (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          ÍT CĂN LÀNH: Là chỉ cho người từ nhiều kiếp trước đến kiếp nầy, tuy có làm lành nhưng rất ít, nên căn lành cạn hẹp.

          CHƯ VỊ: Nhiều vị, chỉ cho chư vị Sơn Thần ở Năm Non Bảy Núi có nhiệm vụ theo Đức Thầy độ chúng. Trong bài Viếng non Ông Két, Ngài nói:

                    Chư Sơn Bảy Núi đều qui tựu”.

          Và:

                   “Vậy hỡi chư thần mau nối gót,

                    Theo Thầy dắt chúng khỏi nồng cay”.

          TRĂM QUAN: Cũng như chữ Chư Quan, danh từ chỉ cho tất cả hoặc rất nhiều (như chữ Bá Tánh). Trăm Quan ở đây chỉ cho tất cả Quan Cựu Thần đã hết lòng trung cang nghĩa khí với Tổ Quốc Việt Nam từ trước tới giờ, và đã hiển Thánh thành Thần.

          Đức Thầy có câu:

                    “Đến hội Trăm Quan còn hiện được,

                      Thì ra xác thịt có cần đâu”.

                                                  (Cho cô Hai Gương)

          LÊ-DÂN: Dân đen. Người đòi thường nói, làm người ai cũng đầu đen máu đỏ. Vậy, lê dân là chỉ cho người dân thường không chức phận, tất cả dân chúng. Trong bài Bình Ngô Đại Cáo có câu:

 “Nướng dân đen trong ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

          LẦM THAN: Lầm và vẩn (quậy) bùn lên cho đục. Than là dùng lửa đốt củi thành than. Lầm than là ý chỉ cảnh chiến tranh làm cho dân chúng sống một cách cơ cực, vất vả khổ sở. Cụ Đồ Chiểu có câu:“Khiến dân phải chịu lầm than muôn phần”.

          Đức Thầy từng bảo:

                    “Lầm than khói lửa với binh đao,

                      Âu Á lung tung nhuộm máu đào”.

                                                  (Ai Người Tri Kỷ)

          THỐNG THIẾT: Thống là đau nhức; thiết là cắt. Ý nói sự đau thương rất mực, ví như bị dao cắt thịt xương mình.

“Cảnh hồng trần đau thương thống thiết”.

                                        (Khuyến Thiện Q.5)

          KẺ XA XÔI TỪ VĂN CHẲNG TỚI: Từ văn là lời lành lẽ Đạo của Đức Thầy dạy khuyên người tu hành. Lúc Đức Thầy mới khai Đạo đối với những người ở cách xa thì Giáo Lý của Ngài chưa truyền tới được.

          Như Ngài đã nói:

                    “Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,

                    Dân đông đảo lời truyền chẳng xiết”.

                                          (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)      

          NGƯỜI LÁNG GIỀNG TIẾNG KỆ NHÀM TAI: Nhàm tai là nghe thường quá, nhiều lần quá phát chán. Ý chỉ những người không có duyên lành với Phật Pháp nên dầu họ có ở gần Đức Thầy hay được nghe nhiều lần, nhưng chẳng cảm thông được lời Đạo lý, rồi đâm ra chán ngán, không muốn nghe nữa.

          Như Ngài đã cho biết:

 “Đờn Ta vốn thiệt không dây,

Vô duyên khó biết lời Thầy nói xa”.

                         (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          TRUNG TUẦN: Theo Âm lịch là mỗi tháng có ba tuần là Thượng, Trung, Hạ, mỗi tuần có 10 ngày. Vậy, trung tuần là kể từ ngày 11 đến ngày 20.

          TA CÙNG ĐỨC THẦY MỚI TÁ HIỆU KHÙNG ĐIÊN: Theo Sấm Giảng quyển Nhứt, lúc Đức Thầy đi dạo Lục Châu có hai vị, một ông Thầy và một ông trò (đệ tử). Ông Thầy thì xưng danh hiệu là Khùng, còn ông trò thì xưng danh hiệu là Điên.

          Đức Thầy từng cho biết:

                    “Thầy trò chẳng nệ tấm thân”.

                                                  (Sấm Giảng Q.1)

          Và:

“Thầy Khùng trò lại hóa Điên,

Khùng Điên mấy tháng tình riêng ai ngờ”.

                                (Dặn dò Bổn đạo khắp nơi)

          Vậy câu “Ta cùng Đức Thầy” tức là lời của ông Điên nói.

          TIẾT LỘ: Bày lộ ra cho hết.

          THIÊN CƠ: Máy Trời. Cơ mầu nhiệm của Trời.

          Đức Thầy có câu:

                    “Việc Thiên cơ Khùng tỏ hết trơn,

                      Cho trần hạ tường nơi lao lý”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          ĂN NĂN CẢI QUÁ: Nghĩa của chữ Sám Hối. Hối hận việc lầm lỗi vừa qua, tự ăn năn cải sửa lại và nguyện từ đây giữ không tái phạm.

         Đức Khổng Tử bảo: “Tri quá tắc cải, thị vị vô quá. Quá nhi bất cải thị vi quá hỉ”. (Biết lỗi mà cải sửa thì không có lỗi. Có lỗi mà không chịu cải sửa mới là có lỗi).

          Kinh Trường A Hàm, Phật nói: “Ai biết sửa lỗi lầm thì người ấy được tiến hóa trong giáo pháp của Ta.”

          Đức Thầy cũng hằng khuyên:

                    “Nếu dương trần sớm biết ăn năn,

                      Làm hiền đức khỏi đường lao lý”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          PHẬT: Phạn ngữ là Bouddha, phiên âm là Phật Đà. “Phật giả, Phật Đà chỉ tỉnh xưng”. Đức Huỳnh Giáo Chủ giải:

          “Phật giả là giác giả, giác giả là tỉnh giả…”

                                                  (Phật là gì ?)

          Và:

          “Phật là đấng toàn thiện toàn mỹ, bác ái vô cùng”.

          Đã hoàn thành muôn hạnh muôn đức: Tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.

          TIÊN: Phạn ngữ là Richi, bậc Tiên. Tiếng gọi các ông thầy tu núi, đắc thần thông có thể trường sanh bất tử, nhưng chữ Tiên ở đây ý chỉ cho người tu Phật đã đặng siêu thoát như Đức Thích Ca khi xưa, từng được các vị tu hành đồng thời tôn xưng là Đại Tiên.

          Đức Thầy có cho biết:

                    “Đời cùng Tiên Phật hạ phàm gian”.

                                                  (Lộ Chút Cơ Huyền)

          Và :

“Kể từ Tiên cảnh Ta về,

Non Bồng ta ở dựa kề mấy năm”.

                              (Sấm Giảng Q.3)

 

CHÁNH VĂN: (Đoạn 8)

          “Vẫn biết đời Lang-sa thống trị, phép nước nghiêm-hình, dân chúng nếu yêu thương sẽ lắm điều hiềm khích: nhưng mà Ta nghĩ nhiều tiền kiếp Ta cũng hy sinh vì Đạo, nào quản xác thân. Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song vì tình cốt nhục tương thân, cũng ủng hộ, chở che cho xác phàm bớt nỗi cực hình”.

Bac-Liêu, ngày 18/5 Nhâm Ngũ (1942)

 

LƯỢC GIẢI: (Đoạn 8)

          Dưới thời thống trị của Thực Dân Pháp, họ dùng chánh sách kềm kẹp Tôn giáo quá gắt gao, không cho dân ta tự do hành Đạo hay truyền Đạo. Nếu có một ai được sự uy tín trong quần chúng thì họ tìm cách ám hại hay đày xắt đủ điều.

          Đức Thầy xét nghĩ nhiều kiếp trước Ngài đã từng hy sinh tinh thần lẫn vật chất cho Đạo Pháp, cho lê dân. Huống lại kiếp chót nầy đây là kiếp Ngài sẽ hoàn thành sứ mạng, có lý nào Ngài còn lẫn tiếc một sự việc gì đối với vạn loại chúng sanh?

“Thân Ta dầu lắm đoạn trường,

Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn loài”.

                                                  (Cảm Tác)

          Nhưng vì nghĩa song đường, tình huynh đệ, trong thân quyến rất xót thương lo lắng, nên Ngài chẳng nỡ để cho phần xác thịt chịu lắm gian lao hay thiệt thòi đến thân mạng.

 

CHÚ THÍCH: (Đoạn 8)

         LANG SA: Một danh từ đã được thông dụng vào thời các chúa Nguyễn, dùng để chỉ cho người Pháp. Trong lời chiếu Cần Vương của Vua Tự Đức năm Tân Hợi (1861) có đoạn nói: “Kẻ nào bắt được một người Lang Sa sẽ đặng thưởng bốn quan tiền”, và trong bài Văn Tế nhà ái quốc Trương Công Định, cụ Đồ Chiểu có viết: “Lũ giặc lang sa nhiều phương quỉ quái.”

          THỐNG TRỊ: Gồm trị, cai trị cả nước. Nước Việt Nam bị dưới quyền thống trị của người Pháp ngót 80 năm.

          NGHIÊM HÌNH: Hình phạt nghiêm khắc.

          HIỀM KHÍCH: Tức giận ganh ghét, vì không vừa ý với nhau mà luôn luôn muốn gây chuyện. Kẻ nịnh hay hiềm khích người trung.

          HY SINH: Con vật toàn một màu sắc đen đem làm thịt dùng vào việc cúng tế. Ý nói người dám bỏ tất cả quyền lợi, danh dự, tài sản lẫn tánh mạng để làm được một việc gì, như hy sinh để bảo vệ quốc dân. Cổ thi có câu:

“Dù cho làm vật hy sinh,

Miễn sao thiên hạ thái bình yên vui”.

          Hy sinh vì Đạo là dám liều bỏ cả tinh thần lẫn vật chất để làm tròn việc Đạo Pháp. Tiền thân Đức Phật đã từng xả thân cho Đạo, Ngài dám lóc da làm giấy, bẻ xương làm viết, lấy máu làm mực để được chép, nghe Phật Pháp. Ngài cũng từng bố thí cả tài vật, vợ con cho người khác, và đã hy sinh thân xác cho cọp đói đỡ lòng, đã hiện thân vào loài cá làm thức ăn cho nhân loại khỏi cảnh nguy cơ. Do đó các bậc chơn tu thường ca ngợi đức hy sinh của Phật:

                     “Từ bi cao đẹp có chi bằng,

                      Vui thí cho đời cả mạng căn,

                      Thương kẻ chơn tình thương mẫu tử,

                      Chết mà không chết vẫn siêu thăng”.

                                                  (thơ Thanh Sĩ)

          Đức Thầy hiện nay cho biết nhiều kiếp trước Ngài đã từng hy sinh cho Đạo Pháp. (Đức Phật Trùm (1830-1890) - một trong những tiền kiếp của Đức Thầy - bị quân Pháp bắt bỏ vào củi sắt liệng xuống sông Châu Đốc, mấy giờ sau Ngài vẫn không chết. Chúng liền đem Ngài bỏ vào vạc dầu sôi và nấu, Ngài vẫn an nhiên không sợ và khi đem ra ngoài không hề hấn gì… Chúng bèn đày Ngài ra hải ngoại, cho uống nước cường toan (Eau régale) Ngài cũng không chết. Thời gian sau Ngài được thả tự do. Ngài tiếp tục hoằng Đạo cho đến khi tịch diệt.) Cho đến kiếp nầy cũng thế, Ngài có thố lộ trong một bài thi:

                    “Phận tớ xác phàm tớ sẽ dưng,

                      Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.

                      Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,

                      Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn hưng”.

                                                  (Hiến Thân Sãi Khó)

          TÌNH CỐT NHỤC TƯƠNG THÂN: Cốt nhục là xương và thịt, tình ruột thịt chung một dòng máu. Cùng chung một thân tộc, tất cả sự vui, buồn, sướng khổ đều cùng chung hưởng, nên càng thương mến nhau rất mực.

          Đây ý nói Đức Thầy bị người Pháp bắt đi trong lúc thân nhân quyến thuộc của Ngài phải chịu cảnh đau xót lo chung.

          ỦNG HỘ: Giúp đỡ, che đậy, phù hộ.

“Phật Trời ủng hộ người ngay mắc nàn”. (Cổ thi)

          CỰC HÌNH: Cực là rất mực, mức cùng; Hình là hình phạt. Cách hình phạt tra tấn, đày xắt nặng hơn hết.

TỔNG KẾT

          Nghiên cứu qua bài Sứ Mạng của Đức Thầy, nhận thấy có ba phần chánh như sau:

          1.- LÝ DO: Sở dĩ Đức Thầy lâm phàm khai Đạo là vì cơ Trời đã đến, vì sắc lịnh của Chư Phật và Đức Ngọc Đế; vì lòng từ bi bác ái và vì thù đáp những người có duyên lành với Ngài trong nhiều tiền kiếp.

          2.- PHƯƠNG PHÁP ĐỘ ĐỜI: Ngài thuyết pháp và sáng tác Sấm Kinh để giác ngộ cho những ai có sâu duyên với Phật Pháp. Ngài dùng huyền diệu của Tiên gia và nhiều khả năng phương tiện khác là để rộng độ các tầng lớp chúng sanh.

          3.- TRÁCH NHIỆM: Ngài có trách nhiệm cứu giúp những hạng người hữu phước khỏi cảnh thảm nguy của cơ tận diệt; độ các bậc chân tu Công Quả sâu dày, hạnh đức thuần thục đến bờ giải thoát (Niết Bàn Cực Lạc); lập hội Long Hoa tuyển chọn hiền tài, kiến tạo đời Thượng Ngươn Thánh Đức cho vị Thánh Vương; đào luyện những người có đủ Thiện Căn để quảng truyền đại Đạo và xây dựng cuộc hòa bình an lạc khắp thế giới./.

QUYỂN NHỨT

SẤM GIẢNG KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM

 

XUẤT XỨ VÀ VĂN THỂ:

          Đây là quyển thứ nhứt mà Đức Thầy đã viết lúc còn ở Tổ Đình (Thánh Địa HH) khoảng trung tuần tháng tám năm Kỷ Mão (1939). Ngài viết theo điệu văn vần, thể lục bát, lối tự thuật và thuyết giáo, dài 912 câu.

          Khởi đầu bằng câu:

“Hạ Ngươn nay đã hết đời”.

          Và chấm dứt bởi câu:

“Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên”.

TIÊU ĐỀ:

          SẤM: Là những lời tiên tri (cho biết trước) về thế cuộc sắp xảy ra. Ghi bằng các câu văn vần; với ý nghĩa khó hiểu hơn lời thơ thường, như lời Sấm Ký của Thiền sư Vạn Hạnh đời tiền Lê, lời Sấm của cụ Trạng Trình thời Lê Mạt, hoặc Sấm truyền của Đức Phật Thầy Tây An thời Nguyễn.

“Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,

Dân rán kiếm mà truy thì biết”.

                              (Giác Mê Tâm Kệ)

          GIẢNG: Là giải thích, là giải bày Giáo lý cao sâu của Đạo Phật cho người hiểu rõ phương thức tu hành.

          Sấm Giảng là quyển giảng, trong đó vừa tiên tri thời cơ, vừa giải bày Đạo lý để khuyến hóa nhân sanh, sớm thức tỉnh trau thân hành Đạo.

          Do đó quyển giảng  nầy được mang tiêu đề là Sấm Giảng.
                                             NỘI  DUNG:

          Trong Sấm Giảng quyển Nhứt, Đức Giáo Chủ cho biết đời Hạ Ngươn sắp mãn, cơ tận diệt hầu kề, cuộc Đệ nhị Thế chiến sắp xảy ra, khắp bá tánh phải chung chịu cảnh đói đau, binh lửa. Ngài còn tường thuật trước khi trực tiếp giáo độ chúng sanh, Ngài đã phương tiện dùng hóa thân đi dạo Lục châu, tức sáu tỉnh Nam phần Việt Nam. Ngài giả ra kẻ chèo đò, buôn bán, ăn xin tàn tật; có khi giả người già, trẻ, nam, nữ.v.v…Hầu có dịp đánh thức người đời, cho biết đã có Phật Tiên lâm phàm giác tỉnh quần sanh, để họ sớm quay về con đường Chân Thiện Mỹ.
                                             CHỦ ĐÍCH:

          Đức Giáo Chủ dùng khoa tâm lý thuật lại cuộc châu du khắp sáu tỉnh miền Nam Việt Nam hầu thức tỉnh bá gia sớm quay về nẻo Đạo.
                                             BỐ CỤC:

          Toàn quyển Sấm Giảng thứ nhứt, gồm có 3 phần chánh:

          1.- Phần thứ nhứt cũng gọi là phần khai đề, Đức Thầy diễn tả cơ biến đổi cảnh đời Hạ ngươn và nguyên nhân Ngài lâm phàm độ chúng. Từ câu 1 đến câu 8.

          2.- Phần thứ nhì, cũng là phần chánh đề: Ngài vừa khuyên tu vừa thuật lại cuộc dạo Lục châu, (Đức Thầy dùng từ Lục châu là ý muốn nhắc lại sáu tỉnh miền Nam thời xưa của Việt Nam ta, chớ không dùng từ 20 tỉnh ảnh hưởng của thời Pháp thuộc.) khởi đầu từ làng Long Khánh (cù lao Long Khánh thuộc tỉnh Châu Đốc) dẫn tới vị trí chót hết là tỉnh Thủ Dầu Một, tức giáp hết 6 tỉnh thời nhà Nguyễn, mà 20 tỉnh thời Pháp thuộc

          Khởi đầu từ câu số 9 (tiểu đoạn 2):

“Thấy đời ly loạn bất an…

          Tới câu 825 và 826:

“Giảng rồi Dầu Một thẳng xông,

Thiềng thị giáp vòng thứ chót là đây”.

          3.- Phần thứ ba (kết): Ngài tiếp tục khuyến tu và cho biết danh hiệu ông Thầy xưng là Khùng, ông Tớ xưng là Điên mà pháp danh là Huệ Lựu và Huệ Tâm:“Thầy thì Huệ Lựu tớ thì Huệ Tâm”. Đức Thầy còn nói rõ quê ngụ của hai Ngài trước kia:

“Khùng thời quê ngụ núi Sam,

Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.

Vua Nghiêu xưa mở đất cày,

Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên”.

          Từ câu (897)“Thương dân giảng dạy dẫy đầy”, tới câu chót (912)“Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên”.

          - Còn phần các tiểu đoạn, thì mỗi đoạn chúng tôi đều có giải lược ý nên ở đây xin miễn tóm tắt đại ý. (Phần bố cục ở đây chúng tôi chỉ phân tách phần nhận xét tổng quát. Còn phần nhận xét tinh tế và văn chương bút pháp xin miễn. Nếu tín hữu nào muốn cần hãy tìm hiểu thêm.)

 

CHÁNH VĂN:
                    1.-“Hạ nguơn nay đã hết đời,
         Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.
                    Năm Mèo Kỹ-Mão rõ ràng, 
      4.- Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi.
                    Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
            Bá gia khổ-não vậy thì từ đây.
                    Cơ trời thế cuộc đổi xây,
          8.- Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 1 đến câu 8)

          - Tám câu giảng trên ý nói giai đoạn cùng cuối của đời Hạ ngươn, cuộc thế chuyển xoay, lòng người thay đổi, khiến thế giới sắp xảy ra cảnh chiến tranh loạn lạc. Đến như nền cương thường Đạo lý của nước nhà cũng bị đảo lộn bởi ngọn gió văn vật Âu Tây thổi mạnh vào xứ sở. Đức Thầy nhận thấy những trạng huống đau thương, tang tóc tràn lan khắp nẻo mà cả vạn dân từ đây phải gánh chịu, nên Ngài gấp rút theo Thầy tùy phương hóa độ.

                    “Khắp trong bá tánh kề cảnh khổ,

                     Đạo đức hiền lành kiến Tiên bang”.

                                                  (Lộ Chút Cơ Huyền)

                                   CHÚ THÍCH

          HẠ NGƯƠN: (Xem Chú thích đoạn 5 bài Sứ Mạng).

          PHONG BA: Gió và sóng. Ý chỉ cơn lộn xộn, xáo xào, chiến tranh tai biến.

          “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”.(Chinh phụ ngâm)

            Đức Thầy có câu:

                    “Trải một lúc cuồng ba sóng dậy”.

                                                     (Thu Đã Cuối)

         Chữ phong ba ở đây còn có nghĩa là chỉ cho làn sóng văn vật của Âu Tây tràn ngập vào xứ ta làm cho nền cương thường Đạo lý tốt đẹp của quốc dân ta bị xáo trộn.

          BIẾN CHUYỂN: Thay đổi cảnh trạng khác, chuyển biến tình thế khác.

                    “Thiên cơ thế giới đà biến chuyển”.

                                                  (Lộ Chút Cơ Huyền)

          GIA CANG: Nền cương thường lễ giáo của quốc dân hay gia đình thân tộc.

“Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,

Vâng lời cha mẹ mà gìn gia cang”.

                                        (Sấm Giảng Q.3)

          NHỘN NHÀNG: Rộn ràng nhiều việc, lộn xộn lăng xăng, rối rắm không trật tự.

          BÁ GIA: Trăm nhà, chỉ cho mọi người. Cổ ngữ có câu: “Nhứt gia hữu sự, bá gia ưu”.

          CƠ TRỜI: Máy trời. Sự sắp đặt của cơ Tạo hóa, căn cứ vào định nghiệp Nhân Quả của nhân sanh và vũ trụ.

          Đức Thầy từng nói

                    “Đến Thân Dậu cơ Trời thấy lộ”.

                                                  (Thiên lý ca)

          THẾ CUỘC: Cuộc đời, sự đời, mọi sự việc trong đời.

          ĐIÊN MỚI THEO THẦY: (Xem Chú thích đoạn 7 bài Sứ Mạng).

                                  CHÁNH VĂN
                 9. “Thấy đời ly-loạn bất an,
          Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao binh.
                    Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình,
     12. Nguời thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.
                   Nên Điên khuyên-nhủ bằng nay,
          Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm.
                    Cơ thâm thì họa diệc thâm,
          16. Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
                    Người khôn nghe nói càng rầu,
          Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
                    Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
       20. Khắp trong bá tánh hiểm-nghèo đáng thương”.

                       LƯỢC GIẢI :(Từ câu 9 đến câu 20)

          - Đoạn giảng nầy, Đức Thầy diễn tả bối cảnh hiện đại trong Thế giới: các nước từ Âu sang Á đang lâm vào vòng Đệ nhị Thế chiến; cuộc tranh giành loạn lạc diễn khắp nơi, khiến chúng dân phải sống cuộc đời điêu linh đồ thán, lòng người trở nên tham tàn bạo ác; tình trạng tôi bất trung, con bất hiếu, vợ bất nghĩa, chồng bất nhân, thường xảy ra khắp xã hội.

          - Lời Sấm Giảng của Đức Thầy là một hồi chuông cảnh tỉnh bá gia sớm hồi tâm hướng thiện, mạnh tin nơi lẽ tội phước báo ứng “hại nhơn thì nhơn hại” và “Mưu sâu thì họa cũng thâm”(Sấm Giảng Q.1) mà xưa nay sử kinh hằng ghi chép không hề sai chạy.

          - Với những người trí thức khi nghe đến lời Sấm Kinh ai cũng lo buồn, tìm phương giải thoát. Trái lại, những kẻ còn mê thì cười cho rằng làm gì có cảnh hiểm nghèo như thế. Đức Thầy rất xót thương cho số người kém duyên thiếu trí ấy.
 
                                         CHÚ THÍCH

         LY LOẠN: Ly là lià; Loạn là loạn lạc, không được bình yên. Ý nói gặp cảnh chiến tranh loạn lạc làm cho gia đình bá tánh tan nát, quyến thuộc chia ly.

          Đức Thầy nói:

                    “Đời cùng ly loạn khắp chư bang”

                                                  (Lộ Chút Cơ Huyền)

          ĐAO BINH: Gươm đao và binh lính. Ý chỉ cho sự chiến tranh giặc giã, làm cho nhơn loại phải chết chóc bệnh tật.

          BỐ KÌNH: Cũng đọc là Bố Kinh. Bố là vải; Kinh là gai, do câu “Bố Quần Kinh Thoa”(mặc quần áo bằng bô vải, cài trâm bằng gai). Thành ngữ xuất phát từ điển tích Lương Hồng:

          Anh người đời Ngụy Võ Đế (Trung Hoa), học thức uyên bác và rất trọng điều khí tiết. Lương Hồng cưới vợ là nàng Mạnh Quang, con nhà giàu có. Lúc mới về nhà chồng nàng ăn mặc lộng lẫy, trang sức theo con nhà đài các. Lương Hồng lẳng lặng trong bảy ngày không nhìn đến vợ. Mạnh Quang nhận biết, tự thay đổi hàng lụa, mặc quần áo vải, cài trâm bằng gai. Lương Hồng mừng rỡ bảo: “ Đây mới chính là vợ của Lương Hồng”.

          Không màng công danh phú quý, Hồng và vợ lo cày bừa và dệt cửi để sanh nhai; tuy được chồng trọn yêu, nhưng lúc nào Mạnh Quang cũng hết lòng cung kính. Mỗi bữa ăn hay có vật gì đưa cho chồng. Mạnh Quang đều để vào cái mâm, đưa lên ngang mày để tỏ lòng kính trọng chồng (Mạnh Quang cử án tề mi). Cho nên chữ Bố Kình có ý nói người vợ hiền từ chính đính, xử sự kính thuận với chồng.

          Truyện Kiều có câu:         

“Đã cho vào bực Bố Kình,

Đạo Tùng Phu lấy chữ Trinh làm đầu”.

          Vậy câu “phụ nghĩa Bố Kình” ở đây là chỉ cho con người đời nay, giữa chồng vợ cư xử với nhau ít người được nghĩa ân chung thỉ, thường phụ rãy lẫn nhau. Cho nên Đức Thầy thường khuyên nhắc:

“Tu là sửa trọn ân tình,

Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai”.

                                           (Sấm Giảng Q.3)

          TRUNG HIẾU: Do câu “Trung Quân Vương, Hiếu Phụ Mẫu”. Một dạ trung thành với Tổ quốc gọi là trung; lòng tôn kính, bảo dưỡng và vâng lời cha mẹ gọi là hiếu. Trung và hiếu là hai trong Tứ Đại Trọng Ân. Đức Thầy nhận thấy con người hiện nay ít ai giữ vẹn được Hiếu Trung nên Ngài thường khuyên:

                    “Ham vui đào mận chẳng xong rồi,

                      Trung hiếu vẹn gìn phận con tôi”.

                                                  (Để Chơn Đất Bắc)

          LÊ THỨ: Lê là đen;Thứ là đông, nhiều. Cũng có nghĩa như chữ lê dân (dân đen) chỉ cho tất cả nhân dân.

          TỈNH TÂM: Lòng thức tỉnh, đối với Mê Tâm (Tâm còn mê muội). Vậy tỉnh tâm ở đây là Đức Thầy khuyên mọi người hãy sớm tỉnh ngộ tu hành, lánh chốn Mê đồ, trở về Giác lộ.

          Như Ngài hằng khuyên:

                    “Sớm thức tỉnh tâm tầm Đạo Chánh,

                      Sau nầy về Phật với ngôi Tiên”.

                                                (Luận Việc Tu Hành)

          CƠ THÂM THÌ HỌA DIỆC THÂM: Cơ là mưu mẹo khôn khéo; thâm là sâu kín, là nhiều. Do câu Thành ngữ “Cơ thâm họa diệc thâm”. Có nghĩa nếu mình dùng mưu mẹo sâu độc hại người bao nhiêu thì kết cuộc mình cũng gánh lấy tai vạ sâu độc bấy nhiêu.

          Cổ thi có câu “Cơ thâm thì họa diệc thâm là thường”.

          Đức Thầy nay cũng cho biết:

                    “Cơ thâm họa diệc từ đây có,

                      Bộ máy thiên cơ ắt đảo huyền”.

                                                  (Lộ Chút Cơ Huyền)

          Xưa nay sách sử thường ghi chép vấn đề nầy không bao giờ sai chạy.

          “Vào thời Chiến Quốc có Lã Bất Vi, vốn là một tay thương buôn quỷ quyệt, y xem tướng Hoàng Tôn nước Tần, biết người ấy sau ắt sang cả, có thể nối ngôi Vua Tần mà làm Chúa thiên hạ. Bất Vi liền lập kế, gả vợ lẻ đang có thai ba tháng cho Dị Nhân và gạt tướng Triệu lén đưa vợ chồng Dị Nhân về về nước Tầu. Quả sau Dị Nhân làm vua và Lữ Bất Vi làm Tướng Quốc. Vi lại tư thông với vợ cũ. Vua Tần (tức Dị Nhân) băng, Thái Tử chính vốn là con ruột Lữ Bất Vi nối ngôi, xưng là Thỉ Hoàng Đế. Thế thì dòng họ Dinh của Tần, kể như bị diệt. Bất Vi càng ngày càng buông lung, nên bị Thỉ Hoàng hạ ngục rồi sau bị ép chết, bia danh xấu muôn đời”.

          HÙM BEO: Cọp và Beo, là hai loài thú rất hung bạo, ăn thịt các loài vật cả đến loài người. Câu “Rồi sau sẽ thấy hùm beo” là Đức Thầy tiên tri sau nầy (cơ tận diệt) sẽ có cảnh thú ăn thịt người.

          Một đoạn giảng khác Ngài nói:

“Hổ lang ác thú muôn bầy,

Lớp bay lớp chạy sau nầy đa đoan.

Ai mà ăn ở nghinh ngang, 

Đón đường nó bắt xé tan xác hồn”.

                                         (Sấm Giảng Q.3)

          HIỂM NGHÈO: Nguy hiểm nghèo ngặt. Ví dụ: bá tánh gặp tai nạn chiến tranh nghèo đói rất nguy ngặt.

                                    CHÁNH VĂN
                    21Điên này vưng lịnh Minh-Vương,
          Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
                    Thấy trong bá tánh phàm trần,
          24. Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.
                    Mặc ai bàn tán gần xa,
          Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
                    Kẻ xa thì mến đức-ân,
          28. Làm cho người gần ganh-ghét khinh khi.
                    Nam mô, mô Phật từ-bi,
          Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian.
                    Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,
          32. Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên”.

                        LƯỢC GIẢI : (Từ câu 21 đến câu 32)

          - Đoạn nầy ý nói Đức Thầy lâm phàm cứu thế là vì lòng từ bi, vì vưng sắc lịnh của Đức Phật Tổ, Đức Minh Vương và Phật Bà Quan Âm…thế mà có nhiều người bàn tán khen chê. Kẻ thì nhận Ngài là bậc Thần Tiên, người lại nhạo chê là tà quỷ, song Đức Giáo Chủ vẫn an nhiên không màng nghĩ, bởi sự khen chê là thường tình của thói đời, hễ ai được nhiều người kính mộ đức ân, tất nhiên phải có kẻ ghét ghen đố kỵ.

          - Trường hợp nói trên chẳng những ở trường đời mà trong cửa Đạo cũng thế! Bởi hiện thời có vô số người giả tu, tuy ngoài miệng thì nói là từ bi, nhưng trong lòng họ luôn mưu tính việc gian tà, lợi dụng tiền bạc đủ cách. Nên khi gặp người chơn chánh ra đời là họ đố kỵ ngay. Bởi ánh sáng chơn lý rọi ra thì tà thuyết dị đoan phải tan mất. Do đó, họ bịa đặt này nọ, chỉ trích khinh khi Đức Thầy.

                                       CHÚ THÍCH

          MINH VƯƠNG: Vị vua sáng suốt, chỉ cho Đấng Thánh Vương, người đã tu hành gần chứng quả Phật, nên lòng rất hiền từ minh chánh.

          Đức Thầy có câu:

      “Thương Minh Vương bắt chước Thuấn Nghiêu,

                    Lòng hiền đức nào ai có biết”.

                                                  (Sấm Giảng Q.2)

          PHẬT ĐƯỜNG: Phật là chỉ cho Đức Phật, chư Phật. Đường là nhà thờ, là nghĩa của chữ Đạo. Vậy, Phật Đường là nhà thờ Phật, là nơi Phật ngự, là Đạo Phật, cũng có nghĩa là con đường về cảnh Phật; nhưng chữ Phật Đường ở đây là chỉ cho Phật Thích Ca. Vì Ngài là Đấng cha lành trong Tam giới, là Giáo Chủ đạo Phật trong thế giới Ta Bà.

          Ngài Huệ Lựu đã chứng minh:

“Kế đó Phật Tổ giá lâm,

Tâu cùng Ngọc Đế thấp cao tỏ tuờng.

Minh Vương có đến Phật Đường,

Giáo khuyên dưới thế trung ương tu trì”.

                               (Giảng Mười Một Hồi)

          Vậy thì câu:“Với lịnh Phật Đường đi xuống giảng dân” là Đức Thầy vưng lịnh Đức Phật Tổ lâm phàm dạy thế. Như Ngài thường thốt:

                    “Ngọc toà Phật Tổ nấy sai ta,

                      Xuống cứu thế gian nẻo vạy tà.

                      Hiệp sức tớ Thầy truyền diệu pháp,

                      Cho dân thấu tỏ Đạo Ma Ha”.

                                                  (Tối Mùng Một)

          PHẬT BÀ: Là Phật Quan Âm Nam Hải, do câu nguyện trong Thập Nhị Nguyện của Ngài:

          “Nam mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quan Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện”.

          Và câu Kinh:

          “Nam Hải Viên Thông Giáo Chủ, đại từ đại bi, tầm thanh cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát”.

          Nghĩa là Đức Quán Thế Âm làm Giáo Chủ có đủ đạo hành tròn đầy, thông suốt cõi Nam Hải, thường nghe tiếng nguyện cầu của chúng sanh mà cứu độ khỏi tai nạn và cảm ứng một cách thiêng liêng.

          Nguyên Ngài là bậc đạo hạnh viên vun chứng thành Phật Quả, nhưng vì lòng bi mẫn muốn ở gần chúng sanh để cứu khổ cứu nạn và thường lui tới vùng bể Nam Hải nên mới có danh từ “Quan Âm Nam Hải”. Hiện nay đa số hình tượng của Ngài được thờ phượng với xác thân nữ giới, tay cầm Tịnh bình, tay cầm nhành Dương liễu, Ngài đứng trên hoa sen trắng có Thiện Tài đồng tử theo hầu. Đó là Ngài dùng Thiên Bá Ức Hóa Thân thị hiện cứu khổ chúng sanh, hoặc chuyển kiếp làm thân nữ để nêu gương hạnh độ rỗi hàng nữ giới.

          Kinh sách có chép:

          “Đức Quán Thế Âm Bồ Tát có lần chuyển kiếp là Diệu Thiện công chúa, con thứ ba của Diệu Trang Vương. Bà sớm giác ngộ lìa bỏ ngôi vị công chúa và cuộc đời nhung lụa vàng son trong cung điện để tìm đường giải thoát. Sau bà tu đắc Đạo và độ thoát được cha mẹ, nêu gương nhẫn nhục cho đời sau, nhứt là giới nữ nhờ noi gương Bà mà tu hành có rất nhiều người chứng đắc”.

          Người Á Đông theo Đạo Phật hằng năm đến ngày vía của Đức Quán Thế Âm đều có tưởng niệm chay lạt. (Các ngày vía của Quan Âm Diệu Thiện:
- Ngày 29/2 âl: Vía Đản Sanh,
- Ngày 19/6 âl: Vía Xuất gia,
- Ngày 19/9 âl: Vía Thành Đạo)
Do điển tích trên đây, người đời mới xưng tụng Đức Quán Thế Âm là Phật Bà. Hiện nay, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng từng cho biết:

“Đến lâm cảnh khổ có ta,

Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho”.

                                        (Sấm Giảng Q.1)

          ĐỨC ÂN: Tâm từ thiện đối với vạn loại chúng sanh gọi là Đức, nói và làm những việc có phúc lợi cho mọi người gọi là Ân. Nói chung là người có hạnh đức thường gia ân bố phước cho bá tánh, thì bá tánh cảm Đức Ân đó:

“Nghìn trùng ân đức sâu dày,

Phận trò vẹn đáp công Thầy mới ngoan”.

          NAM MÔ: Do Phạn ngữ Namal, phiên âm là Nam Mô, Tàu dịch là Quy Mạng, Cứu Ngã. Tức là lòng mình tôn kính nương theo Đức Phật và cầu Ngài cứu độ. Cho nên, chữ Nam Mô cũng có nghĩa là Quy Y.

          Hai câu: Nam mô, Mô Phật Từ bi,

               Miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian”.

                                                  (Sấm Giảng Q.1)

          Là chỉ cho hạng người tu giả dối, do câu “Khẩu Phật tâm xà”(Miệng nói từ bi như Phật mà lòng thì độc ác như rắn). Hạng người nầy tuy ngoài miệng họ nói là quy y Phật và niệm Phật từ bi, nhưng lòng họ luôn chứa việc gian tà độc ác để gạt người thủ lợi.

          TRẦN HOÀN: Trần là bụi; Hoàn là cảnh địa, tức chỉ cõi đời đầy bụi bặm nhơ nhớp đau khổ mà cả nhân loại đang cư trú.

          Đức Thầy nói:

“Trần hoàn thiện tín còn mê,

Thêm lời giục thúc gọi về đàng tu”.

                                                (Khuyến Thiện Q.5)

          BỈ: Khinh thường chê bai.

                                    CHÁNH VĂN
                    33. “Điên này xưa cũng như ai,
          Vào các ra đài tột bực giàu-sang.
                    Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,
          36. Bèn lên ẩn dật lâm san tu-trì.
                    Nhờ Trời may mắn một khi,
          Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn.
                    Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn, 
          40. Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.
                    Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
          Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.
                    Chuyện này thôi nói sơ-sơ,
          44. Để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu”.

 

LƯỢC GIẢI : (Từ câu 33 đến câu 44)

          - Đoạn giảng vừa qua Đức Thầy nhắc lại tiền thân của Ngài đã từng sống nơi cao sang quyền quý nhứt trong thiên hạ, nhưng Ngài giác ngộ đời là mộng ảo, sự nghiệp lợi danh như làn mây bọt nước, “Trần thế lợi danh giấc mộng tràng(Lộ chút Cơ huyền) nên Ngài sớm rời chốn phù hoa đài các, cất bước vào miền rừng núi để tìm con đường giải thoát cho mình và vạn loại chúng sanh.

          - Bởi vốn có căn lành từ trước nên duyên may đưa đến, Ngài gặp được Đức Phật Thầy Tây An. Sau khi bày tỏ hết lý do, Đức Phật Thầy nhận thấy Ngài rất thành lòng tha thiết và sẵn có sâu duyên cùng Đạo Pháp, nên Phật truyền Đạo ngay cho Ngài. Chỉ có thời gian 6 khắc mà Ngài được thông suốt huyền cơ, đạt thông Đạo Pháp. Đây là lối “mật truyền Cơ Pháp” mới được mau lẹ như thế. Như xưa kia Đức Thích Ca truyền Pháp cho Ngài Ca Diếp và tiếp tục Tổ Tổ tương truyền

          - Kể lại chuyện trên và việc quá khứ, nên Đức Thầy chỉ sơ lược một ít để dành thì giờ Ngài thức tỉnh bá gia về phương thức tu hành nhiều hơn.

 

CHÚ THÍCH

          CÁC ĐÀI: Các là gác; Đài là cái đài cao trông xa được. “Vào các ra đài” là chỉ cho sự sống trong cảnh sang trọng quyền quý.

                    “Ra vào đài các thảnh thơi”. (Cổ thi)

          Đức Thầy cũng nói:

                    “Soi từ đài các xá liều”

                               (Muốn lánh Phồn Hoa)

          DANH LỢI: (Xem chữ Lợi Danh, bài Sứ Mạng đoạn 5)

          ẨN DẬT: Ẩn là lánh mình, giấu kín. Dật là ở ẩn và thong dong, nhàn hạ. Ý chỉ cho người lánh khỏi cuộc đời đua chen danh lợi để tìm ở chỗ yên tịnh, thong thả. Cụ Bạch Vân Cư sĩ Trạng Trình là bậc ẩn dật cuối đời nhà Mạc. Người đời thường nhắc đến Ngài:

                    “Trạng Trình sống gặp thời Lê Mạc,

                      Lìa lợi danh ẩn dật chốn am thanh”.

          LÂM SAN: Cũng viết là Lâm Sơn. Có nghĩa là rừng và núi. Là nơi ẩn dật của người tu hành.

          Đức Thầy có câu:

                    “Muốn lánh phồn hoa lánh thị thành,

                      Tìm nơi non thẳm ngõ mai danh”

                                                  (Muốn lánh Phồn Hoa)

            TU TRÌ: Tu là trau sửa; Trì là gìn giữ. Ý nói người tu hành vừa lo trau sửa thân Tâm, vừa gìn giữ ở ăn đúng theo quy luật Pháp Giáo của Đạo, không hề để sơ suất quấy phạm.

          Đức Thầy cho biết:

                    “Riêng chiếm non bồng một cảnh Tiên,

                      Tu trì Pháp Đạo khác màu Thiền”.

          ĐỨC THẦY BỬU SƠN: Là Đức Phật Thầy Tây An với bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương, tức danh hiệu tông phái của Ngài.

          Đức Phật Thầy quê ở làng Tòng Sơn, thuộc rạch Cái Tàu Thượng. Nay là xã Mỹ An Hưng, tỉnh Sa Đéc (Nam phần VN).

          Ngài sanh vào giờ Ngọ, ngày rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807), niên hiệu Gia Long thứ 8. Ngài chính danh là Đoàn Minh Huyên, Đạo hiệu Giác Linh. Người trong đạo cũng như ngoài đời đều xưng tụng Ngài là Đức Phật Thầy Tây An.

          Sau khi châu du nhiều nơi, Ngài trở về nguyên quán Tòng Sơn (Sa Đéc) năm 1849, đúng lúc nhân dân đang lâm vào cảnh nguy khốn, bởi bịnh dịch tả bạo hành. Đức Phật Thầy dùng huyền diệu trị bịnh cho vạn dân, đồng thời khuyến cáo mọi người nên ý thức thời kỳ Hạ ngươn Mạt pháp để sớm quay về gốc lành Đạo cũ (Phật tánh). Nhờ cảm lòng từ bi đã cứu cho khỏi bịnh hoặc thoát chết và nhờ cách hướng dẫn tu hành giản dị, dễ cảm thông nên nhân dân miền Hậu Giang không mấy lúc quy y thọ giáo với Ngài rất đông đảo.

          Trên đường châu du độ thế của Đức Phật Thầy, từ làng Tòng Sơn (Sa Đéc) Ngài vào Trà Bư (Cái Nai) lên Xẻo Môn và sang Long Kiến (Long Xuyên). Rồi vì một pháp nạn (người ta vu cáo Ngài là gian Đạo sĩ, thu hút một số đông tín đồ chực cơ làm loạn), nên Ngài bị nhà cầm quyền đưa từ Long Kiến về Châu Đốc. Đi đến đâu Phật Thầy cảm hóa người ta đến đó, nên sau cơn thử thách, Ngài được trả tự do và được triều đình vua Tự Đức sắc phong là bậc Chơn Sư Đại Đức.

          Từ đó Ngài ở tại núi Sam lấy chùa Tây An làm nơi thuyết giáo. Thỉnh thoảng Ngài cũng vào Láng Linh và đến Thới Sơn mở cơ phổ hóa. Không bao lâu, tín đồ của Ngài rải rác có mặt khắp miền tây Nam phần Việt Nam. Còn có số người ở các tỉnh miền Đông nghe danh đều cảm đức cũng tìm đến quy y hành Đạo.

          Đức Phật Thầy chính thức lấy tên cho tông phái mình là Bửu Sơn Kỳ Hương và cấp cho mỗi tín đồ một lồng phái có triện son, mang bốn chữ báu linh ấy. Một bài thơ khoán thủ của Ngài có bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”, được truyền tụng mãi đến ngày nay, với sự ẩn ý sâu xa có thể đọc theo chiều dọc, chiều ngang (tung hoành đọc) đều có nghĩa.

          Đây là đọc ngang bài “Tứ Bửu Linh Tự”:

          Bửu Ngọc Minh Quân Thiên Việt Nguyên,

          Sơn Trung Sư Mạng Địa Nam Tiền,

          Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc,

          Hương Xuất Trình Sanh Tạo Nghiệp Yên”.

          Và đây là đọc theo chiều dọc:

                    “Bửu Sơn Kỳ Hương,

                      Ngọc Trung Niên Xuất.

                      Quân Sư Trạng Trình,

                      Minh Mạng Tái Sanh.

                      Thiên Địa Tân Tạo,

                      Việt Nam Phục Nghiệp,

                      Nguyên Tiền Quốc Yên”.

          Bài thơ có nhiều cao từ ẩn ngữ, cần phải dùng lối chiết tự đảo cú mới khám phá hết nổi ý nghĩa huyền thâm. Riêng về bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” là danh từ

ghép vừa dùng đặt tên cho tông phái, vừa ý thức cho mọi  người, một kỷ nguyên mới trong Phật Giáo với dụng ý là, do núi báu ấy (Bửu Sơn) mà sau nầy non sông sẽ rực rỡ. Còn Kỳ Hương là mùi thơm lạ sẽ bay khắp mười phương, mở một thời kỳ Long Hoa Đại Hội.

          Về giáo lý hành Đạo thì Ngài dạy tín đồ hành đúng theo tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” một đường hướng và phương pháp tu hành vừa giản dị, vừa dễ chứng đắc, bởi rất thích hợp với căn cơ trình độ và hoàn cảnh của nhân dân hiện đại.

          Suốt thời gian 7 năm hoằng Đạo, từ năm 1849 đến 1856, Ngài độ được hằng vạn tín đồ. Trong đó có nhiều đại đệ tử gọi là “Thập Nhị Hiền Thủ” được coi như là bậc đã chứng ngộ chân truyền, tiếp tục giáo hóa quần sanh.(Gồm có những ông:
1/- Cử Đa, Đạo hiệu Ngọc Thanh.
2/- Thượng Đẳng Đại thần Nguyễn Trung Trực.
3/- Cố Quản Trần Văn Thành.
4/- Ông Đạo Xuyến.
5/- Ông Đạo Lập.
6/- Ông Tăng Chủ.
7/- Ông Đình Tây.
8/- Ông Đạo Ngoạn.
9/- Ông Đạo Thắng.
10/- Ông Đạo Sĩ.
11/- Ông Đạo Chợ.
12/- Ông Trần Văn Nhu.)

            Đức Phật Thầy tịch vào giờ Ngọ, ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856) tại Tây An Tự núi Sam, hiện giờ phần mộ Ngài còn tại đây, có dựng một tấm bia khắc như vầy:

          “Ngươn sanh Đinh Mão niên, thập ngoạt thập ngũ nhựt, ngọ thời chú sanh.

          Tự Lâm Tế gia chư thiên phổ Tam thập bát thế, thượng Pháp hạ Tạng, Tánh Đoàn Pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh chi miễn tộc.

          Tịch ư Bính Thìn niên, bát ngoạt thập nhị nhựt, ngọ thời thị tịch diệt!”.

          NGUỒN CƠN: Đầu đuôi gốc ngọn, kể hết lý do và chi tiết của sự việc.

“Miếng trầu tỏ hết nguồn cơn,

Muốn xem đây đó thiệt hơn thế nào”.(Cổ đức)

            THIỀNG: Cũng đọc là thành. Có nghĩa thành lòng tha thiết chơn thật. Chữ quá thiềng là rất thành lòng, tha thiết chơn thật.

          SÁU KHẮC: Có hai cách giải:

          1.- Theo Tây phương: Một ngày có 24 giờ gọi là một Thời. Mỗi giờ có 60 phút. Cứ 15 phút là một khắc. Vậy mỗi khắc là ¼ của một giờ, thì 6 khắc gồm có Một giờ rưởi.

          2.- Theo Đông phương: Sáu khắc là tính 6 giờ của ta thời xưa. Theo cách tính giờ từ xưa thì nửa đêm bắt đầu từ giờ Tý đến giờ Hợi, cứ mỗi ngày đêm có 12 giờ theo 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Do đó, cứ ban ngày từ sáng tới tối có 6 khắc.

          Ca dao có câu: “Ngày sáu khắc tin mong bạn vắng”.

          Cửu khúc của ông Ba Thới cũng nói:

                  “Đêm năm canh thổn thức chẳng yên,

                    Ngày sáu khắc sầu riêng đoạn đoạn!”

          CHƠN TU: Cũng gọi là chân tu. Có nghĩa người tu hành chân chánh. “Nói chuyện chơn tu”, là Đức Thầy khuyên dạy vạn dân về phương pháp tu hành trở thành người chơn chánh.

                                                                                       CHÁNH VĂN
                    45. “Dương-trần kẻ trí người ngu,
          Ham võng ham dù danh-lợi xuê-xang.
                    Cờ đà đến nước bất an,
          48. Chẳng lo tu niệm tham gian làm gì.
                    Phật, Trời thương kẻ nhu-mì, 
          Trọng cha, yêu Chúa kính vì Tổ-Tông.
                    Ngồi buồn nói chuyện bông-lông,
            Khắp trong trần-hạ máu hồng nhuộm rơi.
                    Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
          54. Dậu Phật ra đời thế-giới bình-yên”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 45 đến 54)

          - Đoạn giảng trên ý nói con người sống trong cõi trần, bất luận giàu nghèo hay già trẻ trí ngu, ai cũng đồng một bịnh là ham muốn tài sắc cho nhiều, tước quyền cho lớn, để mặc tình ăn sang mặc sướng, đài các xa hoa. Họ mãi chạy theo tiếng gọi của lòng tham mà gây nên thảm cảnh chiến tranh giành xé, máu đổ thịt rơi:

“Rằng bên thế giới Ta Bà,

Chúng sanh tàn sát cũng là vì tham”.

                                            (Đi Khuyến nông về)

          - Đức Thầy kêu gọi hạng người ấy sớm diệt lòng tham gian để tỉnh ngộ tu hành, thiệt thi điều Hiếu Trung đạo nghĩa, tất được Phật Trời ban bố đức ân, thoát khỏi cảnh đói đau binh lửa. Và Ngài cũng tiên tri cho bá tánh biết định kỳ thái bình an lạc.

                                            CHÚ THÍCH

          DƯƠNG TRẦN: Cũng gọi là dương thế hay dương gian, tức chỉ cõi đời nhân loại đang ở, đầy cát bụi đau khổ.

          HAM VÕNG HAM DÙ: Võng là dùng các loại dây thắt lại như lưới, hay bằng vải túm hai đầu để đưa

cho mát, hoặc nằm cho người khiêng đi. Đây là lối đi sang cả của hạng quan quyền hay các nhà giàu có thời xưa, ví dụ nghi vệ của quan đi:

“Người võng lọng, kẻ đai cân”.

          Và:

“Nghi vệ đóng hai bên đường,

              Kiệu anh đi trước, võng nàng đi sau”. (Ca dao)

            Dù là một thứ lọng nhỏ, lợp bằng vải hoặc bằng lụa, người ta dùng để che đầu cho khỏi mưa nắng. Nghĩa bóng là chưng dọn se sua.

          Vậy câu “Ham võng ham dù” là chỉ cho số người ham đua chen theo danh lợi giàu sang lên xe xuống ngựa, ăn xài xa hoa phung phí.

          Một đoạn giảng khác, Đức Thầy cảnh tỉnh:

“Thương ai ham võng ham dù,

Cũng như những kẻ đui mù đi đêm”.

                                        (Sấm Giảng Q.1)

         

         CỜ ĐÀ ĐẾN NƯỚC BẤT AN: Đức Thầy lấy bàn cờ tướng để dẫn dụ cho thời cuộc hiện tại. Bàn cờ sắp thua nguy kịch lắm, chỉ còn một vài nước tướng nữa bị thua. Ý nói nhà cầm quyền Pháp sắp mất, đời sẽ xảy ra cuộc chiến tranh hỗn loạn, không còn được yên ổn như trước, sao bá tánh chẳng sớm tách rời lợi danh để lo tu hành?

          Đức Thầy giục thúc mọi người:

                    “Cờ đã thất còn chờ nước chiếu,

                      Mà còn ăn con chốt làm chi.

                      Ai là người Quân tử tu mi,

                      Phải sớm xử thân mình cho vẹn”.

                                                  (Sấm Giảng Q.1)

          THAM GIAN: Tham lam gian xảo, tức là lòng ham muốn lợi danh, quyền thế và tài sắc thật nhiều về cho mình. Người ta mưu tính mọi cách gian tà xảo quyệt để thỏa mãn lòng ham muốn, chẳng kể liêm sỉ, tội phước là gì.

“Tham danh, tham sắc, tham giàu,

Đừng ham gánh nặng mà đau xương sườn”.(Ca dao)

          Cho nên Đức Thầy thường cảnh tỉnh:

“Biết sao đầy được túi tham,

Không ngăn, không đáy càng làm không kiêng”.

                                        (Kệ Dân, Q.2)

          NHU MÌ: Mềm lòng chín chắn.

“Tu là tâm trí nhu mì,

Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong”.

                                        (Sấm Giảng Q.3)

          KÍNH VÌ: Kính trọng nể vì, ví dụ ăn ở biết kính vì ông bà, cô bác.v.v…

          TỔ TÔNG: Tổ là ông bà, Tông là dòng họ. Có hai nghĩa:

          1.- Những người sanh ra cha mẹ mình, tức là Ông bà Nội, Ngoại cùng một họ.

          2.- Tông cũng gọi là Tổ tiên. Chỉ cho những người khai lập đất nước và gây dựng dòng giống dân tộc.

          Ca dao có câu:

“Khen ai khéo tiện ngù cờ,

Khéo xây bàn án, khéo thờ Tổ Tông”.

          MÁU HỒNG NHUỘM RƠI: Chỉ cho sự chiến tranh chết chóc ghê gớm, máu rơi đầy nội.

“Hung đồ với lũ dọc ngang,

Đến sau rơi máu khắp tràn mới tu”.

          BÔNG LÔNG: Bâng quơ, trổng. Cách nói không đâu, không chỉ rõ ai, nhưng ai nghe đến việc mình thì hiểu.

          THẢNH THƠI: Thung dung nhàn hạ. Hết tai nạn khổ sở.

                             “Gió quang mây tạnh thảnh thơi”.(Truyện Kiều)

                                     CHÁNH VĂN
                    55.“Điên này Điên của Thần-Tiên,
             Ở trên Non Núi xuống miền Lục-Châu.
                    Đời còn chẳng có bao lâu,
             58. Rán lo tu-niệm đặng chầu Phật-Tiên.
                    Thế-gian ít kẻ làm hiền,
             Nhiều người tàn-bạo làm phiền Hoá-Công.
                    Thế-gian chuyện có nói không,
            62. Đến hội Mây-Rồng thân chẳng toàn thây.
                    Việc đời đến lúc cấn gay,
             Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
                  Dương-trần tội ác liên miên,
             66. Sau xuống huỳnh-tuyền Địa-ngục khó ra.”

                             LƯỢC GIẢI (Từ câu 55 đến câu 66)

          - Tuy Đức Thầy xưng hiệu là Điên, nhưng Ngài cũng cho bá tánh hiểu, từ cõi siêu thoát Tiên Phật, Ngài giáng trần khai Đạo tại miền Nam nước Việt để báo tin cho vạn dân biết rằng cơ tận diệt hầu kề hãy rán lo tu thân lập hạnh, tưởng niệm Phật Trời thì sau nầy được kiến diện Phật Tiên. Thế mà không mấy ai thi thố việc lành, mãi lo gây tạo điều hung ác, hơn thua giành giựt lẫn nhau, lại còn lắm lời huyễn hoặc châm biếm người hiền, e cho đến ngày lập hội khó bảo tồn thân mạng. Bởi luật Trời đã quy định:

                          “Xử những kẻ hung hăng tồi tệ,

                      Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn”.

                                                  (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          - Nếu ai mải mê đuổi theo con đường danh lợi gây nên nghiệp ác, thì chẳng những bị quả đau sầu tại thế gian, “Xử người tàn bạo vậy mà tại đây”(Sấm Giảng Q.1), mà khi mạng chung còn phải tiếp tục chịu sự hành phạt triền miên nơi cảnh Địa ngục khó thoát khỏi ra được.

                                          CHÚ THÍCH

          LỤC CHÂU: Sáu châu nằm trong sáu trấn, cũng gọi Lục tỉnh ở miền Nam Việt Nam (Nam kỳ) vào thời nhà Nguyễn, Vua Gia Long chia làm sáu trấn: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Long Hồ, An Giang và Hà Tiên. Đến năm Tân Mão (1831) vua Minh Mạng đổi sáu trấn ra sáu tỉnh, tức là sáu châu (tên tỉnh cũng y như trên). Đến thời kỳ Pháp thuộc 6 tỉnh nầy chia ra 20 tỉnh, rồi 21 tỉnh, tức tỉnh Vũng Tàu, trước đó thuộc tỉnh Bà Rịa. Danh từ (dạo Lục Châu), Đức Thầy có đề cập nhiều lần trong Sấm Giảng Thi Văn của Ngài:

                    “Thoàn nhỏ ly gia vị tất nan,

                      Bửu sanh du lịch Lục Châu giang.

                      Kim Sơn thương mãi toàn lê thứ,

                      Thức tỉnh bá gia giấc mộng tràng”.

                                        (Bài cho Đức Ông mất ghe)

          PHẬT TIÊN: (Xem Chú thích đoạn 7 Bài Sứ Mạng).

          THẾ GIAN: Khoảng đời, cõi đời. Mọi sự việc trong thế gian vạn vật cùng chung sống. Ý chí bao quát cả gầm trời.

          Ca dao có câu:

“Thế gian lắm kẻ mơ màng,

Thấy hòn son thắm ngỡ vàng Trời cho”.

          HÓA CÔNG: Thợ Trời. Cũng gọi là Tạo Hóa hay Tạo Công. Người xưa cho Hóa công là Đấng thiêng liêng, là ông thợ tạo ra vạn vật trong vũ trụ, và định số mạng cho muôn loài. Cho nên mọi việc xảy ra quá với sức lực, ý nghĩ hoặc không vừa lòng thì người ta đổ thừa Tạo hóa, hoặc khen, hoặc hờn trách đủ điều, như câu:

                                 “Phụ phàng chi bấy hóa công”. (Truyện Kiều)

            Theo nhà Phật, tạo hóa là luật công bằng của nhân và quả, như Đức Thầy đã bảo:

“Hóa công chí thiện cầm cân,

Công bình thưởng phạt thứ dân nào tường”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          CHUYỆN CÓ NÓI KHÔNG: Nghĩa của chữ Vọng ngữ, một trong bốn điều ác của khẩu nghiệp. Người đời không thận trọng lời nói thường hay phạm Vọng ngữ.

         Điều ác nầy, Đức Thầy có giải: “Thêm thừa, huyễn hoặc, có nói không, không nói có, Ác Vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại”. (Quyển 6 – Ác Vọng ngữ).

          Cổ nhân từng dạy: “Nhất ngôn bất trúng, Vạn sự bất thành”. (Một lời nói chẳng đúng, thì muôn lời muôn sự khác đều chẳng thành cả).

          Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,

                      Mà ăn ở nói năng chơn chất”.

                                                 (Khuyến Thiện, Q.5)

          HỘI MÂY RỒNG: Nghĩa của chữ Long Vân hội. Do câu “Vân Khỉ (khởi) Long Đăng” (mây nổi thì rồng bay lên). Nghĩa bóng có hai ý:

          1.- Chỉ cho người thi cử đỗ đạt:

                         “Mong con gặp hội rồng mây với người”.(Cổ thi)

          2.- Chỉ cho điều may mắn vui vẻ như Tôi Chúa gặp nhau. Cổ nhân bảo:
                           “Trời sanh Trời chẳng phụ nào,
                        Long vân gặp hội anh hào ra tay”.

          Đức Thầy kêu gọi mọi người sớm lo xử trọn luân lý Tứ Ân thì:

                         “Long Vân đến hội lầu son dựa kề”

                                                  (Sấm Giảng Q.3)

          Ắt gặp được nhiều may mắn. Bằng trái lại, khi đến hội ấy phải chịu thảm khổ. Như Ngài từng thốt:

                    “Lời xưa di tích rõ việc nầy,

                      Ai muốn mắt phàm gặp Rồng Mây,

                      Hãy rán nghe lời ta mách trước,

                      Không gìn Đạo Đức phải phơi thây”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          CẤN GAY: Cũng đọc là gay cấn. Cấn là nghẹt thở, không thông, không êm; Gay là gay gắt, trở nên khó khăn. Cấn gay là ví như hai đàng gây chuyện ăn thua với nhau, đến lúc hết sức gay cấn.

          Vậy câu “Việc đời đến lúc cấn gay” là ý nói cảnh đời đến hồi quá khó khăn gay gắt, gần như nghẹt thở, khó giải quyết cho xuyên suốt được.

          LIÊN MIÊN: Liền liền không dứt. Đây ý nói người đời gây tội ác nầy đến tội ác khác, không sao kể xiết.

          HUỲNH TUYỀN: Suối vàng. Tục truyền rằng dưới Âm phủ có 9 suối vàng, nên cũng gọi là Cửu tuyền hay Chín suối. Do đó, xưa nay người ta dùng chữ Suối Vàng để chỉ chỗ Âm ty, người có tội chết rồi phải xuống đó.

          Truyện Kiều có câu:

“Gọi là gặp gỡ giữa đàng,

Họa là người dưới suối vàng biết cho”.

          Đức Thầy từng bảo:

                                    “Ở dương thế tạo nhiều cảnh khổ,

                               Xuống Huỳnh Tuyền địa ngục khảo hình”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          ĐỊA NGỤC: Phạn ngữ Niraya (Scr). Naraka (Phạn ngữ) phiên âm có nhiều tên: Nê Lê Giả, Naraca, Na lạc ca, dịch là Địa ngục. Nghĩa là chỗ giam cầm và trừng phạt những linh hồn của người phạm tội lúc ở thế gian. Chữ Địa ngục có nhiều nghĩa:

          1.- Bất Lạc, Bất Khổ lạc: Ấy là nơi chẳng vui, chẳng có thể vui được.

          2.- Bất khả cứu tế: Không thể cứu cho thoát khỏi liền được, vì cảm ứng các việc đã làm.

          3.- Âm minh: Nơi tối tăm, chúng sanh ở cảnh ấy không hề biết được Đạo lý, Chánh pháp.

          4.- Địa ngục: Cảnh ngục thất, cảnh hành phạt ở dưới đất.

          Địa ngục là một trong 6 đường luân hồi (Lục đạo Luân hồi) và cũng một cảnh trong Lục thú. Địa ngục là nơi có đủ thứ khổ đau, vị trí của nó hoặc ở dưới đất hoặc ở kẹt núi, hoặc ở theo sông rạch, hoặc ở theo biển cả hay đồng nội. Những người nào sống ở dương gian phạm các trọng tội như Ngũ nghịch hay Thập ác khi chết phải đọa Địa ngục. Đức Thầy có cho biết:

                    “Mê muội ác hung về Địa ngục,

                    Hiền lành nhắm mắt thấy non Tiên”.

                                                  (Hai mươi tháng Chạp)

          Trong Địa Tạng Kinh có chép:

          “Những cảnh Địa Ngục đều ở trong núi Thiết Vi (núi bao bọc toàn bằng vách sắt). Địa ngục lớn có 18 sở, thứ nữa có 500, thứ nữa có trăm ngàn vô số tên gọi đều khác nhau. Còn Địa ngục Vô gián thì ghê hơn hết, chung quanh là 18 vạn dặm, thành bằng sắt cao 10 vạn dặm, trên mặt thành lửa cháy khắp cả, không phút nào ngưng…”

CHÁNH VĂN

  67. “Điên này nói việc gần xa,
     Đặng cho lê-thứ biết mà lo tu.
       Tu cho qua cửa Diêm-phù,
            70. Khỏi sa Địa-ngục ngao du Thiên-đài.
                    Đường đời chẳng có bao dai, 
             72. Nên viết một bài cho bá-tánh coi”.

 

LƯỢC GIẢI

                                              (Từ câu 67 đến câu 72)

          - Bởi chúng sanh không nhận được cảnh đời là giả tạm, đầy sự buộc ràng đau khổ, nên Đức Thầy giảng dạy đủ lời, từ việc gần trong nước đến việc xa cả thế giới, từ cuộc đời đau khổ hiện tại, đến cảnh xán lạn ở tương lai để bá tánh tỉnh ngộ tu hành.

          - Đã phát tâm hành đạo thì ta phải tu cho đạt đến mức cứu cánh giải thoát, tức là phải hành đạo sao cho:

“Tội tiêu phước hưởng trường tồn,

Không còn mắc nẻo dại khôn luân hồi”.

                                        (Khuyến Thiện Q.5)

          Để cùng hưởng cảnh:

“Tiêu diêu đạo đức luận bàn,

Vân du võ trụ thanh nhàn biết bao”.

                                                            (Hoài Cổ)

          Và Đức Thầy cũng không ngần ngại cho mọi người biết trước, cuộc đời sắp đến ngày tàn cỗi, khuyên bá tánh nên thường xem coi Sấm Giảng của Ngài, hầu tiến thẳng trên đường Đạo đức.

                                             CHÚ THÍCH

          DIÊM PHÙ: Cũng gọi là Diêm Phù Đề (Phạn ngữ: Sambudvipa). Một trong 4 châu thiên hạ ở thế giới Ta Bà, thuộc về phía Nam núi Tu Di, cũng gọi là Nam Thiệm bộ châu, tức là trái đất chúng ta đang ở mà cõi Thiên Trước choán một phần rộng lớn.

          Sở dĩ có tên Diêm Phù Đề là vì cõi nầy có cây Linh tên Diêm Phù (Jambuds). Dưới bóng cây ấy có một lần Thái tử Sĩ Đạt Ta ngồi tham thiền tại đây nhằm lúc dân Ấn Độ làm lễ Hạ điền (bắt đầu cày ruộng). Cho nên người ta cũng gọi là Thiên Trước (Ấn Độ) là Diêm Phù Đề. Ở cõi nầy có dãy núi Hy Mã Lạp Sơn là cao hơn hết (1.840m).

          Theo các Kinh nói:“Cõi Diêm Phù Đề bề vòng là 30.000 do tuần, hình phân nửa mặt trăng. Dân sống đến 100 tuổi là cùng và phải làm cực khổ mới có đủ phương tiện: ăn, mặc, ở. Ngoài ra còn phải chịu muôn ngàn khổ lụy, kể chẳng xiết”.

          Thế nên Đức Thầy khuyên chúng sanh, rán tu làm sao cho vượt khỏi cảnh nầy, tức là giải thoát về Niết Bàn, Cực lạc. Như Ngài từng kêu gọi:

“Muốn cho rắn đặng hóa cù,

Xả thân làm phước Diêm Phù vượt qua”.

                    (Khuyên người giàu lòng Phước Thiện)

          NGAO DU: (Xem Chú thích Bài Sứ Mạng đoạn 3)

          THIÊN ĐÀI: Đài ở trên Trời, nơi chư Tiên ngự. Chỉ cho cõi siêu thoát, Thiên đường hay Cực lạc.

          CHẲNG CÓ BAO DAI: Chẳng còn bao lâu nữa, việc gần lắm.

CHÁNH VĂN

 73. “Tuồng đời như pháo châm ngòi,
     Bá-gia yên lặng mà coi Khùng này.
   Khùng thời ba Tớ một Thầy,
       76. Giảng dạy dẫy-đầy rõ việc Thiên-cơ.
 Điên đây còn dại còn khờ,
      78. Yên-lặng như tờ coi chúng làm sao”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 73 đến câu 78)

          - Đoạn trên ý nói cuộc đời diễn tiến như một vở kịch, tất cả đều đi theo định luật bi, hoan, ly, hiệp mà nay sắp đến hồi tan vỡ. Đức Thầy khuyên bá tánh hãy bình tâm mà xem cuộc cứu thế trợ dân của Ngài ra sao ?

          - Trên bước đường châu du độ thế, Đức Giáo Chủ và ba ông Tớ (đệ tử) vừa báo tin cho người đời biết rõ cơ mầu nhiệm của Trời đất và vừa giảng dạy Đạo lý, thức tỉnh vạn dân sớm cải ác tùng thiện quy y Phật pháp.         

          - Sở dĩ Đức Thầy giả dạng Điên Khùng khờ dại là ý muốn cảnh giác những người thường cho mình là khôn lanh và số giả tu hay xưng hô lớn lối, lừa bịp dân quê “Chớ không ra sức giúp đời điều chi”.(Sấm Giảng Q.3) Còn đối với Ngài tuy mượn hiệu Điên Khùng nhưng:

                    “Khùng toán biết âm dương kết liễu,

                    Khùng huyền cơ Khùng Đạo Thích ca”.

                                        (Diệu pháp Quang Minh)

 Và:

                    “Điên như ta Điên giống Tiên Rồng,

                      Điên gỡ ách xích xiềng thế tục”.

                                        (Diệu pháp Quang Minh)

 

CHÚ THÍCH

          TUỒNG ĐỜI: Tuồng là lối hát có cốt chuyện, có mạch lạc từ đầu tới cuối “vở tuồng”. Đời là cả thế gian.  Ý nói mọi cảnh trạng ở thế gian đều có màn lớp và thay đổi mau lẹ như một tuồng hát trên sân khấu.

          PHÁO CHÂM NGÒI: Người ta vấn pháo có chừa cái ngòi trên đầu cây pháo, trong ruột ngòi có thuốc pháo, nên khi dùng lửa châm vào đầu ngòi thì pháo sẽ nổ.

          Vậy câu “Tuồng đời như pháo châm ngòi” là ý cho biết còn chẳng mấy ngày nữa thì trận Đệ nhị Thế chiến bùng nổ, dân ta cũng bị ảnh hưởng cảnh khổ ấy dẫn đến ngày hôm nay.

         KHÙNG THỜI BA TỚ MỘT THẦY: Vấn đề một Thầy ba Tớ rất khó hiểu cho chính xác nên mấy lúc nay chúng tôi rất dè dặt ít khi bàn. Bởi lẽ nhìn vào mặt thực thể thì có một Đức Huỳnh Giáo Chủ, nhưng nghiên cứu toàn bộ sấm kinh của Ngài thì thấy có nhiều danh hiệu, và có cả một ông Thầy cùng ba ông Tớ đồng sáng tác Sấm kinh và giáo hóa nhân sanh. Những danh hiệu nói trên Đức Thầy chỉ cho biết các tiền kiếp và phần chơn linh mà thôi. Thế mà mấy lúc nay có nhiều tín hữu không nghiên cứu kỹ, cứ nóng lòng đi tìm tòi thể xác của ba ông Tớ nên có nhiều người bị lầm lạc đáng tiếc, bởi số người giả tu mạo nhận.

          Vậy tiền kiếp và các danh hiệu một Thầy ba Tớ như thế nào?

          MỘT THẦY: Ông Thầy tức ông xưng danh hiệu là Khùng. Trong bài Dặn dò Bổn đạo, Đức Thầy có xác nhận:“Thầy Khùng trò lại hóa Điên”. Và trong Kệ Dân Q.2:

                    “Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,

                      Chớ chẳng phải của người lãng trí”.

          Vậy ông Khùng trước kia là ai ? Tức là Đức Phật Thầy Tây An, bởi căn cứ vào câu giảng:“Khùng thời quê ngụ núi Sam”(Sấm Giảng Q.1) và “Lời của người di tịch núi Sam”. (Sấm Giảng Q.2)

          Theo sử liệu, lúc Đức Phật Thầy Tây An được nhà cầm quyền Châu Đốc trả tự do thì Ngài vào chùa Tây An tại núi Sam làm nơi thuyết giáo và sau Ngài cũng viên tịch tại đó.

         Thêm bằng chứng nữa, Đức Phật Thầy khi xưa có mật truyền cho ông Đạo Thắng (Nội tổ của ông Bảy Còn) một bài thi khoán thủ bát cú, mỗi câu có hai chữ:

          “Đạt Đạo Ngao Du Châu Vi Viễn Cận”.

          (Nếu viết ra chữ Hán thì 8 chữ đầu đều thuộc bộ Xước).

          Ngài dặn: “Nếu sau nầy người nào viết được bài thi y như vậy là Ngài tái sanh trở lại”.

          Trước khi tịch, ông Đạo Thắng có truyền lại cho ông Bảy Còn. Khi Đức Thầy khai Đạo, ông Bảy từ xã Long Kiến lên thăm, Đức Thầy liền viết bài thơ ấy ngay trước mặt ông Bảy không sai một chữ.

          Lại nữa, Đức Phật Thầy Tây An có lời tiên tri rằng:

“Chừng nào gốc mục lên chồi,

Ta vưng sắc lịnh tái hồi trần gian”.

          Đến năm 1939, Đức Thầy ra đời thì nơi gốc dầu mục trước cửa chùa Tây An Cổ tự xã Long Kiến có mọc lên một cái chồi dầu nhỏ cao 7 tấc, ứng nghiệm vào lời tiên tri nói trên.

          Việc tái hồi trần gian, trong bài “Diệu pháp Quang Minh” Đức Thầy đã nói:

                                   “Cặp mắt Thánh dòm xem tứ hải,

                                 Thương hồng trần mượn xác tái sanh”.

          Và trong bài giảng khác Ngài cho biết:
                                     “Bàn tay lật ngữa vậy mà,

Chớ đừng lật sấp vì Thầy tái sanh”.

                              (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

         Qua những sự kiện kể trên, chúng ta không ngần ngại nhìn nhận ông Thầy với danh hiệu Khùng là Đức Phật Thầy Tây An.

          BA TỚ: Là ba đệ tử theo sát bên Đức Thầy trợ trưởng công việc giác chúng độ đời, nhưng các Ngài chỉ dùng hóa thân ứng hiện, chớ trên thực tế là chỉ thấy có một Đức Thầy mà thôi. Vậy ba ông Tớ đó là ai?

          1.- Ông Tớ thứ nhứt xưng danh hiệu là Điên, như Ngài từng cho biết:

“Cơ Trời thế cuộc đổi xây,

Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm gian”.

                                                  (Sấm Giảng Q.1)

          Hoặc là:

          “Đến trung tuần tháng tám ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Điên…”(Bài Sứ Mạng). Ông Điên cũng có hiệu là Ngọc Thanh mà Ngọc Thanh là đạo hiệu của ông Cử Đa. Muốn xác minh điều nầy cần phải hiểu qua cuộc đời tầm sư học Đạo của ông Cử.

          Ông tên thật là Nguyễn Đa, quê ở làng Phù Cát, huyện Bình Khê, tỉnh Qui Nhơn, vì thi đỗ Cử Nhân (Võ Cử) nên người đời gọi ông là Cử Đa. Từ khi ông Cử thi đỗ thì cánh chim bằng không ngớt tung bay đây đó để mưu cuộc hộ quốc tỳ dân, khi Ngài đến phiá Bắc miền Trung, khi thì vào Thuộc Nhiêu miền Nam, nhưng đi đến đâu ông cũng gặp nhiều trở ngại. Sau rốt bước chân giang hồ của ông mới dừng lại tại miền Thất Sơn. Khi ông đến đây chính là lúc ông Nguyễn Trung Trực thất trận ở miền Đông lui về ẩn náu tại Hòn Chông, (Kiên Giang, 1862-1866). Ông Cử nhận thấy nước nhà gặp hồi đen tối, không còn cách nào hơn là tìm nơi ẩn danh tu tỉnh.

          Trong giảng Tà Lơn, Ông đã thốt:

“Hiếu trung hai chữ phượng thờ,

Lâm tòng dưỡng tánh đặng nhờ tấm thân”.

          Khắp các ngọn núi trong vùng Thất sơn đều có dấu chơn của ông lui tới. Cuộc đời tu tỉnh của ông gặp nhiều gian truân khổ hải, bởi quân Pháp theo dõi, khủng bố đủ cách, ông phải thoạt đó, thoạt đây ẩn tránh.

          Sau rốt, ông Cử từ Phú Quốc vượt biển về Giang Thành rồi lên núi Tà Lơn. Ở đây, ông được Minh Sư (chơn linh Đức Phật Thầy) cơ truyền Phật pháp và đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh. Trong giảng Tà Lơn, ông Cử đã nói rõ:

“Hắc y đổi lại Cà Sa,

Cải tên đặt lại hiệu là Ngọc Thanh”.

          Trong Sấm Giảng Q.3, Đức Thầy đã viết:

“Phong trần tâm đã rời ra,

Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh”.

          Thêm một bằng chứng là Đức Thầy đi núi Tà Lơn, Ngài có dắt ông Biện Đài theo. Ông tò mò xem cách thờ phượng nơi đây, đều đúng nghi thức của Đức Phật Thầy dạy mỗi bàn chỉ thờ bức trần điều (đỏ) chớ không có tượng cốt gì hết. Và trong câu chuyện đàm thoại, Đức Thầy có trả lời với ông lão ấy rằng: “Đường nầy tôi đã có đi rồi trong tiền kiếp”.

          2.- Ông Tớ thứ hai là Quan Thượng Đẳng Đại Thần Nguyễn Trung Trực.

         Ông Nguyễn Trung Trực sau khi vị quốc vong thân tại Rạch Giá ngày 28/8 Mậu Thìn (21-10-1868), Ông được vua Tự Đức truy phong là Thượng Đẳng Đại Thần và đền thờ Ngài tại Vĩnh Thanh Vân tỉnh lỵ Kiên Giang (Rạch Giá).

          Bởi Nguyễn Trung Trực trung hiếu lưỡng toàn nên sau khi bỏ xác, chơn linh ông được hiển Thánh và theo sát chân Đức Phật Thầy (trường hợp nầy giống như Quan Công Hầu, sau khi hiển thánh ông đến suối Ngọc Tuyền quy y với Trí Giả Thiền sư, sau chứng Đạo là Già Lam Quan Đế).

          Trong hai bài thơ có đề cập đến Quan Thượng Đẳng Đại Thần do Đức Huỳnh Giáo Chủ sáng tác năm Canh Thìn với tựa đề là “Lý lịch”:

                    Thượng thẩm Đạo mầu nẻo cao sâu,

                      Đẳng đẳng hãy làm chớ để lâu,

                      Đại pháp Vô vi là chơn lý,

                      Thần làm trọn vẹn chớ lo âu.

                      Huỳnh Long tự thế gần sanh chúng,

                      Bổn tánh Hòa thôn Hảo dĩ đầu,

                      Tiên cảnh thoát ly truyền bá kỷ,

                      Năng tầm Phật lý rạch từ câu”.

          Thẩm xét hai bài thi trên chúng ta thấy hàm dung bao ý nghĩa chứng minh rằng ông Nguyễn Trung Trực theo Đức Phật Thầy chuyển kiếp lại độ đời, nhứt là bốn

chữ khoán thủ “Thượng Đẳng Đại Thần”, bài thi dưới chỉ danh tánh và nơi Ngài trở lại.

          Thêm nữa, trong bài Đức Thầy cho ông Hương chủ Bó ở Hòa Hảo có ẩn danh từ Trung Trực: “Trung Trực phò nguy đãi lịnh thiên”. Để nhấn mạnh ý đó thêm hai câu trong bài thơ kế tiếp:

                    “Nhìn xem hiệu Lão trong thơ ấy,

                      Tứ cú Nho gia đã cạn bày”.

          Và trong bài nguyện Quy Y có đoạn: Nam mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, Chư Quan Cựu Thần…”.

          Nhận xét những yếu điểm kể trên chúng ta không còn chi ngờ vực mà phải nhìn nhận Quan Thượng đẳng Đại thần Nguyễn Trung Trực là một trong ba ông Tớ cùng theo sát bên Đức Thầy độ chúng.

          3.- Về ông Tớ thứ ba chúng tôi chưa tìm ra tài liệu lịch sử nên chưa tiện viết ở đây.

          Có điều chúng tôi xin nhắc lại, một Thầy ba Tớ lúc bấy giờ chưa thể hiện thân xác, chỉ có ông Thầy là Đức Huỳnh Giáo Chủ mà thôi. Vậy chúng ta không nên tìm tòi ba ông Tớ bằng thể xác khác mà bị người ta gạt gẫm. Cứ lo tu hành đúng theo tôn chỉ của Đức Thầy rồi đến Hội Long Vân sẽ biết rõ tất cả như Ngài đã cho biết:

“Đến chừng gặp Hội Rồng Mây,

Người đời mới biết Điên nầy là ai”.
                                        (Sấm Giảng Q.1)

          Cũng như Đức Thích Ca còn trụ thế, trong hàng đệ tử chưa biết ai là được kế truyền Chánh pháp, mặc dù đã có nhiều vị đắc lục thông. Khi đến Linh Sơn hội, Đức Phật truyền tâm ấn cho Ngài Ca Diếp, bấy giờ toàn thể mới biết Ngài Ca Diếp là vị Tổ thứ nhứt.

CHÁNH VĂN
 79. “Bá-gia kẻ thấp người cao,

          Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
   Bây giờ giả dại giả ngu,
          82. Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.
        Lúc này kẻ ghét người ưa,
           Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
            Dương-trần biếm nhẻ gần xa,
          86. Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm”.

LƯỢC GIẢI (Từ câu 79 đến câu 86)

          - Nhân loại trong thế gian vì mãi đắm say vật dục, nên ít ai nghĩ đến việc tu hành. Đợi khi gặp cảnh chết chóc, khổ đau mới chịu quay đầu hướng thiện. Đó là tâm lý chung của những người thiếu duyên kém phước.

          - Bởi gặp hồi vận bỉ, kẻ tà nịnh đặng thời họ dùng đủ mưu gian ác ám hại trung lương, khiến Nhơn Quý khi xưa phải lâm nạn. Đức Thầy hiện nay cũng thế, vì chưa đến lúc hanh thông, công cuộc cứu đời của Ngài không mấy thuận tiện, nên còn kẻ ghét người ưa. Nhưng lòng bác ái vị tha, Ngài vẫn an tâm theo số phận, mặc cho tiếng đời nhạo chê, hủy báng.

                                        CHÚ THÍCH

          MÁU ĐÀO: Máu đỏ như màu quả đào. Đây chỉ cho cảnh giặc giã chết chóc (như chữ “máu hồng nhuộm rơi” đã chú thích ở câu 52, Q.1).

          NHƠN QUÝ: Là Tiết Nhơn Quý, có tên là Tiết Lễ, sanh vào đời Đường, người ở Thái Bình trang, huyện Long Môn, tỉnh Sơn Tây (Tr.Hoa). Thân phụ là Tiết Anh, thân mẫu là Phàn Thị, gia thế giàu có, cha làm Viên ngoại trong vùng, song thân đều mất sớm.

          Nhơn Quý có chí lớn, văn võ hơn người. Khi mới tùng quân bị gian thần Trương Sĩ Quý yểm tài, lại lập mưu sát hại, bắt đi khám địa huyệt, nhưng lại được Cửu Thiên ban cho nhiều phép lạ. Kế đó, họ gạt cả anh em Nhơn Quý vào trong hang mà đốt. Chúng đinh ninh rằng anh em Nhơn Quý đã chết, không ngờ được bà Cửu Thiên cứu thoát, đem về Tàn Vân Động ẩn mặt, chờ đến ngày ra giúp Chúa.

          Sau Nhơn Quý tạo được nhiều chiến công oanh liệt, nhứt là giết Cáp Tô Văn, giải nguy cho vua Đường, và vượt bể về Trường An cứu giá. Danh thế của Nhơn Quý vang lừng khắp chốn, còn số gian thần lại bị tội vô cùng nhục nhã, nhưng con gái của Trương Sĩ Quý là vợ của Lý Đạo Tông (chú của vua Đường) đã không bị giết lại nuôi lòng oán hận lập mưu xúi chồng làm chiếu giả, triệu Nhơn Quý về kinh đãi tiệc, lại bỏ thuốc vào rượu cho Nhơn Quý say bất tỉnh rồi khiêng bỏ vào phòng Quận Chúa (con gái của Đạo Tông) vu oan cho Nhơn Quý làm điều chẳng tốt. Nhơn Quý phải cam chịu tù tội suốt ba năm.

          Song Trời đất đâu có phụ người trung nghĩa, nên sau Nhơn Quý được minh oan, do sự nghiệp chân chính của một anh hùng trọn đời chỉ biết vì nước vì dân; còn bọn gian nịnh phải bị rơi chiếc mặt nạ để đền tội trước bàn cân công lý.

          Đức Thầy nhắc điển tích trên đây ý nói vì thời vận chưa được hanh thông, đời lắm tiểu nhân tham ác luôn tìm mọi cách ám hại bậc hiền tài trung nghĩa nên Ngài phải giả dại giả ngu ẩn nhẫn đợi thời và cam chịu tai nạn; cũng như trường hợp của Tiết Nhơn Quý lúc thời chưa sáng tỏ, bị kẻ gian nịnh ghét ganh âm mưu ám hại.

         NÓI BỪA: Nói thí, nói đại, hình như không suy nghĩ dè dặt, nhưng đây là tiếng bình dân dùng để nói khiêm nhượng hoặc để cho bậc kém học dễ nghe dễ hiểu. Có lần Đức Thầy giả người bán thuốc dạo, gặp kẻ đau răng Ngài liền nhổ giúp được êm tốt. Ngài nói: “Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng”. (Sấm Giảng Q.1)

          BIẾM NHẺ: Chê cười, nhạo báng.

          CAM TÂM: Đành lòng, thỏa thuận nhận chịu. Ví dụ: cho dù khổ khó, nhọc nhằn đến đâu cũng cam tâm.

 

CHÁNH VĂN

  87.“Ngồi buồn nhớ chuyện xa-xăm,
          Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.
                    Nói rằng lòng chẳng ham sang,
          90. Sao còn ham của thế-gian làm gì?
                    Việc này thôi quá lạ kỳ,
          Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.
                    Lúc này tâm trí rối beng,
          94. Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.
                    Hết gần rồi lại tới xa,
          96. Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 87 đến câu 96)

          - Trước khi sáng tác Sấm Kinh, Đức Thầy có khi dạo khắp miền Thất Sơn, thấy có số Tăng Sư tu hành giả dối. Là một Đạo sư ở chùa am vì phải ly gia cắt ái, giới luật tinh nghiêm, nghiên cứu Kệ Kinh, trau giồi Trí Huệ để độ thoát kẻ còn mê; họ lại diện cái vẻ đạo mạo bên ngoài, chớ thật thể bên trong thì nào là vợ con, tiền bạc, tranh giành đất cát, chùa chiền v.v…Ngoài ra họ còn bày việc cho xâm, bói quẻ, cầu siêu làm đám để mong bá tánh dâng cúng bạc tiền. Thế thì có khác chi người thế sự.

          Đề cập đến đoạn nầy thì Đức Thầy cũng than: Đồng là một đạo Phật sao còn những tiếng chê khen..”.

          Nhưng đây là nhiệt tâm của Ngài:

                    “Thấy lạc lầm khuyên nhủ ít lời,

                      Chớ nào có ngạo chi Tăng chúng”.

                                           (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          - Lúc bấy giờ Đức Thầy đang dồn hết tâm lực vào  công việc giác chúng độ đời, thể hiện lòng từ ái đối với vạn loại chúng sanh:

             “Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

             Miễn sanh chúng thông đường giải thoát”.

                                                      (Sa Đéc)

CHÚ THÍCH

          BẢY NÚI: Nghĩa của chữ Thất sơn, tức là bảy núi ở vùng tỉnh Châu Đốc, gần biên thùy Miên-Việt. Bảy ngọn núi ấy gồm có:

          1.- Anh Vũ Sơn (núi Két): Cao 225m, thuộc xã Thới Sơn, quận Tịnh Biên (Châu Đốc). Sở dĩ núi nầy lấy tên núi Két, là vì trên chót mỏm đá giống hình mỏ chim két.

          2/- Ngũ Hồ sơn (Núi dài Năm Giếng, gần núi Két): Chưa biết rõ số thước, trên giữa núi có 5 giếng nước nhỏ.

          3/- Thiên Cẩm sơn (núi Gấm trời): Cũng có tên là núi Cấm, cao 716m, dài 7.500m, ngang 6.800m, nằm giữa hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn (Châu Đốc). Núi nầy khi xưa có tên núi Gấm. Có lẽ vì các rặng cây xanh và các chỏm đá trắng, trên núi có “Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh” mà hiện ra màu gấm vóc đẹp xinh. Nhưng sau nầy có mang tên núi Cấm là vì khi xưa Hoàng tử Nguyễn Ánh bị giặc Tây Sơn truy nã, có ẩn ánh tại núi nầy, các quan ra lịnh cấm không cho dân chúng đến, viện lẽ nói nơi đây có nhiều ác thú.

          Cũng có người cho rằng vì Đức Phật Thầy Tây An tiên tri ngày sau tại núi nầy sẽ có đền vàng điện ngọc của Thánh Vương, nên Ngài cấm các đệ tử không cho cất chùa hay ở trên nầy để tránh sự làm ô uế non linh. Điều nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có căn dặn tín đồ như thế.

          4/- Liên Hoa sơn (núi Tượng): Cao 156m, dài 600m, ngang 400m, thuộc xã Ba Chúc, quận Tri Tôn (Châu Đốc). Sở dĩ có tên núi Tượng vì đứng xa nhìn lên chót thấy giống hình con voi.

          5/- Thủy Đài sơn (núi Nước gần núi Tượng): Cao 50m, cùng thôn với núi Tượng.

          6/- Ngoạ Long sơn (núi Dài): Cao 580m, dài 8.000m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc). Người ta đặt tên như thế vì núi nầy dài tới 8 cây số ngàn giống hình con rồng nằm.

          7/- Phụng Hoàng sơn (núi Tô): Cao 614m, dài 5.800m, ngang 3.700m, thuộc quận Tri Tôn (Châu Đốc).

          Trên đây là dẫn theo tài liệu nhiều người kể lại, nhưng xét ra miền bảy núi còn có nhiều ngọn núi nữa, như núi Trà Sư, núi Bà Đội Om, núi Nam Vi, v.v…Vì vậy nên danh từ Thất sơn (bảy núi) còn có nghĩa chỉ chung tất cả đồi núi thuộc tỉnh Châu Đốc.

          Ông Ba Thới có câu:

                    “Mắt đoái nhìn Tiên cảnh Thất sơn,

                    Ngùi ngùi nhớ Chúa đội ơn lộc Thầy”.

          Đức Thầy nay cũng bảo:

                     “Miền bảy núi mà sau báu quí”.(Kệ Dân Q.2)

            Hoặc là:

                     “Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,

                     Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời”.(Kệ Dân Q.2)

           SƯ MANG: Sư là nhà Sư hay Thầy Tu. Mang là mang hình thức đạo mạo. Nghĩa bóng chỉ cho người tu giả dối. Lúc Đức Thầy đi dạo Lục châu đến miền Bảy núi, thấy có số sư tăng đã vào hàng xuất gia nhưng hành động không đúng quy luật của một tăng sư. Họ chỉ khoác chiếc áo nhà tu bên ngoài, lừa bịp bá tánh dâng cúng tiền bạc, để ngồi không thụ hưởng.

          Đức Thầy kêu gọi số người ấy:

                    “Mang tiếng xuất gia sao chẳng liệu,

                    Đạo đức xong chưa hỡi chư Tăng”.

                                                 (bài Khuyên Sư Vãi)

          Và Ngài hằng khuyên:

                    “Khuyên Sư Vãi bớt dùng của thế,

                      Gắng công tu đặng có xem đời,

                      Tu thật tâm thì được thảnh thơi,

                      Tu giả dối thì lao thì lý”.(Kệ Dân Q.2)

          HAM CỦA THẾ GIAN: Chỉ các Sư tăng ở chùa, núi còn tham tiền, của do bá tánh thập phương dâng cúng.

          RỐI BENG: Lộn xộn, nhiều việc rắc rối.

          TIẾNG QUYỂN TIẾNG KÈN: Do thành ngữ “giọng kèn giọng quyển”. Nghĩa bóng là lời dệt thêu dịu ngọt, nghe êm tai, nhưng không chơn thật.

          MẶC Ý: Tùy ý, không nghĩ, không kể đến.

          BÀN TÁN: Do câu “bàn ra nói vào”. Ý chỉ kẻ nói thế nầy, người nói thế khác, khen chê đủ cách.

 

 

CHÁNH VĂN
97. “Chuyện này cũng lắm tuyệt-vời,
Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.
                    Đến sau danh nổi như cồn,
          100. Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.
                    Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,
          Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.
                    Chuyện đời phải có trước sau,
          104. Điên Khùng khờ dại mà cao tu hành”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 97 đến câu 104)

          -Đoạn giảng trên Đức Thầy nhắc tích Hàn Tín và Hạng Võ là hai bậc kỳ tài đất Trung Hoa. Nhận thấy tuy Hạng Võ có sức địch muôn người, binh hùng, tướng dõng ồ ạt, nhưng lại dùng bạo lực theo Bá đạo (dĩ lực trị dân giả Bá), nên kết cuộc phải thất bại chua cay.

          -Còn Hàn Tín tuy yếu sức, nhưng có tài thao lược, đức nhẫn cao, lại theo kế hoạch của Trương Lương và chủ trương đường lối Vương đạo của Lưu Bang (dĩ đức trị dân giả Vương) nên sau được toàn thắng.

          Ở đây Đức Thầy muốn nêu lên đức nhẫn nhục của Hàn Tín, mặc dù Tín thừa sức trừ bọn thiếu niên tại chợ Hoài Âm nhưng lúc chưa phải thời cơ Tín đành ẩn nhẫn:

                    “Gương trước Hớn Tần, Hàn Tín nhẫn,

                      Đã không khổ nhục khỏi ưu phiền”.

                                                  (Nhẫn Đợi Thời Cơ)

          Hiện nay công cuộc cứu thế độ dân của Đức Thầy dưới thời Pháp thuộc, nên Ngài phải giả dại giả ngu mà: Ẩn nhẫn hoài chờ đợi vận hanh thông”.(Nhẫn Đợi Thời Cơ). Hay là:

                   “Đợi cơ thiên địa xây vần đến,

                    Chờ cuộc phong lôi đổi vận lành”.

                                        (Gởi Bác sĩ Cao Triều Lợi)

 

CHÚ THÍCH

          TUYỆT VỜI: Cực kỳ, cao xa rất mực.

                 “Chim hồng bay bổng tuyệt vời”.(truyện Kiều)

            HÀN TÍN: Người ở đất Hoài Âm, nước Sở (TH) sanh thời Tần, Hớn và Sở. Nhà rất nghèo, Tín thường đi câu cá đổi gạo; lắm khi cơm chẳng đủ no, Tín phải ăn nhờ nơi bà Phiếu Mẫu, nhưng Tín tích cực học hành binh pháp và lúc nào cũng mang theo mình một thanh kiếm.

          Ngày nọ, Tín đem cá ra chợ bán, có bọn thanh niên côn đồ, đứa cầm đầu nhục mạ và bảo Tín:“Nếu không dám giết hắn thì phải luồn qua trôn hắn mà đi”. Qua phút suy nghĩ kỹ, Tín liền cúi mình chun luồn qua trôn kẻ côn đồ. Mọi người ở chợ cười vang lên chê Tín là hèn nhát. Duy có thầy tướng số tên Hứa Phụ biết Tín là bậc nhân tài chưa gặp vận.

          Khi chú cháu Hạng Võ khởi nghĩa đánh Tần. Tín tìm đến đầu quân, nhưng họ Hạng không rõ chê Tín là kẻ luồn trôn vô dụng, cho Tín làm quân vác kích theo hầu, mặc dầu quân sư Phạm Tăng biết Tín có tài, đã nhiều lần tiến cử song Hạng Võ  vẫn không nghe.

          Lúc bấy giờ Hán Vương (Lưu Bang) chuẩn bị đánh Sở, binh mã đầy đủ, nhưng còn thiếu một viên đại tướng, chỉ huy quân đội trong cuộc đông chinh nên Trương Lương phải đi tìm bậc kỳ tài để giao phó chức vụ tối quan trọng ấy. Ngày nọ nhân khi ghé nhà Hạng Bá (chú Hạng Võ), Trương Lương bắt gặp trên bàn một tờ biểu của Tín bày tỏ về việc chính trị lợi hại với chú cháu Hạng Võ. Trương Lương toát mồ hôi nghĩ rằng: nếu người khác biết dụng Tín sẽ chiếm cả Thiên hạ. Trương Lương tìm cách dụ được Tín và viết mật thư giới thiệu với Lưu Bang, nhưng Lưu Bang cũng chưa rõ được tài nên chỉ cho Tín làm quan giữ kho lương thực. Sau nhờ Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh hết lòng tiến cử và Hàn Tín đưa thư giới thiệu ra, Lưu Bang mới trọng dụng, đoạn làm lễ Bái Tướng phong Tín làm Phá Sở Đại Nguyên soái, điều khiển ba quân đánh Sở.

          Qua thời gian huấn luyện binh tướng tinh thông chiến pháp. Tín đem quân đánh chiếm các nơi; đi đến đâu giặc đều tan vỡ đến đó. Các nước Tề, Yên, Triệu bao lần phải khiếp uy, binh tướng của Hạng Võ mấy lượt phải mất vía kinh hồn trước tài hành quân thần tốc đầy thao lược của Tín. Nhứt là trận đánh ở Huỳnh Đương, tiêu diệt hơn 20 vạn quân của Hạng Võ; và trận đại chiến ở Cửu Lý Sơn một trận quyết định sự tồn vong giữa Hán và Sở làm cho quân Sở hoàn toàn tan rã. Hạng Võ phải chấm dứt cuộc đời uy dũng ở bến Ô Giang, bởi không địch nổi với mưu lược của vị anh hùng đất Hoài Âm.

          Đức Thầy nhắc điển tích trên đây, ý muốn nói vì thời vận chưa đến, Ngài phải ẩn nhẫn đợi thời và cam chịu lắm nỗi gian truân, thế nhân khinh bỉ, nhưng đến một ngày kia, Ngài sẽ:

                    “Đem tài thao lược giúp non sông”.

                                              (bài Dụng kinh Quyền)

          Thì:

                    “Sau danh thể sạ hương khắp chốn”.

                                                  (Kệ Dân Q.2)

          Và chừng đó:

                   “Bá gia mới biết người Khùng là ai”.

                                                  (Sấm Giảng Q.1)

          HẠNG VÕ: Người ở Hạ Tượng, thuộc Cối kê (Trung Hoa) tên là Tịch, sức mạnh cử cái đỉnh ngàn cân. Vào thời Tần Sở không ai đánh lại. Trong cuộc diệt nhà Tần, vì tánh háo sát mà không được lòng quân dân nên vào Bá Trượng (Hàm Dương) sau Lưu Bang. Hạng ỷ mạnh phụ lời Vua ước hẹn, giành làm vua Tây Sở Bá Vương và đẩy Lưu Bang (Hán Trung Vương) vào Bao Trung. Sau Võ phải đánh với binh Hán ròng rã 6 năm, bao phen phải thất điên bát đảo trước tài chỉ huy mưu lược của Hàn Tín, rốt cuộc Hạng Võ phải bỏ mình tại bến Ô Giang.

          THANH SỬ: Cũng gọi là sử xanh. Thời xưa ngành ấn loát và việc chế tạo giấy chưa có, nên nhà chép sử phải dùng tre cật xanh để ghi chép cho dễ nhớ. Nhân đó gọi sử ký bằng Thanh sử hay Sử xanh,

          Đại Nam Quốc sử Diễn ca có câu:

“Lam đài dừng bút thảnh thơi,

Dâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh”.

          TU HÀNH: (Xem chú thích đoạn 4, Bài Sứ mạng).

 

CHÁNH VĂN

                    105.“Bá gia phải rán làm lành,
          Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.
                    Thương đời trong dạ chẳng yên,
          108. Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 105 đến câu 108)

          -Đoạn nầy Đức Thầy khuyên nhủ khắp mọi người phải rán làm lành lánh dữ và chuyên tâm niệm Phật một

 

cách chí thành chí thật; tức phải nhứt tâm tha thiết trì niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì đặng kết quả cao quý, luôn được Thánh Thần hộ trì, kiến diện Phật Tiên trong kiếp hiện tiền và tương lai được an vui nơi Lạc cảnh.

          -Bởi lòng Đức Giáo Chủ quá thương xót sanh linh từ đây phải gánh chịu chuyện đau buồn sầu thảm, nên Ngài không ngớt kêu gọi bá tánh tu hành.

 

CHÚ THÍCH:

          PHẢI RÁN LÀM LÀNH: Làm lành là tu hành những việc từ thiện phước nhân đối với cả muôn loài chúng sanh. Việc làm lành ai cũng biết là cao quý, nhưng thiệt thi thì ít ai chịu, cho nên Đức Thầy mới khuyên chúng ta phải rán. Song muốn làm lành cho trọn vẹn, hành giả cần phải tránh các điều dữ tức là vừa hành thiện và vừa ngăn ác.

          Kinh Minh Thánh đã bảo:

                    “Chung thân hành thiện,

                      Thiện du bất túc,

                      Nhứt nhựt hành ác,

                      Ác tự hữu dư”.

          (Trọn đời làm lành, lành còn chưa đủ; một ngày làm dữ, dữ bèn có dư).

          Đức Thầy nay cũng dạy:“Làm hết các việc từ thiện, Tránh tất cả các điều độc ác…”.

          Tóm lại, người muốn làm lành cho trọn vẹn thì phải đáp Tứ Ân (hành Thiện) và chừa Thập Ác (ngăn Ác).

         NIỆM PHẬT CHO RÀNH ĐẶNG THẤY THẦN TIÊN: Niệm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, tức là tưởng nhớ 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”.

          Theo các Kinh điển cho biết:“Niệm một danh hiệu Đức Phật A Di Đà, tức là niệm hết danh hiệu của chư Phật ở mười phương”.

          CHO RÀNH: Là niệm Phật đúng phương pháp để được kết quả như ý. Vậy niệm như thế nào là đúng phương pháp ? Về phương pháp niệm Phật có nhiều cách, (Trì danh niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Quán tượng niệm Phật, Thật tướng niệm Phật) nhưng tựu trung vào vào các điểm như sau:

          1/- Tiếng niệm Phật thầm trong Tâm mà tai vẫn nghe rõ ràng từ chữ một.

          2/- Tập trung tư tưởng vào chỗ niệm.

          3/- Tha thiết thành khẩn như Đức Phật có ngay trước mặt để mình không dám phóng tâm nghĩ sái.

          4/- Không để ý tưởng nào khác xen vào.

          Niệm Phật được như thế gọi là niệm rành và đó là niệm Phật Tam muội (Chánh Định).

          Như Ngài U Khuê Tổ sư đã nói:“Phương pháp niệm Phật Tam muội (Chánh định) là người niệm Phật lấy tâm duyên Phật buộc tâm, niệm niệm nối liền, không hề gián đoạn. Lúc ấy nội tâm không dấy khởi, ngoại cảnh không xen vào, xoay vòng không hở. Trước sau như một. Chính không thọ các Thọ mà lại được Chánh Thọ, thế nên gọi là Niệm Phật Tam muội”.

          Hiện nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng dạy:“Còn phương pháp niệm Phật là để trừ cái Vọng Niệm của chúng sanh, vì trong tâm của chúng sanh niệm niệm mê lầm chẳng dứt, vì cái Vọng Niệm về việc thế trần ấy mà không cho cõi lòng an lạc, phiền não ngăn che, Chơn tâm mờ ám. Nên nay, hễ thành tâm niệm Phật thì nếu được một niệm Phật ắt lìa được một niệm chúng sanh, mà niệm niệm Phật thì lìa tất cả niệm chúng sanh cho đến khi nhất tâm bất loạn, chừng ấy vọng niệm chúng sanh đã dứt thì lòng ham muốn và các tình dục còn đâu mà nảy sanh ra được ?

          Nên niệm Phật là niệm cái Bản lai thanh tịnh của Phật cho lòng của mình nương theo đó mà được thanh tịnh và chẳng còn trược nhiễm trần ai.

          Cần tu thập thiện thì sự niệm Phật mới có hiệu quả. Tu Thập Thiện, dứt được Thập Ác (cũng gọi là Tịnh Tam Nghiệp).

          Đức Thầy dạy nếu ai chí Tâm niệm Phật được rành thì thấy được (Bản Lai Thanh Tịnh) và Đắc Đạo tại thế, (thấy được Phật Tiên Tự Tánh, tức Tâm mình đồng hòa với Phật tánh) hoặc đến lúc lâm chung đặng vãng sanh về cõi Cực lạc. Như Ngài đã nói:

                    “Ao sen báu Tây phương đua nở,

                      Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm”.

                                                  (Khuyến Thiện Q.5)

          Chẳng thế mà ngày kiến tạo đời Thượng ngươn Thánh đức tới đây cũng thấy được Phật, Tiên, Thần, Thánh như Ngài từng dạy:

                    “Niệm Di Đà rán niệm cho rành,

                    Thì mới được sống coi Tiên Thánh”.

          THẢM PHIỀN: Cảnh thảm khổ đau buồn nhiều lắm…Nhà thơ Cao Bá Nhạ đã xác nhận:

                    “Phút nữa khắc muôn ngàn thê thảm,

                      Trong một mình bảy tám biệt ly”.

         Đức Thầy từng giục thúc nhân sanh:

“Nhắc ra quá thảm quá phiền,

Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu”.

                                        (Sấm Giảng Q.1)

 

CHÁNH VĂN

                    109.“Ngày nay thế-cuộc đổi xây,
          Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
                    Mảng theo danh-lợi ốm-o,
          112. Sẵn của hét hò đứa ở người ăn.
                    Đừng khi nhà lá một căn, 
          Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
                      Giàu sang như nước trên nguồn,
          116. Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 109 đến câu 116)

          -Bởi cuộc thế đổi thay không ngừng, hễ hết lúc thái bình thì tới chiến tranh loạn lạc; bấy giờ bá tánh phải sống cảnh điêu linh thống khổ. Đức Thầy kêu gọi mọi người, sống thức tỉnh niệm Phật Trời, tu thân hành Đạo thì sau nầy được Ngài cứu độ cho, Ngài cảm thương cho những kẻ say mê vật chất, tranh đấu lợi danh, khiến lao tâm mệt xác; ỷ mình tiền của nhiều xài xỉ tôi tớ, khinh

khi kẻ nghèo hèn, phạm tội Ỷ ngôn ngày thêm chồng chất.

          -Còn những người biết lo niệm Phật làm lành, giữ lòng thanh bạch hiện giờ tuy nghèo khổ, nhưng sau nầy được kết quả cao quý hơn kẻ có tiền ngàn bạc vạn. Trái lại có hạng giàu sang chuyên sống nghề gian xảo “Của dương thế góp tom bảo thủ”,(Khuyến Thiện Q.5) rồi một ngày kia bao nhiêu tiền của sự nghiệp ấy, đều bị chiến tranh giặc cướp làm tiêu tan trong tức khắc.

 

CHÚ THÍCH

          THẾ CUỘC ĐỔI XÂY: Cuộc đời luôn thay đổi không ngừng nghỉ, ý nói cảnh đời diễn biến theo định luật Thành, Trụ, Hoại, Không và bi, hoan, ly, hiệp; nó xoay vòng rất mau lẹ.

          Đức Thầy có câu:

                    “Mười hai tháng mà còn mau tháng,

                      Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay”.

                                         (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          MẢNG: Mãi, ham mê mãi miết.

          Ca dao có câu:

“Vai mang bầu rượu chiếc nem,

Mảng vui quên hết lời em dặn dò”.

 

CHÁNH VĂN

                    117.“Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,
          Để thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau.
                    Dương-trần bụng dạ nhiều màu,
          120. Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
                    Lời xưa người cổ còn ghi,
            Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ?
                      Chưa là với kẻ chẳng ưa,
           124. Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 117 đến câu 124)

          -Đoạn giảng trên ý nói khi người Pháp đặt chơn đến xứ ta, có số người chạy theo bưng bợ chúng, đua đòi tập nhiễm lối sống văn vật và theo đường đạo ngoại lai; vội quên đi phong tục cổ truyền của Ông Cha ta từ trước. Đức Thầy thường cảnh giác hạng người ấy qua những câu:

“Con người có Tổ có Tông,

Học hay chữ nghĩa sao không phượng thờ.

Hiếu trung chuyện tích sờ sờ,

Người đời phải biết phượng thờ mẹ cha”.

                                                  (Dặn dò Bổn đạo)

          -Lại có số người sống tham tàn bạo ác, lòng dạ thay đổi khôn lường. Đức Thầy chỉ cho thấy cảnh lầm than máu đổ bên đất Trung Hoa, để nhắc nhở họ nhớ lời tiên tri của cụ Trạng Trình và Đức Phật Thầy Tây An thuở xưa, nay hiện cảnh có đúng không ?

          Vả lại, hạng người không ưa đạo đức thì chẳng tin lời Phật Thánh, bởi thành kiến cố chấp lâu đời:“Màn vô minh che mờ căn trí”. Thì bảo sao họ không:
                    “Nên thường khi nhận Ngụy làm chơn”.

                                                  (Khuyến Thiện Q.5)

          -Còn hạng người có lòng Đạo đức, chẳng những họ thừa biết trạng huống đau thương hiện tại mà còn nhận rõ con đường thoát ly cảnh ấy, bởi nhờ lời giác tỉnh của Đức Thầy:

“Lui chơn ra khỏi cho mau,

Tìm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan”.

                                        (Thiên lý ca)

CHÚ THÍCH

          CỬU HUYỀN THẤT TỔ: Thành ngữ chỉ cho Ông Bà Cha Mẹ từ vô lượng kiếp đến giờ.

          CỬU HUYỀN: Theo Nho giáo (Hán học) thì Cửu huyền là Cửu tộc, gồm có: Cao, Tằng, Tổ, Khảo, Kỷ, Tử, Tôn, Tằng, Huyền. Có nghĩa trên mình bốn bực là: ông Sơ. ông Cố, ông Nội, Cha, giữa là mình và dưới mình bốn bực là: Con, Cháu, cháu Chắt, cháu Chít.

          Xưa, đời Hạ Võ bên Tàu có đúc 9 cái đỉnh bằng đồng để thờ Tổ Tiên tộc họ. Trào nhà Nguyễn Việt Nam ta cũng có tạo ra cửu đỉnh đặt tại nhà Thái Miếu, cũng ý để tưởng nhớ Tổ Tiên nòi giống. Song nên nhớ là thờ lạy bốn bực trên đã qua đời, còn sự cứu độ và liên đới trách nhiệm thì cả luôn bốn cấp dưới.

          THẤT TỔ: Theo Phật giáo (Phật học) thì Thất Tổ là Tổ Tông bảy đời, do chữ “Thất Thế Phụ Mẫu”. Có nghĩa là mỗi lần sanh ra một xác thân đều có Tổ Tiên cha mẹ, mà bảy đời như vậy gọi là “Tổ Tông bảy đời”. Theo phong tục ở Ấn Độ, con số 7 là con số tượng trưng cho số nhiều (Vô lượng).

          Bởi từ vô thỉ tới giờ con người chết đi rồi sanh lại không biết bao nhiêu lần, cho nên Thất Tổ là chỉ cho ông bà cha mẹ từ vô lượng kiếp.

          Đức Thầy đã bảo:

“Chừng nào đắc được lục thông,

Vớt hồn cha mẹ Tổ Tông bảy đời”

                              (Cho ông Cò tàu Hảo)

          Căn cứ theo hai lý giải trên, tựu trung”Cửu huyền Thất tổ” là một thành ngữ ghép cả hai từ ngữ Cửu Huyền (Hán học) và Thất Tổ (Phật học). Ban sơ là tiếng cầu chúc lẫn nhau (chúc cho Cửu Huyền Thất Tổ Nội Ngoại), sau thành thói quen, nên dùng làm thành ngữ chỉ chung cho ông bà cha mẹ  nhiều đời nhiều kiếp.

                    “Phụ mẫu thâm ân vô lượng kiếp”.

                                        (Mượn Cây Đuốc Huệ)

          Và:

                    “Đầu cúi lạy Cửu huyền Thất tổ,

                     Ngõ đáo ơn báo bổ sanh thành”.

                              (Bài Nguyện trước Bàn thờ Ông Bà)

          ĐẠO CỜ TRẮNG: Chỉ cho giặc Pháp đến xâm lăng nước ta. Các nhà yêu nước thời Nguyễn (1862) gọi quân giặc Tây Âu là “Đàn Bạch Quỷ”(người da trắng) qua hai câu thơ:

“Ngày rằm năm Dậu tháng giêng,

Có Đàn Bạch Quỷ nó liền bủa giăng”.

          Và trong 12 câu thơ ca ngợi tinh thần chống Pháp của Bình Tây Đại Nguyên Soái (Trương Công Định) cụ Đồ Chiểu có viết:

                    “Dấu đạn hỡi rêm tàu Bạch Quỷ,

                 Hươi gươm thêm rạng vẻ huỳnh môn”.

          Bởi chúng vừa truyền Đạo (Gia Tô) vừa đánh cướp nước ta. Đạo ấy chủ trương không thờ Tổ tiên cha mẹ. Đây chỉ cho những người chạy theo Pháp vong ân bội nghĩa Tổ tiên nòi giống. Giảng xưa thuộc tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, từng kêu gọi vạn dân:

                    “Đạo nhà chẳng tưởng, tưởng Đạo xa,

                      Đạo gốc Nam bang, Đạo nước nhà,

                      Đạo của Phật Thầy truyền kim cổ,

                      Đạo Trung, Đạo Hiếu, Đạo nhơn hòa”.

          Hoặc là:

“Đạo nhà như đám mưa ngâu,
Rưới mát trần thế biển sầu tiêu tan.

Theo chi những Đạo xa ngàn,

Không cha, không Chúa, không đàng siêu thăng.

Các con hãy sớm ăn năn,

Đạo nào không gốc, Đạo xằng con ơi !

 Đạo nào dụ dỗ ngoài môi,

Không đường giải thoát con thôi cho rồi.

Đạo nào chẳng tưởng Chúa tôi,

Cửu Huyền chẳng tưởng, Đạo tồi lắm con.

Hiếu Trung rán giữ cho tròn,

Ngay Cha thảo Chúa thì còn xác thân”.

          BỤNG DẠ NHIỀU MÀU: Lòng người thường thay đen đổi trắng, thật khó mà lường được. Đây chỉ cho hạng người gian xảo không lòng trung thực.

          Đức Thầy từng nói:

                    “Dạ hiểm sâu không thước đo lường,

                    Dốc phá hoại đường ngay bôi lẽ thẳng”.

                                        (Trao lời cùng Ông Táo)

          THẤY CẢNH BÊN TÀU: Cảnh Trung Hoa bị quân đội Nhựt tràn sang đánh phá, lúc bấy giờ (1939) dân chúng nước Tàu phải chịu sự chết chóc đói đau thảm thiết. Đức Thầy không ngớt kêu gọi nhân dân Việt Nam nhất là miền Bắc:

“Bắc kỳ, Trung Quốc giáp ranh,

Sao không xem đó tu hành hiền lương”.

                                          (Để chơn đất Bắc)

          NGƯỜI CỔ: Do chữ Cổ nhân, tức là người đời xưa. Người quá vãng cách từ một thế kỷ (100 năm) trở về trước thường gọi là người xưa. Cổ nhân ở đây chỉ cho cụ Trạng Trình và Đức Thầy Tây An. Bởi hai vị nầy đều có tiên báo trạng huống hiện nay, tất cả mọi chuyện đều xảy ra không sai một.

          NHỮNG VIỆC LẠ KỲ: Việc lạ lùng chưa từng thấy. Những việc đó trong các Sấm truyền của người xưa đề cập đến rất nhiều, nhưng ở đây chúng tôi nêu lên một ít việc đã diễn ra để làm chứng cứ cho việc sắp tới.

         

          - GỐC MỤC LÊN CHỒI: Sấm truyền về Đức Phật Thầy có nói:

“Chừng nào gốc mục lên chồi,

Ta vưng sắc lịnh tái hồi trần gian”.

          Đó là lời di truyền của Đức Phật Thầy.

          Tại chùa Tây An Cổ Tự xã Long Kiến (An Giang) có cây dầu trồng trước sân chùa vào năm 1856 (trồng trước khi Ngài viên tịch). Đến năm 1918 người ta đốn để sửa chùa, gốc mục lần lần. Đến năm 1939, Đức Giáo Chủ PGHH khai Đạo thì nơi gốc dầu ấy mọc lên cái chồi cao 7 tấc, từ trước tới giờ không ai nghe nói loại dầu bị chặt sát gốc mà còn đâm chồi nảy tược được bao giờ. Khi thấy cái chồi dầu mọc ngay gốc cũ người ta mới bươi thử thì thấy gốc dầu ấy có ba cái rễ mà hai cái đã mục chỉ còn một cái rễ còn tươi nên đâm lên một cái chồi như thế. Từ đó bá tánh thập phương mỗi khi đến viếng chùa Tây An Cổ Tự đều có ra chiêm ngưỡng cái chồi dầu đã ứng nghiệm ấy.

        - TÀU CHẠY TRÊN MÂY, GHE ĐI KHỎI CHÈO:

“Ngày sau tàu chạy trên mây,

Dưới sông thương mãi ghe đi khỏi chèo”.

                              (Sấm truyền về Đức Phật Thầy)

          Đức Phật Thầy tiên tri lời nầy trước năm Bính Thìn (1856). Đến mùa hè năm 1867 (trên 11 năm), khi người Pháp hoàn toàn chiếm trọn lãnh thổ Việt Nam; chừng đó người ta mới thấy được tàu chạy trên mây (phi cơ) và ghe đi khỏi chèo (tàu) mà nước ta trước kia chưa bao giờ có phi cơ và tàu.

          - LÚA MỌC TRÊN CHÌ, VOI ĐI TRÊN GIẤY:

“Chừng nào lúa mọc trên chì, 

Voi đi trên giấy tới kỳ đông chu”.

                                      (Sấm Trạng Trình)

          Cụ Trạng Trình (1491-1585) tiên tri việc trên. Đến thời Ngô Đình Diệm (1954-1963) và Nguyễn Văn Thiệu (1966-1975) lên nắm chánh quyền, có làm ra thứ bạc bằng chì, có hình bông lúa lộ ra và loại bạc giấy có hình con voi. Thật ứng nghiệm với câu “Lúa mọc trên chì, Voi đi trên giấy” rất đúng với thời kỳ chiến tranh liên tiếp.

          Gốc mục lên chồi, tàu chạy trên mây, ghe đi khỏi chèo, lúa mọc trên chì và voi đi trên giấy quả là một điều rất nên kỳ lạ mà người nước ta thuở đó không ai có thể tin là có được, nhưng các sự việc ấy thời gian sau đều xảy ra đúng y như thật.

          NGƯỜI TÂM ĐẠO: Người có lòng hiền lành. Đạo đức và tin tưởng Phật Trời, mọi việc đều thi thố theo con đường ngay chánh sáng suốt.

          Đức Thầy có câu:

                    “Ai người tâm Đạo thấy càng hay. (bài Mặc tình ai)

 

CHÁNH VĂN

125. “Bá-gia mau kíp lo âu,

                    Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
                              Việc đời nói riết thêm nhây,
          128.Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
                               Mèo kêu bá tánh lao-xao,
                    Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê. 
                                Con ngựa lại đá con dê,
                    132.Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.
                              Khỉ  kia cũng bị xáo-xào,
                    Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
                              Nói ra nước mắt rưng-rưng,
               136. Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 125 đến câu 136)

          -Đức Thầy nêu lên định luật nhân quả để thức tỉnh bá gia sớm quay đầu hướng thiện; nếu ai còn tiếp tục con đường tội ác, e cho đến cơ tận diệt khó mà bảo tồn thân mạng. Bởi có trách nhiệm dạy dỗ nhân sanh, nên Đức Giáo Chủ chẳng ngại sự gian khổ; mặc tình bá tánh có chịu nghe hay không Ngài vẫn tiếp tục khuyên tu mãi mãi.

          -Ngài có tiên tri cho mọi người được biết khởi đầu cuộc Đệ nhị Thế chiến từ năm Kỷ Mão (1939) (Mèo kêu bá tánh lao xao), cho đến khi hai quả bom nguyên tử của Đồng Minh rơi xuống đất Nhựt, khiến bao nhiêu lầu đài và hằng triệu con người bị thiệt hại, để chấm dứt cuộc chiến vào mùa Thu năm Ất Dậu (1945), (Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng), thật không sai một mảy.

          -Vì lòng quá thương xót sanh linh, khó ngăn giọt lệ nên Đức Thầy không ngớt kêu gọi vạn dân sớm gieo giống lành, xa đường tội ác.

 

CHÚ THÍCH

          LO ÂU: Lo sợ, lo liệu.

                    “Thân ta, ta phải lo âu”.(Truyện Kiều)

          Đức Thầy có câu:

                     “Nợ thế âu toan tròn nợ thế,

                      Đường tu sớm liệu vẹn đường tu”.

                                                  (Tỉnh giấc mê)

          ĐỐI ĐẦU: Kình chống, đương đầu, cũng có nghĩa đến nơi, đến đầu cùng, đến lúc kết thúc (việc đã đối đầu). Ở đây ý nói người làm ác nếu không sớm cải sửa thì đến lúc cuối cùng phải gặt lấy quả khổ.

          Kinh Minh Thánh có câu:

                    “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,

                      Cao phi viễn tẩu giả nan tàng”.

          (Việc làm lành hay dữ, đối đầu đều có trả, dầu cao bay xa chạy cũng không trốn đặng).

          Cũng như con gà ăn gạo chumh quanh cối xay, giáp vòng rồi đụng lại chỗ đầu mối.

                    “Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,

                      Như gà cồ ăn bẩn cối xay”.

                                                  (Giác Mê Tâm Kệ)

          NÓI RIẾT THÊM NHÂY: Cách nói dai dẳng, nói nhiều lần, nhiều việc không dứt. Đây vì ý muốn chúng sanh thức tỉnh nên Đức Thầy phải nói hoài nói mãi.

          LAO XAO: Ồn ào lộn xộn, ý chỉ cảnh chiến tranh loạn lạc; cảnh chạy giặc.

“Phút nghe tiếng nói trên rừng lao xao”.(?)

          CHỈN GHÊ: Chỉn là vốn, là rất (tiếng trợ từ); Ghê là gớm, tởm, sợ. Chỉn ghê là vốn rất ghê sợ.

          “Đạo Trời báo phục chỉn ghê”.(Truyện Kiều)

          Đức Thầy cũng nói:

“Thấy đời mê muội lầm than,

Ăn bạ nói càn tội lỗi chỉn ghê”.

                              (Sấm Giảng Q.1)

          GIAN LAO: Khó nhọc vất vả.

          XÁO XÀO: Rầy rà, xung đột làm rối loạn. Ở đây chỉ cho cảnh giặc loạn, chết chóc chẳng yên ổn.

          CANH KHUYA: Một đêm có năm canh, mà canh khuya chỉ cho hai phần đêm, tức là khoảng canh tư. Câu “Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng” là chỉ khoảng tháng Tám năm Ất Dậu (1945) chấm dứt Đệ nhị Thế chiến, thế giới tạm được thái bình, ngưng cuộc đổ máu.

 

CHÁNH VĂN

                    137.“Việc đời nói chẳng có cùng, 
          Đến sau mới biết đây dùng kế hay.
                    Bây giờ mắc việc tà-tây,
            140. Nên mới làm vầy cho khỏi ngại-nghi.
                    Thiên cơ số mạng biết tri,
          Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?
                    Những người giả đạo bồi-hồi,
          144. Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 137 tới câu 144)

          -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ cho biết việc thế gian không thể nào nói hết cho được, nhưng đến một ngày kia vạn dân sẽ thấy rõ diệu kế của Ngài. Bởi lúc bấy giờ nhà cầm quyền Pháp kiểm soát gắt gao, bất cứ người dân Việt Nam nào có lòng yêu nước, yêu dân thì chúng bắt đem tù đày hoặc ám hại.

          -Do đó Đức Thầy dùng đủ phương cách đánh lạc hướng người Pháp. Khi thì Ngài tỏ ra rất thông minh xuất chúng, khi thì giả dạng Điên dại ngu khờ. Có lúc Ngài trị bệnh nhân gần như là thượng xác cỡi đồng, trừ ma tróc quỷ, làm cho những kẻ rình rập Ngài không lấy đâu mà định đoán được.

          -Trường hợp nầy cũng là cơ thử thách hạng người giả tu bị bày lộ chân tướng. Những người thật lòng theo đạo thì nhận được Đức Thầy là bậc quán chúng độ đời, nên họ quyết tâm tu thân lập hạnh, theo con đường chơn lý. Còn số người kém duyên cùng Phật pháp, chỉ tin sự linh thính hoặc tu theo thời buổi thì làm sao họ nhận được sự thật. Đức Thầy thường cho biết tâm trạng của hạng người ấy:

“Ngày nay mới đến Phật đàng,

Niệm một tiếng Phật đòi an bịnh liền.

Chậm lành chê Phật ngạo Tiên,

Rồi sau tội nghiệp liên miên tới mình”.

                                (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

 

CHÚ THÍCH

          TÀ TÂY: Nịnh tà tây tặc, chỉ những người Việt Nam a dua làm việc theo Pháp trở lại hại dân hại nước. Bọn giặc Tây Âu đến xâm chiếm nước ta, gọi là Tây tặc.

“Bây giờ làm việc tà tây,

Ngày sau chịu khốn tội rày điêu ngoa”.

                              (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          THIÊN CƠ: Máy Trời, xoay chuyển mầu nhiệm của Trời đất.

          SỐ MẠNG: Cũng gọi là số mệnh. Theo dịch lý thì số mạng của mỗi người: sống chết, giàu nghèo, cực sướng, yểu thọ v.v…đều do luật Trời đất định sẵn. Còn theo Phật học thì hiểu số mạng là định nghiệp của nhân và quả. Thế nên người ta có thể sửa đổi từ nghiệp xấu thành tốt hay thêm bớt lớn nhỏ.

          NGẠI NGHI: Cũng gọi là nghi ngại, có nghĩa ngờ vực ái ngại, chưa tin hẳn.

          GIẢ ĐẠO: Không thật tâm theo Đạo, chẳng thật sự tu hành, hay tu giả dối:

                    “Tu thật tâm thì đặng thảnh thơi,

                      Tu giả dối thì lao thì lý”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ)

          BỒI HỒI: Bồn chồn, xao xuyến trong lòng.

“Nhìn xem tâm não bồi hồi,

Sơ nhi đã lậu phá mồi vinh vang”.

                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          LINH THÍNH: Cũng đọc là linh thiêng. Nghĩa là có dấu hiệu ứng nghiệm, nơi đó linh thính lắm. Đức Thầy có câu:

                    “Ai ham linh theo nó tập tành,

                      Sa cạm bẫy khó mong sống sót”.

                                                  (Giác Mê Tâm Kệ)

 

CHÁNH VĂN

                    145.“Việc đời như nước trong khe,
          Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
                    Điên này nối chí theo Khùng,
          148. Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.
                    Sau này kẻ khóc người la,
          Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.
                    Điên biết chẳng lẽ làm thinh,
          152. Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không”.

LƯỢC GIẢI (Từ câu 145 đến câu 152)

          -Lời Sấm Giảng báo trước cuộc đời sắp đến ngày tàn cỗi để lập lại Thượng ngươn, cơ tận diệt hiền còn dữ mất. Thế mà còn nhiều người chẳng tin, cho đó là bài vè để nhạo báng người hung ác.

          -Đức Giáo Chủ nối chí theo Phật Thầy tùy theo thời thế và căn cơ của mỗi chúng sanh mà giáo độ. Ngài cũng cho biết chẳng còn mấy năm nữa sẽ có những tai nạn đói rách bệnh tật và giặc cướp nhiễu hại sanh linh “vì lòng từ ái chứa chan…” Ngài không thể lặng nhìn trước cơ tận diệt, nên phải ra tay tế độ quần sanh bằng cách dùng Kệ Giảng khuyến tấn đường tu, mặc người đời nghe không tùy ý.

 

CHÚ THÍCH

          NƯỚC TRONG KHE: Khe cũng gọi là suối, tức là rảnh nước trên chảy xuống. Ví dụ khe nước suối từ nguồn chảy ra.

“Nước trong khe nước chảy ra,

Người chê ta đục, người đà trong chưa”.(Ca dao)

          Câu “Việc đời như nước trong khe” là vì nước trong khe luôn một chiều chảy ra mãi, không bao giờ chảy ngược chiều hay dừng lại. Việc đời cũng thế, cứ diễn tới mãi chẳng hề ngưng.

          VÈ: Là một thể văn vần ở nước ta đã có tự nghìn xưa, dùng để châm biếm hoặc thuật lại một sự việc gì, tốt hay xấu đã xảy ra trong đời. Văn đặt có vẻ ngây ngô và chân thật, không dùng sáo ngữ hay văn chương bác học.

          Vè có khi viết thể văn lục bát, có khi câu dài câu ngắn , số chữ không hạn định, như vè say rượu, vè đánh bạc.v.v…

          NÓI BIẾM: Nói lời chê bai nhạo báng.

          NHƯ THỂ DÂY DÙN: Do câu “dây dùn khó đứt”. Đây ý nói nương theo thời thế mà giáo độ quần sanh.

          TÀ TINH: Tà ma quỷ quái. Loại ma quỷ chuyên phá hại người. Cũng chỉ cho hạng người tàn bạo dã man (quỷ sống).

          Đức Thầy từng bảo:

                    “Sau tà tinh ăn sống nuốt tươi,

                    Mà bá tánh chẳng lo cải thiện”.

                                        (Kệ Dân Q.2)

CHÁNH VĂN

                    153.“Việc Điên, Điên xử chưa xong,
             Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.
                    Người nghe đạo lý thì mê,
            156. Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
                    Thấy nghèo coi thể rác-rơm,
            Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.
                    Vì Điên chưa đến cái thời,
           160. Nên còn ẩn dạng cho người cười chê”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 153 đến câu 160)

          -Đoạn giảng trên ý nói công cuộc khai Đạo cứu đời, Đức Thầy còn nhiều trách nhiệm phải làm. Nhìn thấy lòng người tham ác, cảnh thế đau thương sắp xảy ra mà Ngài chạnh nỗi thương tâm cho bá tánh.

          -Khi nghe đến lời Kệ giảng của Ngài có nhiều người ham mộ tín hành, song cũng “Còn lắm kẻ nghinh ngang theo chọc rối”.(Trao lời cùng Ông Táo).

          -Thấy người giả dạng người tàn tật, ăn xin khắp đó đây, họ liền khinh khi nhạo báng, không ngờ rằng bởi thời cơ chưa đến, Đức Thầy mới dùng phương cách đó hầu dễ bề cảnh tỉnh nhơn sanh.

 

CHÚ THÍCH

          LỤC CHÂU: (Xem chú thích câu 56 - Q.1).

          ĐẠO LÝ: Lý lẽ của Đạo hay Giáo lý của một Tôn giáo. Riêng chữ Đạo có ba nghĩa:

          1.- Đạo là con đường của tâm hồn: Hễ lúc sống, Thân Tâm tạo nghiệp nào thì khi chết Nghiệp lực ấy húc thác sanh về cảnh giới đó. Lục phàm hay Tứ thánh. (Sáu đường Phàm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Thần, Người, Trời. Tứ Thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật).

          Cũng thế, Đức Thầy bảo:

                    “Cái chữ tâm mà quỷ hay ma,

                     Tiên hay Phật cũng là tại nó”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          Hoặc là:

“Đạo là vốn thiệt cái đàng,

Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.

                              (Sấm Giảng Q.3)

          2.- Đạo là bổn phận, là lẽ phải: Hễ ta đứng vào địa vị nào đều có bổn phận trong địa vị ấy và phải cư xử cho trọn vẹn. Đức Thầy dạy:

“Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,

Đạo Thầy trò khắc cốt với ghi xương.
Đạo Cha con chặt chẽ chữ miên trường,
Đạo Chồng vợ thuận hòa cho đến thác.
Biết Lễ Nghĩa kính yêu cùng Cô Bác,
Nội tông cùng Ngoại tổ với Cậu Dì.
Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,
Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo trá.
Đạo bè bạn bất phân nhân với ngã,
Chữ nghĩa tình sắt đá mãi bền gan”.
                              (Không Buồn Ngủ)

Đó là phần Nhân Đạo. Còn phần Phật đạo, Đức Thầy dạy:

“…Chân lý ấy là cái Đạo của mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình đối với mình. Vì thế, hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy tin tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng thiêng liêng ban bố phước lành cho nhân chúng. Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc đạo an bần, xả thân tu tỉnh”. (Bài Chánh Tư Duy trong Bát Chánh Đạo).

3.- Đạo là bản thể tuyệt đối: Lý nầy là lìa cả danh ngôn sắc tướng, chỉ tạm gượng kêu là Đạo và gượng giải mà thôi.

Đức Lão tử đã bảo;

          “Đạo khả đạo, phi thường đạo,

          Danh khả danh, phi thường danh.”

(Đạo mà có thể nói ra được thì không phải là Đạo chơn thường; và dùng tên mà gọi cũng không phải là danh chơn thường).

          Ngài Khổng Tử cũng dạy:

                    “Đạo bất khả viễn nhân,

                      Nhân tri vi Đạo,

                      Nhi viễn nhân,

                      Bất khả dĩ vi Đạo”.

          (Đạo không xa bản tánh của con người, nếu theo Đạo mà để xa bản tánh thì chẳng phải là Đạo vậy).

          Còn Kinh Phật dạy rằng:

                    “Đạo giả vô chung thỉ,

                      Minh minh hà xứ tầm,

                      Thanh tịnh vô vi pháp,

                      Chánh Đạo ẩn chơn tâm”.

          Tạm dịch:

                    “Đạo vốn chẳng đầu đuôi sau trước,

                      Khắp muôn phương đâu chỗ tìm ra.

                        Nếu lòng sạch hết vọng tà,

                  Tự nhiên Chánh đạo hiện mà nơi tâm”.

          Tóm lại, chữ Đạo rất vô vi mà cũng rất linh hoạt sáng mầu, cho nên nó có cả tướng, dụng và thể:

                    -Có mà không là Tướng của Đạo.

                    -Không mà có là Dụng của Đạo.

                    -Không mà chẳng không là Thể của Đạo.

          LÝ: là Giáo lý, là lời lẽ luận giải các Kinh Luật và pháp môn tu hành của Phật Tổ và chư Phật Thánh đã chỉ dạy, hành giả nương theo đó mà học hỏi tu hành đến chỗ thâm nhập Chơn lý Tuyệt đối và chứng đắc Đạo quả.

          Đức Thầy từng cho biết:

                    “Hạ giái dạy khuyên truyền đạo lý,

                      Giả dạng Điên Khùng mượn thi ca”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          NHÚN TRỀ: Rùn vai, bỉm môi. Ý chê bai bằng lời nói cả dáng điệu.

“Làm dâu vụng nấu vụng kho,

Chồng không bắt bẻ mụ o nhún trề”.(Ca dao)

          ẨN DẠNG: Giấu kín hình dạng. Nghĩa bóng là dùng phương cách khéo léo làm cho người đời không biết mình là bậc tài trí.

CHÁNH VĂN

                    161.“Từ đây sắp đến thảm-thê,
             Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
                    Tới chừng đến việc ngóng-trông,
164. Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.
                    Di-Đà lục tự rán ghi,
           Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.
                    Khuyên đừng xài phí xa-hoa,
           168. Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu”.

  

LƯỢC GIẢI (Từ câu 161 đến câu 168)

          -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ tiên tri từ đây sắp đến cuộc chiến tranh loạn lạc, diễn ra cảnh chia ly thật là thê thảm “Con lìa cha mẹ vợ kia xa chồng”.(Sấm Giảng Q.1) Người đời nếu không cải ác tùng thiện, đợi khi đương đầu với cảnh ấy dầu có ăn năn thì việc đã muộn. Và chừng đó cũng đừng thống trách Phật Tiên sao thiếu lòng từ bi cứu độ.

          -Pháp môn niệm Phật là phương pháp thần diệu để cứu độ nhân sanh trong thời hiện đại. Chỉ có 6 chữ Di Đà, người trì hành không phân biệt đi, đứng, nằm, ngồi.    Đức Thầy dạy:

                    “Nằm , đi, đứng hay ngồi chẳng chấp”.

                                                            (Kệ Dân, Q.2)

          Mà lúc nào cũng gắng công chuyên niệm cho đến khi Tâm được thuần chánh (Chánh niệm). Không còn một vọng tưởng nào xen tạp thì chẳng những thoát khỏi nạn đao binh nước lửa mà còn được thân tâm thanh tịnh, chứng đắc “Cực lạc tại Mục tiền”.

          -Đồng thời với Pháp niệm Phật ta phải rán thi hành lời răn dạy của Đức Thầy:

          “Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất…”  “chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang phụ người nghèo khó”.(Tám điều Răn Cấm)

          Nếu ai thi hành được như thế là đúng với ý nghĩa của chữ “Lo Tu” tất được toại nguyện.

 

CHÚ THÍCH

          TỪ BI: (Xem chú thích đoạn 2 Bài Sứ Mạng)

          DI ĐÀ LỤC TỰ RÁN GHI: Là ghi nhớ, tưởng niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” mãi mãi nơi tâm, đừng để một vọng tưởng nào xen tạp, đây là phương “Trì Danh niệm Phật”. Đức Thầy từng dạy:

                    “Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu”.

                                                  (Kệ Dân Q.2)

          Và:

                    “Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,

                      Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà.

                      Thì hiền lương quên mất điều tà,

                      Đặng hạnh phúc nhờ lòng cố gắng”.

                                                  (Giác Mê Tâm Kệ)

          Nếu ai trì niệm được như thế thì ngoại cảnh không bị quỷ ma khuấy rối và nội tâm không còn tà vọng làm hoặc loạn.

          Về ngoại cảnh, Kinh Phật có dạy:“Người niệm Phật được có hào quang của Phật soi vào mình, ánh sáng chung quanh 40 dặm, nên ma không thể xâm phạm được. Đó là nhờ oai lực của Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hộ trì, mãi từ ngày phát tâm cho đến thành Đạo, trước sau mọi việc đều lành cả”.

          Ông Sư Vãi Bán Khoai cũng bảo:

“Niệm Phật có bốn Thần linh,

Thường thường ủng hộ bên mình mộ khan.

Niệm Phật tật bệnh tiêu tan,

Như sương tan nát, như hồ nước trong”.

          CÒN VỀ NỘI TÂM: Nếu ta cố gắng trì niệm lục tự cho đến khi “Nhứt tâm Bất loạn” thì vọng tâm tà vạy (Nội ma) không còn, tức diện kiến “Bản lai Thanh tịnh”.

          Đức Thầy từng dạy:

                             “Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà”

                                        (Giác Mê Tâm Kệ Q.4)

          Và:

                    “Niệm chữ Di Đà tan chướng nghiệp”.

                                        (Đáp lời cho Ông Phan Châu Bá)

            XA HOA: Ăn xài xa xí, chưng dọn lòe loẹt. Người xài xí xa hoa thì phải lao tâm mệt xác, chạy chọt tham cầu đủ cách để có tiền của ăn xài. Cho nên người càng ăn xài nhiều thì càng bị vật chất chỉ huy, Đức Thầy hằng khuyên dạy người ấy:

                    “Nhà giàu có xài không sợ tốn,

                      Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.

                      Lo ăn xài trà rượu xình xoàng,

                      Chừng khổ não phàn nàn căn số”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          ĂN CẦN Ở KIỆM: Cần là siêng năng, chịu khó. Kiệm là tiết kiệm, biết bớt chỗ dư, bồi vào chỗ thiếu, không ăn xài vô lý. Đức Thầy từng dạy:

                   “Khuyên chúng sanh bỏ tánh biếng lười,

Phải sốt sắng làm ăn cần thiết.
Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.
Nên bá gia hãy rán miệt mài,
Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm”.
                 (Giác Mê Tâm Kệ Q.4)

 

CHÁNH VĂN

                    169.“Đừng khinh những kẻ đui-mù,
            Đến sau sẽ khổ gấp mười mù-đui.
                    Đời nay xét tới xem lui,
          172. Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.
                     Tu-hành sau được đức-ân,
           Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
                    Nói ra trong dạ chẳng yên,
           176. Điên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.
                    Tới đâu thì cũng như đâu,
           Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
                    Bá gia ai biết thì ưa,
           180. Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.
                    Khi già lúc lại trẻ thơ,
          Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
                    Đi nhiều càng thảm càng phiền,
          184. Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 169 đến câu 184)

          -Đoạn giảng qua, Đức Thầy khuyên bá tánh đừng khinh thường những người mù đui, vì sau nầy (tuổi Mùi) dân chúng phải chịu khổ nhiều hơn cái khổ của những người tàn tật hiện tại.

          -Nếu ai biết trau dồi Đạo đức thì được kiến diện Phật Tiên, thoát qua tai khổ.

          -Xét qua thời cơ rồi nhìn khắp vạn dân Đức Thầy phải ngậm ngùi vì cảnh khổ đã kề bên mà ít ai tỉnh thức tìm phương giải thoát.

          -Bởi lòng từ bi quá thương xót sanh linh buộc lòng Ngài tỏ thật cơ mầu; nếu ai hiểu được thì nghe theo, bằng không tin mặc ý. Trên đường dạo Lục châu, Ngài chẳng quản sự gian khổ, giả ra đủ hạng người để tùy cơ giác tỉnh quần sanh.

CHÚ THÍCH:

          ĐỨC ÂN: (Xem Chú thích câu 27, Q.1)

          BAN BỐ: Cấp phát, giúp cho (cũng như chữ Bố Thí). Đức Thầy có câu:

                    “Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,

                    Xem chung cuộc Phong Thần tại thế”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ Q.4)

          CHÈO QUẾ: Chèo làm bằng gỗ quế, thịt loại cây nầy rất quý và chắc. Văn chương thường dùng “chèo quế sào lan” để nghe đẹp lời. Trong bài “Ngược dòng sông Lam” của Nguyễn Huy Hổ có câu:

“Này này quế trạo lan hương,

Ví đưa Xích bích chỉ đường Đông Pha”.

          LỤC CHÂU: (Xem chú thích câu 56, Q.1)

          THỊ THIỀNG: Cũng đọc là thị thành. Chỉ các nơi có chợ búa, phố xá và dinh thự. Đức Thầy có câu:

                    “Muốn lánh phồn hoa lánh thị thành”.

          LÊN DOI XUỐNG VỊNH: Doi là phần đất lồi ra mé sông; vịnh là khoảng bờ sông ăn khoét vào đất liền. Có nghĩa là chèo lượn quanh bờ sông, khi doi ra khi khuyết vào. Đây ngụ ý cho sự cực nhọc vất vả.

 

CHÁNH VĂN

                    185.“Tay chèo miệng lại hát ca,
          Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.
                    A-Di-Đà Phật từ bi,
          188. Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng này.
                    Từ ngày thọ giáo với Thầy,
          Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.
                    Ngày nay chẳng kể tấm thân,
          192. Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 185 đến câu 192)

         

          -Đoạn nầy ý nói Đức Thầy đi dạo Lục châu. Ngài vừa chèo vừa ca hát cảnh tỉnh nhơn sanh, nhứt là Ngài tiên báo về thế cuộc sắp xảy ra cảnh giặc loạn khắp nơi, nhà cửa tan nát, thân tộc chia ly.

          -Ngài cũng cho biết từ khi thọ giáo với Đức Phật, Ngài đã giũ sạch lòng trần; tham lam, vị ngã, sân si đều dứt bặt; quyết đem đạo mầu rộng độ quần sanh. Dù bao thử thách chua cay, bao sự tù đày hiểm họa dồn tấp đến, nhưng Ngài chẳng hề nao núng; miễn sao bá tánh biết hồi tâm, quay về nẻo Đạo để sau nầy được thọ hưởng cảnh thanh bình của Tiên Phật.

          -Đức Thầy cũng nguyện với Đức Phật A Di Đà chứng minh cho cuộc xả thân độ chúng của Ngài.

                    “Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,

                  Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn hưng”.

                                        (Hiến Thân Sãi Khó) 

CHÚ THÍCH

          A DI ĐÀ PHẬT: Phạn ngữ Amitabha Bouldha. Tàu dịch là Vô Luợng Thọ Phật, Ngài thọ mạng dày dặc vô biên triệu ức kiếp và Vô Lượng Quang Phật, hào quang của Ngài sáng vô cùng, chiếu khắp 10 phương, không bị sự vật nào ngăn che. Phật A Di Đà là Giáo Chủ cõi Tây Phương Cực Lạc.

          Có nhiều kinh chép về  sự tích A Di Đà, ở đây chúng tôi xin lược ghi hai chuyện.

          1.- Căn cứ theo Kinh Bi Hoa, vào thời quá khứ tại thế giới San Đề Lam, có vua Chuyển Luân Thánh Vương

tên là Vô Tránh Niệm, quan đại thần là Bảo Hải, sanh được người con trai tướng mạo trang nghiêm, đức độ siêu thường. Sau xuất gia tu hành đắc đạo hiệu là Bảo Tạng Như Lai.

          Một hôm Đức Bảo Tạng đến thuyết pháp gần hoàng thành, vua Vô Tránh Niệm và đại thần Bảo Hải đến dự thính. Nghe pháp xong vua quyết tu thành Phật để độ khắp chúng sanh. Ngài liền đến trước Đức Bảo Tạng Như Lai xin cúng dường các món y thực cho Phật và đại chúng trọn 3 tháng. Đồng thời vua phát 48 lời đại nguyện rộng lớn. Đức Bảo Tạng liền thọ ký cho nhà vua nhiều kiếp sau sẽ thành Phật A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Cực lạc.

          2.- Theo Kinh Vô Lượng Thọ: Vào thời quá khứ lúc Phật Tự Tại Vương ra đời, có một nhà vua tên là Nguyệt Thượng Luân Vương, hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhan đang ngự trị, Quốc Vương Diệu Hỷ. Vua và hoàng hậu sanh được 3 người con:

          1./ Nhựt Nguyệt Minh.

          2./ Kiều Thi Ca.

          3./ Nhựt Đế Chúng.

          Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, Thái tử Kiều Thi Ca bỏ ngôi xuất gia thọ Tỳ kheo giới. Phật đặt pháp danh cho Ngài là Pháp Tạng. Ngài liền quỳ trước mặt Phật phát 48 lời Đại nguyện. Phật Thế tự Tại Vương liền thọ ký cho Ngài. Sau sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, làm Giáo chủ cõi Tây phương Cực lạc.

          Lúc bấy giờ quả địa cầu rúng đông, chư thiên ở các cõi Trời đều mưa hoa cúng dường, trổi nhạc chúc tụng mà tán thán rằng:“Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo chắc chắn sẽ thành Phật A Di Đà”.

          THIÊN TRƯỚC: Cũng đọc là Thiên trúc, hay gọi là Tây Thiên Trước, bởi nơi ấy có Phật giáng sanh và phát xuất đạo Phật; từ đó người tu Phật cũng coi như vậy. Nhưng chữ Thiên Trúc còn có nghĩa rộng là chỉ cho cõi Tây phương Cực lạc (An Dưỡng Quốc) của Đức Phật A Di Đà. Trong Kệ Dân (quyển Nhì), Đức Huỳnh Giáo Chủ có cho biết:

                    “Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,

                      Chẳng ở yên còn xuống phàm trần”.

          Và:

                    “Cảnh Tây Thiên báu ngọc đầy lầu,

                      Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng”. 

           THỌ GIÁO: Cũng đọc là thụ giáo. Có nghĩa vâng chịu sự dạy dỗ của một ông Thầy hay một Đạo (quy y thọ giáo).

          VỊ KỶ: (Xem chú thích đoạn 1, Bài Sứ Mạng).

          MIỄN: Cốt, gắng sức, khuyến khích (tiếng so sánh để chọn lựa cái chánh). Đức Thầy có nói:

                    “Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,

                    Buổi bần hàn đặng có tu thân”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          BỒNG LAI: Tên một hòn đảo ở biển Bột Hải. Các từ điển chép: Trong biển Bột Hải có ba hòn đảo: 1/. Bồng Lai. 2/. Phương Trượng. 3/. Doanh Châu. Nước ở biển nầy rất yếu nhẹ (nhược thủy) cho đến lông chim rớt xuống cũng không chìm. Trong văn chương thường dùng “Non Bồng nước Nhược” để chỉ cho cảnh Tiên (cảnh tiêu diêu thanh thoát) đối với cõi trần đầy tục lụy.

“Bầu trời man mát xa trông,

           Biết đâu nước Nhược non Bồng là đâu”. (Cổ thi)

            Đức Thầy cũng viết:

                    “Cảnh dương trần khó sánh Bồng Lai,

                       Về Tiên cảnh say mùi rượu Thánh”.

                                        (Diệu Pháp Quang Minh)

 

CHÁNH VĂN

                    193.“Đời này vốn một lời hai,
          Khắp trong trần-hạ mấy ai tu trì.
                    Đời này giành-giựt làm chi,
          196. Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.
                    Thuyền đưa Tiên-cảnh Non-Bồng,
          Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
                    Cứ lo làm việc tà-tây,
          200. Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
                    Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,
          Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.
                    Thấy đời mê-muội lầm-than,
          204. Ăn bạ nói càn tội-lỗi chỉn ghê.
                    Chữ tu không phải lời thề,
          Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-bang.
                    Nói nhiều trong dạ xốn-xang,
          208. Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn”.

LƯỢC GIẢI (Từ câu 193 đến câu 208)

          -Đoạn nầy ý nói trong thế gian ít người tu niệm, phần nhiều lo tham gian giành giựt, bày mưu nầy chước nọ để: “Của dương thế góp tom bảo thủ” (Khuyến Thiện, Q.5).

          Rốt cuộc của ấy cũng tiêu tan theo chiến tranh giặc cuớp. Kinh Phật bảo: Của Thế gian là của năm nhà (năm nhà: nhà lửa, nhà lụt lội, nhà giặc cướp, nhà sung công, nhà con cháu phá tán), dầu ta có tham gian cũng chẳng giữ được lâu dài. Đức Thầy thường cảnh tỉnh:

                    “Nạn khổ đâu đâu đều túng rối,

                     Tai ương chốn chốn khắp cùng nơi.

                      Tiền ma gạo quỷ đừng nên trữ,

                      Sau cũng tiêu theo luật của trời”.

          -Lời giáo pháp của Đức Thầy ví như chiếc thuyền có diệu năng đưa người tu đến cảnh Tiên Phật, nhưng ít có ai thành tâm theo Đạo, mãi mãi chạy theo danh lợi ảo huyền, sát hại sanh vật ăn uống cho hả hê, nói năng bất chánh không kể gì là nghĩa nhân đạo lý. Đến khi gặp cảnh ốm đau họ mới van lơn cầu khẩn Phật Trời thì việc quá muộn:

                    “Đến tội rồi mới hối muộn màng”.

          Cho nên Đức Thầy hằng khuyên mọi người:

                    “Chi cho bằng ta sớm lo toan,

                      Gìn giới luật nghe kinh trọng Phật”.

          Thì sau nầy sẽ gần được Tiên Phật.

          -Nhìn qua xã hội loài người thấy kẻ gian ác thì nhiều, người hiền lương quá ít. Cho nên càng nhắc đến, Đức Thầy càng xót dạ thương tâm cho hạng người chưa cải ác tùng thiện.

CHÚ THÍCH

          VỐN MỘT LỜI HAI: Lối cho vay lúa hoặc tiền của số người giàu có. Lúc bấy giờ (thời Pháp thuộc) lòng họ quá tham ác (cắt cổ lột da) cho vay vốn một tới mùa phải trả bằng hai. Nếu mùa nầy không đủ trả thì cứ kê thêm mùa tới, hai phải lên bốn. Rồi ít năm sau chủ nợ kiện đến tòa, buộc con nợ phải bán nhà, giao đất để trừ.

          Đức Thầy đã giác tỉnh hạng người cho vay:

“Xác phàm có mấy lăm hơi,

Hỏi vay có một mà lời đôi ba.

 

Của dư cho mượn mới là,

Hảo tâm bố thí ngọc tòa được lên”.

                   (Khuyên người giàu lòng Phước Thiện)

            TU TRÌ: (Xem chú thích câu 36, Q.1)

          VIỆC LY KỲ: Việc lạ lùng, khác thường. Đây chỉ cho cuộc gặp cướp loạn lạc, thay đổi màn lớp làm bao nhiêu của cải phải tiêu tan. Giờ ta có tham lam giành giựt cũng chẳng ích chi. Đức Thầy diễn tả cảnh ấy:

                    “Giàu sang như nước trên nguồn,

                    Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ”.

                                                  (Sấm Giảng, Q.1)

          Hoặc là:

                    “Cảnh vinh hoa lại quá cheo leo,

                      Nhà giàu có sau nhiều tai ách”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          Việc ly kỳ còn chỉ cho cảnh biến thiên tận diệt đời Hạ ngươn để lập lại Thượng ngươn:

                    “Khắp thế giới cửa nhà tan nát,

                     Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.

                      Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt chiu,

                      Nay tận diệt lập đời trở lại”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          TIÊN CẢNH NON BỒNG: Cảnh Tiên ở núi Bồng lai. Ở đây ý nói Đức Thầy khai truyền Đại đạo nếu ai tu đúng theo giáo pháp thì được thoát khỏi miền trần tục mà hưởng cảnh tiêu diêu tự tại của Tiên Phật. Bởi giáo pháp ví như thuyền bè, nếu ai chịu bước xuống (vào Đạo) và cố gắng chèo chống (hành Đạo) tức sẽ tới bờ bên kia giải thoát. Đức Thầy khuyên nhắc:

                    “Khuyến dạy dân tình minh đạo đức,

                      Tu hành được kiến cảnh Bồng Lai”.

                                                  (Viếng non Ông Két)

          THIỀNG LÒNG: Cũng đọc là thành lòng. Nghĩa của chữ thành tâm, tức là lòng theo đạo một cách chí thành chí thật mới mong kết quả. Cổ Đức từng bảo: “Thành tâm sở chí, kim thạch vị khai”.( Ý nói sức mạnh của lòng thành khẩn hướng đến đâu thì có thể chẻ núi phá vàng đến đó).

          Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

                      Chỉ đem theo hai chữ thành lòng”.

                                            (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          LÀM VIỆC TÀ TÂY: Làm việc theo lũ Tây tặc (giặc Pháp). Đây chỉ cho người mãi a dua làm việc với Pháp để kiếm chút quyền oai bổng lộc. Đức Tôn Sư thường thống trách những hạng người ấy:

                    “Sớm lo lòn cúi, chiều ăn ngủ,

                      Nào biết tính toan gỡ nợ nần”.

                                             (Rứt cái ngu đần)

          NGƯU VÀ CẦY: Ngưu là trâu; cầy là chó. Hai loại gia súc nầy giúp ích cho đời khá nhiều. Trâu dùng để cày ruộng, chó để giữ nhà, thế mà người ta nỡ giết nó mà ăn thịt. Đây chỉ cho hạng vong ân bội nghĩa.

          Đức Thầy hằng khuyên: Đối với các gia súc: Trâu, bò, ngựa, chó, mèo…chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày”.(bài Luận về Tam nghiệp - Ác sát sanh).

          MÊ MUỘI: Mờ tối không sáng suốt.

          NÓI CÀN: Nói xằng bậy, ngang ngược, nói thí nói đại, không lựa lời. Cổ ngữ có khuyên:

                    “Lời nói chẳng mất tiền mua,

                  Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

          Đức Thầy nay cũng dạy:

                    “Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,

                      Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.

                      Tích thiện thì thường có phước dư,

                      Bằng tích ác họa ương đeo đắm”.

                                                  (Khuyến Thiện, Q.5)

          TIÊN BANG: Nước Tiên. Đây chỉ cảnh Tiên ở. Đức Thầy khuyên:“Tu hành tâm đạo dựa kề Tiên bang”.(Sấm Giảng, Q.1)

          XỐN XANG: Nhức nhối, bức rức, khó chịu. Phan Văn Trị có câu:

                    “Nong nả dốc vun nền Đạo nghĩa,

                      Xốn xang nào tưởng việc làm ăn”.

 

CHÁNH VĂN

                    209.“Thầy chùa như thể cây sơn,
          Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
                    Buồn thay cho lũ ác-tăng,
          212. Làm điều dối thế cho hư Đạo-mầu.
                    Di-Đà Phật-Tổ thêm rầu,
          Giận trong tăng-chúng sao lừa dối dân.
                    Có thân chẳng liệu lấy thân,
          Tu như lối cũ mau gần Diêm-vương.
                    Bá-gia lầm lạc đáng thương,
          218. Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 209 đến câu 218)

          -Đoạn giảng trên cho biết giữa thời mạt pháp có số người tu hành giả dối họ chỉ chưng diện bên ngoài với mớ hình thức nhà tu, nhưng thâm tâm của họ thì còn ô nhiễm tài sắc vị danh. Thay vì lo nghiên cứu kệ kinh, trau giồi trí tuệ để trực kiến bản tâm hầu dìu dắt nhơn sanh đi tầm Chơn lý, họ lại bày ra cúng kiếng lễ mễ đặng mưu cầu lợi lộc, làm cho thiện nam tín nữ hướng theo âm thanh sắc tướng mà lạc mất Đạo Tâm:“Sắc tướng thinh âm chư ngoại giáo, chơn truyền cụ thất đạo nan thành”, do đó mà đạo Phật suy đồi.

          -Đức A Di Đà và Phật Tổ rất xót thương cho số người không thật tâm hành Đạo ấy, nên các Ngài sắc lịnh cho Đức Thầy lâm phàm hưng truyền chánh pháp, kêu gọi số người giả tu sớm lo liệu trở về với chánh đạo vô vi, xa lìa sắc tướng, nếu ai còn tu theo con đường cũ ấy, ắt khó được thoát ly Địa ngục.

 

CHÚ THÍCH

          THẦY CHÙA: Các Thầy mang hình thức nhà tu ở chùa. Đây chỉ cho những người tu sai Chơn lý của Đạo Phật. Họ chuyên đi làm đám tụng kinh cầu siêu để lấy tiền của bá tánh (gọi là tiền đi công đức), không thật tâm hành đạo. Tuy thân đã xuất gia vào chùa ở (cây sơn), nhưng tâm chẳng ly gia cắt ái chút nào; họ vẫn chứa tiền của vợ con như bao nhiêu người thế tục. Bên ngoài thì khoác chiếc áo nhà tu (ngoài da) nhưng bên trong chẳng có chút gì Đạo Đức (mối ăn).

          Trong Kinh Pháp Diệt Tận, Phật nói:“Pháp dục diệt thời, chư ma sa môn, hoại loạn ngộ đạo, trước tục y thường, nhạo hảo ca sa ngũ sắc y phục. Bất tu giới giải đãi, bất dục thanh văn, bất nhạo đọc tụng kinh, luật thuyết hữu độc giả, bất tức tự cú”.(Trong thời kỳ Pháp của Phật sắp hết thì có bọn ma vô số ở trong chùa giả làm sa môn để phá hoại Chánh đạo của ta, mặc áo quần theo thế tục, ưa đắp y ca sa năm sắc, không tu giới luật nửa tháng một kỳ. Tuy nói rằng tụng giới nhưng chán mỏi biếng lười, không muốn đi nghe pháp, chẳng siêng đọc kinh luật, dù có đọc đi nữa, nhưng không biết nghĩa, phân câu).

          Đức Giáo Chủ nay cũng hằng cảnh tỉnh:

“Chớ giả dối mà mang sắc áo,
 Mượn bồ đề chuỗi hột lòe người.
Làm cho dân khinh dễ ngạo cười,
Tội lỗi ấy luật nào dung thứ.
Tu còn ham chay to đám bự,
Đặng thế gian vay cúng bạc tiền.
Dối rằng lo tu bổ chùa chiền,
Mà làm của xài riêng cho thỏa”.

                    (Khuyến Thiện, Q.5)

ÁC TĂNG: Thầy tu dối thế, giả tu hành để làm điều tội ác. Ca dao có câu:

                    “Ác tăng đội lốt nhà tu,

                Gặp cô gái đẹp, bỏ chùa đi theo”.

Đức Thầy cũng thức tỉnh hạng người nói trên:

“Khuyên trong sư vãi mau mau tỉnh,
Luân hồi quả báo rất công bằng.
Mang tiếng xuất gia sao chẳng liệu,
Đạo đức xong chưa hỡi chư tăng”.

                              (Khuyên trong Sư Vãi)

          DI ĐÀ: (Xem chú thích câu 187, Q.1)

          PHẬT TỔ: Chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

          TU THEO LỐI CŨ: Tu theo lối của Thần Tú bên Trung Hoa, chỉ chú trọng về thinh âm sắc tướng làm sai lạc chánh pháp vô vi của đạo Phật. Họ bày ra cúng kiếng chè xôi, làm chay đàn, đốt lầu kho, xá mã giấy tiền vàng bạc.v.v…do đó, làm cho đạo Phật bị mờ lu, người đời nhạo báng. Trong Kệ Dân quyển Nhì, Đức Thầy đã diễn tả:

“Xưa Thần Tú bày điều tà mị,
Mà dắt dìu bá tánh đời Đường.
Thấy chúng sanh lầm lạc đáng thương,
Cõi Âm phủ ăn năn đâu hối.
Đúc Phật lớn chùa cao bối rối,
Mà làm cho Phật giáo suy đồi.
Tu vô vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót”.

          DIÊM VƯƠNG: Phạn ngữ Nyama, dịch là Diêm La, hoặc Diêm Ma hay Diêm Vương, tức là vua cõi Âm phủ (cõi Địa ngục). Ngài thống trị cõi ấy, dùng phép bình đẳng mà trừng trị những vong hồn đã phạm tội ở dương gian. Ngài gồm có những tên: Diêm Ma Pháp Vương, Bình Đẳng Vương. Bởi Diêm Vương làm vua cõi Diêm ma (cõi Địa ngục), thường khuyến khích kẻ làm lành,  trừng trị kẻ ác nên gọi là Pháp Vương. Và Ngài lấy lẽ công bằng mà trừng trị kẻ tội ác một mực bình đẳng, chớ không hề tư vị nên gọi là Bình Đẳng Vương.

          Đức Thầy có câu:

                    “Ngục môn đầy Quỷ vô thường,

               Dắt hồn kẻ bạo Diêm Vương luật trừng”.

                                        (Đến làng Nhơn Nghĩa)

          PHẬT ĐƯỜNG: (Xem chú thích câu 22, Q.1)

 

CHÁNH VĂN

                    219.“Dương trần nhiều kẻ ham sân,
          Cứ theo biếm nhẻ xa gần người Điên.
                    Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
          222. Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
                    Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
          Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.
                    Có chi mà gọi rằng vui,
          Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian lao.
                    Từ đây hay ốm hay đau,
          228. Rán tu đem được Phật vào trong tâm”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 219 đến câu 228)

          -Đoạn nầy ý nói bởi lòng người đầy dẫy Sân Si, Tà kiến, không phân biệt được giả chơn; thấy Đức Thầy khuyên dạy, chẳng chịu tin nghe lại còn khinh khi nhạo báng. Ngài viết ra kệ giảng là vì bởi lòng từ bi, muốn cho mọi người biết tỉnh tâm tu niệm, thế mà bá tánh còn ngờ vực.

          -Ngài cũng báo tin cho vạn dân được rõ cuộc thế từ đây rất nhiều gian khổ. Song đã tu hành thì phải nương theo Phật pháp rèn luyện cho tâm mình trở thành Tâm Phật, ấy là đặng kết quả cao quý.

 

CHÚ THÍCH

          HAM SÂN: Thích nóng giận. Nó là một điều ác trong ý nghiệp (Sân Nộ). Tánh sân hận gây ra tai hại lớn lao “giận mất khôn”. Kinh Phật bảo:“Nhất niệm Sân tâm khởi, Bách vạn Chướng môn khai”.(Một niệm nóng giận nổi lên thì muôn cửa tội chướng đều mở rộng).

          Đức Thầy cũng bảo:“Cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình lẽ phải trái”.(Bàn luận về Tam Nghiệp – Ác Sân nộ).

          BÚT NGHIÊN: Cây viết và nghiên mực (bình mực). Ý chỉ về sự học hành hay sự nghiệp văn chương.

                                                       “Theo đòi cũng thể bút nghiên,

Thua em kém chị cũng nên hổ mình”.(Ca dao)

          HẾT MÙ TỚI ĐUI: Mù và đui cũng đồng một nghĩa là không thấy đường, nhưng ở đây muốn nói chúng sanh trước kia không biết đường Đạo nghĩa cũng đành; nay có Phật Tiên ra đời khuyến hóa họ cũng không nhận được để tu hành, trở lại còn khinh khi nhạo báng, nên nói là hết mù tới đui.

          PHẬT VÀO TRONG TÂM: Vẫn biết nơi lòng mỗi chúng sanh đều có Phật tánh “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, nhưng tại sao Đức Giáo Chủ lại bảo phải tu đem Phật vào tâm ? Bởi lẽ Phật tánh của mỗi người còn ẩn sau bức màn vô minh dày bịt, nay hành giả phải nương theo Giáo lý của Phật bên ngoài mà tu hành; hoặc hành Bát Chánh đạo hoặc niệm Phật cho tâm được thanh tịnh và chánh niệm, tức phá được màn vô minh, huệ nhựt hiện bày, tâm và Phật hòa nhau một đại thể (Phật tánh).

          Như Đức Thầy đã dạy:

                    Tu cầu Phật hóa tánh tình,

               Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu dao”.

                                                  (Khuyến Thiện, Q.5)

          Ấy là được giải thoát.

 

CHÁNH VĂN
                    229.“Lời hiền nói rõ họa thâm,
          Đặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu hành.
                    Ngày nay Điên mở Đạo lành,
          232. Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.
                    Nay đà gần cuối mùa thu,
          Hết ngu tới dại công-phu gần thành.
                    Xác trần đạo-lý chưa rành,
         236. Mấy ai mà được lòng thành với Điên.
                    Điên này sẽ mở xích-xiềng,
          Dắt-dìu bá tánh gần miền Tiên-bang.
                    Không ham danh-lợi giàu-sang,
          240. Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân”.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 229 đến câu 240)

          -Đức Thầy khai Đạo giáo dân hướng thiện, lời sấm giảng của Ngài là hồi chuông cảnh tỉnh những ai còn ngủ vùi trong màng danh lợi, hãy sớm giác ngộ tu hành. Ngài cũng vạch rõ điều tội phước báo ứng và con đường Đạo hạnh cho thiện tín hành theo.

          -Tuy Ngài là bậc quán thông cơ pháp, nhưng lúc nào cũng khiêm nhượng trước bá tánh, về Đạo lý. Vì thời cơ chưa đến nên Ngài phải giả dạng là Điên, nhưng Điên mà biết thương dân mến nước, biết đem đạo mầu cứu vớt sanh linh.

                    “Điên như ta Điên giống Tiên Rồng,

                      Điên gỡ ách xích xiềng thế tục”.

                                        (Diệu Pháp Quang Minh)

          -Lòng Ngài chẳng còn vướng bận lợi danh, chỉ mong sao cho cả vạn dân đều thành tâm tu niệm để sau nầy hưởng cảnh thanh bình an lạc.

                    “Ước mơ thế giới lân Hòa Hảo,

                      Nhà Phật con Tiên hé miệng cười”.

                                        (Phòng vắng Đêm khuya)

 

CHÚ THÍCH

          HỌA THÂM: (Xem chú thích câu 12, Q.1)

          TỈNH TÂM: Lòng tỉnh thức, sáng biết, hết mê lầm.

          MÙA THU: Một năm có 4 mùa là Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Thu là mùa thứ ba trong năm. Vậy cuối mùa thu là vào khoảng tháng 9 Âm lịch.

          CÔNG PHU: Gắng sức chuyên trì để làm một sự việc gì, như việc ấy rất lớn lao phải có nhiều công phu tỉ mỉ làm mới thành công, như công phu hành đạo. Đây chỉ cho công phu viết giảng khai Đạo của Đức Thầy.

          ĐẠO LÝ: (Xem chú thích câu 155, Q.1)

          XÍCH XIỀNG: Dây xích và dây xiềng, gông cùm xiềng xích. Nghĩa bóng là giam mình trong vòng nô lệ, bị lệ thuộc. Chữ xích xiềng ở đây chỉ cho sự trói buộc, giam hãm trong vòng trần tục, sanh tử luân hồi.

          Kinh Phật Bảo:“Sắc đẹp là gông cùm trói buộc thân người, danh lợi, áo đẹp, món ngon, ruộng vườn nhà cửa là xiềng xích, khiến cho người phải đọa trong Tam giới”. Đức Thầy giác tỉnh:

                    “Tham chi giả tạm của tiền,

              Như chim vào lưới xích xiềng trói thân”.

                                                  (Hoài Cổ)

CHÁNH VĂN

                    241.“Thường về chầu Phật tấu trần,
          Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức ơn.
                    Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
          244. Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ tường.
                    Phật, Trời thấy khổ thời thương,
          Muốn cho lê-thứ thường thường làm nhơn.
                    Đừng ham tranh-đấu thiệt hơn,
          248. Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !
                    Hồng-trần biển khổ thấy rồi,
            Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.
                    Đừng ham nói đắng nói cay,
          252. Cay đắng sau này đau đớn, sầu-bi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 241 đến câu 252)

          -Trong thời gian dạy đạo, Đức Thầy thường về gặp Đức Phật Tổ trình bày hết mọi việc trong trần để cầu xin Đức Phật ban phước lành cho chúng sanh khỏi tai nạn và tỉnh tâm tu niệm.

          -Lòng từ bi của Trời Phật và Đức Thầy lúc nào cũng nhủ lòng thương khắp sanh linh nbên dạy bày cặn kẽ:

                    “Lời Thầy dạy thật là cặn kẽ,

                      Bao nhiêu tình bác ái góp tom”.

                                                  (Sa Đéc)

          Để khuyên mọi người lo thi ân bố đức, chẳng nên tranh đua, tham đắm vật chất mà làm gì. Bởi các thứ ấy đều là ảo ảnh phù hoa, dầu ta có hơn thua dành dụm, đến khi “Nhắm mắt cũng nắm hai tay”.(Khuyến Thiện, Q.5)

          -Trên đường tu hành ai muốn đạt đến mục đích cao quý, thì đừng “bán đồ nhi phế” mà luống uổng công phu từ trước, và chẳng nên  nao núng trước thử thách chông gai.                  
              “Dầu cho gặp lắm hùm beo,

               Từ bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng”.

                                                  (Thu Đã Cuối)

          Vậy mọi người nên nhận rõ cõi trần là bể khổ, càng lặn hụp càng chuốt lấy đau sầu. Song muốn vượt qua khổ hải thì hành giả phải xử trọn Đạo Nhân là điều trước hết. Bởi Cổ Đức từng bảo:

                    “Dục tu Tiên đạo, Tiên tu Nhân đạo.

                      Nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỷ”.

         (Muốn tu Đạo Tiên hay đạo Phật, trước phải tu đạo Nhân, bằng Nhân đạo không tu thì đạo Tiên hay đạo Phật phải xa vậy).

          -Đồng thời phải cẩn trọng lời nói, đừng để sơ suất quán phạm, tức là ngăn chừa khẩu nghiệp để sau nầy khỏi vương mang những điều sầu khổ.

CHÚ THÍCH

          TẤU TRẦN: Trình rõ mọi việc lên bề trên.

          PHẬT TỔ: Là Đức Thích Ca Mâu Ni, bởi căn cứ theo Phật sử thì Ngài là vị Giáo Tổ sáng lập đạo Phật, nên được đời xưng tụng Ngài là Phật Tổ.

          Đức Thầy từng thốt:

                    “Hồi thuở trước Thích ca Phật Tổ”.

          Hoặc là:

                    “Nhớ thuở trước oai linh Phật Tổ,

                      Phép thần thông trừ lũ Ma Vương.

                      Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,

                      Tìm đạo lý hiến cho trần thế”.

                                                  (Khuyến Thiện, Q.5)

          NGUỒN CƠN: (Xem chú thích câu 39, Q.1)

          THIỆT HƠN TỎ TƯỜNG: Nói giác đác, cân nhắc phải quấy lợi hại một cách rõ ràng.

          LÀM NHƠN: Làm những việc phước thiện, đạo đức đối với vạn loại chúng sanh.

          TRANH ĐẤU THIỆT HƠN: Tranh đua giành giựt, hơn thua cao thấp từ chút.

          CHỚ SỜN: Không nao núng dời đổi. Ý Đức Thầy cho biết trên con đường độ thế dù gặp nguy hiểm khó khăn thế nào Ngài cũng không sờn lòng nản chí.

                    “Dù gian lao dạ sắt chẳng sờn”.(Sa Đéc)

         HỒNG TRẦN BIỂN KHỔ: Hồng trần là bụi đỏ. Biển khổ là sự khổ rất nhiều và rộng lớn như biển cả. Ý chỉ cõi đời đầy cát bụi nhớp nhơ đau khổ, sự đau khổ trần lụy mênh mông vô bờ bến.

          Nhà thơ Đoàn Như Khuê đã nói:

                    “Bể khổ mênh mông sóng lục trời,

                    Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi.

                    Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió,

                    Gẫm lại cùng trong bể thảm thôi !”

          Đức Phật bảo rằng: Đời là bể khổ, nước mắt của chúng sanh khóc cảnh sanh ly, tử biệt từ vô thỉ đọng lại, nếu có chỗ chứa còn nhiều hơn bể cả”.

          Đức Thấy hằng bảo:

                    “Biển trần lao lý diệu vơi,

             Khổ tâm chắc lưỡi chiều mơi phủi rồi”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          NHƠN ĐẠO: Cũng viết là Nhân đạo, tức là Đạo làm người. Người ở đời phải đối xử với nhau cho tròn nhân nghĩa. Nam có Ngũ Luân, Ngũ Thường; Nữ có Tam Tùng, Tứ Đức.(- Ngũ Luân: Quân thần, Phụ tử, Phu phụ, Huynh đệ, Bằng hữu. – Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. – Tam tùng: Tùng phu, Tùng phụ, Tùng tử. - Tứ đức: Công, Ngôn, Dung, Hạnh.)

          Ngoài những điểm trên, Đức Thầy còn dạy:“ Đạo của con người kêu bằng “Đạo Nhân” và nó là một con đường đi trúng thì sống bước trật tất chết.” hay :“Muốn làm tròn Nhân Đạo phải giữ vẹn Tứ Ân, nhưng trước hết hãy tránh Tam nghiệp và chừa Thập ác, cũng như muốn làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ”.

         NÓI ĐẮNG NÓI CAY: Dùng lời lẽ sóc óc làm đau đớn lòng người. Theo hai câu trên ý nói, nếu ta dùng lời cay đắng ác độc đối với người thì sau nầy sẽ bị trả lại, Kinh sách thường nói:

                    “Phù sĩ xử thế, Phủ tại khẩu trung,

                      Sở dĩ trảm thân, Do kỳ ác ngô”.

          (Luận kẻ ở đời như búa ở trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác).

          Và Đức Phật Thầy cũng bảo:

                    “Voi kia ai mượn thài lay, (nói quấy)

                    Bởi mình lại muốn lấy dây buộc mình”.

CHÁNH VĂN
                    253.“Tu hành tâm trí rán trì,
            Sau này sẽ thấy việc gì trên mây.
                    Đừng làm tàn-ác ham gây,
          256. Sẽ có người này cứu vớt giùm cho.
                    Dương-trần lắm chuyện đôi co,
          Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu hành.
                    Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,
          260. Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 253 đến câu 260)

          -Đoạn giảng trên ý nói đã tu hành thì phải giữ gìn tâm trí được thuần chánh thanh tịnh, tất sẽ đắc Đạo và sau nầy đặng thấy phép mầu của “Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc”.(bài Không Buồn Ngủ)

          Lúc bấy giờ cuộc chọn lọc rất hãi hùng mà cũng rất công bằng, hiền còn dữ mất:

                    “Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,

          Người tu niệm sống đời thượng cổ”. (Kệ Dân, Q.2)

         -Nếu ai biết cải ác tùng thiện bỏ lòng sân si ái ố, vị kỷ tham lam, sớm hôm lo nghiên cứu tưởng niệm Kệ kinh, trau dồi tâm đức thì mai sau có Đức Thầy độ rỗi và được kiến diện Phật Tiên trong ngày lập hội.

 

CHÚ THÍCH

          TÂM TRÍ: Tâm có 2 thứ, vật chất và tinh thần.

          a./ Về vật chất thì hiểu tâm là trái tim “Nhục đoàn tâm”.

          b./ Về tinh thần thì có “Duyên Lự Tâm” và “Chân Như Tâm”.

          -Duyên Lự Tâm là lòng dạ suy biết, nghĩ ngợi lo lắng; duyên theo Thất tình Lục dục.

          -Chân Như Tâm là cái tâm thường còn không dời đổi, không hoại diệt, cũng gọi là Chân tâm hay Phật tánh.

          TRÍ: Cũng có hai:

          a./ Thế Trí: Tức là phần khôn biết trong tinh thần của con người ở thế gian. Trí nầy có giới hạn, hễ ai học hỏi nhiều thì sáng biết nhiều, học hỏi ít thì sáng biết ít.

          b./ Trí Huệ: Tức là cái trí sáng biết thông suốt vô cùng tận, không vật gì làm ngăn lại được do công đức tu hành khi diệt hết vô minh mà đặng.

          Tâm và Trí đồng một Thể: Tâm là Thể của Trí, Trí là Dụng của Tâm, ví như ngọn đèn và ánh sáng. Khi tâm muốn biết rõ việc chi thì dùng trí mà quán xét tìm hiểu rồi trao về cho Tâm quyết định. Đức Thầy có dạy:“Lấy tâm làm chủ trì mọi việc, lấy Trí mà phán xét mọi việc trước khi ta sắp đưa cho Tâm chủ trì…”(bài Trong việc Tu thân Xử kỷ).

          Nói chung Tâm Trí là chủ tể của xác thịt, là nguồn gốc của vũ trụ vạn hữu “Nhứt thiết duy Tâm tạo”.

          Trong Lăng nghiêm Kinh, Đức Phật bảo:

                    “Nhứt pháp sở sanh,

                      Tùy Tâm sở hiện,

                      Nhứt thiết nhân quả,

                      Thế giới vi trần,

                      Chân tâm thành thể”.

          (Các pháp sanh ra là do nơi Tâm biến hiện. Mà tất cả các pháp như Nhân quả, Phàm thánh, Quyền thiệt, cho đến lớn như thế giới, nhỏ như bụi trần, đã do nơi Tâm mà hiện ra thì cũng do nơi Tâm mà thành thể).

          Đức Thầy hiện nay cũng bảo:

“Địa ngục cũng tại Tâm làm quấy,
Về Thiên đàng Tâm ấy tạo ra.
Cái chữ Tâm mà Quỷ hay Ma,
Tiên hay Phật cũ là tại nó”.

          Vậy câu:“Tu hành Tâm Trí rán trì” là Đức Thầy dạy người tu hành rán giữ gìn tâm trí mãi mãi thuần chánh, yên tịnh, sáng suốt, tức được kết quả.

          VIỆC GÌ TRÊN MÂY: Nghiên cứu qua bộ Sấm Thi của Đức Thầy ai cũng thấy, Ngài cho biết sau nầy sẽ có nhiều việc xảy ra trong bầu trời, ở đây chỉ nêu ra một vài trường hợp;

          Trong bài Đến làng Nhơn Nghĩa, Ngài nói:

                    “Ôi khổ thảm bốn bề sóng dậy,

                      Dòm lưng Trời lửa cháy liên miên.

                            Tiêu điều sản vật điền viên,

               Thần thông biến hóa dưới miền trung ương”.

          Và trong Sám Giảng Q.3:

                    “Khuyên dân lòng chớ có sờn,

                   Rán tu thì được xem đờn trên mây”.

          ĐÔI CO: Cãi vã, phân biệt phải trái.

          VỊ KỶ: (Xem chú thích đoạn 1, Bài Sứ Mạng).

          KỆ KINH: Kệ theo Phạn ngữ (Scr) là Gatha, phiên âm là Kệ Đà. Cũng đọc là Già Tha hay Già Đà. Dịch là Tụng hay Phúng Tụng. Có nghĩa là kiệt, tức gồm thâu hết ý nghĩa.

          KỆ là một thể văn trong Kinh, thường cứ một thiên Kinh, thì có một bài Kệ để tán tụng hay diễn dịch, tuyên giải cho rộng nghĩa ra. Kệ không hạn số câu, dài ngắn gì cũng được, như bài Kệ Kiến Tánh của Đức Lục Tổ Huệ Năng. Bài Kệ trong Khuyến Thiện Q.5 của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Kệ từ 2 đến 7 chữ một câu gọi là Biệt Kệ. Từ 8 đến 32 chữ gọi là Thông Kệ.

          KINH: Phạn ngữ (Scr) là Sâtras, phiên âm là Tu Đà La, Tàu dịch là khế Kinh tức là Hiệp kinh. Kinh là một trong ba tạng Kinh, Luật, Luận. Lúc Đức Phật còn trụ thế, Ngài tùy nghi mà thuyết pháp độ sanh. Sau các đại đệ tử họp nhau kết tập lại, lưu truyền đến nay.

          Kinh gồm có 12 bộ như sau:

1. Khế Kinh: Tức là nói ngay những Văn trường Hàng trong các kinh.

  1. Trùng Tụng: Nói lập lại nghĩa trong Văn trường Hàng các Kinh.
  2. Thọ Ký: Là Đức Như Lai vì các đệ tử mà thọ ký sau sẽ thành Phật.
  3. Già Đà La: Những bài kệ, bài Tụng trong các Kinh.
  4. Tự Thuyết: Những điều không ai hỏi Phật, nhưng Đức Phật biết rõ căn cơ tất cả mọi loài mà thuyết
  1. Nhân Duyên: Nhân có người hỏi, Phật mới thuyết.
  2. Bản Sanh: Đức Phật nói cội gốc tu hành của các vị Bồ tát, những việc từng làm như thế nào mới tròn bổn phận của Bồ Tát.
  3. Bản Sự: Đức Phật nói với các đệ tử và hàng Thinh Văn thuật lại đời trước của Ngài và các đệ tử.
  4. Phương Đẳng: Cũng gọi là Phương Quảng, là các kinh điển Đại Thừa nghĩa lý rộng lớn như hư không.

10. Hy Hữu: Là trong các Kinh, Đức Phật dạy những việc công đức sâu rộng ít có.

11. Thí Dụ: Đức Phật vì những người căn trí cạn hẹp tối tăm mà thuyết pháp, mượn các vật và lời nói thí dụ để giải bày chơn lý.

12. Luận Nghĩa: là Đức Phật trả lời những câu hỏi của mọi người mà giải rộng nghĩa lý.

          Lại nữa, trong A Tỳ Đàm Tâm Luận nói Kinh có 5 nghĩa:

  1. Xuất Sanh: Phát sanh có diệu nghĩa.
  2. Tuyền Dõng: Nghĩa lý như nguồn suối chảy không cùng tột.
  3. Hiển Thị: là bày tỏ các nghĩa lý.
  4. Thằng Mặc: Phân biệt tường tận lẽ tà chánh như nẻ dây mực.
  5. Kiết Man: Gồm thâu các pháp cụ túc như xâu chuỗi.

          Trong Phật Địa Kinh Luận cũng nói:“Năng quán năng nhiếp, Cố danh vi kinh”.(Hay thông suốt vạn Pháp, lại cũng hay thu nhiếp Diệu Nghĩa một cách thuần diệu, gọi là Kinh).

          Xuyên qua các nghĩa nói trên, nhận thấy trong Thi Văn Giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ có rất nhiều bài Kinh hoặc Kệ gồm đủ tinh nghĩa của Tam tạng Kinh, Luật, Luận, như bài Kệ trong quyển Khuyến Thiện, bài cho Ông Cò Tàu Hảo, Kệ Dân quyển II…

          Và Ngài cũng từng nói:

                    “Rút trong các luật các kinh”.

                                        (Dặn dò Bổn đạo)      

          hoặc:

                    “Rừng rú Kệ Kinh cắt khoen rào”.

                                        (Để chơn đất Bắc)

 
CHÁNH VĂN
                    261.“Lúc này thế-giới bi-ai,
          Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
                    Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
          264. Từ đây đạo hạnh được mầm thanh-cao.
                    Hồng-trần lao-khổ xiết bao,
          Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.
                    Xưa nay đạo-hạnh quá lu,
          268. Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 261 đến câu 268)

          -Lúc bấy giờ (1939) nhân loại cả thế giới đang lâm vào cảnh buồn khổ, do cuộc Đệ nhị Thế chiến diễn ra. Đức Thầy kêu gọi nhân sanh quay về nẻo đạo, nếu ai muốn tìm Phật khỏi cần phải lặn suối trèo non hay nhọc công khổ hạnh, cứ trở về với nội tâm mình mà trau sửa. Bởi ngoài tâm không có Phật, nếu hành giả cố gắng, như trong Giác Mê của Đức Phật Thầy Tây An có dạy:

                    “Lọc lừa thì đặng nước trong,

             Ma Phật trong lòng lựa phải tìm đâu.”

          -Thời gian qua, tòa nhà đạo hạnh bị khói dị đoan che phủ, tà thuyết lấp ngăn, bao căn lành bị vùi sâu trong tâm địa. Lời Khuyến Thiện của Đức Thầy là nguồn mưa pháp vừa rửa sạch mây mù vừa làm cho những hạt giống lành được nứt mầm đâm tược. Từ đây nền Đạo hạnh sẽ được sáng tỏ bốn phương để bù lại những ngày đen tối trước kia.

CHÚ THÍCH

          THẾ GIỚI: (Xem chú thích đoạn 5 Bài Sứ Mạng).

          BI AI: Buồn thảm đau đớn.

          CHẲNG NÓI VẮN DÀI: Nói rõ ta, không luận cao thấp dông dài khó hiểu.

          PHẬT NỌ TỨC TÂM: Phật vốn nơi lòng mỗi người. “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Song vì vô minh che mờ tâm trí, không nhận được tâm mình có

Phật, mãi tìm kiếm viễn vông bên ngoài. Khi xưa vị Quốc Sư ở núi Yên tử có nói với vua Trần Nhân Tôn, khi

vua vào núi cầu đạo:“Núi vốn không có Phật, chỉ có ở tâm, lắng tâm mà thấy, đấy gọi là Chơn Phật. Nay Bệ Hạ muốn giác ngộ tâm ấy thì đứng ở trần gian mà tìm Phật, không phải khốn khổ cầu Phật bên ngoài”.

          Thế là tâm chúng sanh và tâm Phật chỉ là một. Hễ còn vọng niệm, phiền não là chúng sanh; bằng hết vọng niệm phiền não là Phật. Tâm mình còn mê là chúng sanh, tâm mình giác ngộ tức là Phật. Vậy thì người muốn tìm Phật cứ xoay về bản tâm của mình mà diệt trừ hết trần lao phiền não, đối với các cảnh tượng lành dữ mà tâm vẫn như như bất động, chính đó là Phật rồi vậy.

          Trong Khế Kinh có dạy:

                    “Thị Tâm tác Phật, Thị Tâm thị Phật,

                      Ngoại Tâm vô Phật, Ngoại Phật vô Tâm”.

          (Tâm ấy tạo tác ra Phật, tâm ấy nó là Phật. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có Tâm).

          Đức Huỳnh Giáo Chủ nay cũng dạy:

                    “Phật tại tâm chớ có đâu xa,

                     Mà tìm kiếm ở trên non núi”.

                                        (Kệ Dân, Q.2)

          Và:

                    “Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,

                    Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

                                             (Đến làng Nhơn Nghĩa)

          MẦM: Chồi cây mới nhú lên, sự mới ướm phát của hột giống.

          Ca dao có câu:

                    “Sáng ngày đem lúa ra ngâm,

                 Bao giờ mọc mầm ta sẽ đem gieo”.

          THANH CAO: Thanh nhã và cao thượng.

 “Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.(Truyện Kiều)

          Đức Thầy cũng dạy:

                    “Thường trau giồi chí hướng cao thanh,

                      Cho khỏi thẹn con lành Phật giáo”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          BƯỚC VÀO ĐƯỜNG TU: Nương theo đạo lý để lo trau sửa thân tâm cho được trọn lành trọn sáng như chư vị Phật Tiên.

          ĐẠO HẠNH: Đạo lý và hạnh đức. Người có đạo đức và hạnh kiểm. Ở đây chỉ cho nền đại đạo. Trong Khuyến Thiện, Q.5, Đức Thầy nói:

                    “Nền đại đạo lưu thông khắp cả,

                      Bực Tiên Hiền đều trọng Phật gia”.

          Hoặc là:

                    “Ngôn từ đạo hạnh ý Thầy khuyên”.

 

CHÁNH VĂN
                    269.“Mặc tình kẻ ghét người ưa,
          Điên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.
                    Quan-trường miệng nói vang rân,
          272. Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.
                    Buồn đời nên mới làm thơ,
          Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
                      Người đời lòng dạ bất tri,
            276. Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 269 đến câu 276)

          -Đoạn nầy ý nói trong giới quan chức thời Pháp thuộc, thường ỷ mình có quyền tước cao sang bắt nạt dân chúng, lòng họ chứa đầy gian tà tham ác.

          -Lời cảnh tỉnh của Đức Thầy là sự thật, chẳng chút sai ngoa, lừa dối; thế mà có nhiều người không để ý đến. Họ không nhận được con đường đạo đức là cao quý thế nào, nên lúc Đức Thầy khai Đạo thuyết Kinh và trị bịnh độ đời, họ chỉ tựu đến với tánh hiếu kỳ, muốn xem Ngài trị bịnh, chớ không hề lưu ý đến lời lẽ Đạo.

 

CHÚ THÍCH

          THỨ DÂN: Thứ là đông; Dân là người thường, không chức tước. Thứ dân là dân đen, tiếng gọi chung người dân trong nước.

          QUAN TRƯỜNG: Trường quan lại, tức là giới công chức. Đây chỉ cho những người làm việc dưới thời Pháp thuộc. Đức Thầy kêu gọi các người ấy:

                    “Cả kêu kìa hỡi là ai,

             Quan trường rời rứt mặt mày chùi lau.

                      Lui chơn ra khỏi cho mau,

             Tìm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan”.

                                                  (Thiên lý ca)

          TAI LẤP MẮT NGƠ: Do thành ngữ “mắt ngơ tai lấp”, có nghĩa là chuyện trước mắt mà giả vờ như không nghe thấy cho qua đi.

          Nhà Cách mạng Phan văn Trị đã nói:

                    “Chưa trả thù nhà đền nợ nước,

                      Dám đâu mắt lấp với tai ngơ”.

          Đây ý nói lời lẽ khuyên tu của Đức Thầy bên tai, trước mắt dân chúng. Thế mà có nhiều người giả như không nghe thấy.

          BẤT TRI: Không biết hoặc không chú ý đến nên không biết gì hết.

          LÀM BỊNH DỊ KỲ: Phương pháp điều trị bệnh nhơn khác hơn bác sĩ và lương y thường; và bịnh đau nhiều chứng kỳ lạ. Lúc Đức Thầy mới ra đời, Ngài chỉ dùng một ít lá cây, bông hoa hoặc giấy vàng, nước lã, thế mà trị bịnh chi cũng lành hết, khỏi phải tốn tiền chi cả. Do đó, nhiều bịnh nan y như: bịnh trùng, bịnh đậu, bịnh tả, điên cuồng.v.v…người ta tấp nập chở đến cho Ngài trị, bá tánh quanh vùng, phần đông chỉ kéo đến xem, chớ ít ai chú ý đến lời khuyên tu.

 

CHÁNH VĂN
                     277.“Dương-gian chậu úp được soi,
          Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
                    Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
          280. Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.
                    Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
          282. Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 277 đến câu 282)

          -Ở đời những kẻ hành động bất chánh, thường dùng đủ cách che dấu thiên hạ, nhưng chỉ được một thời gian rồi cũng bày lộ chân tướng. Đức Thầy nhận thấy có vô số người theo Đạo chỉ tinh tấn được ít lâu rồi thối chuyển, hoặc “bán đồ nhi phế”. Lại có kẻ khác, xem đường Đạo hình như có cái gì bắt buộc khổ sở nên họ thụt lùi chẳng dám bước vào.

          -Ngoài ra còn có số người giả tu, phô trương hình thức để che giấu việc làm gian xảo. Mỗi chiều thì công phu bái sám, niệm kinh để cho ai cũng thấy mình là người tu hành kỹ lưỡng, nhưng đêm lại thì tính toán mưu nầy kế nọ để lường giựt cơm tiền của bá tánh. Lại còn hạng người khác chẳng lo trau giồi đạo đức, cứ mãi thổi lông tìm vết chê cười thiên hạ.

          Do đó Đức Thầy thường khuyến tỉnh họ:

                    “Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,

                      Bắt lỗi người phải xét lỗi mình,

                      Vậy mới là phải bực công bình,

                      Nẻo chánh trực chí người quân tử”.

 

CHÚ THÍCH

          CHẬU ÚP ĐƯỢC VOI: Cái chậu thì nhỏ, con voi thì lớn không thể nào úp trọn vẹn. Dầu cho úp khuất cái đầu thì ló cái đuôi, bằng úp kín cái đuôi cũng bày cái đầu ra. Đây chỉ cho người làm việc gian tà ám muội thì sớm muộn gì thiên hạ cũng hay (dấu đầu lòi đuôi) và rốt cuộc chuốc lấy tai hại.

          Như vào đời Thương (Tr. Hoa) có Trụ Vương đắm say sắc đẹp của Đắc Kỷ (nguyên là hồ ly tinh). Đắc Kỷ gạt vua Trụ khi xây cất Bá Lộc Đài xong sẽ cho chư Tiên giáng thế. Vua Trụ tưởng thiệt tin theo. Đắc Kỷ thông tin cho quyến thuộc nhà chồn hay. Kẻ biến Tiên ông người hóa Tiên cô đằng vân đến dự tiệc. Vua bắt Hoàng thúc Tỷ Can đãi rượu, Tỷ Can bất mãn nhưng vì lịnh vua nên chẳng dám cãi. Các giả Tiên mê ăn uống say mèm, tà phép hết linh, ló đuôi ra ngoài, bay hơi chồn nực mũi. Tỷ Can nhờ mạnh rượu không say, nên lẻn về bàn với Hoàng Phi Hổ cho binh tướng theo dõi đám giả tiên. Bởi quá say bọn ấy đằng vân không nổi đành dìu nhau kéo bộ. Hoàng Phi Hổ chờ bọn giả tiên chui vào hang xong bèn ra lịnh lấp củi vào miệng hang thiêu rụi hết. Lửa tắt, bươi tro ra thấy toàn là xác chồn, hai người truyền lột da may áo hồ cừu dâng vào trào can vua.

          CHẲNG NGUÔI: Chẳng chịu bớt, chẳng vơi được cơn buồn thương.

          BẮN LÙI NHƯ TÔM: Tôm là loại động vật không máu dưới nước, vỏ mỏng cứng, mình cong có nhiều đốt, sáu chân hai râu, đuôi chẻ ba, đi tới thì chậm, bắn lùi rất nhanh lẹ.

         Bởi hiện tình có số người tu, đáng lẽ càng ngày càng tinh tấn, đằng nầy họ cứ chần chờ giải đãi nên Đức Thầy ví như loài tôm hay bắn lùi.

          Ngài cũng hằng khuyên: 

                    “Ít ai giữ đặng chí bền,

             Tu theo nước lớn, ròng bèn thả trôi”.

                          (Khuyên người giàu lòng Phước Thiện)

          Xưa, lúc Đức Phật còn trụ thế, một hôm Ngài cùng các đệ tử đi ngang qua một cánh đồng có một người nông phu đang cày ruộng. Anh thấy Phật có vầng hào quang sáng rỡ, oai nghi đoan chánh, lòng anh rất hân hoan, toan đến lễ Phật xin quy y, nhưng chực nhớ chuyện cày cấy chưa xong bèn tự nhủ:

          “Thôi để khi khác, bao giờ cày cấy gieo giống xong, rảnh rang ta sẽ đến nơi Phật xin quy y cũng chẳng muộn”. Nghĩ thế rồi anh tiếp tục việc đồng áng.

          Phật biết rõ ý niệm của anh nông phu kia nên mĩm cười. A Nan liền lễ Phật hỏi duyên cớ. Phật đáp:

          -Các ông có thấy người đó chăng ? Anh đã trải qua 91 kiếp, gặp cả thảy 7 vị Phật ra đời. Mỗi lần gặp Phật, anh đều hoan hỷ toan đến quy y lễ bái, nhưng nghĩ lại việc mùa màng chưa xong bèn thôi, rồi cứ mãi chần chờ lây lất.. Đến nay gặp ta vừa hoan hỷ đến quy y rồi cũng thối niệm, tự hẹn khi khác. Cứ như thế mà biết bao lần sanh tử chuyển luân, việc cày cấy vẫn chưa xong và cũng vẫn chưa được quy y Tam Bảo.

          Anh nông phu nghe Phật nói tiền nghiệp giải đãi của mình, giật mình kinh sợ tự hối, buông cày đến lễ Phật cầu xin thọ giới quy y.

         Xuyên qua mẩu chuyện trên, nhận thấy đời nay cũng có lắm người chần chờ giải đãi như thế nên Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Chẳng chịu tu mãi còn lục thục,

                      Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          TƯỞNG PHẬT: Niệm Phật và nhớ Phật, đây chỉ cho thời công phu niệm Phật.

 

CHÁNH VĂN
                    283.“Thế-gian nhiều việc nực cười,
          Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
                    Người già ham muốn gái xinh,
          286. Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ?
                    Xác thân cọp xé beo quào,
          Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
                    Tu-hành hiền đức thảnh-thơi,
          290. Ngay cha thảo Chúa, Phật Trời cứu cho.
                    Bá gia hãy rán mà lo,
          292. Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 283 đến câu 292)

          -Đoạn nầy cho biết những kẻ quá ham mê dục lạc. Vợ đẹp hầu non và hành động hung bạo thì sau nầy phải chịu khổ thân bởi cơ chọn lọc hiền còn dữ mất.

          Đức Thầy luôn nhắc nhở người đời:

          “Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình”.(S-G,Q.3)

          Và:

                    “Hổ lang ác thú muôn bầy,

              Lớp bay lớp chạy sau nầy đa đoan.

                      Ai mà ăn ở nghinh ngang,

            Đón đường nó bắt xé tan xác hồn”.(S-G, Q.3)

          -Còn ai biết trau giồi hiền đức, giữ vẹn thảo ngay thì sau nầy được Phật Trời ban bố đức ân, thoát khỏi tai nạn hãi hùng và sống cuộc đời Thượng ngươn Thánh đức. Giờ đây bá tánh rán tìm hiểu cơ huyền Đạo lý, nếu không được trực kiến với Đức Thầy thì trong Sấm Kinh cũng có dạy đầy đủ.

          Ngài khuyên mọi người sớm lo liệu:

                    “Chớ để trễ chầy e chẳng kịp,

                Khuyên ai khuya sớm gắng chuyên cần”.

                                                     (Để chơn đất Bắc)

CHÚ THÍCH

          GÁI XINH: Gái còn trẻ, đẹp.

          TÀN BẠO: Tàn ác hung bạo. Ví dụ cho người có tánh tàn bạo.

          NGAY CHA THẢO CHÚA: Cũng đọc là thảo cha ngay chúa, do câu “Trung Quân Vương, Hiếu Phụ Mẫu”.

          Ngay với Chúa là bổn phận làm tôi phải hết dạ trung thành với Tổ quốc. Lúc bình thời lo củng cố đất nước cho được phú cường. Khi có giặc xâm lấn ra tay nâng đỡ để đất nước khỏi lọt vào tay kẻ địch; không nên vì sự lợi danh tài sắc mà làm mất sự trung.

          Thảo với cha là bổn phận làm con phải hết lòng tôn kính, bảo dưỡng và vâng lời cha mẹ. Ngoài ra còn phải khuyên cha mẹ làm việc phước nhân, tránh điều tội ác để tròn câu hiếu thảo. Ngay thảo là hai điều trong Tứ Ân, nhiệm vụ quan trọng của đạo làm người.

          Đức Huỳnh Giáo Chủ còn khuyên:

                    “Lo bổn phận thảo ngay trọn vẹn,

                    Chừng lập đời khỏi thẹn tấm thân”.

                                        (Vọng Bắc Hòa Nam)

         Vào thời chống Pháp, Ngài Nguyễn Trung Trực là bậc ngay thảo vẹn toàn. Mặc dù sống gặp hồi vận nước suy vi, binh cùng lực tận, nhưng Ngài cũng vẫn vẫy vùng làm rạng danh cho nòi giống, qua hai chiến công oanh liệt nhất là đốt chiến thuyền Esperance của giặc Pháp tại vàm sông Nhật Tảo và hạ đồn Kiên Giang, giết được 5 sĩ quan Pháp, đoạt hơn 100 khẩu súng v.v..

                    “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,

                      Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần”.

          (Sông Nhật Tảo đốt phường cướp nước, oai dậy cả đất trời. Đồn Kiên Giang vun kiếm giết quân thù, làm cho quỷ sợ thần kinh).

          Cuối cùng quân Pháp mưu tính với tên phản tặc Huỳnh Công Tấn bắt mẹ Ngài và hàng trăm đồng bào trong vùng. Chúng ra lịnh, nếu cụ Nguyễn Trung Trực không ra mặt thì chúng giết mẹ Cụ và số đồng bào ấy. Nhận xét tình thế, Cụ thấy cuộc kháng Pháp không thể chiến thắng được nữa, nên quyết định hy sinh nạp mình cho giặc để đổi mẹ và hàng trăm đồng bào khỏi chết.

          Ông là bậc trọn ngay với nước, trọn thảo với mẹ già và trọn nghĩa với đồng bào chủng tộc. Thật là tấm gương chói lọi, đáng cho muôn đời soi dấu; chẳng những người đời mà đến Thánh Thần cũng cảm nể:

          “Gương trung nghĩa Thánh Thần cảm động”.

                                  (Tặng Đoàn Thanh niên Ái quốc)

          Cho nên ai giữ vẹn ngay thảo tất được Phật Trời cứu độ:

                    “Thế gian ngay thảo đáp đền,

              Ngày sau sẽ được chăn mền thơm tho”.

                                        (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

         LÃO ĐƯA ĐÒ: Là một hóa thân của Đức Thầy. Lúc dạo Lục châu, Đức Thầy thường giả ông chèo đò, bấy giờ (1939) dân chúng ở miền Hậu giang và khắp sáu tỉnh (Lục châu) nhứt là rạch Ông Chưởng, người ta thường thấy một ông Lão chèo một chiếc ghe nhỏ vừa rao:“ Đò tôi đưa người tác phước thiện duyên. Đò tôi đưa về Bồng lai Tiên cảnh. Ai có rảnh thì đi, còn mắc nợ trần thì ở lại”.

CHÁNH VĂN
                    293.“Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
          Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.
                    Đến sau khổ-hạnh khỏi lâm,
          296. Nhờ công tu-niệm âm-thầm quá hay.
                    Chừng nào chim nọ biếng bay,
          Cá kia biếng lội khổ này mới yên.
                    Nhắc ra quá thảm quá phiền,
            300. Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 293 đến câu 300)

          -Đoạn giảng trên ý nói trước kia Đức Thầy chưa có viết thơ, nay vì có sứ mạng và lòng quá yêu sanh chúng nên Ngài bắt đầu thuyết giảng Đạo lý và sáng tác Sấm Thi kêu gọi bá tánh; nếu ai thức tỉnh tu hành thì khỏi vương mang khổ lụy tới đây.

                    “Trồng cây lành vị quả thơn tho,

         Tuy không thấy mà sau chẳng mất”.(Kh/ Thiện, Q.5)

            -Bởi lòng người quá tham tàn bạo ác, gây ra chiến tranh khắp thế giới, khiến bá tánh phải chịu tai nàn khổ sở cho đến khi cơ Trời quyết định mới hết. Giờ đây Đức Thầy nhận thấy cảnh khổ não gần kề, lòng quá thương xót vạn dân nên Ngài có bổn phận:

                    “Thơ với phú Thần Tiên giáng bút,

                      Bởi cơ Trời đã thúc bên lưng.

                          Không tu chừng khổ cũng ưng,

                  Tu hành gặp cảnh vui mừng toại thay”.

                                                             (Để chơn đất Bắc)

 

CHÚ THÍCH

          THƠ: Do chữ Thi đọc trạnh ra, tức là thể văn vần, cũng gọi là vận văn, lối viết câu có vần điệu, niêm luật. Thơ có nhiều thể như: Lục bát, bát cú, tứ tuyệt, thất ngôn trường thiên, song thất lục bát.v.v..

          KHỔ HẠNH KHỎI LÂM: Khổ hạnh không đến, khỏi vương mang tai ách khổ sở.

          CHỪNG NÀO CHIM NỌ BIẾNG BAY, CÁ KIA BIẾNG LỘI KHỔ NẦY MỚI YÊN: Loài chim hay bay trên trời để tranh kiếm thức ăn. Giống cá giỏi lội dưới nước tìm mồi để sống, giành giựt cắn đá với nhau. Nghĩa bóng là chỉ cho nhân loại trên thế giới vì tham đắm lợi quyền mà gây ra cuộc chiến tranh giành giựt sát hại lẫn nhau. Họ sáng chế đủ thứ khí giới: nào máy bay tàu chiến (chim sắt cá đồng), nào súng ống bom đạn.v.v…gây nên sự chết chóc thảm sầu cho nhân loại, ngày càng gia tăng cho đến khi tận diệt.

          Đức Thầy đã diễn tả cảnh ấy:

                    “Mặt nước biển lô nhô lặn hụp,

                      Chim đua bay cá lại tranh mồi,

                      Ngọn thủy triều nô nức sụt sôi,

                      Bầu trái đất một phen luân chuyển”.

                                        (Nang thơ Cẩm Tú)

         Khi nào loài người không còn dùng phi cơ tàu chiến tàn hại lẫn nhau nữa (chim biếng bay, cá biếng lội) thì nhân loại sẽ hết khổ và hưởng sự thái bình. Bằng họ không chịu dừng sự tham sát thì cơ Trời cũng sẽ trừng trị. Như trong Tứ Thánh (giảng xưa) đã nói:

                    “Trời ơi ! Sao ó biếng bay,

               Cá kia biếng lội tại ai xe ngừng.

                    Súng sao biếng nổ không chừng,

             Chư bang thập bát ngập ngừng ngẩn ngơ”.

          TU NIỆM ÂM THẦM: Tu hành cách kín đáo (vô vi), không khoe khoang phô trương hình thức (hữu vi) cũng có nghĩa lời nói khiêm nhượng. Đức Thầy có câu:

                    “Ta bây giờ tu niệm tầm thường,

                      Sau danh thể xạ hương khắp chốn”.

                                                  (Giác Mê Tâm Kệ)

          BIỂN KHỔ: Do chữ “khổ hải”, là sự khổ sở trong cõi đời rất nhiều không ngần mé, ví như biển cả. Theo nhà Phật con người bị bịnh Thất tình Lục dục chi phối, đua chen theo lợi danh tài sắc. Chính đó là nguyên nhân gây ra cho nhân loại biết bao nỗi bi thương thống khổ.

          Nhà thơ Tản Đà có câu:

                    “Khắp nhân thế là nơi khổ hải,

                      Kiếp phù sinh nghĩ cũng như ai”.

Đức Thầy cũng đã nói:

                    “Cũng nhận được trần hoàn là khổ hải,

                    Dốc tầm đường phóng giải cho thân tâm”.

                                  (Tặng cho Bác sĩ Cao Triều Lợi)

          GẦN MIỀN: Có nghĩa là hấp hối, sắp chết, nhưng chữ gần miền ở đây ý nói sự khổ sẽ kề cận một bên.

          Ông Sư Vãi Bán Khoai cho biết:

                    “Trẻ già chớ có nghi ngờ,

                 Việc đời ngó thấy bây giờ tới đây”.

 

CHÁNH VĂN
                    301.“Ngọn đèn chơn lý hết lu,
          Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.
                    303. Thấy trong thời-cuộc đổi xây,
          Đời nay trở lại khác nào đời Thương.
                    Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,
          306. Ham mê Đắc-Kỷ là phường bội cha”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 301 đến câu 306)

          -Đoạn nầy ý nói thời gian qua nền Đạo pháp bị thất chân truyền, nay may mắn được Đức Thầy và chư Phật Thánh lâm phàm, nêu cao ngọn đèn Chơn lý làm sáng tỏ đường lối tu hành. Nhưng từ đây vạn dân còn gánh chịu, muôn ngàn khổ não cho đến khi chấm dứt đời Hạ ngươn Mạt pháp. Đây là định luật xây vần của cơ tạo hóa:

                    “Hết vinh tới nhục lẽ nầy thường xưa”.

                                        (Cho ông Tham tá Ngà)

          -Đức Giáo Chủ nhận thấy nhà cầm quyền Pháp hiện nay, chẳng khác nào thời mạt Thương của vua Trụ trước kia. Một nhà vua đắm mê tửu sắc, làm đảo lộn luân thường, nghe lời gièm pha của gian nịnh, giết thác tôi trung, khắc khổ dân lành tạo nên cảnh Trời sầu đất thảm, thật là kẻ bội bạc thâm ân đáng chê trách.

CHÚ THÍCH

          CHƠN LÝ: Cũng đọc là Chân lý, tức là lý lẽ chân thật, thực tế rõ ràng; là lẽ phải không chối cãi khác được (đối với ngụy lý).

          Xưa Đức Phật dạy chư đệ tử:“Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của các người, và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc cho các người và tất cả mọi người thì chính đó là Chơn lý. Các ngươi nên cố găng  sống theo Chơn lý ấy”.

          Chơn lý lại có 2 phần:

          1.-Chơn lý tương đối: là lý lẽ tương đối với nhau mà có, như nóng với lạnh, tốt với xấu.

          2.-Chơn lý tuyệt đối: là lý lẽ tự nhiên, sẵn có từ vô thỉ, không thay đổi, đồng nghĩa với chữ Đạo. Nghĩa nầy rất thâm sâu không thể dùng văn tự, ngôn ngữ giải bày hết được, chỉ có tu hành đạt được bản tâm gọi là trực nhận Chơn lý. Kinh Di Đà dạy:“Lý viên ngôn thông, ngôn sanh Lý tán”.(Chơn lý viên dung thật tướng, nếu dùng lời nói mà cho là Chơn lý thì chắc là thiên lệch và làm mất Chơn lý đi).

          Để dung hòa Sự Lý, Ngài Phụ Đà Mật Đa có thuyết kệ rằng:

                    “Chơn lý vốn không tên,

                      Nhơn tên rõ chơn lý,

                      Thọ được pháp chơn thật,

                      Chẳng chơn cũng chẳng ngụy”.

          Vậy người tu học Đạo pháp nhờ nương theo Chơn lý mà đạt Đạo giải thoát. Như Đức Thầy đã khuyên:

                    “Diệu huyền Chơn lý noi đường sáng,

                       Ảo thuật tà tâm kiếm nẻo ra”.

                                        (Tỉnh bạn Trần gian)

          ĐỜI THƯƠNG VÀ TRỤ VƯƠNG: Đời Thương tức là đời nhà Thương (1783-1122 Tr. Tây lịch), một triều đại ở Trung Hoa. Nguyên Hạ Kiệt là vị bạo chúa hoang dâm vô đạo, giết hại thần dân; muôn nhà đều ta thán. Thuở ấy có một ông vua chư hầu là nước Thương, họ Tử Thị, tên Lý, tự Thiên Ất, hiệu Thành Thang là vị vua rất mực nhân đức, đứng lên lãnh đạo phong trào cách mạng, lật đổ bạo quyền nhà Hạ Kiệt, cứu dân khỏi cảnh lầm than. Sau khi đánh đuổi vua Kiệt qua đất Nam Sào, thống nhất đất nước, Thành Thang lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở đất Bạc, lấy hiệu là nhà Thương trị vì được 28 đời.

          TRỤ VƯƠNG: Vị vua chót của nhà Thương tên là Thọ Tân (truyện gọi là Ân Thọ) tức là Trụ Vương. Vua Trụ có sức mạnh hơn người, tay không có thể đánh chết mãnh hổ. Sau vua Trụ nghe lời gièm tấu của bọn nịnh thần là Vu Hồn, Bí Trọng bắt buộc Tô Hộ phải cho con là Tô Đắc Kỷ tiến cung.

          Từ ngày được Đắc Kỷ, Trụ Vương trở nên hôn ám đam mê. Ngày thì tiệc tùng yến ẩm ca xang, đêm du hý cùng Đắc Kỷ và đám cung phi, phế việc triều chính, gần kẻ nịnh, lánh tôi trung. Trụ Vương nghe lời Đắc Kỷ hành hình chánh cung Khương Hoàng hậu để nàng lên ngôi chánh hậu, lại ban gươm Thượng Phương giết hại ấu quân. Tội ác của Vua Trụ không sao kể xiết; nào giết Thừa tướng Thương Dung, mổ tim Hoàng thúc Tỷ Can, cạo đầu Cơ Tử, cầm tù Tây bá hầu Văn Vương bảy năm ở Dũ lý, nào gạt chư hầu vào chầu rồi phân thây Đông bá hầu Khương Hoàng Sở và Nam bá hầu Ngạt Sùng Võ.

          Trụ Vương còn lập Bào lạc giết quan Gián Nghị, chế Sái bồn giết hại cung nga, thâu gồm rượu thịt trong thiên hạ về làm ao rượu, rừng thịt:

                    “Nào thịt như rừng, rượu cả ao,

                      Trụ nghe Đắc Kỷ độc chừng nào

                      Sái bồn nuôi rắn thương chi siết,

                      Bào lạc thành tro thảm biết bao!”.

          Nào là xuất ngân quỹ xây Lộc Đài, khiến công khố hao hụt, nhân dân chịu sưu thuế nặng nề gian khổ. Nghe lời Đắc Kỷ chặt chân người xem mỡ, mổ bụng đàn bà chửa xem thai. Tiếng ta thán của nhân dân ngút tận trời xanh.

          Vì sự tàn bạo của Trụ Vương, nên Khương Thượng phò Võ Vương Cơ Phát (con Văn Vương) hưng binh phạt Trụ, cả 800 chư hầu đồng hưởng ứng theo giúp. Vua Trụ chống không nổi phải thiêu mình trên lầu Trích Tinh mà chết.

          ĐẮC KỶ: Một cô gái tuyệt sắc con của Ký châu hầu Tô Hộ, bởi Trụ Vương làm ngặt, nên Tô Hộ mới đem dâng Đắc Kỷ cho ông ta. Đi giữa đường, Đắc Kỷ bị Hồ Ly Tinh (chồn thành tinh ở trong cái hang tại lăng của vua Huỳnh Đế) hớp hồn rồi nhập vào xác Đắc Kỷ mê hoặc Trụ Vương, phá tan cơ nghiệp nhà Thương.

          PHƯỜNG BỘI CHA: Bọn phản cha phản chúa, phụ nghĩa quốc dân, đây chỉ cho vua Trụ, không nhớ lời giáo huấn của các Tiên đế, đắm say tửu sắc làm cho cơ nghiệp của Tổ tiên đã dày công xây dựng trên 600 năm phải tiêu tan theo mây khói còn để tiếng lại đời sau chán chê phỉ nhổ.

CHÁNH VĂN
                    307. “Hết gần Điên lại nói xa,
          Nói cho bá-tánh biết mà người chi.
                    Lời lành khuyên hãy gắn-ghi.
          310. Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.
                    Đừng ham làm chức nắc-nia,
         312. Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !”
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 307 đến câu 312)

          -Đức Thầy sáng tác Sấm Kinh giải bày cặn kẽ những việc gần xa cao thấp, để bá tánh nhận được sự thật hư, chân giả và khuyên mọi người ghi nhớ lời lành lẽ Đạo, hầu sớm hôm lo trau giồi tâm tánh.

          -Ngài cũng kêu gọi những kẻ đem thân làm tôi mọi cho ngoại bang hãy mau hồi tâm cải tà quy chánh kẻo sau nầy không phương cứu gỡ.

CHÚ THÍCH

          GẮN GHI: Ghi nhớ mãi mãi không rời, không chút nào lơi. Đức Thầy hằng bảo:

                    “Mấy lời dặn bảo đinh ninh,

               Gắn ghi chạm dạ Long Đình được xem”.

                                             (Cho ông Tham tá Ngà)

          NẮC NIA: là phiên âm của Miên ngữ “Neak Nghia” có nghĩa là tôi mọi. (Pháp ngữ là Esclave, Anh ngữ là Slave). Thành ngữ nầy xuất phát từ đời vua Ream Meam Chơn Prây, xứ Cam bốt, có sự tích như sau:

          Đời vua Ream Meam Chơn Prây có một thanh niên tên là Tum, có tài văn nghệ, hát hò rất hay, được vua vời vào cung và phong chức Mơn Ek. Trước khi vô cung, chàng đã yêu một cô gái tên Tear thuộc vào hàng quốc sắc, con của bà góa chồng giàu có. Cô Tear cũng đáp lại một mối tình chân thành, hai người rất buồn sau khi bị chia ly.

          Hai tháng sau Tear bị mẹ bắt buộc gả cho tên Nguôn con của Ô Chuôn, là tỉnh trưởng To Bôn Kho Mum. Cô Tear từ chối hẳn, kế đó Tear được vua chọn làm cung nữ, nàng rất buồn và lo lắng.

          Vào cung nàng gặp lại Tum. Trông thấy Tear, Tum thất vọng và liều chết trước mặt vua, chàng hát kể lại mối tình của mình đối với Tear. Vua nổi giận bắt hai người hỏi nguyên do. Cả hai đều trình bày sự thật, vua nghe rất cảm động nên cho Tum lấy Tear làm vợ, hai người đều hưởng hạnh phúc vui vẻ trong cung.

          Mẹ Tear được tin cô là vợ của Tum, một người chức vụ thấp hơn Nguôn, giận lắm bà liền gởi cho Tear một lá thư, giả nói bà đau nặng, Tear cần về gấp để gặp bà. Tear về đến nhà biết bị mắc mưu của mẹ, nàng lén viết thư cho Tum hay mọi việc. Tum tâu với vua, vua liền cho Tum một thư lịnh cấm Nguôn không cho làm lễ cưới. Tum về đến nhà Nguôn thấy lễ cưới bắt đầu, Tum chưa kịp đưa thư lịnh ra hai người gặp nhau ôm khóc. Nguôn bèn cho người bắt Tum đem giết ở Pchonkhas, Tear lén trốn theo đến bên xác chồng tự sát.

          Vua được tin ấy nổi giận liền cho quân lính đến bắt mẹ Tear, Ô Chuôn và Nguôn đem tử hình, còn những người đồng lõa chủ trương làm lễ cưới, đều bắt phải làm “Neak Nghia”(tôi mọi) suốt đời.

          Ở Tô Bon Khomum thuộc tỉnh Com-Pong-Cham hiện nay người ta còn thường dùng danh từ Neak Nghia để chỉ cho hạng người làm tôi mọi (đầy tớ) cho người ta.

          Ở đây Đức Thầy dùng từ ngữ nầy để ám chỉ cho các quan chức dưới thời Pháp thuộc làm tay sai cho ngoại bang. Ngài luôn cảnh tỉnh họ:

                    “Chúng ham làm chức nắc nia,

                     Ngày sau như thể vô đìa quên nơm”.

                                        (Vọng Bắc Hòa Nam)

          KHOÁ KHÔNG CHÌA: Ổ khóa có chìa mở ra mới được, bằng không chìa thì không sao mở đặng. Ở đây ý nói hạng người ham chức tước bổng lộc theo làm tay sai cho người Pháp trở lại hại dân hại nước thì sau nầy phải đền tội trước quốc dân, không sao thoát khỏi, như khóa thiếu chìa thì không sao mở đặng.

CHÁNH VĂN

                    313.“Tu hành như thể thả trôi,
          Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
                    Mưu sâu thì họa cũng thâm,
          316. Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
                    Hùm beo tây tượng bộn bề,
          Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.
                    Bá-gia ai biết thì lo,
          320. Gác tai gièm siểm đôi co ích gì !
                      Hết đây rồi đến dị-kỳ,
          322. Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết-tha”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 313 đến câu 322)

          -Xét thấy trong thế gian có lắm người quy y Phật, nhưng họ chỉ tu theo thời buổi chớ không thật tâm bền chí, như trong bài “Khuyên người giàu lòng từ thiện”, Đức Thầy có nói:“Tu theo nước lớn ròng bèn thả trôi”. Cho nên không được kết quả.

          -Còn những ai mãi tiếp tục con đường tội ác tất có ngày gặt lấy quả đau khổ (hễ Ác lai thì Ác báo) không hề sai chạy. Đức Thầy cũng tiên báo cho bá tánh rõ sau nầy sẽ có các loài thú dữ trừng trị kẻ tà gian. Vậy ai là người giác tỉnh, tin tưởng lời lành hãy sớm lo liệu tầm phương giải thoát: đã tu hành thì những tiếng thị phi gièm siễm, ta nên gác bỏ ngoài tai để lo tròn câu Đạo nghĩa.

          Từ đây, dân tộc Việt Nam bị cảnh sưu thuế nặng nề do bọn ngoại bang dùng chánh sách nghiệt cay đày xắt đủ điều. Nhìn cảnh quốc phá gia vong, dân chúng chịu lầm than thống khổ khiến lòng Đức Giáo Chủ phải ngậm ngùi thương xót.

CHÚ THÍCH

          THIỀNG TÂM: (Xem chú thích câu 198, Q.1)

          NAY LỠ MAI BỒI: Chỉ cho người làm việc gì không bền chí, khi làm khi không. Đây ý nói người không được thường xuyên bền chặt, nay chăm mai lãng nên sự tu không kết quả. Cổ Đức từng bảo:

                    “Học Đạo thỉ cần, chung tất đãi”

          (Thông thường việc hành Đạo trước khi siêng năng, sau sanh biếng trễ).

          Mạnh Tử cũng nói:“Tuy thế gian hữu dị sanh chi vật, nhứt nhựt bộc chi, thập nhựt bộc chi, thập nhựt hàn chi, vị hữu nan sanh giả dã”.(Tuy trong thế gian có thứ cây dễ trồng, nhưng một ngày phơi nắng, mười ngày tưới nước, nó còn chưa được sống nói chi có trái).

          Cho nên Đức Thầy có câu :

“Nếu bền lòng vị quả cao thăng”. (Sa Đéc)

          Và:

“Phải bền lòng mới rảnh trần ai”.(Sa Đéc)

          MƯU SÂU THÌ HỌA CŨNG THÂM: Hễ ai dùng mưu mẹo sâu độc hại người thì bị kẻ khác bày kế độc hại lại. Có sự tích chứng minh như sau:

         Vào khoảng năm 1910, tại cù lao Ông Chưởng, quận Chợ Mới (An Giang), có tên Hương Quản rất độc ác. Hắn dựa thế Quận Trưởng (người Pháp) bấy giờ gọi là ông Phủ, hà hiếp dân chúng, ăn hối lộ, giựt đất vườn và nhứt là dùng uy quyền hiếp đáp vợ con đồng bào. Hắn thường mang súng vào làng dọa nạt để thỏa mãn ý muốn.

          Trong những nạn nhân của hắn có một thiếu phụ trẻ đẹp, gốc ở xã Phong Mỹ, tỉnh Sa Đéc (nay là Kiến Phong). Cô có chồng về cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới). Chồng cô thường đi buôn xa vắng nhà, tên Hương Quản ấy chọc ghẹo cô nhiều lần, cô vẫn cương quyết từ chối và xua đuổi hắn. Hắn liền bày mưu với bọn tay sai, chờ chồng cô về sẽ ập đến bắt giải đi, vu cáo là anh có dính líu vào hội kín chống Tây, để hắn tự do cưỡng bức thiếu phụ. May cho cô, có người bà con bên chồng làm việc trong Ban Hội Tề, hay được âm mưu ấy liền thông tin cho cô hay. Cô liền lập tức dọn đồ về Phong Mỹ và nhờ người bà con, đến cho chồng cô hay để về luôn quê vợ. Chồng cô đang ở Cần Thơ được tin, liền quay về Phong Mỹ. Hai vợ chồng thức suốt đêm bàn bạc mưu kế để đối phó với tên Hương Quản ác ôn, đồng thời trừ hại cho dân.

          Sáng lại anh thẳng lên Sài Gòn, tuần sau trở lại Long Xuyên, cậy người đến thương lượng với tên Hương Quản qua tỉnh lỵ, để anh chịu tội bằng số tiền hối lộ…tên ác mê ăn, bằng lòng theo người trung gian đến Long Xuyên. Anh lái buôn chực sẵn tiếp rước niềm nỡ trong một khách sạn, anh thuê cho hắn căn phòng hạng nhứt và đưa đi ăn uống đến nửa đêm. Lấy cớ là mệt mỏi say sưa, anh hẹn lại sáng mai sẽ bàn công việc. Hắn đã mê mồi và đầu óc quay cuồng nên không gấp gì hỏi món tiền hối lộ, khi hắn bước vào phòng thấy sẵn một ả tứ thời do anh lái buôn mướn để hầu hạ hắn ta…lát sau hắn thấy trong người khác thường, nằm dài trên giường thở dốc, thiếp đi lúc nào không hay.

          Sáng ra, hắn mở mắt không thấy gì hết, bèn gọi bồi phòng kêu giùm anh lái buôn, bồi phòng cho anh biết anh lái buôn đã đi Sài Gòn hồi 4 giờ khuya, tiền phòng và công cô gái anh đã thanh toán xong hết. Hắn cố gượng ngồi dậy, thuê xe về nhà nhờ Thầy thuốc xem mạch mới biết hắn ăn nhằm chất độc làm cho liệt trụy và có thể bại xụi nằm một chỗ, nếu không chạy thuốc kịp thời.

          Bấy giờ hắn mới vỡ lẽ anh lái buôn trả thù. Hắn tuôn tiền chạy thuốc đủ chỗ mà đâu vẫn ra đấy. Hắn hoàn toàn vô dụng không còn gần đàn bà được, đây là điều hắn đau khổ vô cùng. Hắn phải xin từ chức, ở nhà ăn hại vợ con. Bao nhiêu tiền cướp giựt thiên hạ chui vào túi Thầy thuốc hết sạch. Hễ còn thuốc thì còn cựa quậy, ngưng lại thì liệt luôn, nằm chết dí một chỗ, miệng kêu Trời kêu đất, chửi anh lái buôn thâm độc.

          Đồng bào trong xã thấy cớ sự đều cho là “quả báo nhãn tiền”. Người nào bbị hắn hà hiếp tàn hại thì lấy làm hả hê sung sướng, luôn đem chuyện hắn thuật lại cho mọi người nghe.(Dẫn theo Truyện tích Việt Nam của Lê Hương).

          GIÈM SIỂM: Chê bai cách gián tiếp hoặc đặt điều nói xấu người ta, khiến cho kẻ khác hiểu lầm theo. Ví dụ lời gièm siểm lúc nào cũng không đúng sự thật, hơi đâu mà để ý…Đức Thầy có câu:

                    “Cay đắng siểm gièm thân lão chịu,

                      Miễn đời thạnh trị hết cuồng ngông”.

                                        (Phòng vắng Đêm khuya)

          DỊ KỲ: Lạ lùng, khác thường. Dị kỳ ở đây chỉ cho các nước ngoài đến xâm lăng, gát ách nô lệ lên cổ dân ta như: hết Pháp rồi tới Nhật, thời nào dân ta cũng chịu cảnh sưu thuế nặng nề.

          Ông Sư Vãi Bán Khoai đã nói:

                    “Hết đây đến nước dị kỳ”

          Và: “Nhiều nước dị kỳ khác chẳng giống nhau”.

          THIẾT THA: Thiết là cắt; tha là mài, nghĩa bóng là rất mực ân cần, là tình đậm đà thân thiết giữa hai người. Nhưng thiết tha ở đây là chỉ cho cảnh khổ sở thảm thiết. Trong Quan Âm tế độ có câu:

                    “Liếc xem bên mái Tả Cung,

                Tù nhân than khóc vô cùng thiết tha.”

CHÁNH VĂN
                    323.“Dân nay như thể không cha,
            Chẳng ai dạy-dỗ thiệt là thảm-thương.
                    Thứ này đến thứ Minh-Vương,
           326. Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ-ê.
                    Cảm thương trần-hạ nhiều bề,
          Bởi chưng tàn-bạo khó kề Phật Tiên.
                    Chúng ham danh lợi điền-viên,
          330.  Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.
                    Kệ-kinh tụng niệm đêm thanh,
          Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.
                    Bây giờ chưa biết vàng thau,
          Đời sau kính trọng người cao tu hành.
                    Nam-mô miệng niệm lòng lành,
          336. Bá gia phải rán biết rành đường tu”.

 

LƯỢC GIẢI  (Từ câu 323 đến câu 336)

          -Đoạn nầy ý cho biết, trước Phật Đường, Đức Thánh Vương nhìn thấy chúng dân quá tham tàn bạo ác, chỉ biết chạy theo lợi danh quyền tước, nhà cửa ruộng vườn, rốt cuộc phải gánh lấy vô vàn sầu khổ, lòng Ngài rất đau xót cho số người ấy.

          -Để thoát ly cảnh khổ, Đức Giáo Chủ kêu gọi vạn dân sớm nương về nẻo Đạo, hằng xem coi Kinh Kệ, sửa tánh răn lòng. Chính đó là món đồ quý giá, để giành lại sau nầy thụ hưởng, bởi:

             “Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          -Lúc bấy giờ chánh tà còn lẫn lộn, thật giả chưa phân minh, nhưng đến ngày chọn lọc của cơ tạo hóa thì người thật tâm tu niệm sẽ được thành quả cao quý:

                    “Theo Phật giáo sau nầy cao quý,

                      Được nhìn xem Ngọc Đế xử phân.

                      Lại được gần Bệ Ngọc Các Lân,

                      Cảnh phú quý nhờ ơn Phật Tổ”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          -Song người phát tâm niệm Phật làm lành thì lòng phải từ bi như Phật, giới hạnh tinh nghiêm, hằng ngày lo học đạo nghiên cứu kệ kinh, suốt thông đường lối và pháp môn hành đạo của Thầy Tổ, để nương theo đó mà tiến hành tất được toại nguyện. 

CHÚ THÍCH

          MINH VƯƠNG: (Xem chú thích câu 21, Q.1)

          PHẬT ĐƯỜNG: (Xem chú thích câu 22, Q.1)

          MẶT NGỌC: Do chữ “Ngọc Diện”, mặt đẹp và trong sáng như ngọc. Dùng để chỉ gương mặt của bậc cao quý, hoặc người đẹp cả nam lẫn nữ.

          Trong Lương Giảng Văn Đế có câu:

                    “Trong thần ngọc diện đăng tiền xuất”.

          (Môi son mặt ngọc trước đèn bước ra). Đây chỉ cho vị Thánh Vương, người cao quý.

          Ủ Ê: Buồn rầu thương xót.

          ĐIỀN VIÊN: Ruộng vườn, vườn tược.

          SUỐT CANH: Hết năm canh, sáng đêm. Ý nói sự lo buồn làm thao thức suốt đêm.

          KỆ KINH: (Xem chú thích câu 269, Q.1)

          TỤNG NIỆM: Tụng là đọc, xem. Niệm là tưởng nhớ điều chỉ dạy trong đó, ấy gọi là tụng niệm.

          Đức Thầy thường khuyên:

                    “Giảng kinh đọc tụng chiều mai,

                     Làm theo lời chỉ ngày rày gặp ta”.

          ĐÊM THANH: Đêm vắng vẻ, không có tiếng động. Đức Thầy có câu:

                    “Đêm thanh vắng tiếng đờn khoan nhặt”.

          CHÂU NGỌC: Hột trai và Ngọc, đồ quý giá.

          VÀNG THAU: Vàng là loại kim quý, sắc vàng ánh. Thau là loại kim pha kẽm, sắc vàng nhợt. Nghĩa bóng vàng có giá trị cao, chỉ cho cái gì tốt nhất và thật. Còn thau thì có giá trị thấp, chỉ cho cái gì xấu và giả.

          Ca dao có câu:

                    “Vàng mười, bạc bảy, thau ba”.

          Đức Thầy từng nói:

                    “Nấu lọc rành mới biết vàng thau,

                      Ai thật tánh ai người giả đạo”.(Sa Đéc)

          NAM MÔ: (Xem chú thích câu 29, Q.1)

          BIẾT RÀNH ĐƯỜNG TU: Thấu rõ tôn chỉ, đường lối và phương thức tu hành.

          Đức Thầy đã bảo: Đạo của con người kêu bằng Đạo Nhân, và nó là một con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết”.(Bài Luận về Tam Nghiệp). Và:

                    “Đạo là vốn thiệt cái đàng,

                Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh”.

 

CHÁNH VĂN
                    337.“Thương ai ham võng ham dù,
            Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
                    Khuyên đời như vá múc thêm,
          340. Mảng lo tranh đoạt thù-hềm với nhau.
                    Đến chừng có ốm có đau,
          Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
                    Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,
           Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
                    Tưởng rằng thân nó là vinh,
         346. Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên”.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 337 đến câu 346)

          -Đức Thầy thảm thương cho bá tánh, cứ đắm mê theo vật chất tiền tài, võng dù xe ngựa, ăn xài phung phí. Họ không ngờ sự vật ấy là xiềng xích, càng say đắm càng vương lấy khổ sầu như kẻ mù quanh quẩn trong rừng  đêm, chẳng tìm ra lối thoát lại còn phải va vào cây cối, gai gốc là khác.

          -Lời cảnh tỉnh của Đức Giáo Chủ chưa được mấy người để ý, mảng lo tranh giựt lợi danh, gây thù kết oán lẫn nhau; một khi gặp tai nạn ốm đau, họ mới dập đầu cầu Phật, vái Trời thì việc quá muộn, làm sao được sự chứng độ.

          -Thông bịnh của người đời ít ai lo trau giồi Đạo đức, thường cho mình là vinh sang tài giỏi, thấy Đức Thầy hiền lành, nhẫn nhịn họ lại tìm đủ lời, đủ cách chống kình với Ngài.

CHÚ THÍCH

          MÙ ĐI ĐÊM: Ý nói đã tối lại còn bị tối thêm. Chúng sanh quá mê mờ không nhận được ánh sáng của Đạo, lại còn chạy theo danh lợi ảo huyền, làm điều tội ác, khi đối đầu phải chịu khổ như kẻ mù đi trong rừng tối, quờ quạng đụng nhằm cây đá, không tìm được lối ra và không được ai chỉ dắt.

          VÁ MÚC THÊM: Thành ngữ để chỉ việc làm không thấm tháp vào đâu. Ý nói chúng sanh thì đông và quá tối tăm tội lỗi mà Đức Thầy thì mới khai Đạo giáo dân, nên lời Sấm Kinh chưa được lan rộng cũng như sự mê mờ của chúng sanh chưa giảm bớt bao nhiêu.

          Trong Giác Mê Tâm Kệ, Ngài có nói:

                    “Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,

                  Dân đông đảo lời truyền chẳng xiết”.

          THÙ HIỀM: Oán thù, hiềm khích, chứa mối thù trong lòng toan làm cho lại gan.

          TIẾNG NHỎ TIẾNG TO: Toa rập, bàn tán, bày vẽ với nhau để chê bai hoặc hại người.

          NÓI NGỖNG NÓI CÒ: Kẻ nói vầy, người nói khác, cao thấp, tà chánh đủ thứ, đều là những lời nói không đúng sự thật.

          GHÌNH: Cũng như chữ kình và chữ hiềm, có nghĩa là kình chống và ghìm nhau.

 

CHÁNH VĂN
                    347.“Nói ra trong dạ chẳng yên,
          Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân.
                    Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
         Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.
                    Chừng sau đến hội Rồng-Mây,
         352. Người đời mới biết Điên này là ai”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 347 đến câu 352)

          -Đoạn nầy ý nói càng nhắc đến việc đời, Đức Thầy càng thương xót cho chúng sanh. Giờ đây Ngài bắt đầu kể lại công cuộc chèo thuyền đi dạo khắp miền Nam nước Việt, để tùy cơ duyên thức tỉnh quần sanh.

          -Trên lộ trình đi dạo Lục châu xuôi ngược mấy lần. Ngài cũng không ngần ngại báo tin cho người đời muốn biết Ngài là ai, thì đến Hội Long Vân sẽ rõ. 

CHÚ THÍCH

          TẢO TẦN: Do chữ “Thái Tảo và Thái Tần”. Tần là bèo, Tảo là rong, hai loại rau thường mọc ở mé nước. Ý chỉ cho người xoay trở làm nhiều việc cực nhọc, nào buôn tảo bán tần, nào việc nầy việc nọ.

          Chữ Tảo Tần ở đây ý nói vì quá thương xót chúng sanh, nên Đức Thầy dùng nhiều phương cách giác đời độ chúng.

“Ta thương xót lo tần lo tảo”.(Giác Mê, Q.4)

          HỘI RỒNG MÂY: (Xem chú thích câu 62, Q.1)

 

CHÁNH VĂN
                    353.“Lui thuyền chèo quế tay gay,
         Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.
                    Xa xa chẳng biết làng nào,
         356. Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.
                    Tớ Thầy liền giả đui mù,
         Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.
                    Bá-gia tựu lại rần-rần,
         360. Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 353 đến câu 360)

          -Khởi đầu đi dạo Lục châu, Đức Giáo Chủ rời bến Tổ Đình Thánh địa Hòa Hảo, chèo ghe nước ngược đến làng Long Khánh. Ngài nhận xét dân chúng nơi đây ít người hiền lương tu niệm.

          -Thầy trò giả đui mù, đi khắp thôn xóm để ca hát xin tiền, nhưng khác hơn hạng ăn xin thường. Bởi tiếng ca hát của Ngài toàn là lời giác tỉnh bá gia, nhiều người thấy lạ tựu đến nghe, nhưng họ chỉ xem nghe với tánh hiếu kỳ, chớ chẳng thấy ai chịu mở lòng nhơn bố thí.

CHÚ THÍCH

          CHÈO QUẾ: (Xem chú thích câu 176, Q.1)

          CÙ LAO: Hòn đất nổi lên ở giữa biển hoặc giữa sông, nhỏ kêu là cồn, lớn kêu là cù lao hay đảo. Cù lao nói trên nằm giữa sông Tiền Giang, mang tên là cù lao Long Khánh.

          XA XA: Hơi xa, không xa lắm.

          LÀNG LONG KHÁNH: Làng nằm trọn trong cù lao Long Khánh. Trước kia thuộc quận Tân Châu, tỉnh Chây Đốc, nay thuộc quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong, nằm hướng Tây Bắc Thánh địa Hòa Hảo khoảng 20 cây số.

          BÁ GIA: Trăm nhà, chỉ chung cho tất cả dân chúng.

CHÁNH VĂN
                    361.“Nực cười trần-hạ một khi,
         Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
                    Bình-minh vừa buổi chợ đông,
         364. Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
                    Cho thiên-hạ tựu đông vầy,
         Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.
                    Tới đây bá-tánh làm ngơ,
         368. Buồn cho lê thứ kịp giờ ra đi.
                    Lìa xa Hồng-Ngự một khi,
         Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân-Thành.
                    Tới đây ra mặt người rành,
         372. Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Đạo nho.
                    Nhiều người xúm lại đôi co,
         Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
                    Thấy đời động tánh từ-bi,
         376. Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 361 đến câu 376)

          -Đức Thầy ở Long Khánh một đêm, sáng lại Ngài sang qua chợ Hồng Ngự. Vừa lúc đông chợ Thầy trò giả ra hai người bán thuốc dạo và ca hát như kẻ thường tình, đợi khi dân chúng tựu xem đông đảo, Ngài mới nói qua việc cơ huyền đạo lý.

          -Bấy giờ, thấy bá tánh ngơ ngác không muốn nghe nữa, Ngài bèn lìa nơi đây, theo dòng sông Hồng Ngự, tẻ sang rạch Cả Cái, rồi tiến thẳng tới xã Tân Thành. Đến đây Đức Thầy giả ra một ông già nói chuyện về đạo Nho rất rành, lúc đó có nhiều người đố kỵ, buông lời chống kình chê nhạo. Dầu vậy Ngài vẫn không buồn trách, lại rất thương xót cho những kẻ quá mê lầm và còn báo tin cho họ biết những việc huyền cơ sắp tới.

 

CHÚ THÍCH

          BÌNH MINH: Hừng sáng, vừa hết phần đêm sang phần ngày, tức là chính giữa lúc chia ngày đêm ra làm hai phần:

          “Tưng bừng Trời đất bình minh”.(truyện Kiều)

          THIÊN HẠ: Cõi dưới Trời, chỉ chung cho mọi người.

          TRỰC CHỈ: Đi thẳng tới đích.

          HỒNG NGỰ: Tên một quận trong tỉnh Kiến Phong, gồm có 14 xã, trước năm 1956 thuộc tỉnh Châu Đốc.

          TÂN THÀNH: Một xã trong quận Hồng Ngự, nằm theo rạch Cả Cái, thuộc ngọn sông Hồng Ngự, ăn sâu vào đồng.

          ĐẠO NHO: Cũng đọc là Nho Đạo hay Nho giáo, tức là nền đạo lý của Đức Thánh Khổng Tử khai truyền từ đời Đông Chu (Tr.H). Giáo thuyết của Ngài còn gọi là đạo Thánh.

          BẮT TỲ: Do thành ngữ “Bắt tỳ bắt ố”, có nghĩa là tìm sơ suất của người mà bắt lỗi.

          MÁCH: Cũng đọc là méc, do chữ mách bảo, tức là nói cho biết. Mách giùm cho biết trước mà lo liệu.

 

CHÁNH VĂN
                    377.“Khoan khoan chơn nọ bước ra,
         Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.
                    Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
         380. Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
                    Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
         Tân-An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
                    Giả người bán cá bằng nay,
         384. Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
                    Tới lui giá cả vừa xong,
         Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
                    Có người chẳng chịu ngang cân,
         388. Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
                    Nực cười trần-hạ lắm ôi !
          Giảng cho bá-tánh một hồi quá lâu.
                    Thân già thức suốt canh thâu,
         392. Nói cho lê-thứ quày đầu mới thôi”.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 377 đến câu 392)

          -Đức Giáo Chủ rời xa Tân Thành theo rạch Cả Cái trở ra vàm Hồng Ngự, Ngài trông qua mấy làn mây màu lam bạc, liền ra sức chèo thật nhanh, xa nhìn thấy rặng cây ẩn sau màn sương trắng; đó chính là làng Tân An, nơi mà phần đông dân chúng chuyên sống với nghề trồng tỉa bắp khoai.

          -Đến đây Đức Thầy giả ra người bán cá để thử lòng bá tánh. Dân chúng tựu lại rất đông. Khi trả giá xong Ngài cân đủ cho tất cả, nhưng cũng có nhiều người thêm bớt quèo móc đủ cách. Ngài rất buồn cười cho bá tánh sao còn quá tham gian, nên Ngài thuyết giảng Đạo lý cho họ nghe một hồi.

          -Với tấm lòng vị tha bác ái, Ngài không nài sự cực khổ, giáo khuyên kêu gọi cả ngày lẫn đêm, mong sao bá tánh biết quay đầu hướng thiện.

CHÚ THÍCH

          KHOAN KHOAN: Chậm rãi, thong thả.

          TRẮNG LAM: Màu trắng hơi xanh.

          SƯƠNG BẠC: Hơi nước bay phơi phới, xa nhìn thấy màu trắng như bạc.

          TÂN AN: Một xã ở quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, ở trên quân lỵ độ 5 km, nằm cặp theo Kinh Xáng mới và dọc theo mé sông Tiền Giang đến gần biên giới Miên-Việt.

          CANH THÂU: Lúc ban đêm, mỗi canh có tiếng trống hoặc mõ đánh báo hiệu. Đối với người còn muốn đêm được kéo dài để cạn tình lời lẽ, nhưng bị tiếng trống canh, thâu ngắn lại. Ý nói công cuộc độ đời của Đức Thầy rất là cực nhọc, thao thức lo lắng suốt canh khuya, đến sáng mà không hay, dường như bị trống canh thâu ngắn thời gian. Ca dao có câu:

                    “Trống canh thâu trên lầu nhặt thúc,

                     Rượu một bầu hồng cúc giải khuây.”

 

CHÁNH VĂN
                    393.“Nhiều người nghe hết phủi rồi,
          Quày thuyền trở lại bồi-hồi sầu-bi.
                    Giả người tàn-tật một khi,
         396. Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
                    Một người nhà lá hẩm hiu,
         Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi.
                    Bàn qua kim-cổ một hồi,
         400. Cùi xuống giữa vời Châu-Đốc thẳng xông”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 393 đến câu 400)

          -Đoạn nầy ý nói, Đức Thầy nhận thấy dân chúng ở xã Tân An, phần đông chẳng để ý đến lời giảng khuyên, nên Ngài buồn lòng quay thuyền trở lại. Lúc bấy giờ Ngài giả ra người tàn tật (cùi). Khi thuyền đến vàm Kinh Xáng Tân Châu thì có một người, tuy gia đình nghèo khổ, nhưng biết Đạo nghĩa nên mời Ngài ghé nhà, nghỉ tay đàm đạo.

          -Nơi đây, trong câu chuyện Đạo đức, Đức Thầy và ông chủ nhà có bàn qua kim cổ, thấy chủ nhà lộ vẻ hài lòng, tin tưởng. Đoạn rồi Ngài từ giã xuống thuyền, xuôi dòng Kinh Xáng, thẳng qua Hậu Giang để đến Châu Đốc.

CHÚ THÍCH

          KINH XÁNG: Kinh do thời Pháp thuộc do Xáng múc từ sông Tiền trổ qua sông Hậu, phía trên chợ Châu Đốc, nên có tên là Kinh Xáng mới, cũng gọi là Kinh Xáng Tân Châu.

          HẨM HUI: Cũng đọc là hẩm hiu. Có nghĩa là thui thủi…không ai đoái hoài đến. Ví dụ cho số phận nghèo khổ hẩm hiu. Đức Thầy có câu:

                    “Nhiều người nghèo khổ hẩm hui,

                Không đất cậm dùi mà chẳng ai thương”

                                                                (Sấm Giảng, Q.1)

          ĐẠO LÝ: (Xem chú thích câu 155, Q.1)

          KIM CỔ: Kim là nay, cổ là xưa; chuyện xưa và nay…Nhưng chữ Kim Cổ ở đây có thể là đề cập đến bộ “Kim Cổ Kỳ Quan” của ông Nguyễn Văn Thới. Ông là một đệ tử của Ông Trần Văn Nhu, mà ông Nhu là con trưởng nam của Cố Quản Trần Ngọc (?) Thành, cha con đều là đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An và được kế truyền tông phái.

          Ông Nguyễn Văn Thới được coi là bậc đã đạt thông Đạo pháp trong tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông sáng tác được 9 quyển giảng “Cửu Khúc”. Sau in chung một bộ tựa đề là “Kim Cổ Kỳ Quan”. Về nội dung ông Nguyễn Văn Thới triển khai “Tôn chỉ Học Phật Tu Nhân” của Đức Phật Thầy Tây An (Giáo tổ tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương) và tiên tri thời cuộc từ ấy đến nay rất đúng. Lúc Đức Giáo Chủ PGHH chưa khai Đạo, mỗi tín đồ tâm đạo của tông phái BSKH đều có quyển giảng Kim Cổ Kỳ Quan trong nhà, để hằng ngày xem coi và tri hành theo đó.

          CHÂU ĐỐC: Tỉnh số 2 thời Pháp thuộc. Bắc giáp Cam Bốt, Đông và Nam giáp Long Xuyên-Rạch Giá, hai con sông Tiền và Hậu đều chạy ngang địa phận.

CHÁNH VĂN
                    401.“Đến nơi thiên-hạ còn đông,
         Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
                    Thấy dân ở chợ nực cười,
         404. Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
                    Buồn đời lăng mạ ngẩn-ngơ,
         Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
                    Phố phường nhiều kẻ tới lui, 
          408. Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
                    Đời nay quý trọng người sang,
         Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
                    Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
         412. Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi”.

 

 (LƯỢC GIẢI 401 đến câu 412)

          -Khi thuyền Đức Thầy tới bến Châu Đốc lúc chợ còn đông. Ngài liền giả ra cô gái trẻ đẹp, rao bán cau tươi. Các thanh niên ở chợ chọc ghẹo, cười cợt đủ cách, Đức Thầy thấy dân chúng ở đây quá “lăng loàn theo sở dục”, khiến Ngài bắt buồn cười, nên cho ghe và người đều biến mất.

          -Kế đó Ngài lên chợ giả ra kẻ đui mù, đi dạo khắp phố phường. Mọi người đi chợ thấy kẻ tàn tật đều ngó ngang, không một ai đoái tưởng; họ chỉ biết kính trọng những người giàu sang, lên xe xuống ngựa. trước tình cảnh đó Ngài bèn giả vờ cãi lộn bằng tiếng Pháp làm cho các giới Thầy chú trong chợ, đều xoay quanh để nghe, nhiều người lấy làm ngạc nhiên, nghi ngại 

CHÚ THÍCH

          LĂNG MẠ: Lăng là lấn lướt, Mạ là chửi mắng; nói chung là lấn hiếp, nhục mạ kẻ khác.

          NGẨN NGƠ: Đờ đẩn, thẩn thờ, dáng người dường như không hiểu gì cả. Chữ ngẩn ngơ ở đây chỉ cho sự buồn chán thế thái nhân tình.

          Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu:

                    “Ô hay cảnh cũ ưa người nhỉ,

                    Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ”.

         PHỐ PHƯỜNG: Khu nhà phố và chợ có người mua bán đông đảo rộn rịp. Một tỉnh thành hoặc thị xã có chia ra nhiều phường.

          GÂY LỘN BẰNG TIẾNG TÂY: Căn cứ theo lời ông cựu Hương chánh Cao Văn Khiết ở xã Bình Thạnh Đông (Châu Đốc) nhìn nhận: Thuở ấy (mùa hè năm Kỷ Mão 1939), chính mắt trông thấy một người cùi, gây lộn bằng tiếng Pháp tại chợ Châu Đốc.(Tiếng Tây là ám chỉ cho tiếng Pháp, vì người Pháp ở vùng Tây Âu).

          NGẠI NGHI: Ái ngại nghi ngờ. 

CHÁNH VĂN

                    413.“Xuống thuyền quày quả một khi,
         Chèo lên Vĩnh-Tế vô thì núi Sam.
                    Đi ngang chẳng ghé chùa am,
         416. Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
                    Xem qua đầu tóc u-xù,
         Cũng như người tội ở tù mới ra.
                    Chèo ghe rao việc gần xa,
         420. Bồng-Lai Tiên-Cảnh ai mà đi không ?
                    Nhiều người tâm đạo ước mong,
         Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
                    Ấy là tại lịnh Phương Tây,
         424. Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
                    Có ngưới nói xéo nói xiên,
         Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.
                    Thoáng nghe lời nói thiết tha,
         428. Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc-Dưng”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 413 đến câu 428)

         -Sở dĩ Đức Giáo Chủ hóa hiện người cùi, cãi lộn bằng tiếng Tây là để cảnh giác người đời bớt khinh khi kẻ tật nguyền, nghèo khổ. Đoạn rồi Ngài xuống thuyền chèo lên Kinh Vĩnh Tế để vào núi Sam, nhưng đến núi Sam, Ngài không ghé mà thẳng vào núi Sập. Đến đây Ngài giả kẻ ngu khờ, tóc tai u xù, áo quần rách nát, tay chèo ghe, miệng thì rao mời:

          “Bồng lai Tiên cảnh ai mà đi không?”   

          -Bởi chư Phật lúc nào cũng muốn độ thoát khắp cả chúng sanh, nhứt là những kẻ hung tàn bạo ngược, nên sắc lịnh cho Đức Thầy, trên đường dạo Lục châu thường cho kẻ ngang tàng, được gặp Ngài nhiều hơn người hiền lành tâm Đạo. Thế mà họ chưa hồi tâm tỉnh ngộ, lại còn cho rằng Ngài lừa dối bá gia đặng lợi dụng tiền bạc. Nghe lời ấy lòng Ngài rất đau xót rơi lụy; vì quá thảm thương cho sanh chúng còn mãi mê lầm tội ác. Liền đó Ngài cho thuyền trở lại rạch Mặc Cần Dưng.

CHÚ THÍCH

          VĨNH TẾ: Là con kinh đào từ Giang Thành, Hà Tiên dọc theo biên giới Việt-Miên, thông về sông Hậu Giang, Châu Đốc, dài 72 km, rộng 20 m. Do Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt thượng sớ đề nghị với Triều đình năm Kỷ Mùi 1819 và do trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thọai (Thoại Ngọc Hầu) và Lĩnh binh Phan Văn Tuyên làm Đốc công; với sức lực của 10.000 dân làng và 500 binh sĩ, đào từ đầu năm 1819 tới tháng 4 năm 1820 mới xong. Trong công tác nầy, có bà Châu thị Vĩnh Tế (Phu nhơn Thoại Ngọc Hầu) tích cực đóng góp tâm lực vào để hoàn thành con kinh nên vua Gia Long đặt cho tên là Kinh Vĩnh Tế, để đáp lại việc khó nhọc của người hữu công.

          NÚI SAM: Cũng gọi là Vĩnh Tế sơn, một ngọn núi nằm trong làng Vĩnh Tế, tổng Châu Phú, quận Châu Phú, thuộc về phía Nam, cách tỉnh thành Châu Đốc 5 km. Nơi triền núi có chùa Tây An và mộ Đức Phật Thầy; lăng của phu nhơn Thoại Ngọc Hầu cùng miếu Bà Chúa Xứ.

          NÚI SẬP: Cũng gọi là Thoại Sơn, nằm ở xã Thoại Sơn, tổng Định Phú, tỉnh An Giang (Nam phần Việt Nam). Trên núi có đền thờ Thoại Ngọc Hầu, xây cất năm 1882.

          BỐNG LAI TIÊN CẢNH: (Xem chú thích câu 192, Q.1)

          TÂM ĐẠO: Trong lòng hàm chứa những điều đạo đức, tốt lành, hợp với Đạo lý. Đức Thầy từng nói:

          “Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy”.

                                        (Từ giã Bổn đạo khắp nơi)

          RỒNG LÊN MÂY: Rồng mà gặp mây thì mặc tình vùng vẫy bay lộn; cũng như cá gặp nước thì mặc sức mà bơi lội. Đây ý nói người phàm mà gặp được cảnh Tiên thì có chi vinh hạnh bằng.

          CHO KẺ BẠO TÀN KIẾN THẤY THẦN TIÊN: Bởi chư Phật đầy lòng từ bi bác ái không phân biệt kẻ dữ, người lành. Với người đã hồi tâm hướng thiện thì các Ngài khuyến khích họ tinh tấn thêm. Còn những kẻ hung dữ thì các Ngài lại gần gũi họ nhiều hơn tùy phương tiện giác tỉnh. Như trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm Hạnh, Đức Thích Ca có nói:“Ví như một người có bảy đứa con, trong đó có một đứa bị bịnh, tâm của cha mẹ chẳng phải không bình đẳng, nhưng đối với đứa con có bịnh, tâm của cha mẹ phải lo đến nhiều hơn. Đức Như Lai cũng vậy, đối những người có tội, tâm Ngài nghiêng nặng về những người ấy. Đối với những người phóng dật Phật hằng xót thương nghĩ đến, với người chẳng phóng dật, tâm Ngài chẳng âu lo”.

          Đức Thầy (Kim Sơn Phật) cũng bảo:“Nếu chúng sanh nào dạy dỗ chẳng nghe, làm điều độc ác để phải tội thì Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót không cùng”.(bài Chư Phật có bốn Đại đức). Và:

                    “Dạy khuyên những kẻ ngỗ ngang,

                      Biết câu lục tự gìn đàng Tứ Ân”.

          Cho nên, lúc đi dạo Lục Châu, Đức Thầy thường cho kẻ hung bạo gặp, để tùy cơ thức tỉnh họ.

          THOÁNG: Khoảng thời gian rất nhanh, nghe thoáng, xem thoáng qua.

          MẶC DƯNG: Là rạch Mặc Cần Dưng, thuộc xã Bình Hòa, quận Châu Thành, Long Xuyên (An Giang).

 

CHÁNH VĂN

                    429.“Tay chèo miệng cũng rao chừng,
         Đường đi tiên cảnh ai từng biết chưa ?
                    Khúc thời nhắc lại đời xưa,
         432. Lúc chàng Lý-Phủ đổ thừa Trọng-Ngư.
                    Nhà anh có của tiền dư,
         Sao chẳng hiền-từ thương-xót bá gia ?
                    Bấy giờ gặp việc thiết-tha,
         436. Bạc vàng có cứu anh mà hay không ?” 


LƯỢC GIẢI (Từ câu 429 đến câu 436)

          -Đoạn giảng trên Đức Thầy nhắc tích Lý Phủ và Trọng Ngư là ngụ ý thức tỉnh người.

          Nếu ai giác ngộ được:

                    “Đường vinh nhục rủi may một lát”.

          Thì lúc bình thường có tiền của ta nên mở lòng nhơn bố thí cho những kẻ cơ bần, bệnh tật. Bởi:

                    “Trồng cây lành vị quả thơm tho,

                    Tuy không thấy mà sau chẳng mất”.(Q.5)

          Bằng ai cứ mãi tham lam keo kiết:

                    “Của dương thế góp tom bảo thủ”.(Q.5)

          Không hề giúp đỡ ai đồng xu cắc bạc nào thì của tiền ấy:“Sau cũng tiêu theo luật của Trời”.(bài Khuyên bớt cho vay).

          Mà chính mình phải chịu cảnh đau thương bi đát, như trường hợp anh Trọng Ngư kia vậy.

          Cho nên Đức Thầy hằng khuyên dạy:

“Muốn cho rắn đặng hóa cù,

Xả thân làm phước Diêm Phù vượt qua.

Giữ bo đến lúc phong ba,

Gặp cơn bát loạn khó mà yên thân”.

                        (Khuyên người giàu lòng Phước thiện)

 

CHÚ THÍCH

          LÝ PHỦ ĐỔ THỪA TRỌNG NGƯ: Theo sách “Bá gia Chư Tử”, xưa có đôi bạn thân là Lý Phủ và Trọng Ngư, cả hai gia đình đều khá giả và ở gần với nhau. Lý Phủ thì tâm bác ái hay giúp đỡ kẻ tật nguyền, nghèo khổ, nên được nhiều người cảm tình. Còn Trọng Ngư thì tánh tình rít bón, chỉ biết thâu vô, không hề làm một việc từ thiện nào cả; thiên hạ đều không ưa xa lánh.

         Sau nước nhà gặp hồi binh biến, giặc cướp nổi lên, tài sản sự nghiệp của hai người đều tiêu sạch, mỗi người lánh nạn mỗi nơi, Lý Phủ được nhiều người nhớ ơn trước, nên giúp đỡ anh được ấm no. Trái lại, Trọng Ngư thì không ai nhìn đến, phải vất vả ăn xin, thật là khổ sở.

          Ngày nọ tình cờ hai người gặp nhau, Ngư cho rằng anh Phủ có phước nên được người ta ủng hộ no ấm, còn mình vô phúc nên vất vả. Lý Phủ đáp:

          - Bởi trước kia lúc anh có dư tiền của mà không rộng lòng bố thí, bây giờ gặp cảnh nghèo khổ thiết tha, nên không ai tiếp giúp thế nầy. Phúc hay họa cũng do nơi mình tạo ra cả.

CHÁNH VĂN
                    437.“Hết tây Điên lại nói đông,
         Có ai thức-tỉnh để lòng làm chi !
                    Mặc-Dưng mất dạng Từ-Bi,
         440. Thuyền đi trở ngược về thì Vàm-Nao.
                    Dòm xem thiên-hạ lao-xao,
          Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
                    Con sông nước chảy vòng cầu,
         444. Ngày sau có việc thảm-sầu thiết-tha.
                    Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
          Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
                    Đến chừng thú ấy phục-tùng,
         448. Bá-gia mới biết người Khùng là ai.
                    Bây giờ phải chịu tiếng tai,
         Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
                    Đời như màn nọ bằng the,
         452. Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 437 đến câu 452)

          -Đức Thầy dùng lời lẽ kêu gọi bá tánh, nhưng chẳng thấy ai hồi tâm thức tỉnh. Trên con đường từ Mặc Dưng về Vàm Nao, tuy chẳng ghé đâu, nhưng Ngài cũng không ngớt giảng khuyên mọi người.

          -Ngài còn tiên tri về sau tại dòng sông nầy (Vàm Nao) sẽ có con nghiệt thú nổi lên nhiễu hại người hung, gây nên cuộc thảm sầu không sao kể xiết, chính Ngài phải ra tay bắt nó. Đến khi con thú ấy chịu tùng phục thì vạn dân mới rõ được Ngài là ai; còn hiện giờ họ chưa biết nên cứ mãi chê bai gièm siễm, không màng tới lời Kinh tiếng Kệ.

          -Thời cuộc quá mỏng manh sắp đến ngày khổ thảm, Đức Thầy hằng kêu gọi bá tánh hãy rán tìm đọc thơ vè của Ngài vì chính đó là phương thuốc có diệu năng cứu thoát bịnh khổ của chúng sanh.

 

CHÚ THÍCH

          TỪ BI: Hai trong bốn Đại đức của chư Phật. Có nghĩa hiền lành thương xót, thường ban vui cứu khổ cho muôn loài. Nhưng chữ Từ Bi ở đây là chỉ Đức Kim Sơn Phật (Đức Thầy). Như Ngài từng thốt:

                    “Cơn dông tố mịt mù bụi cát,

            Chẳng nao lòng của Đấng Từ Bi”.(Sa Đéc)

          VÀM NAO: Tên chữ là “Hồ Oa”, tức là con sông ăn thông Tiền Giang qua Hậu Giang, làm ranh giới hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Bên trên nước là xã Hòa Hảo, phía dưới nước là xã Kiến An và Mỹ Hội Đông (cù lao Ông Chưởng). Năm Đinh Vì (1787) Nguyễn Ánh (Gia Long) hội binh các trấn tại đây để đánh Tây Sơn.

          PHONG BA: Sóng và gió, chỉ cảnh trạng khi con nghiệt thú sắp nổi lên.

          NGHIỆT THÚ: Con thú ác nghiệt ăn thịt cả người. Đây chỉ cho con sấu đỏ mũi (sấu Thần) có năm cái chơn, truyền thuyết gọi là ông Năm Chèo.

          Về nguồn gốc của con sấu ấy như sau:

          Một hôm, ông Đình Tây, một trong Thập nhị Hiền thủ (12 Đại đệ tử) của Đức Phật Thầy Tây An, được lịnh Thầy đi xuống vùng Láng Linh, gặp lúc vợ anh Xinh chuyển bụng đẻ mà không có chồng ở nhà. Ông Đình Tây thấy vậy, lo làm giường và rước mụ giùm. Khi anh Xinh đi bắt rùa rắn ở ngoài đồng về, nghe rõ tự sự thì hết sức cám ơn ông Đình Tây…Ông Đình Tây thấy trong giỏ của anh Xinh có một con sấu con, mũi đỏ, năm cái giò thì rất thích, nên ngỏ lời hỏi mua. Vì mới thọ ân ông Đình Tây giúp vợ mình sinh đẻ, nên Xinh vui lòng biếu con sấu ấy cho ông. Đưọc con sấu ông Đình đem về khoe với Thầy, Đức Phật Thầy nhìn biết đó là sấu Thần, nên bảo ông Đình đem giết đi để trừ hậu hoạn. Đã không nghe lời Thầy, ông Đình còn lén nuôi con sấu ấy.(Ai có viếng vùng Thới sơn thấy một bên Đình Thần có cái ao xây đá chung quanh đó là ao nuôi sấu hồi trước).

          Được ba năm, con sấu mau lớn phi thường, bỗng một hôm nó bứt dây bò đi mất. Không dám dấu giếm, ông Đình bèn đem việc ấy bạch với Đức Phật Thầy thì Ngài chắc lưỡi, rồi cắt nghĩa cho ông Đình biết: sau nầy con sấu ấy sẽ nhiễu hại dân chúng không biết bao nhiêu mà kể. Ngài liền cấp cho ông Đình Tây một lưỡi câu, một sợi dây se bằng chỉ ngũ sắc, một mũi mun và hai cây lao, dặn hãy giữ gìn, phòng khi trừ con sấu ấy. (Bây giờ những vật ấy còn để tại nhà ông Năm Hạnh (rể thứ tư của ông Đình). Lưỡi câu dài một tấc 4 phân rưỡi, ngạnh bén và dài 3 phân 3 ly. Mũi mun thì bị mẻ một góc ở đích (?), bề dài 3 tấc 6 phân có lỗ ở hậu như cây đục tông (?) để tra cán. Hai mũi lao nhọn và dài 5 tấc. Tất cả đều rèn bằng sắt. Còn sợi dây thì se bằng tơ, cỡ đầu đủa, dài 16 m).    

          Sau thời gian gặp mùa nước nổi, con sấu trườn lên ở vùng Láng Linh rượt bắt người và thú vật mà ăn thịt. Người ta kinh sợ, đến báo với ông Đình Tây, nhưng cứ mỗi lần ông mang bửu bối tới thì sấu lặn mất, không tìm đâu được. Đã nhiều phen tới lui như thế, nhưng không lần nào gặp được sấu Thần. Lần chót ông Đình lưu ở Láng Linh chờ đợi ngót nửa tháng mà sấu vẫn bặt tăm, ông bèn ra đồng kêu lớn giữa thinh không rằng: Bớ sấu Thần ! Nếu nhà ngươi chưa tới số thì từ nay hãy lặng yên đừng nổi lên phá hại xóm làng nữa. Còn như mạng nhà ngươi đã hết thì nên sớm chịu lịnh Trời, đừng để ta phải lâu ngày, nhọc công chờ đợi. Nói xong ông đợi suốt ngày, sấu vẫn im bặt. Thế rồi từ ấy trở đi, sấu không còn trườn lên nhiễu hại lê dân nữa.

          Theo lời ông Biện Đài (Ngô Thành Bá) kể lại thì Đức Huỳnh Giáo Chủ có cho ông biết, con sấu ấy sau nầy sẽ xuất hiện tại sông Vàm nao. Thân hình nó to lớn nằm muốn giáp sông, ăn thịt người ta không sao kể xiết. Dầu ai có đem súng thần công đại bác cũng chẳng trị nó được. Nhưng điều đặc biệt là nó chỉ nuốt những hung ác mà thôi. Ông Biện Đài bạch Thầy:

          -Ông Đình Tây tịch rồi lấy ai mà bắt nó ?

          Đức Thầy đáp:

          -Ông Đình Tây đã làm rồi nhiệm vụ lúc ở Láng Linh; còn sau nầy, Thầy sẽ trở về bắt nó.

         Vấn đề con nghiệt thú nói trên, Đức Thầy còn nói rất nhiều với tín đồ, ở đây chúng tôi chỉ chép một ít cũng đủ chứng minh sự việc.

          Trong một đoạn giảng khác Ngài đã nói:

                    “Ta chịu lịnh Tây Phương thọ ký,

              Gìn Nghiệt long đặng cứu dương trần”.(Q.4)

            TIẾNG TAI: Mang tai tiếng, bị người chê bai gièm siễm đủ cách. Đức Thầy có câu:

“Mặc tình ai nói thiệt hơn,

Thấp cao tai tiếng làm ơn cho đời”.

 

CHÁNH VĂN
                    453.“Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
         Xuống miền Cao-Lãnh lại phiền lòng thêm.
                    Tới đây ca hát ban đêm,
         456. Ai có thù hềm chửi mắng cũng cam.
                    Cho tiền cho bạc chẳng ham,
          Quyết lòng dạy-dỗ dương-trần mà thôi.
                    Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
          460. Nào ai có biết đây là người chi.
                    Trở về Phong-Mỹ một khi,
          Thuyền đi một mạch tới thì Rạch-Chanh.
                    Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
          Ở đây có một người lành mà thôi.
                    Nhắc ra tâm trí bồi-hồi,
          466. Khó đứng không ngồi thương xót bá-gia”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 453 đến câu 466)

          -Khi ra Vàm Nao, Đức Thầy cho thuyền quay xuôi theo dòng sông để xuống vùng Cao Lãnh. Đến đây nhằm lúc ban đêm, nhưng Ngài cũng luôn ca hát Đạo lý, dầu ai có thù khích, mắng chửi, Ngài vẫn cam tâm.

          -Ngài giả dạng ăn xin không phải vì ham tiền bạc, mà việc chính yếu là quyết lòng giáo hóa nhân sinh, nhưng rất tiếc cho người đời nghe qua lại quên mất, không nhớ lời Đạo lý cũng chẳng rõ Ngài là người như thế nào.

          -Kế đó Ngài chèo thuyền trở về Phong Mỹ. Trên con đường dài gần 100 km (?), Ngài cho thuyền đi thẳng một mạch tới Rạch Chanh. Ở đây dân chúng cũng đông đảo, nhưng xét ra chỉ được có một người hiền lương mà thôi. Thế nên khi kể đến đoạn nầy, Ngài đứng ngồi không an vì lòng quá thương xót lo lắng cho chúng sanh.

 

CHÚ THÍCH

          CAO LÃNH: Một quận trong tỉnh Sa Đéc, gồm có 19 xã, được làm nơi tập kết trong 6 tháng cho quân du kích kháng chiến Đồng Tháp, sau hiệp định Genève, từ năm 1956 là tỉnh lỵ Kiến Phong (Việt Nam).

          PHONG MỸ: Một xã trong quận Cao Lãnh, giáp với xã Bình Thành. Tại đây thời Pháp thuộc họ cho xáng múc một con kinh xuyên qua Đồng Tháp trổ ra Rạch Chanh, để đến Sai Gòn, gọi là Kinh Xáng Phong Mỹ. Ghe xuồng ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc theo con kinh nầy đi tắt về thủ đô Sài Gòn gần hơn ngã Tiền Giang, ra Láng Lộc, vô kinh nước mặn.

          RẠCH CHANH: Con rạch nằm gần làng Trà Yến, Kiến Vàng, quận Thủ Thừa, tỉnh Long An.

 

CHÁNH VĂN
                   467.“Kiến-Vàng làng nọ chẳng xa,
          Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
                    Xứ này nhà cửa ít-oi,
          470. Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
                    Thấy người đói rách xin xu,
          Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
                    Khỏi đây đến chỗ bộn-bề,
          474. Rõ ràng Bến-Lức đã kề bên ghe.
                    Giả Người Tàn Tật đón xe,
          Rồi lại nói vè ròng việc Thiên-cơ.
                    Hết vè rồi lại nói thơ,
         478. Làm cho bá-tánh ngẩn-ngơ trong lòng”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 467 đến câu 478)

          -Qua khỏi Rạch Chanh, Đức Thầy thấy xã Kiến Vàng cũng kề cận, nên Ngài cho thuyền đi nhanh tới đó. Nơi đây nhà dân thưa thớt, nhưng điểm đáng quí là có nhiều người chơn thật tu hành, gặp kẻ tàn tật ăn xin, họ chẳng dám khinh chê, lại còn ra tay giúp đỡ.

          -Khỏi đây, Đức Thầy xuôi thuyền theo sông Vàm Cỏ để đến chợ Bến Lức nơi thuyền ghe phố xá chen chút, dân chúng buôn bán đông đảo. Ngài liền lên bờ, giả ra người tàn tật, lần theo các ngã đường đón xe xin tiền, miệng luôn đọc thơ vè. Nhưng thơ của Ngài nói ra khác hơn thơ của kẻ ăn xin thường tình, chỉ nói ròng việc Thiên cơ Đạo lý, nên khi dân chúng ở đây được nghe qua, lòng họ bắt bồi hồi suy nghĩ.

 

CHÚ THÍCH

          KIẾN VÀNG: Tên một làng trong quận Thủ Thừa, thuộc tỉnh Long An (Việt Nam)

          CHƠN TU: Người tu hành chơn chất, thật tâm hành Đạo, đối với kẻ dối tu. Đức Thầy có câu:

                    “Tu thật tâm thì đặng thảnh thơi,

                      Tu giả dối thì lao thì lý”.

          BỘN BỀ: Cũng đọc là bề bộn, có nghĩa là nhiều, ngổn ngang bừa bãi. Công việc bộn bề thấy bắt ngán. Đây chỉ cho bến chợ quận Bến Lức: Ghe xuồng tấp nập, người buôn bán đông đảo, hàng hóa ngổn ngang.

          BẾN LỨC: Một quận trong tỉnh Long An, (năm 1939 là Tân An) nơi kháng chiến chống Pháp của Ngài Nguyễn Trung Trực, con sông lịch sử ấy là Vàm Cỏ Đông (Nhựt Tảo).

          NGẨN NGƠ: Đờ đẩn, thẩn thờ, dáng người không hiểu chi cả.

CHÁNH VĂN
                    479.“Thơ vè Điên đã nói xong,
          Đi luôn Ba-Cụm kẻo lòng ước-mơ.
                    Tới đây dẹp hết vè thơ,
          Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê.
                    Chợ này thiên-hạ bộn-bề,
         484. Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
                    Bạn hàng tiếng nói quá dòn:
         Giá này chẳng bán còn chờ chuyện chi ?
                    Bưng thời kẻ níu người trì:
         488. Ở đây không bán chị thì đi đâu ?
                    Dứt lời rồi lại câu-mâu,
         Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn !
                    Muốn làm cho có người đồn,
         492. Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 479 đến câu 492)

          -Đức Giáo Chủ khuyên đời tại Bến Lức xong, Ngài đi luôn Ba Cụm, một nơi nổi tiếng là tham lam trộm cắp. Đến đây, Ngài không nói vè thơ nữa, mà giả ra một cô gái bán mắm với dáng vẻ quê mùa chất phác.

          -Các chị bạn hàng ở chợ Ba Cụm, ỷ mình lanh lợi, dở đủ trò bắt bẻ xài xể. Họ dùng những tiếng tục tằn, chửi rủa kẻ thật thà. Thấy thế, Đức Thầy liền cho người và vật đều biến mất, khiến dân chúng ở đây phải giựt mình kinh sợ.

CHÚ THÍCH

          BA CỤM: Tên một vùng hoang vu giữa chợ Đệm và Vàm sông Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, bên con sông nằm dọc từ Chợ Lớn đến Bến Lức. Nơi giáp nước có ba cội da to, ghe xuồng qua lại thường đậu nghỉ tay, chờ nước rất đông nên có nhiều bối (trộm cắp); vì thế mới nổi danh là “Bối Ba Cụm”.

          MẮM: Một thức ăn người ta làm bằng các loại cá, tép để dành ăn lâu. Cách thức: Làm cá rửa sạch, đem ướp muối gài chặt trong lu, hủ, độ vài tuần thì đem ra trộn thính rồi gài lại, vài tháng sau trộn đường vô, ít lâu là ăn được. Đức Thầy bán mắm ở chợ Bến Lức là Ngài dùng huyền diệu hóa hiện ra, chớ không phải mang mắm thiệt theo.

          BẠN HÀNG: Những khách hàng của những nhà vựa, hay đi chợ, mua để bán lại nơi khác hoặc bán tại chỗ.

          CÂU MÂU: Cách nói cạnh khía, xóc óc, hay gây chuyện rầy lộn.

          CHỈN GHÊ: Lo sợ, rất ghê sợ, kinh ngạc. Cổ nhân bảo: Đạo Trời báo phục chỉn ghê”.

 

CHÁNH VĂN
                    493.“Nói ra thêm thảm thêm thê,
         Ông Lãnh dựa kề giả Bán Trầu Cau.
                    Bạn hàng xúm lại lao-xao:
          496. Ông bán giá nào nói thử nghe coi ?
                    Trầu thời kẻ móc người moi,
         Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
                    Thấy già bán rẻ nó ham, 
         500. Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
                    Ghe người biến mất bằng nay,
         Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
                    Bến Thành đến đó đậu liền,
         504. Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.
                    Tớ Thầy nói chuyện cân-phân:
         Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.
                    Hai người tôi ở phương xa,
          508. Bởi chưng khổ-não mới là nổi trôi.
                    Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
         Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam.
                    Thấy đời trong dạ hết ham,
         512. Ghe người biến mất coi làm chi đây”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 493 đến câu 512)

          -Thuyền Đức Thầy rời khỏi Ba Cụm, liền đến cầu Ông Lãnh. Nơi đây, Ngài giả ra ông lão chèo ghe, rao bán trầu cau, các bạn hàng xúm lại hỏi mua, thấy Ngài bán rẻ và có dạng quê mùa chất phác, họ bèn dở trò tham lam, quèo móc, chẳng nghĩ đến người tuổi tác thật thà. Để cảnh tỉnh số người ấy, Ngài và ghe đều biến mất, liền theo đó Ngài lại có mặt ở Bến Thành Sài Gòn.

          -Thuyền vừa cắp bến, bỗng  gặp hai người lính xét hỏi giấy thuế thân, Ngài bèn giả vờ không có giấy và năn nỉ: hai người tôi vì quá nghèo khổ, mới trôi nổi xin ăn đến đây, mong hai cậu nghĩ tình đồng bào chủng loại tha cho một lần. Nghe qua, hai người lính chẳng những không thông cảm, lại còn khoát nạt xài xể đủ điều. Nói rồi, chúng sửa soạn bắt Thầy trò đem giam. Trước tình cảnh ấy, Ngài cho ghe cùng người đều biến mất một lượt, để coi bọn lính làm chi được Ngài.

 

CHÚ THÍCH

          ÔNG LÃNH: Tên một cây cầu bắc ngang rạch Bến Nghé nối vùng Khánh Hội với Thành phố Sài Gòn, cũng là khu đất nằm dọc theo Rạch phía Sài Gòn, thuộc quận II Đô Thành.

          TÁNH THAM: Lòng tham lam, tức là sự ham muốn quá độ, không nghĩ đến lẽ công bằng Đạo lý là gì. Nó là một trong ba điều Ác của Ý nghiệp và thứ 8 trong Thập Ác.

          Đức Thầy diễn tả tánh tham của con người:“Tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế…”(Quyển 6 – Ác tham lam). Và:

                    “Sẵn túi tham bất cứ chuyện gì,

          Dầu xấu tốt cũng là dồn chứa”.(Khuyến Thiện, Q.5)

          QUÊ DỐT: Dốt nát, thật thà, kém hiểu biết. Ở đây Đức Thầy giả kẻ quê dốt để thử lòng người thành thị. Ca dao có câu: 

“Tới đây xứ lạ quê người,

Trăm bề nhẫn nhịn đừng cười tôi quê”.

          Trong Kệ Dân, Q.2  Đức Thầy cũng bảo:

                    “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ,

                      Giả bán buôn thức giấc người đời”.

          BẾN THÀNH: Một cái bến dành cho ghe tàu đậu trên sông Bến Nghé, ở ngay trung tâm Sài Gòn. Đọc cho đủ là Bến Thành Sài Gòn.

          THUẾ THÂN: Thuế người. Người Pháp cai trị nước Việt Nam bắt dân ta phải đóng nhiều sắc thuế, mà thuế người là một. Chúng bắt mỗi người đàn ông từ 18 tuổi trở lên là phải đóng thuế thân. Họ chia ra làm hai hạng: hữu sản mỗi người 5$60, vô sản mỗi người 4$60. Lúc bấy giờ (1939-1945) một đầu thuế như vậy phải bán từ 15 đến 18 gịa lúa mới đủ đóng, vì giá lúa khi đó chỉ có 25 tới 30 xu một giạ. Thời ấy dân ta có người làm không đủ ăn nên thường bị thiếu thuế. Nhà cầm quyền Pháp cho lính chận khắp nơi để bắt bớ giam cầm những người chưa đóng thuế, thật là khổ sở.

          Đức Thầy đã diễn tả cảnh ấy:

                    “Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,

                     Thấy dân mang sưu thuế mà thương.

                      Chẳng qua là Nam Việt vô Vương,

                     Nên tai ách xảy ra thảm thiết”.(Kệ Dân,Q.2)

            CÂN PHÂN: Đồng đều, bằng nhau; nhưng chữ cân phân ở đây ý nói bày tỏ sự tình, phân trần phải trái.

          KHOÁT NẠT: Quát tháo, nạt nộ to tiếng, như khoát nạt tôi tớ. Đây chỉ cho hạng người cường hào, dựa bệ ăn lương bắt nạt dân chúng.

CHÁNH VĂN
                    513.“Tức thời Điên giả làm thầy,
         Đi coi đi bói khắp trong phố phường.
                    Có người tu niệm đáng thương,
          516. Điên mới chỉ đường Tịnh-Độ vãng sanh.
                    Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,
         Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.
                    Bá-gia bá-tánh làm ngơ,
         520. Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền.
                    Văn-minh trọng bạc trọng tiền,
         Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.
                    Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
         524. Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 513 đến câu 524)

          -Sau khi cho ghe người biến mất tại Bến Thành Sài Gòn, Đức Thầy liền giả một Thầy bói dạo khắp phố phường. Bỗng gặp một người tỉnh ngộ tu hành, Ngài động lòng thương nên chỉ dạy pháp môn niệm Phật cho người ấy tu hành theo. Đoạn rồi Ngài cũng tiếp tục ca hát việc Thiên cơ Đạo lý, nhưng dân chúng ở đây ít có ai để tâm đến, họ ngờ rằng Đức Thầy cũng như bao nhiêu kẻ khác chỉ biết nói thơ để xin tiền.

          -Bởi con người đời nay mãi chạy theo văn minh vật chất, tập tành lối sống khôn ngoan gian xảo:

                    “Đời văn vật khôn ma khôn quỉ,

                      Lo trang sức kim thời huê mỹ.

                      Rồi phụ phàng tục cổ nước nhà,

                      Trong tâm thì chứa chữ gian tà.

                      Chớ chẳng chứa tấm lòng bác ái”.

          Do đó ông cha ta:

                    “Rất đau xót cho nòi cho giống”.

                                        (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

          Lời khuyến tu của Đức Thầy phát xuất tự đáy lòng chơn thật, bác ái, vị tha nên dù cho người đời có trọng kỉnh hay chê bai, Ngài cũng chẳng màng tới.

CHÚ THÍCH

          PHỐ PHƯỜNG: Phố là nhà lầu ở thành thị. Phường là khu xóm. Nói chung là khu nhà phố, buôn bán rộn rịp.

          TỊNH ĐỘ: Có hai nghĩa.

          1./ Tịnh Độ: Cũng gọi là Tịnh Thổ. Một quốc độ hoàn toàn an vui, trang nghiêm thanh tịnh, tức là cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà làm Giáo chủ.

          Đức Thầy có câu:

                    “Cõi Tịnh độ lắm điều thanh nhã,

                      Khổ buồn rầu lo sợ chẳng còn”.

          2./ Tịnh Độ: Là pháp môn Tịnh Độ, cũng gọi là pháp môn Niệm Phật. Phương pháp chỉ dạy người tu chỉ chuyên tâm trì niệm 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật để lúc lâm chung nhờ sự hóa độ của Đức Phật A Di Đà mà được vãng sanh về cõi Cực lạc của Ngài. Đức Thầy từng dạy trong quyển Khuyến Thiện:            

                    “Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh,

                      Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa”.

          VÃNG SANH: Người được giải thoát kiếp ở trần gian, sanh qua đất Phật (cõi Cực lạc) gọi là Vãng sanh.

          SÀI THÀNH: Tên gọi có văn vẻ, thành phố Sài Gòn là thủ đô nước Việt Nam, gồm hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn nhập lại từ năm 1956; Đông giáp sông Bến Nghé, Tây giáp rạch Lò Gốm, Nam giáp kinh Bến Nghé và kinh Tàu Hủ, Bắc giáp rạch Thị Nghè; diện tích

52 km vuông, dân số trên 2 triệu người. Năm 1956 do sắc lịnh ngày 02/10 của Tổng Thống nước Việt Nam, Đô thành Sài Gòn và Chợ Lớn được đổi lại là Thủ đô Sài Gòn.

          CA VÀ LÝ: Ca cũng gọi là hát, tức nói lên những giọng ngân nga, cao thấp, ngắn dài theo bài bản nhất định. Lý là hát theo âm điệu vui và nhanh. Vậy ca và lý là tiếng gọi chung về hát.

          VĂN MINH: Văn là văn vẻ; minh là sáng sủa; là cái văn vẻ, sắc thái sáng sủa, lối sáng suốt của loài người khi đã tiến ra khỏi thời kỳ dã man, và khi đã khai hóa đến chỗ sáng sủa. Nhưng chữ văn minh ở đây là chỉ cho số người học đòi theo nếp sống mới của Âu Tây, xem tiền bạc địa vị là trọng, quên hết nền Đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta. Đức Thầy có câu:

                    “Đời văn minh vật chất bỏ gương xưa,

                      Nghiệp tổ tiên con cháu vày bừa.

                      Học thói mới lăn loàn theo sở dục”.

                                                  (Khuyến Thiện, Q.5)

 

CHÁNH VĂN
                    525.“Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,
         Điên giả người què Gia-Định thẳng xông.
                    Què này đường xá lảu-thông,
         528. Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà-quê.
                    Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
         Thêm nói bộn-bề những việc về sau.
                    Dương-trần bàn tán thấp cao,
         532. Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.
                    Giã từ Gia-Định một khi,
         Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần-Thơ.
                    Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
         536.Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
                    Phố-phường xóm dưới đầu trên,
         Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
                    Thị-thiềng hiền-đức được mười,
         540. Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
                    Vợ thời ca hát huyên-thiên,
         Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
                    Bá gia coi thể rác-rơm,
         544. Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.
                    Điên mà ca hát việc đời,
         546.Với việc hiện thời khổ não Âu-Châu”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 525 đến câu 546)

          -Trước cảnh phồn hoa náo nhiệt, xe cộ dập dìu, Đức Giáo Chủ giả ra người có tật một chân lần bước về phía Gia Định. Hết phố chợ tới thôn quê, đường nào Ngài cũng rõ thông tất cả. Tiếng hát xin cơm pha lẫn với lời tiên tri việc khổ thảm sắp tới, khiến dân chúng ở đây bắt đầu ghê sợ. Nhiều người bàn tán với nhau: Ông già tàn tật nầy chẳng hiểu là bậc chi mà biết được những điều như vậy ?

          -Kế đó Ngài rời khỏi tỉnh Gia Định, dùng thuyền đi thẳng đến Cần Thơ. Tới đây, Ngài giả hai vợ chồng nghèo khổ. Chồng thì lần theo tiệm quán xin cơm, còn vợ thì giả như người mất trí và ca hát thật nhiều. Ngài nhận xét bá tánh trong vùng chợ Cần Thơ cũng được mười người hiền đức, còn phần đông cứ lo cười nhạo kẻ Điên Khùng. Họ đâu ngờ kẻ Điên mà biết giác đời, biết nói rõ cảnh chiến tranh hiện có bên Âu châu, để rồi báo tin cho dân chúng Việt Nam hay, cảnh đau thương ấy sẽ diễn đến với nước ta, không còn xa lắm.

                    “Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,

                      Sao dân còn tríu mến trần mê ?

                     Mắt nhìn ngoại quốc thảm thê,

                  Nam bang cảnh khổ cũng kề bên tai”.

                                                         (Để chơn đất Bắc)

CHÚ THÍCH

          PHIỀN BA: Cũng đọc là phồn hoa, có nghĩa cảnh rộn rịp, náo nhiệt. Đây chỉ cho cảnh chợ búa đông đảo.

          Đức Thầy có câu:

                    “Chạnh lòng nghĩ lại cảnh phiền ba,

                    Nghi ngút bợn nhơ khói vạy tà”.(Than đời)

          GIA ĐỊNH : Một trong sáu tỉnh miền Nam, do vua Minh Mạng đặt từ năm 1832. Đông giáp Biên Hòa, Tây giáp Tây Ninh và Long An, Bắc giáp Bình Dương, Nam giáp Phước Tuy và Long An. Diện tích 678 km vuông. Gia Định cũng là tỉnh số 1 thời Pháp thuộc.

          THIỀNG THỊ: Tức là thành thị, chỉ nơi thành phố chợ búa, buôn bán đông đảo. Đức Thầy có câu:

                    “Muốn lánh phồn hoa lánh thị thành,

                      Tìm nơi non thẳm ngõ mai danh”.

                                                   (Muốn lánh phồn hoa)

          THUYỀN LOAN: Có hai nghĩa.

          1./ Thuyền có chiếc buồm như cánh chim Loan (cũng gọi là buồm cánh Dơi). Người xưa đi thuyền dùng thứ buồm nầy, gió cách nào cũng bọc cho thuyền chạy được cả.

          2./ Thuyền Loan cũng gọi là Thuyền Lan, dịch nghĩa của chữ “Lan Chu”. Ngày xưa Lỗ Bang (người ở nước Lỗ thời Xuân Thu) lấy gỗ mộc Lan làm thuyền, thường hai đầu nhỏ, giữa to, giống chiếc lá cây lan. Từ đó người ta lần lần đóng theo. Trong văn chương hễ nói đến thuyền thì người ta đệm thêm chữ Lan cho đẹp lời. 

          Truyện Hoa Tiên có câu:

                    “Lĩnh lời, sắp gánh dục đồng,

             Thuyền Lan một lá xuôi dòng thênh thênh”.

          CẦN THƠ: Tỉnh số 19 của Nam kỳ thời Pháp thuộc, tức Kinh đô miền Tây, vì là nơi trù phú, mối đường thương mãi thạnh hành nhứt ở Hậu Giang. Từ năm 1956 đổi lại là tỉnh Phong Dinh. Đông giáp tỉnh Vĩnh Bình, Tây giáp Kiên Giang, Nam giáp Ba Xuyên, Bắc giáp Vĩnh Long và An Giang. Diện tích 2.496 km vuông, dân số 425.105 người, trong ấy có 10.000 người Việt gốc Miên và hơn 900 người Việt gốc Hoa.

          HUYÊN THIÊN: Nhiều, nói thật nhiều.

          KHỔ NÃO: Khổ sở đau buồn. Đây ý chỉ cảnh giặc giã trong thời Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) các nước Âu châu chịu sự chết chóc, khổ sở thảm thiết.

          Đúc Thầy từng nói:

                    “Gió Á mưa Âu bùng sấm dậy,

                      Hãi hùng tranh chiến xé xâu nhau.

                      Hồng trần trở lại màu u ám,

                      Khắp cả chúng sanh nhuộm máu đào”.

                                                  (bài Xé Xâu Nhau)

         ÂU CHÂU: Cũng gọi là Âu La Ba (Europa), một trong năm châu của thế giới, thuộc phía Tây Bắc cực Đại Lục, châu nhỏ hơn hết, nhưng tương đối dân đông hơn hết. Diện tích 10 triệu km vuông, dân số 565 triệu gồm nhiều giống dân; Bắc giáp Bắc Băng Dương; Nam giáp Địa Trung Hải và núi Cô Cút (Cau-case); Đông giáp biển Cát Biên (Cas-pienne) và dãy núi Ô Ranh (Aura); Tây giáp Đại Tây Dương. 

CHÁNH VĂN
                    547.“Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
         Lòng quá thảm sầu lìa lại Vĩnh-Long.
                    Chợ quê giảng dạy đã xong,
         550. Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến-Tre.
                    Chợ này đậu tại nhà bè,
         Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi.
                    Giọng rao rặt tiếng kim thời,
         554. Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
                    Trẻ già qua lại lăng-xăng,
         Nói nói rằng rằng những việc bướm-ong.
                    Gánh chè bán hết vừa xong,
         558. Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
                    Nói rồi chơn bước mau mau,
         Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.
                    Đi đâu cũng bị nhún trề,
         562. Kẻ lại chửi thề nói: lũ bá-vơ.
                    Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
         564. Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 547 đến câu 564)

         

          -Đức Giáo Chủ dạo khắp Châu thành Cần Thơ, lòng Ngài rất buồn thương cho dân chúng ở đây, chưa mấy người thức tỉnh. Đoạn rồi Ngài cho thuyền quay lại Vĩnh Long, từ chợ đến thôn quê, nơi nào Ngài cũng dạo qua và dùng lời Đạo lý giáo hóa mọi người.

          -Kế tiếp là thuyền tiến thẳng tới Bến Tre. Đến đây, Ngài liền giả ra một cô bán chè. Con thuyền vừa cặp sát Nhà Bè, người ta đã nghe tiếng rao lãnh lót của một cô gái duyên dáng, ăn nói sành điệu tân thời. Khách hàng qua lại ai thấy cũng muốn dừng bước, nhưng không phải thực sự là muốn ăn chè mà dừng lại là để dùng lời bướm ong ghẹo cợt.

          -Bán chè xong, Ngài cũng hát lời giác tỉnh nhơn sanh, từ thành thị đến thôn xóm. Khi thì Ngài chèo thuyền, lúc thả bộ theo đường kêu gọi, nhưng đi đến đâu dân chúng chẳng hề để ý họ còn tỏ vẻ khinh chê chửi mắng.

CHÚ THÍCH

          VĨNH LONG: Tỉnh số 17 ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Đông giáp tỉnh Kiến Hòa và Vĩnh Bình; Tây giáp Kiến Phong (Sa Đéc); Nam giáp Phong Dinh; Bắc giáp Long An (Định tường). Diện tích 1.804 km vuông, dân số 75.000.

          BẾN TRE: Tỉnh số 7 ở Nam kỳ thời Pháp thuộc, từ năm 1956 đổi lại là Kiến Hòa. Đông giáp biển Nam Hải; Tây giáp Vĩnh Long: Nam giáp Vĩnh Bình: Bắc giáp Định Tường.

          TIẾNG KIM THỜI: Tiếng nói theo thời đại bây giờ.

          BƯỚM ONG: Con bướm và con ong, loài côn trùng chuyên hút nhụy hoa; nghĩa bóng là lời nói ve vãn tình tứ giữa nam và nữ. Ca dao có câu:

                    “Vườn có chủ giữ gìn cỏ chạ,

                      Hoa có rào ngăn đón bướm ong”.

          Đức Thầy cũng thường khuyên:

                    “Chuông kia treo sợi chỉ mành,

               Chẳng lo thân phận, lo giành bướm ong”.

                                                  (Sám Giảng. Q.3)

          BÁ VƠ: Vu vơ, lôi thôi, không nhà cửa gốc tích. Nghe chi cái “đồ bá vơ” (tiếng người chê bai Đức Thầy lúc đó).

          TAI LẤP MẮT NGƠ: (xen chú thích câu 274, Q.1).

CHÁNH VĂN
                    565.“Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,
         Đủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.
                    Tới đây bày đặt hát kình,
         568. Đua nhau bán thuốc mặc tình mua không.
                    Nói ra những chuyện bông-lông,
         Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.
                    571. Gặp người đói khó khinh-khi,
         Điền-viên sự sản ai thì làm cho.
                    Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,
         Khuyên trong trần-hạ rán lo tu-trì.
                    Xưa nay không có mấy khi,
         576. Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 565 đến câu 576)

         -Đức Giáo Chủ dạo khắp tỉnh Bến Tre rồi sang qua Trà Vinh. Đến đây, Ngài giả ra người bán thuốc dạo, đua nhau quảng cáo như các đoàn hát thuật khác. Người ta có mua hay không mặc tình, mà điểm chánh là Ngài giả vờ nói chuyện không đâu, để rồi kêu gọi bá tánh mở rộng tình thương đối với mọi người; bởi bao nhiêu sự nghiệp gia tài của mình đã có, không phải bỗng dưng mà được.

          Theo ý Phật Thánh là do ông bà cha mẹ tích đức, hoặc tiền kiếp của ta đã thi ân bố đức, cộng với sự tích cực làm ăn nên kiếp nầy mới có ra. Tại sao có nhiều người làm lụng đầu tắt mặt tối, suốt kiếp vẫn nghèo khổ ? Trái lại, có người chỉ làm ăn thông thường, nhưng làm đâu được đấy, dịp may tới tấp tiền của đầy nhà.

          -Giờ đây nếu ta không tiếp tục làm lành làm phải thì bao nhiêu tiền của ấy có ngày “Cũng tiêu theo luật của Trời”. Đức Giáo Chủ kêu gọi:

“Lòng nhơn xin khá tập rèn,

     Thạch Sùng Vương Khải sách đèn ai ưa ?

Thánh hiền roi tích đời xưa,

Nhờ tâm từ thiện người ưa kính nhờ”.

                          (Khuyên người giàu lòng Phước thiện)

          -Đức Thầy khuyên dạy dân tình ở Trà Vinh xong liền quày thuyền về Mỹ Tho. Ở đây Ngài cũng tiếp tục kêu gọi vạn dân lo tu niệm. Vì đây là một dịp may, mà từ ngàn xưa tới giờ, mới có được thời kỳ Phật Tiên lâm phàm khai hóa.

CHÚ THÍCH

          TRÀ VINH: Tỉnh số 5 của Nam kỳ thời Pháp thuộc, từ năm 1956 được đổi tên là Vĩnh Bình. Đông giáp tỉnh Kiến Hòa; Tây giáp Phong Dinh và Ba Xuyên; Nam giáp biển Nam Hải; Bắc giáp Vĩnh Long. Diện tích 268 km vuông, dân số 254.000 trong đó có 129.000 người Việt gốc Miên.

          HÁT KÌNH: Đua nhau mà hát. Một chợ có nhiều đám hát thuật, quảng cáo bán thuốc, họ đua với nhau mà hát để giành khán giả đông về mình. Ở đây Đức Thầy cũng giả hát đua với họ, nhưng người ta mua thuốc hay không chẳng cần thiết, chỉ cần thức tỉnh người đời mà thôi.

          ĐIỀN VIÊN SỰ SẢN: Ruộng vườn tiền của.

          MỸ THO: Tỉnh thứ 14 của Nam kỳ thời Pháp thuộc, từ năm 1956 hai tỉnh Gò Công và Mỹ Tho nhập lại thành tỉnh Định Tường. Đông giáp Nam Hải; Tây giáp tỉnh Kiến Phong; Bắc giáp Kiến Tường và Long An; Nam giáp Kiến Hòa và Vĩnh Long. Diện tích 2.000 km vuông, dân số 611.000. 

CHÁNH VĂN
                    577.“Chợ quê giáp hết thuyền quay,
         Đi trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.
                    Quản chi nắng Sở mưa Tần,
         580. Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
                    Thảm thương bá-tánh lắm ôi !
         Bồng-Lai Tiên-Cảnh rao rồi một khi.
                    Nếu ai rảnh việc thì đi,
         584. Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 577 đến câu 584)

          -Ở Mỹ Tho, Đức Thầy chỉ lược qua thành thị và thôn quê, rồi trở về Cù lao Ông Chưởng. Trên đường dạo Lục châu, xuôi ngược mấy lần Ngài chẳng nài sự gian khổ, bởi lòng quá thương xót sanh linh nên:“Quyết lòng dạy dỗ dương trần mà thôi”.

          -Ngài nhắc đi nhắc lại nhiều lần, con đường về Tiên cảnh cũng không khó khăn lắm, nếu lòng ai hết tham luyến danh lợi, tình thì cảnh Tiên sẽ hiện ra trước mắt. Bằng kẻ nào còn đắm mê dục lạc, gây nên nghiệp nợ (Thập Ác), tất phải ở lại trần gian mà đền trả.

 

CHÚ THÍCH

          ÔNG CHƯỞNG: tức Cù lao Ông Chưởng hay rạch Ông Chưởng, thuộc tổng Định Hoà, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cù lao nầy trước kia có tên là “Tiêu Mộc”, từ khi quan Chưởng Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) dẹp loạn ở Chân Lạp (Miên) năm Kỷ Mão 1699, về đây đóng binh rồi thọ bịnh. Được dân chúng ngưỡng mộ công lao của Ông nên đổi lại là Cù lao Ông Chưởng. Đây là một Cù lao dân cư đông đảo và lớn nhứt trong tỉnh An Giang, có tới 4 xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ và Long Kiến. Dân chúng miền Nam thường hát:

                    “Ba phen quạ nói với diều,

              Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”.

          NẮNG SỞ MƯA TẦN: Sở và Tần là hai trong các nước thời Chiến quốc (Tr.Hoa) đã từng đánh nhau gây tang tóc cho sanh linh chẳng ít. Hai bạo chúa ấy là Tần Thỉ Hoàng và Sở Bá Vương Hạng Võ (221-206 Tr. TL) đều liệt vào hàng bá đạo (dùng võ lực trị dân). Người dân nào sanh nhằm thời ấy phải chịu dưới một chánh sách vô cùng khắc nghiệt. Nhưng chữ “nắng Sở mưa Tần” ở đây cho sự dầm sương trải nắng, cực nhọc vất vả.

 

CHÁNH VĂN
                    585.“Có người xưng hiệu ông Quan,
         Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.
                    Thấy đời cũng bắt động lòng,
          588. Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.
                    Mình người tu-niệm vậy mà,
         Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.
                    Người nhà cảm tạ một khi,
         592. Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 585 đến câu 592)

          -Đức Thầy từ Mỹ Tho theo sông Tiền Giang chèo về vàm Ông Chưởng, thuyền Ngài vô khỏi Chợ Mới là đến Dinh Ông xã Long Điền rồi xuống tới nhà Ông Năm Hẳn thì Ngài ghé lại.

          -Theo lời ông Năm Hẳn kể rõ: Vào khoảng tháng 6 năm Kỷ Mão (1939), có một ông già tóc râu bạc trắng, diện mạo khác thường, xưng là ông Đò, có ghé nhà ông thuyết Đạo ngâm giảng ứng khẩu nghe hay lắm ! Ông Đò giảng nói rất nhiều, nhưng Ông Năm chỉ nhớ đoạn ông Đò khuyên ông:“Mình là người tu hành nên ăn nói nhu hoà trầm tĩnh, chớ không nên la lối lớn tiếng người ta khinh thường”.

          -Ông Năm có hỏi Ông Đò:“ Ông đưa người về Tiên cảnh ăn tiền mỗi người bao nhiêu ? Và chừng nào đi ?” Ông Đò liền đáp:

         - Có ba hạng: Hạng nhứt 1$50, hạng nhì 1$00, hạng ba là 0$50, bây giờ bán giấy, sau mới đi. Ông Năm liền xin mua giấy hạng 0$50 (50 xu). Ông Đò liền xé một tấm giấy vàng trao cho Ông Năm rồi từ giã ra đi. Thời gian sau Ông Năm đọc đến đoan giảng nói trên, ông rất hối tiếc, phải hồi đó mình mua giấy hạng nhứt (1$50), Ông Năm giữ kỹ mảnh giấy đó cho đến khi từ trần.

 

CHÚ THÍCH

          NGƯỜI XƯNG HIỆU QUAN VÂN TRƯỜNG: Là ông Năm Hẳn, tức Lê Văn Hẳn ở ấp Kiến Phú Thượng, xã Kiến An, quận Chợ Mới (An Giang). Ông thuờng xưng là Quan Vân Trường về phần cho Ông để trị bịnh cứu dân, mỗi lần như vậy là có la hét lớn tiếng.

          DINH ÔNG: Dinh thờ Chưởng cơ Lễ Thành Hầu. Ngài tên thật là Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) người làng Gia Miêu, huyện Tổng Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Nội tổ là Nguyễn Triều Văn, thân phụ là Nguyễn Hữu Dật, bào huynh là Nguyễn Hữu Hào, ba ông đều phò chúa Nguyễn, làm tới chức Đại Tướng.

          Triều Chúa Nguyễn Phúc Chu, Ngài Nguyễn Hữu Kính theo cha đánh giặc có công to, đặng thăng chức Cai Cơ và được người đương thời xưng tặng danh hiệu là Hắc Hổ.

          Năm Quí Dậu (1692) Ngài đem quân chinh phạt nước Chiêm Thành. Năm Mậu Dần (1668) Ngài được cử làm Kinh Lược xứ Chân Lạp và gia công khai thác đất Đông Phố (hiện nay là Sài Gòn), lập phủ Gia Định, một năm sau Ngài mới trở về Kinh Đô.

         Năm 1699 (Kỷ Mão) vì vua xứ Chân Lạp là Nặc Ông Thu làm phản, Ngài được lịnh Chúa Nguyễn kéo binh đến Nam Vang vấn tội. Nặc Ông Thu chống không nổi phải bỏ Kinh thành mà chạy. Con là Nặc Yêm ra hàng, sau Nặc Ông Thu cũng trở về chịu tội, xin triều cống và xưng thần như cũ. Xong việc, Ngài rút quân trở về Cù lao Tiêu Mộc (tức Cù lao Ông Chưởng hiện giờ) tạm nghỉ binh và sai người báo cáo cho vua hay trước. Đêm ấy Trời u ám có trận giông to, gò đất cao nơi mỏm Cù lao đó bị sụp (tức tại đầu cồn Thuận Giang, ngang chợ Đình Hòa Hảo). Qua đầu canh năm, Ngài chiêm bao thấy Thần nhơn mách bảo:“Mạng Lý do định nghiệp, không phải chỗ nầy làm chết người ta đặng”. Sáng ra Ngài thấy trong người mỏi mê rồi phát bịnh. Chiều lại Ngài gượng vui cùng các Tướng sĩ, trong bữa tiệc hốt nhiên Ngài khạc ra một cục máu, cách vài hôm sau bịnh càng nặng; Ngài than với các tướng sĩ:“Ta muốn kế thừa tiên chí, tận báo quân ân, song nhân lực nan khan, thiên số hữu hạn”. Ngài liền ra lịnh di quân về trấn Biên Dinh ( nay thuộc xã Hiệp Hòa, quận Châu Thành - Biên Hòa), nhưng vừa tới Rạch Gầm thì Ngài dứt hơi, hôm ấy nhằm ngày mùng 8 tháng 5 năm Canh Thìn (1699), Ngài thọ được 51 tuổi. Linh cửu của Ngài được đưa về Trấn Biên Dinh an táng.

          Hay được tin ấy vua thương tiếc vô cùng liền truy phong cho Ngài là:

          “Hiệp Tấn Công Thần Đặc Tấn Chưởng Binh Tướng Quân Lễ Thành Hầu”.

          Được trùng tu tại Thái Miếu, nơi thờ các Tiên Vương nhà Nguyễn. Sau đến triều Gia Long truy phong thêm cho Ngài là:“Thượng Đẳng Công Thần Đặc Tấn Phụ Quốc Đại Tướng Quân Chưởng Cơ”.

          Hiện nay các Dinh thờ Ngài còn được biết như tại phần mộ, thành phố Nam Vang, tỉnh lỵ Châu Đốc. Còn tại Ông Chưởng quận Chợ Mới (An giang) có 4 cái Dinh thờ Ngài trong xã: Long Điền, Kiến An. Long Kiến và An Thạnh Trung.

          TỆ XÁ: Tệ là tiếng khiêm xưng, xá là nhà. Ý nói cái nhà nhỏ của người dân nghèo.

 

CHÁNH VĂN
               593.“Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
         Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.
                    Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
         596. Mấy bà có biết lúa mà bay không ?
                    Có người đạo-lý hơi thông,
          Xin Ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
                    Điên nghe liền mới tỏ bày:
         600. Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
                    Hỏi qua tu niệm âm-hao,
         Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.
                    Buồn đời Điên mới bước ra,
         604. Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
                    Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi,
         606. Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 593 đến câu 606)

          -Đức Thầy rời khỏi nhà Ông Năm Hẳn, liền xuống thuyền chèo xuôi theo lòng Ông Chưởng, đến nhà Ông Chủ Phối, Ngài cho thuyền ghé lại rồi lên nhà. Khi đó có mấy bà lão ở xóm tựu đến nghe Ngài giảng dạy Đạo lý. Có bà hỏi thăm về việc lúa bay, Đức Thầy cũng giải rõ cho mọi người cùng nghe. Đoạn rồi Ngài day qua, thử bàn câu chuyện Đạo đức với ông Đạo Ba, tức con của ông Chủ Phối, nhưng coi bộ ông nầy không mấy hài lòng, nên Ngài từ giã xuống thuyền.

          -Con đường khuyến hóa nhân sanh, dù có nhiều cực khổ, Ngài cũng không ngừng nghỉ, chèo đến đâu miệng Ngài cũng luôn rao mời:

          “Đò tôi đưa người tác phước thiện duyên. Đò tôi đưa về Bồng lai Tiên cảnh. Ai có rảnh thì đi, còn mắc nợ trần thì ở lại”.

CHÚ THÍCH

          CHỦ PHỐI: Là ông Lê Văn Phối, ở ấp Long Quới II, xã Long Điền, quận Chợ Mới (An Giang), ở phía trên rạch Xẻo Môn khoảng 1 cây số, ông làm Hương chủ trong Ban Hội Tề làng, dưới thời Pháp thuộc, nên gọi tắt là Chủ Phối.( Ông nầy có bà con với Đức Bà, thân mẫu Đức Thầy).

          ĐẠO BA: là Lê Văn Nguyên tức con trai thứ ba của Ông Chủ Phối. Sở dĩ có danh là Đạo Ba vì ông Nguyên có lên xác tướng hốt thuốc Nam độ bịnh.

          LÚA BAY: Theo lời xác nhận của ông Đạo Ba và các bà lão ở xóm đó thì thuở ấy (1939) có Ông Chèo Đò ghé lại đây nói Đạo và giải rõ việc lúa bay:

          “Trời Phật dùng huyền diệu đem số lúa ấy về cất trong núi, để dành sau nầy đến kúc đói khổ, dân chúng có đó mà đỡ lòng”.

           Năm ấy chính tôi (soạn giả) có theo thân phụ làm ruộng ở Cái Sắn (Long Xuyên), đất giáp ranh với Điền Chủ Nhỏ (người Pháp) tôi có nghe tá điền trong đó kể lại:

          “Trong một đêm mà mấy lẫm (kho) lúa của ông Chủ Nhỏ, tự nhiên gió thổi dỡ ngói lúa bay đi hết. Nên biết, số lúa của mỗi lẫm có đến ba bốn chục ngàn giạ”

          ÂM HAO: Tin tức, nhưng âm hao ở đây là chỉ cho việc gạn hỏi, thăm dò Đạo lý.

          Trong Khuyến Thiện, Đức Thầy có nói:

                    “Nữ nam muốn rõ âm hao,

               Rán trau đức hạnh ngày sau sẽ tường”.

 

CHÁNH VĂN
                    607.“Có người xuống bến bằng nay,
         Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
                    Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng:
         Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?
                    Thương đời ta luống sầu-bi,
          612. Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ?
                    Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,
         Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
                    Điên này bụng chẳng có tham,
         616. Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
                    Già đây cũng chở cầu vui,
          Vậy chú hãy ngồi ngay chỗ sau đây.
                    Thấy người lòng dạ tà-tây:
        620. Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ?
                    Trong mui đã mát lại khô,
         Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
                    Trong mui dòm thấy trống không,
        624. Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
                    Cho người hung bạo biết Ta,
         626. Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 607 đến câu 626)

          -Con thuyền của Đức Giáo Chủ đang chèo xuôi theo dòng nước, bỗng có một người xuống đứng mé sông, Ngài bèn cho người ấy biết: Nhà ngươi thật không có lòng tin tưởng Phật Trời, đã được giác tỉnh hai lần mà chẳng chịu vâng theo; nay nghiệp quả đã đến, tuy Trời Phật đầy lòng Từ bi Bác ái, nhưng không thể cứu sống được ngươi nữa.

          -Tiếp đó lại có người nghe rao đò, tưởng đâu đò đưa sang sông vội kêu ghé lại hỏi giá. Đức Thầy cũng hứa đưa giùm, khách muốn trả bao nhiêu cũng tốt, nhưng với điều kiện là phải ngồi gần sau lái, vì trong mui đã chở chật nức hết rồi. Người ấy nhìn vào mui ghe, thấy trống không và khô ráo nên đòi vào mui ghe, bất chấp lễ nghi phải quấy và cũng chẳng đợi ông chủ đò bằng lòng hay không, người ấy cứ bước dại vào mui ghe, bỗng bị tuôn trào máu họng. Liền theo đó Đức Giáo Chủ cho ghe và Ngài đều biến mất một lượt. 

CHÚ THÍCH

          MÁCH: (Xem chú thích câu 376, Q.1).

          MẠNG VONG: Mất mạng, chết.

          LUỐNG: Khiến, bắt, xuôi nên. Ca dao có câu:

                    “Thấy trăng luống hổ với đèn,

                  Ai cho sang cả, khó hèn khác nhau”.

         SẦU BI: Âu sầu buồn thảm, thương xót. Ý nói Đức Thầy cũng như chư Phật quá đau xót cho chúng sanh mãi còn si mê tội lỗi. Ngài từng thốt:

                    “Buồn đời gát bút nghĩ suy,

                Suy cho cạn lẽ sầu bi quá chừng”.

                                        (Viếng làng Phú An)

          LÒNG DẠ TÀ TÂY: Tâm gian tà dối trá, thầm kín riêng tư; thiếu lễ nghĩa và không chơn chánh ngay thẳng.

 

CHÁNH VĂN
                    627.“Trở lên Chợ-Mới một khi,
         Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
                    Năm xưa đây có máu đào,
         Mà nay chưa có người nào chơn tu.
                    Nào Điên có muốn kiếm xu,
         632. Mà trong trần-hạ đui mù không hay.
                    Hỏi ông người ở đâu rày,
         Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.
                    Tới đây trong dạ buồn hiu,
         636. Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi”.
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 627 đến câu 636)

          -Sau khi ghe người biến mất, Đức Giáo Chủ liền trở về Chợ Mới, cũng chèo lên chèo xuống rao đò và nhắc cho bá tánh nhớ lại, trước kia ở đây có cuộc máu đổ thịt rơi, mà nay sao chưa có mấy người hồi tỉnh tu hành.

          -Với lòng Từ Bi, vì muốn rộng độ chúng sanh chớ chẳng phải vì tiền bạc mà bá tánh còn hoài nghi, ngờ vực chưa chịu hồi tâm. Ngài cũng không ngần ngại cho mọi người được biết, Ngài từ đời thượng cổ Thánh Đức trở lại giác đời như trong bài Xuân Hạ tác Cuồng Thơ:“Ta Điên thuở Tam Hoàng thượng cổ”. Hoặc là:

                    “Non lịch rừng nhu lộ vẻ hồng,

                    Danh hiền ban rải khắp Tây Đông”.

                              (Đáp lời ông Nguyễn Thanh Tân)

          -Đức Thầy còn có sứ mạng xây dựng cho nhân loại một cuộc sống thanh bình, nhà khỏi đóng cửa, ngoài đường của rơi không người lượm:

                    “Gia vô bế hộ im lìm,

               Lập thành mối Đạo rõ điềm xưa kia”.

                                        (Thiên lý ca)

          Thế nên, dầu cho người đời có nghe hay không, Ngài cũng quyết làm tròn sứ mạng:

          “Dầu đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu”.(Tự Thán)

 

CHÚ THÍCH

          CHỢ MỚI: Một quận trong tỉnh An Giang, gồm có 12 xã. Đông giáp quận Lấp Vò (Sa Đéc); Tây giáp sông Vàm Nao; Nam giáp Hậu Giang; Bắc giáp Tiền Giang. Rạch ông Chưởng nằm xuyên trổ ra sông Hậu.

          NĂM XƯA ĐÂY CÓ MÁU ĐÀO: Đây ám chỉ vào năm 1930 và 1936, tại quận Chợ Mới, phong trào chống Pháp bừng dậy, nhứt là năm 1936 quân Pháp thẳng tay đàn áp khiến đồng bào đổ máu quá nhiều.

          NON CÀY VUA NGHIÊU: Non cày là chỉ nơi Lịch sơn (núi Lịch). Xưa ông Thuấn lên Lịch sơn cày ruộng, nơi có tiếng là nhiều thú dữ, cha mẹ ông có dụng ý để ông chết đi cho khuất mắt. Không ngờ khi ông đến nơi thì có voi ra cày ruộng, chim chóc đáp xuống nhổ cỏ giúp ông. Sau vua Nghiêu mến đức, vời ông Thuấn về truyền ngôi trị vì Thiên hạ.

         Đức Thầy có câu (trong bài Vén Màn Bí Mật):

                    “Non Lịch đài mây rạng tu mi”.        

          VUA NGHIÊU: Người ở đất Đơn Lăng, họ Y Kỳ, tên là Phòng Huân, cha là Đế Cốc, mẹ tên Khánh Đô. Ngài lên ngôi 20 tuổi, trị vì được 101 năm (2357-2256, Tr.TL), thọ 123 tuổi, Quốc hiệu là Đào Đường. Ngài rất nhân từ minh chánh, tài an bang trị quốc tinh anh. Tuy chế độ Quân chủ, nhưng đối với dân rất được lòng. Vua tôi coi nhau như là ruột thịt; dân chúng thời ấy được sống cảnh thanh bình an lạc. Như Cổ thi có câu:

          “Toàn dân đều vui sống dưới Trời Nghiêu”.

          Mặc dù Ngài có tới 9 người con trai, nhưng xét thấy chẳng có người nào đủ tài đức trị dân, sau nghe ông Thuấn là bậc đại hiền thảo, bèn cho rước về truyền ngôi.

          Nói đến câu “Non cày vua Nghiêu” là muốn nhắc đến thành ngữ “Đất Thuấn Trời Nghiêu”, tức là nói đến cảnh thanh bình của hai nhà vua đời Ngũ Đế (Tr.H). Ông Nguyễn Thanh Tân một trong tín đồ PGHH có tán thán:

                    “Trời Nghiêu phụng múa vòng tay áo,

                       Đất Thuấn voi cày ruộng trổ bông”.

          Đức Thầy cũng luôn nhắc đến cảnh ấy:

                    “Thuở xưa thời buổi Thuấn Nghiêu,

                   Thái bình thạnh trị mến yêu khắn tình”.

                                        (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

          Sở dĩ Đức Thầy nhắc đến điển tích trên đây là ý muốn nói đến sứ mạng:

                    “Dựng cuộc hòa minh khắp đại đồng”.

                                                  (Phỏng đá trả lời)

          Nghĩa là Ngài có trách nhiệm thiết lập một thế giới đại đồng, công bằng trật tự. Và: Định ngôi phân thứ, gây cuộc hòa bình cho vạn quốc chư bang”.(Bài Sứ Mạng)

          Hầu làm cho nhân loại đều hưởng cảnh thanh bình an lạc như thời Nghiêu Thuấn thuở xưa:

          “Thương Minh Vương bắt chước Thuấn Nghiêu,

              Lòng hiền đức nào ai có biết”.(Kệ Dân, Q.2)

 

CHÁNH VĂN
                    637.“Giả ra một Kẻ Hàn Nồi,
         Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
                    Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
         640. Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
                    Tôi còn mắc cái nợ nầy,
         Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.
                    Nhà tôi đâu phải khó-khăn,
       644. Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
                    Nhiều người nghe nói reo cười,
         646. Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi ?”
 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 637 đến câu 646)

          -Bấy giờ Đức Giáo Chủ giả ra ông thợ hàn nồi, tay xách giỏ đồ nghề rảo khắp thôn xóm, khi dừng lại nơi nào. Ngài cũng không ngớt khuyên nhắc bá gia thức tỉnh tu hành. Ngài còn thố lộ cho mọi người được biết nơi Ngài tu hành đắc Đạo trước kia, là tại núi Tà Lơn.

          -Nay vì lòng từ bi và nghiệp nguyện tế độ chúng sanh, nên Ngài lâm phàm rưới nguồn mưa pháp khắp nơi, để bao hạt giống lành từ lâu bị vùi dưới lớp vô minh ngày nay có cơ hội nức mầm nảy tược. Công việc nầy dầu gặp nhiều gian khổ hay thế trần cười nhạo, Ngài cũng vẫn làm tròn chí nguyện:

                    “Thân ta dầu lắm đoạn trường,

        Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn loài”.(Cảm tác)

 

CHÚ THÍCH

          ĐỜN NĂM DÂY: là một vị trí trên núi Tà Lơn. Nơi đây cũng gọi là ruộng Năm Dây; ý chỉ chỗ ông Cử Đa tu đắc Đạo.

          CÁI NỢ NẦY: Cái nghiệp nguyện cứu khổ chúng sanh. Theo một nhà tu khi hoàn toàn đắc Đạo, thì nợ trần và nợ nhân quả không còn vướng mắc, chỉ còn nghiệp nguyện rộng độ chúng sanh và ân nợ của những người hảo tâm trợ duyên trên đường tu học. Và cái nợ mà Đức Thầy đề cập ở đây là:“Nợ cùng bách tính hãy còn vương”. Cho nên , trên con đường truyền Đạo, Ngài chẳng nệ sự gian lao cực khổ:

                    “Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh”.(Sa Đéc)

          Và:“Vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều tiền kiếp giúp ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh”.(Bài Sứ Mạng)

          BẠC HẰNG TÁM MƯƠI: Bạc thiệt thời xưa, bạc tốt (Bạc tám mươi, vàng mười tuổi). Ý nói Đức Giáo Chủ

là người xưa trở lại. Ngài là Phật đã thành hôm nay Ngài kêu gọi mọi người, nên trở về với bản tánh lành, tánh Phật của mỗi người sẵn có với thuần phong mỹ tục của ông cha từ xưa rèn đúc, đừng đam mê theo đời văn vật của Âu Tây. Như Ngài từng nhắc nhở:

                    “Giống hiền xưa bây giờ mới tỉa,

                     Dốc chờ ngày bông trổ thơm tho”.

                                        (Nang thơ Cẩm Tú)

          Để xác minh “Đờn Năm Dây” và “Bạc Hằng Tám Mươi”, chúng tôi xin kể lại câu chuyện do ông Lâm Văn Tuấn ở xã Long Điền tường thuật:

          Vào đầu mùa Xuân năm Canh Thìn (1940), lúc Đức Thầy còn ở Tổ Đình Hòa Hảo. Chiều hôm nọ Ông Tuấn đến Tổ Đình nghe Đức Thầy giảng Đạo, số thính giả dự nghe khá đông. Lúc đó ông Thầy Ba Thận ở Phú Lâm kêu:

          -Hương Hào hãy đưa miếng giấy cho tôi coi (người cùng đi với ông Thận).

          Đức Thầy nghe liền cười, hỏi:

          -Giấy gì đó ?

          Ông Thận quay lại bạch với Đức Thầy:

          -Ngài viết quyển Nhứt có câu:“ Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi”. Tôi lục hết sách vở không có nơi nào giải nghĩa Bạc Tám Mươi hết Thầy ?

          Đức Thầy liền nói:

          -Ông học Nho mà hiểu như vậy là lầm nghĩa rồi !

          -Bạch Thầy, lầm ở chổ nào ?

          -Ai mà để tiền bạc trong sách vở được ? Đây là tôi nói tiền bạc để trong cái giỏ xách. Lúc đi dạo Lục châu về tới Chợ Mới (Ông Chưởng), Ông Đò có giả ra người thợ hàn nồi, trong cái giỏ xách của Ông có để bạc tám mười, tức là bạc hồi xưa đó (bạc tốt). Ý Đức Thầy muốn nhắc lại tánh xưa (tánh hiền lành quí báu). Thầy Ba có dịp xuống miệt Ông Chưởng, hỏi thăm mấy ông già thì biết chuyện đó.

         Đức Thầy còn nhấn mạnh một lần nữa, “Đây là nói cái giỏ xách, chớ không phải là sách vở nhen ! Đó là tại nhà in sắp chữ sai, cái xách mà sắp lộn ra sách vở. Đoạn Ngài đọc luôn đoạn giảng nói trên cho mọi người cùng nghe, rồi Ngài nói tiếp: “Còn Đờn Năm Dây là chỉ trên núi Tà Lơn chỗ Ông Cử Đa tu đắc Đạo”.

 

CHÁNH VĂN
                    647.“Giã từ Chợ-Mới một khi,
         Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.
                    Ít ai biết được đạo hằng,
         650. Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.
                    Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
         Vì thương lê-thứ chi sờn lòng Đây.
                    Có người lối xóm muốn gây,
         654. Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
                    Ghe Điên vốn thiệt ghe be,
         Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
                    Ra oai thuyền chạy như dông,
         658. Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
                    Ông này chẳng biết người chi,
         Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
                    Thần Tiên mà chẳng ai hay,
         662. Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 647 đến câu 662)

          -Khi ra khỏi Chợ Mới, Đức Giáo Chủ cho thuyền đi xuôi xuống đuôi Cù lao (Tân Long), rồi chèo ngược lên vàm Ba Răng. Ngài thấy ở đây ít người hiểu đặng “Đạo Thường” của “Con người phải làm gì trong kiếp sống”.(Bài Trong việc Tu thân Xử kỷ)

          -Khi thuyền vô khỏi vàm Ba Răng một đỗi thì Ngài ghé cái am của Ông Mười Phố. Trong lúc Ngài nói rõ nguyên nhân lâm phàm cứu thế và giảng giải Đạo mầu cho Ông Phố nghe thì có Ông Hương tuần Dậu (tức Ông Sáu Dậu, anh của Ông Phố) đang uống rượu tại đó. Ông Dậu thấy Đức Thầy luận Đạo thông suốt làm cho Ông Phố nghe một cách say mê thì ông sanh lòng đố kỵ, kích bác. Thấy vậy, Đức Thầy liền giã từ chủ am ra đi, ông Phố tiễn đưa Ngài, hai bên đường xuống sông có trồng bắp vừa được ăn, ông Phố bẻ biếu cho Đức Thầy 6 trái.

          Đức Thầy liền bước xuống ghe chèo ra Vàm, tuy ngược nước, nhưng Ngài chèo rất nhanh, làm cho ghe chạy nhanh, khác hơn xuồng ghe thường. Ông Phố đứng tại bến nhìn theo giựt mình lo sợ: Đây là bậc thần tiên mà

anh mình coi thường, thật là điều rất lo ngại, khiến cho các Ngài phải buồn lòng thương xót !

 

CHÚ THÍCH

          BA RĂNG: Một cái rạch tại xã An Phong ăn sâu vô Đồng Tháp. Thời Pháp thuộc gồm có 3 xã: An Phong, An Phú, An Thành. Năm 1939 thuộc quận Chợ Mới (Long Xuyên). Sau đổi lại còn hai xã: An Phong và Phú Thành, quận Thanh Bình (Kiến Phong).

          ĐẠO HẰNG: Đạo là đường lối phải noi theo; hằng là thường. Là Đạo thường xưa nay, những phép tắc mà mọi người phải tuân theo để ăn ở cho phải lẽ, phải pháp. Cổ Thi có câu:“Xướng tùy đều giữ Đạo hằng”. Đức Thầy dạy:“Rày con xin giữ Đạo Hằng”.(Bài nguyện trước Bàn thờ Ông bà).

            Đạo hằng còn có nghĩa “Đạo Ngũ Thường”(năm mối thường hằng) gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đó là giềng mối của Đạo làm người.

          Đức Thầy thường nói:

                    “Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng,

            Tam cang trung trực người rằng ngu si”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          AM THẦY PHÁP: Am là cái nhà nhỏ người ta cất để tu hoặc thờ phượng. Thầy pháp là thầy phù thủy điều trị bịnh nhơn bằng cách dùng bùa chú hoặc bày binh bố trận, lên cốt lên đồng, điều binh khiển tướng nên có cất cái am để thờ.

          Ông Thầy pháp nói đây tức là ông Nguyễn Văn Phố ở trong Vàm Ba Răng một đỗi. Từ khi quy y với Đức Thầy thì ông bỏ nghề nầy để lo tu hành theo Phật Đạo, hiện giờ con cháu ông cũng còn tinh tấn tu hành theo giáo lý PGHH.

          CHI SỜN: Chẳng nản lòng nao núng. Ý nói dù gặp gian nguy, thử thách thế nào cũng chẳng sờn lòng nản chí.

          RA OAI: Cũng gọi là ra uy, là tỏ vẻ oai vệ mạnh dạng.

          NGƯỜI XƯA: Nghĩa của chữ cổ nhân. Người mà trước kia đã có nhiều lần chuyển kiếp độ đời, nay cũng trở lại giác chúng, Người xưa ở đây là chỉ cho Đức Phật Thầy Tây An, một trong nhiều tiền kiếp của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Như Ngài từng thốt trong bài “Dặn dò Bổn đạo”:                 “Chim Ô đà dựa cầu Ngân,

Người xua trở gót cho gần người nay.

Người nay rồi vẹn thảo ngay,

Thì là thấy tạn mặt mày người xưa”.

 

CHÁNH VĂN
                    663.“Đời nay mỏng tựa màn thưa,
         Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.
                    Thân Nầy chẳng nệ mau lâu,
         666. Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.
                    Thương trong trần-hạ thảm-thê,
         Lao-khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui,
                    Nhiều người nghèo khổ hẩm-hui,
         670. Không đất cặm dùi mà chẳng ai thương”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 663 đến câu 670)

          -Đoạn nầy ý nói sự thay đổi cuộc đời không còn xa lắm. Lời tiên tri của Đức Thầy chẳng hề sai ngoa và công

việc độ thế của Ngài không nệ sự mau lâu hay nhiều gian khổ, miễn sao cho toàn dân được hưởng cảnh vinh quang rực rỡ sau nầy.

          Ngài cũng rất cảm thương cho bá tánh, từ đây phải gánh chịu vô vàn sầu khổ.

            “Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết”.(Kệ Dân, Q.2)

            -Biết bao nhiêu gia đình cơ hàn đói khổ, thế mà kẻ phú quí chẳng chút đoái thương. Cho nên Đức Giáo Chủ hằng kêu gọi mọi người, hãy xét kỹ mà thi thố tình tương thân tương ái:

“Làng gần chí những tỉnh xa,

Lúc xưa thì cũng ruột rà với nhau.

Ngày nay tốt phước sang giàu,

Xin thương kẻ khó giúp hào một khi.    

Cậu cô chú bác cùng dì,

Khắp nơi Thầy chú một khi hảo lòng.

Việc nhà quí bạn đã xong,

Hiệp nhau làm phước rõ lòng hiền nhơn”.

                                                               (Khuyên người giàu lòng Phước thiện)

CHÚ THÍCH

          ĐỜI NAY MỎNG TỢ MÀN THƯA: Ý nói cuộc đời Ngươn hạ rất mỏng manh, sắp đến ngày tàn cỗi, cả nhơn loại phải trải qua:

                 “Cuộc tang thương biến cải cảnh trần”.

                                                            (Thu đã cuối)

          Những phần tử xấu xa sẽ bị luật đào thải lọc lừa, chỉ tồn tại phần thiện lương tốt đẹp, Đức Thầy từng cho biết:

                    “Kẻ gian tà sau bị lửa thiêu,

            Người tu niệm sống đời thượng cổ”.(Kệ Dân, Q.2)

            VINH HUÊ: Cây cỏ tốt tươi gọi là Vinh. Cây nở hoa gọi là huê; nghĩa bóng là sự vẻ vang phú quí. Nhưng chữ Vinh Huê ở đây chỉ cho được dự Hội Long Vân và đời Thượng ngươn hay cõi Cực lạc.

          Đức Thầy thường nói:

                    “Ai mà sửa đặng vuông tròn,

           Long Vân đến hội lầu son dựa kề”.(Sám Giảng,Q.3)

          Và:

                    “Vinh nầy của Đức Phật Bà,

         Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân”.(Sám Giảng,Q.3)

            HẨM HIU: (Xem chú thích câu 397, Q.1)

          KHÔNG ĐẤT CẶM DÙI: Thành ngữ dùng để chỉ cho người quá nghèo, không có đất cát, tiền của.

 

CHÁNH VĂN
                    671.“Con thuyền đương lướt gió sương,
         Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.
                    Có người ở xóm bằng nay,
         674. Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch trơn.
                    Du-thần bày tỏ nguồn cơn:
         Rằng người nghèo-khó đương hờn phận duyên.
                    Điên nghe vội-vã quày thuyền,
         Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.
                    Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
         680. Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 671 đến câu 680)

          -Đức Giáo Chủ khi rời khỏi Ba Răng, thuyền Ngài đi ngược nước, vòng lên cầu Cù Tây (?), rồi quẹo trở xuống chi nhánh sông Tiền. Trời vừa lúc bình minh, khói

sương còn phảng phất trên làn nước, con thuyền Ngài đang rẻ sóng đến gần ngang Tổ Đình Hòa Hảo, bỗng bên tai Ngài có tiếng Du thần bày tỏ:“Nơi đây có một gia đình bị kẻ trộm đánh cắp, mất một số đồ khá nhiều, hiện đang tiếc kể than phiền”.

          Ngài bèn quày thuyền ghé lại nhà ấy, ở phía trên Tổ Đình ít mươi thước và dùng khoa bói quẻ. Bói xong Ngài an ủi khuyên lơn cô chủ nhà:

          “Vụ trộm nầy tuy có người thân cận điềm chỉ nhưng cũng do nghiệp nhân của cô đến đây phải chịu như thế; hiện giờ của đã mất dầu buồn than cho lắm cũng chẳng ích chi. Vậy cô nên an tâm tu hành lo làm ăn chơn chất thì sau nầy sẽ giàu có hơn lúc trước”. 

CHÚ THÍCH

          TƯ LƯƠNG: Tưởng nhớ nhiều, lòng nhớ nghĩ buồn rầu. Đức Thầy có câu:

                    “Tư lương đeo đuổi giấc mộng sầu,

                       Bớ hỡi dương trần khá liệu âu”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

          AI HOÀI: Buồn thảm tha thiết, nhớ nhung não ruột. Cổ thi có câu:“Lòng lữ thứ ai hoài não ruột”.

          NGƯỜI BỊ TRỘM LẤY ĐỒ: là cô Tư Cứng ở phía trên Tổ Đình Hòa Hảo. Theo lời Cô thuật lại: Lúc bấy giờ vào khoảng trung tuần tháng 7 năm Kỷ Mão (1939), Cô bị ăn trộm lấy mất một cây lãnh và một số quần áo khá nhiều. Cô đang than khóc bỗng có một chiếc ghe chở bốn người ghé ngay bến. Ba người đi thẳng lên đường, một người ghé vô nhà Cô hỏi thăm việc mất trộm vừa rồi và nói:“ Ông cũng biết coi quẻ”. Cô Tư liền nhờ ông ấy bói giùm , bói xong ông ngỏ lời an ủi Cô Tư:“Của đã mất thì thôi, cô không nên buồn rầu vụ trộm do bà con của Cô điềm chỉ. Cô rán lo làm ăn rồi sau sẽ được khá hơn bây giờ”.(Quả thật, sau nhờ cô Tư Cứng bán vải ở chợ Mỹ Lương mà gia đình cô khá lắm).

          Hai ngày sau Đức Thầy viết hai bài thi, sai bào đệ của Ngài là cậu út Huỳnh Thạnh Mậu đem trao cho Cô Tư Cứng dặn hãy nói rằng: Hai bài thi nầy là của Ông Thầy Bói hôm nọ muợn đưa cho Cô.

          Hai bài thi ấy như sau:

“Kích động thiện tâm lụy xót xa,
Thoàn loan trở gót dụng tiên khoa,
Khuyên giải phàm nhơn tan sầu muộn,
Vật dụng gia đình khó kiếm ra.
Thương đó lòng đây rất thiết tha,
 
Thiên định số căn mới xảy ra,
Đoái thấy tà gian trung trực ghét,
Nhưng vì vận hạn chẳng phui ra”.

          DU THẦN: Các vị Thần có trách nhiệm tuần du đây đó để chép ghi tội phước của nhân gian mà báo cáo về Ngọc Đế. Đức Thầy có câu:

                    “Các chư Thần tuần vãng năm canh,

                Về thượng giái tâu qua Ngọc Đế”.(Kệ Dân, Q.2)

          PHẬN DUYÊN: Cũng viết là duyên phận, tức là số phận, duyên phần riêng của mỗi người hoặc chung của nhiều người do định nghiệp từ trước hay hiện giờ gây ra.

          Ca dao có câu:

                    “Mặc ai lên võng xuống dù,

                Ta vui duyên phận cần cù nuôi nhau”.

          GIẢI PHIỀN: Cởi bỏ những sự buồn bực, phiền hà trong lòng.

          PHÀM NHƠN: Người phàm tục ở cõi trần, đối với Tiên Phật ở cõi siêu thoát.

          THIỆT HƠN: (Xem chú thích câu 244, Q.1)

 

CHÁNH VĂN
                    681.“Rồi đi dạo xóm một khi,
         Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.
                    Vào nhà nói chuyện một hơi,
         684. Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô:
                    - Mua một ve uống hỡi cô,
         Uống vô bổ khoẻ trị nhiều chứng phong.
                    Uống thì pha nước nóng trong,
         688. Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
                    Hai thằng ở xóm bằng nay,
          Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
                    Người cha đi lại thấy rầy:
          692. Thiệt mấy đứa nầy cãi-cọ làm chi.
                    Bước ra nhà nọ một khi,
         Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
                    Gặp xe chẳng có lên ngồi,
         696. Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
                    Xóm này kẻ ghét người ưa,
         Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
                    Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
         700. Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 681 đến câu 700)

          -Sau khi coi bói việc mất đồ của Cô Tư Cứng, Đức Giáo Chủ và ba ông đệ tử giả đi dạo xóm, đến nhà anh Tài công Hợi gặp đang giã gạo thì một người bước vô giã với người ta, còn hai người bán thuốc quảng cáo (Sơn Đông). Đồng bào trong xóm tề tựu đến xem, người bán thuốc kêu cô Tư Cơ mua một ve thuốc bổ, trị phong và dặn dò cách uống. Lúc ấy có hai anh: Gọn và Khâm đứng nghe, mới bàn với cô Tư Cơ:“Thuốc đi bán dạo hay ho gì mà mua”. Bỗng Ông Út (thân phụ Anh Gọn) vừa bước tới nghe nói thế, liền rầy hai anh:

          “Thuốc hay dở gì tùy người mua và bán, mấy đứa bây chê khen cãi cọ làm chi !”

          -Kế đó Đức Thầy bước ra đường giả vờ kiếm xe lôi, nhưng gặp xe Ngài không đi mà lại chạy trước xe một đổi; bỗng có người bị đau răng, Ngài liền ghé vào xem và nhổ luôn  giùm. Việc xong rồi Thầy trò đồng bước xuống thuyền thả trôi theo dòng nước.

 

CHÚ THÍCH

          GIÃ GẠO, NGƯỜI BÁN THUỐC, NGƯỜI MUA THUỐC: Theo lời ông Tài công Hợi ở xã Hòa Hảo kể lại, Ông có chứng kiến chuyện nầy rất rõ ràng.

          Khoảng rằm tháng bảy năm Kỷ Mão (1939), có ba người lạ mặt ghé nhà Ông, một người bước lại giã gạo, còn hai người bán thuốc Sơn Đông. Ông bán thuốc có kêu cô Tư Cơ mua một ve thuốc bổ trị phong và dặn nên pha với nước nóng, chớ đừng pha rượu vì nó kỵ thai.

          HAI THẰNG LỐI XÓM: là anh Huỳnh Văn Gọn và anh Khâm, hai anh nghe bán thuốc lại coi và bảo cô Tư Cơ đừng mua, thuốc Sơn Đông họ bán dạo hay ho gì mà mua !

          NGƯỜI CHA ĐI LẠI THẤY RẦY: là ông Huỳnh Văn Quốc, thân phụ anh Huỳnh Văn Gọn và cũng là chú ruột của Đức Thầy (Huỳnh Giáo Chủ).

          Theo lời ông Út thuật lại thì sáng sớm hôm ấy Đức Thầy có dặn ông coi chừng phần xác của Ngài. Sau khi căn dặn, Đức Thầy nằm trên một cái ghế bố đầu day vô nhà, chơn duỗi thẳng ra đường lộ, từ sớm mai đến khoảng tám chín giờ buổi sáng. Lúc đó Đức Thầy nằm yên lặng, hơi thở đều đều. Có một lần Ngài mở mắt bảo ông Út đi hái một mớ bông trâm ổi, rải chung quanh chỗ Ngài nằm.

          Trong khi ông Út làm phận sự (coi chừng), ông có lẻn bước ra ngoài đường tiểu tiện, chính trong lúc đó ông gặp anh Gọn và anh Khâm trong vụ bán thuốc Sơn Đông và có rầy hai anh nầy.

          NHỔ BỪA: Nhổ thí, nhổ đại. Ý nói việc coi như là không chuyên môn lắm, không đủ đồ nghề nhưng làm thí mà lại được việc.

CHÁNH VĂN
                    701.“Vàm-Nao rày đã đến rồi,
         Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Đình.
                    Hát hai câu hát huê-tình,
         704. Đậu xem dân chúng Chợ-Đình làm sao.
                    Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,
         Giả Bận Áo Màu ai cũng dòm xem.
                    Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
         708. Đứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.
                    Đứa này nói để cho tao,
         Đứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.
                    Nhắc ra động tấm lòng son,
         Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.
                    Ở đây một buổi ghe lui,
         714. Về trên Bảy-Núi ngùi-ngùi thương dân”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 701 đến câu 714)

          -Khi Đức Giáo Chủ rời khỏi xóm nhà cô Tư Cứng, Ngài liền bước xuống thuyền cho trôi theo dòng nước, đến ngang chợ Đình. Vì muốn xem lòng bá tánh ở đây nên Ngày xây qua lối hát huê tình rồi cho thuyền đậu ngay bến chợ.

          -Sáng ngày, Ngài giả ra một cô gái vừa trẻ vừa đẹp mang chiếc áo màu sặc sỡ. Bọn thanh niên ở đây xem thấy lòng thèm khát rộn lên, cùng nhau đứng xây quanh cô gái, kẻ tán dương nịnh hót, người thì giành phần nầy nọ đủ cách.

         -Thấy tình cảnh như thế, lòng Đức Thầy rất đau xót cho dân chúng, sao còn quá đam mê dục lạc ? Ngài thử lòng bá tánh nơi đây được nửa ngày rồi trở về miền Thất sơn, nhưng lòng Ngài lúc nào cũng nghĩ đến sinh linh sắp lâm cơn đồ thán !

 

CHÚ THÍCH

          VÀM NAO: (Xem chú thích câu 440, Q.1)

          CHỢ ĐÌNH: Chợ gần bến Đình Thần xã Hòa Hảo, quận Tân Châu (Châu Đốc).

          HÁT HUÊ TÌNH: Lối hát đối đáp giữa trai gái, phần nhiều viết theo thể lục bát, hay song thất lục bát hoặc biến thể, rút trong ca dao hoặc sửa lại cho hợp với tình cảnh, qua các cuộc tình duyên gặp gỡ, thề nguyền, chờ đợi.v.v…

          NÓI GIÈM: Cũng viết là nói giàm, có nghiã tỏ ý muốn, bằng lời lẽ quanh co, xa gần, tán tỉnh nịnh hót.

          Tục ngữ có câu:“Muốn ăn nên mới nói gièm”.

          LÒNG SON: Do chữ Đan Tâm, có nghĩa là lòng tốt đẹp trung thành, cứng bền và trong sạch, không chút bợn nhơ, có thể ví như son đỏ. Hàn Mặc Tử có câu:

                    “Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi,

                      Chỉ một lòng son muốn giải bày”.

          Và Đức Thầy Tây An đã bảo:

                    “Sắt kia vào lửa mẻ mòn,

             Gan vàng tiết tháo lòng son mấy người”.

          BẢY NÚI: (Xem chú thích câu 88, Q.1)

          NGẬM NGÙI: Bùi ngùi sụt sùi thương nhớ. Ca dao có câu:

                    “Ngùi ngùi cảm nhớ Thung Ba,

               Ngay vua dốc báo, nghĩa cha mong đền”.

 

CHÁNH VĂN
                    715.“Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
         Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
                    Chơn-tu thì quá ít-oi,
         718. Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.
                    Đi lần ra đến núi Sam,
         Đến nơi rảo khắp chùa am của người.
                    Dạy rồi bắt quá tức cười,
        722. Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
                    Trẻ già biến hóa ai hay,
         Dạo trong Bảy-Núi chẳng nài công lao.
                    Rú-rừng lúc thấp lúc cao,
         726. Giả ra Nghèo-Khó vào nhiều am-vân.
                    Tu hành nhiều kẻ tham sân,
         Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.
                    Ai ai cũng cứ ham tiền, 
         730. Ấy là đem sợi xích-xiềng trói thân”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 715 đến câu 730)

          -Trên con đường giáo độ nhân sanh, Thầy trò Đức Giáo Chủ chẳng nài sự gian khổ, Ngài dạo qua vùng Bảy Núi một lần nữa để thử lòng các nhà tu ở đây. Xét thấy số thật tâm hành Đạo thì ít, còn phần đông là hạng ẩn dương nương Phật, chỉ lo thâu nhận của thập phương, quen tánh nhàn rỗi, biếng lười; chẳng làm tròn bổn phận của một Tăng sư.

          -Đức Thầy giả ra đủ hình thức, hầu hết các am tự, núi đồi nơi nào Ngài cũng để chân đến. Lòng Ngài rất buồn thương cho những người đã mang tiếng xuất gia, dấn thân vào cửa Thiền mà tâm vẫn còn sân si, vị ngã, tham chứa của tiền; đã không hơn được người thường thì mong gì kiến diện Phật Tiên.

          Kinh Phật cảnh giác giới xuất gia ấy:

                    “Thập phương nhứt lạp mễ,

                      Như đại Tu Di Sơn,

                      Thực liễu bất tu đạo,

                      Phi mao đái giác hườn”.

          Tạm dịch:

                    (Thực phẩm tín thí mười phương,

                 Xét ra trọng lượng sánh dường Tu Di.

                      Thọ dụng chẳng hành trì đắc Đạo,

                      Đọa thú cầm nghiệp báo phải đền).

          Đức Thầy hiện nay cũng từng thức tỉnh hạng Tăng sư nói trên:

                    “Khuyên trong sư vãi mau mau tỉnh,

                      Luân hồi quả báo rất công bằng.

                      Mang tiếng xuất gia sao chẳng liệu,

                      Đạo đức xong chưa hỡi chư Tăng”

                                                  (Khuyên trong Sư Vãi)

 

CHÚ THÍCH

          NON TẦN: Chỉ cho miền Bảy Núi, vùng nầy nằm giáp biên giới Miên-Việt, dân tộc Miên còn ở chung quanh đây khá đông, nên gọi là non Tần. Bởi theo giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương thì danh từ nước Tần là ám chỉ cho nước Miên, như trong “Kim Cổ Kỳ Quan” của ông Ba Thới có câu:

                    “Mấy ai từng ăn ốc không gai,

                Ăn cơm không đủa đại tai nước Tần”.

          Và trong Kệ Dân, Q.2  Đức Giáo Chủ cũng bảo:

                    “Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng,

                      Trở về Nam đặng có sửa sang,

                      Cho thiện tín được rành chơn lý”.

          ẨN SĨ: Người có học vấn ẩn dật, nhưng chữ ẩn sĩ  ở đây là chỉ cho số người giả tu, đã nương mình nơi núi non, am tự mà còn biếng nhác, tham lam, sân si vị ngã.

          NÚI SAM: (Xem chú thích câu 414, Q.1)

          AM VÂN: Am là cái chùa nhỏ của các nhà tu ở; vân là mây. Am người ta thường cất ở trên núi xa và cao có mây bao tuyết phủ nên gọi là am vân, như “Bạch Vân Am” của Cụ Trạng Trình thuở xưa. Cổ thi có câu:

                    “Nghĩ cuộc thế vần xoay tráo chác,

                      Nương am vân núp bóng Phật đà”.

          THAM SÂN: Tham lam và sân hận, hai điều trong  ý nghiệp, nhưng chữ tham sân ở đây còn có nghĩa chỉ người ham sân si gây gổ. Người tu hành mà còn chứa chấp lòng sân hận thì không bao giờ kết quả.

          Kinh Phật có câu:“Nhứt niệm Sân Tâm chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh Công Đức chi sơn”.(Một đóm lửa sân hận dấy lên, nó sẽ đốt cháy cả rừng núi công đức của mình).

          Khi xưa, ông Uất Đầu Lâm Phát đang ngồi Thiền định dựa bờ suối, bên cạnh rừng cây, bỗng các loài chim từ đâu bay đến kêu hót vang rừng, còn cá dưới suối thì ăn móng đập đuôi làm tâm ông tán loạn, không Thiền định được. Ông liền nổi sân thốt ra lời vi phạm ác khẩu:“Ta thề sẽ làm con chồn bay (phi ly) để ăn thịt hết loài chim cá nầy, mới nghe cho”. Thời gian sau Ông bị quả báo y như lời thề đó.

          Lại thêm một trường hợp nữa là vua A Kỳ Đạt. Ông suốt đời lo tu hành, với công phước ấy đáng lẽ khi bỏ xác, vua được lên thiên đường, nhưng vì chưa dứt được lòng sân hận, lúc gần lâm chung, người hầu vô ý làm rớt cây quạt trúng mặt vua. Vua giận dữ rồi tắt thở, linh hồn bị “Cận Tử Nghiệp” dẫn đi đầu thai vào loài rắn, sau nhờ một vị sa môn hóa độ, vua mới được sanh thiên.

          Xét theo đây, nếu người tu còn tham sân ắt gặp nhiều chướng ngại, khó mong thành quả. Trong Kinh Di Giáo Phật có dạy:“Lòng nóng giận còn hơn ngọn lửa, các

người khá nên đề phòng, chớ để nó xâm nhập vào Tâm. Con giặc cướp giựt công đức không gì hơn nóng giận. (Sân tâm thậm ư mãnh hỏa, thường phòng hộ, vô linh đắc nhập, kiếp công đức tặc, vô quá sân nhuế).

          Đức Thầy nay cũng dạy:

                    “Chữ gây gổ là sân hãy diệt,

               Cho nó đừng thấp thoáng trong lòng”.

          HAM TIỀN BỊ XÍCH XIỀNG TRÓI THÂN: Ý nói người quá tham lam tiền của, lo tính hành động tội lỗi thì sớm muộn gì cũng vương cảnh thống khổ, như người tội trong lao ngục luôn bị gông xiềng trói buộc.

          Đức Thầy thường cảnh giác:

                    “Tham chi giả tạm của tiền,

               Như chim vào lưới xích xiềng trói thân”.

                                                  (Hoài Cổ)

          Lúc Đức Phật còn trụ thế, một hôm Ngài cùng đại chúng đang tiến hành trên lộ lớn, bỗng nhiên Ngài dừng lại và dắt đoàn người rẽ vào con đường nhỏ. Thấy thế, ông A Nan liền bạch hỏi nguyên do ?

          Phật bảo:“ Ở trước kia có oán tặc đón đường, chốc nữa đây sẽ có ba Phạm Chí đến đó bị tai hại không tránh được. Các ngươi hãy đi nhanh, rời khỏi nơi đây !”

          Sau mấy phút ba người Phạm Chí đi tới, đồng xí được một cái túi đầy ắp vàng bạc nằm dựa bệ đường. Ba người mừng rỡ cùng nhau bàn tính: Giờ Trời đã trưa, bụng lại đói, vậy hai người ở lại giữ vàng còn một người xuống chợ mua thức ăn về, cùng nhau ăn uống rồi sẽ lên đường. Phân công xong, người đi chợ vừa đi vừa nghĩ:“Số vàng nầy ta chỉ chia được một phần ba thì uổng quá, chi bằng mua độc dược thuốc hai đứa nó để mình ta

trọn hưởng”. Khi đến chợ Phạm Chí nầy ăn uống no say rồi mua thuốc độc tẩm vào thức ăn xách về.

          Còn hai Phạm Chí ở lại cũng sanh lòng tham, cùng nhau liệu kế giết người đi chợ để loạt luôn phần của y. Phạm Chí đi chợ xách thức ăn về vừa tới, bất ngờ bị hai người kia hạ sát, thi hành xong thủ đoạn, họ ném thây người ấy vào bụi rậm rồi lấy thức ăn trong xách ra dùng, lát sau thuốc độc thấm vào hai người đều nhào lăn ra chết cả.

          Mẩu chuyện kể trên, cho ta thấy người đời ham tiền còn phải bị tiền của trói buộc vào khổ tử; huống lại kẻ tu hành đã đem thân vào núi non am cốc nếu còn tham tiền bạc của bá gia dâng cúng, như các Tăng Ni ở miền Bảy Núi mà Đức Thầy đã đề cập trong đoạn giảng kể trên thì biết bao giờ họ gặp được Phật Tiên.

 

CHÁNH VĂN
                    731.“Lìa xa Bảy-Núi lần lần,
         Xuống thuyền trực chỉ lên gần Hà-Tiên.
                    Đến đây giả Kẻ Không Tiền,
         734. Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia.
                    Đi rồi cũng quá thiết-tha,
         Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
                    Non Tiên gió mát thảnh-thơi,
         738. Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
                    Xuống trần lúc hát lúc ca,
          Mà trong lê-thứ có mà biết chi.
                    Nam-mô hai chữ từ-bi,
         742. Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
                    Tu thời nhàn hạ thân mình,
         Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
                    Thiên-cơ ai dám nói thừa,
          746. Mà trong bá tánh chẳng ưa Điên Khùng”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 731 đến câu 746)

          -Khi Đức Thầy rời khỏi Bảy Núi, liền xuống thuyền lướt thẳng đến Hà Tiên. Nơi đây, Ngài giả ra người nghèo khó, rảo khắp chợ để xin tiền bá tánh, nhưng ít có người đoái thương kẻ cơ bần. Lòng Ngài quá xót xa bèn trở về non cũ, nơi mà trước kia Ngài đã tu hành chứng đắc. Song vì lòng từ bi của đấng Giác Ngộ, không nỡ riêng hưởng chốn an nhàn tự tại. Lúc nào Ngài cũng nghĩ đến sanh linh đang chìm đắm trong bể mê sông khổ, thế nên dù cho:“Bể trần sóng cuộc lao xao”, Ngài cũng quyết chí:

      “Xông thuyền Bát Nhã lướt vào một phen”.(Tự Thán)

           -Tuy lời giác tỉnh của Ngài chưa được bao người để ý, nhưng Ngài vẫn giác đời mãi mãi:

               “Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu”.(Tự Thán)

          -Chúng sanh nào biết cải ác tùng thiện thì sau nầy được hưởng cảnh thanh bình, bằng ai không thích ưa cũng mặc, chớ cơ mầu nhiệm của Trời Phật, Ngài không bao giờ dám nói dư một điều.

 

CHÚ THÍCH

          HÀ TIÊN: Nguyên là phủ Sài Mạt của Chân Lạp do Mạc Cửu và số người Quảng Đông khai mở. Mạc Cửu được vua Miên phong chức Ốc Nha (như Tỉnh Trưởng) cai quản vùng ấy. Đến năm 1708, Mạc Cửu xin thần phục Chúa Nguyễn; năm 1867 Pháp lấy trọn miền Nam, Hà Tiên là tỉnh thứ 3 của 20 tỉnh Nam kỳ, năm 1956 được sát nhập với tỉnh Rạch Giá để thành tỉnh mới, là Kiên Giang. Hà Tiên trở thành một quận có 8 xã.

          NON CŨ: Chỉ núi TÀ LƠN, một ngọn núi nằm trọn trên đất Miên, đây là nơi đức Cử Đa (ông Điên) tu hành đắc Đạo.

          LỤY NGỌC: Cũng là lệ ngọc, tức là giọt nước mắt rơi xuống như từng hột ngọc rơi. Thường chỉ cho nước mắt của người cao quí, sang đẹp.

          Trong Sám Giảng Q.3 có câu:

                    “Trước đền mặt ngọc lụy rưng,

                Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi”.

          NAM MÔ: (Xem chú thích câu 29, Q.1)

          TỪ BI: (Xem chú thích đoạn 2 bài Sứ Mạng)

          NHÀN HẠ: Thong thả rảnh rang, không còn vướng bận nợ trần tục. Kệ Dân, Q.2 có câu:

 “Tương với muối cháo rau đạm bạc,
Nghèo lương hiền biết niệm Di Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
Lại được thấy cảnh Tiên nhàn hạ”. 

 

CHÁNH VĂN
                    747.“Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
         Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
                    Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
          750. Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.
                    Tới đây giả Kẻ Có Cơn,
         Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
                    Dương-trần đi lại lăng-xăng,
        754. Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
                    Ở đâu mà tới thị-thiềng,
         Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
                    Lòng thương vì tánh từ-bi,
         758. Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 747 đến câu 758)

          -Giảng dân ở Hà Tiên xong, Đức Giáo Chủ thong thả chèo thuyền xuống Rạch Giá, một cái chợ nằm ở tại cái doi đất sát bờ biển, dân chúng vùng nầy, đa số sống nghề ngư nghiệp, nơi mà người ta đánh lưới được cá mòi nhiều hơn hết.

          -Đến đây Ngài giả ra người không thiệt tánh, khi thì hờn trách phận duyên, lúc lại nói thiên cơ đạo lý, bá tánh kẻ qua người lại, chê cười, nhiếc mắng đủ cách, họ còn nói: Lính sao không bắt quách người điên nầy đem về nhốt đi cho trống chợ. Thấy đời quá lăng mạ, mê si, Đức Thầy động lòng thương, nên Ngài giảng rõ việc đời khổ não sắp xảy ra, nhưng bá tánh ở đây ít người nghe đến.

CHÚ THÍCH

          CHÈO QUẾ: (Xem chú thích câu 176. Q.1)

          THUNG DUNG: Cũng gọi là thong dong. Có nghĩa rảnh rang thong thả, không bận rộn, không còn phải lo nghĩ:

          “Tẩy trần vui chén thong dong”.(Truyện Kiều)

          RẠCH GIÁ: Tỉnh thứ Tư của Nam kỳ thời Pháp thuộc; năm 1956 nhập với Hà Tiên và đảo Phú Quốc để thành tỉnh Kiên Giang. Xưa là xã Giá Khê do Mạc Cửu lập ra và sát nhập vào Phong ấp Hà Tiên (năm 1915 đời Chúa Nguyễn Phúc Chu), năm Ất Mão (1735) Mạc Thiên Tích lập thành tỉnh Kiên Giang của trấn Hà Tiên.

          VEN BIỂN: Bờ biển, dọc theo mé biển.

          THOI LOI: Cũng gọi là doi hay thỏi đất, mũi đất nhỏ nằm thòng ra sông, ra biển. Ví dụ gần thoi loi thường có sóng to.

          CÁ MÒI: Tên một loài cá biển, vảy mềm, xương nhiều và nhỏ, ngọt thịt, thường lội từng đàn hằng ngàn con.

          KẺ CÓ CƠN: Người không thiệt tánh, mất trí từng hồi. Ví dụ cho người nọ có cơn, tánh khi vui khi buồn bất thường.

          SỐ CĂN: Cũng gọi là căn số hay số kiếp, căn phần có sẵn của mỗi người, hoặc của chung tất cả.

 
CHÁNH VĂN
                    759.“Dạy rồi Điên lại xuống ghe,
          Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè-thơ.
                    Vợ chồng nghèo khổ bơ-vơ,
         762. Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
                    Buồn trong lê thứ ủ-ê,
         Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
                    Đến đâu thì cũng tả-tơi,
          766. Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
                    Thị-thiềng thiên hạ lao-xao,
         Chẳng có người nào tu niệm hiền-lương.
                    Thấy trong trần-hạ thảm thương,
         770. Đâu có biết đường chơn chánh mà đi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 759 đến câu 770)

         

          -Đức Giáo Chủ giảng khuyên dân chúng ở Rạch Giá xong, Ngài liền xuống thuyền trở về Long Xuyên và Sa Đéc. Hai nơi nầy Ngài cũng dùng vè thơ thức tỉnh bá gia, sớm quày đầu hướng thiện. Ngài còn giả ra hai vợ chồng nghèo khổ, quê khờ trong tình cảnh bấp bênh, xin ăn theo chợ búa.

          -Hết đây, Ngài cho thuyền tiến thẳng đến chợ Sóc Trăng, tới đâu cũng với hình thức cơ hàn, áo quần tơi tả, nhưng miệng Ngài không ngớt báo tin cho dân chúng rõ, cuộc đời sắp đến hồi điêu linh thống khổ. Nhìn chung cảnh vật chợ Sóc Trăng Ngài rất thảm thương cho ở đây, tuy dân chúng đông đảo, nhưng ít có người hiền lành tu niệm, bởi họ quá say mê vật dục, không rõ đâu là nẻo tà để tránh và đâu là đường chánh nên theo.

 

CHÚ THÍCH

         

          LONG XUYÊN: Tỉnh số 8 của Nam Kỳ thời Pháp thuộc, 1956 nhập với tỉnh Châu Đốc thành tỉnh An Giang, đặt tỉnh lỵ tại Long Xuyên, từ năm 1964 Châu Đốc được tách rời ra và lấy tên cũ, thành ra An Giang chỉ còn phần tỉnh Long Xuyên hồi trước. Đông giáp Kiến Phong; Tây giáp Kiên Giang; Nam giáp Phong Dinh; Bắc giáp Châu Đốc và Kiến Phong. Diện tích 4140 km vuông. Dân số 1.361.700, trên 80% tín đồ PGHH. Hiện giờ tỉnh An Giang (Long Xuyên) và Châu Đốc coi như hai tỉnh Thánh Địa PGHH.

          SA ĐÉC: Tỉnh số 6 của Nam kỳ thời Pháp thuộc. Đông giáp tỉnh Tân An (Long An); Bắc và Tây giáp An Giang; Nam giáp Vĩnh Long và Phong Dinh, năm 1956 đổi lại là tỉnh Kiến Phong. Đến năm 1967 được trở lại Sa Đéc như trước.

          SÓC TRĂNG: Tỉnh số 10 của Nam kỳ thời Pháp thuộc, từ năm 1956 được nhập với một phần lớn của tỉnh Bạc Liêu để làm thành tỉnh Ba Xuyên.

          BƠ VƠ: Linh đinh thất thiểu, không chỗ nương tựa.

CHÁNH VĂN
                    771.“Lìa xa đô-thị một khi,
         Thuyền-loan trực chỉ đến thì Bạc-Liêu.
                    Chợ nầy tàn ác quá nhiều,
         774. Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
                    Đi cùng thành-thị ráo trơn,
         Cà-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
                    Cho trong bá-tánh chợ nầy,
         778. Rõ việc dẫy đầy lao-lý về sau.
                    Đường đi lao-khổ sá bao,
          Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
                    Tu-hành đâu có tốn xu,
         782. Mà sau thoát khỏi lao-tù thế-gian”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 771 tới câu 782)

          -Rời khỏi Đô thị Sóc Trăng, Đức Thầy lái thuyền tiến thẳng đến Bạc Liêu, Ngài thấy dân chúng ở chợ nầy quá bạo tàn gian ác, đồng bào phần đông là người Việt gốc Miên và Việt gốc Hoa.

          -Ngài giảng dân khắp vùng thành thị rồi cho thuyền đi luôn Cà Mau. Ở đây Ngài kêu gọi, giải bày cặn kẽ về việc lao khổ sắp tới cho mọi người được hiểu.

          -Trên con đường giác chúng cứu đời dù có gặp nhiều khổ nhọc Ngài cũng không màng kể:

                    “Thân nầy sá quản cần lao,

               Miễn cho bá tánh được mau an nhàn”.

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          - Chỉ mong sao cho vạn dân sớm quay về nẻo Đạo. Với phương thức tu hành theo Ngài chỉ dạy khỏi phải hao tiền tốn của, chỉ lo trau thân lập hạnh niệm Phật làm lành mà sau nầy được thoát cảnh trần gian thống khổ.

 

CHÚ THÍCH

          ĐÔ THỊ: Chỗ thị tứ lớn, nơi tụ họp mua bán đông đảo.

          BẠC LIÊU: Nguyên xưa là quận Trần Di của  trấn Hà Tiên do Mạc Thiên Tích lập từ năm Ất Mão (1735). Thời Pháp thuộc thành tỉnh thứ 20 của Nam Kỳ, năm 1956 được nhập với tỉnh Sóc Trăng để thành tỉnh Ba Xuyên.

         

          DÂN THỔ: Cũng gọi là thổ dân (Đàn thổ). Tiếng nầy do dân ta từ Bắc, Trung mới vào Nam gọi người Cao Miên là Đàn Thổ. Khi đất Thủy Chân Lạp thuộc về Việt Nam thì họ chịu thần phục Chúa Nguyễn và ở lại nước ta luôn, bấy giờ gọi là người Việt gốc Miên. Họ còn ở các vùng Bạc Liêu, Sóc Trăng (Ba Xuyên) và Trà Vinh (Vĩnh Bình) rất nhiều.

          DÂN TIỀU: Người Việt gốc Hoa. Nguyên là người ở xứ Tiều Châu (Triều Châu) Trung Hoa, theo Mạc Cửu chống nhà Thanh, chạy sang Chân Lạp. Sau thần phục Chúa Nguyễn rồi ở luôn nước ta, hiện giờ họ còn ở Bạc Liêu khá đông.

          CÀ MAU: Doi đất ở cực Nam nước Việt Nam. Nguyên là đất Thủy Chân Lạp, tiếng Cam Bốt gọi là Tukhmau (nước đen). Hồi Pháp thuộc là một Quận lớn của tỉnh Bạc Liêu. Năm 1956 cùng với một vài quận khác trở thành tỉnh An Xuyên. Tây giáp Vịnh Thái Lan; Nam giáp bể Nam Hải; Bắc giáp Kiên Giang. Diện tích 4.906 km vuông; dân số 256.442. Tỉnh giàu về ngư nghiệp và lâm sản: Than, củi, mật ong…

          SÁ BAO: Chẳng kể là bao. Ý nói dù đường đi có xa xôi cực khổ bao nhiêu cũng chẳng kể (chẳng quản), miễn được việc là hơn.

CHÁNH VĂN
                    783.“Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
         Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
                    Đằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
          786.Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.
                    Xưa kia bão-lụt tỉnh này,
         Mà sau cảnh khổ xứ này gần hơn.
                    Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
          790. Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 783 tới câu 790)

          -Trên đường châu du độ thế, Thầy trò Đức Giáo Chủ gặp nhiều cam go thử thách, nhưng Ngài cũng nhứt quyết làm tròn chí nguyện cho đến khi nào chúng sanh hết đắm chìm trong bể khổ mới an lòng:

                    “Nếu thế gian còn chốn mê tân,

                      Thì ta chẳng an vui Cực Lạc”.

          -Bấy giờ Ngài rời Bạc Liêu đằng vân tới tỉnh Gò Công. Sở dĩ Ngài hằng mong tới tỉnh nầy là vì lòng quá thương xót chúng dân ở đây, trước kia đã phải chịu nạn lụt lội khủng khiếp mà nay sắp gặp tai khổ nhiều hơn nữa.

          -Hai Thầy trò giả ra một người đờn và một người hát. Ngài hát toàn việc Thiên cơ, Đạo lý để giác tỉnh bá tánh khắp nơi.

CHÚ THÍCH

          ĐẰNG VÂN: Đi trên mây, cách đi của các Tiên gia.

          GÒ CÔNG: Tên chữ là Khổng Tước Nguyên, tỉnh thứ 18 của Nam kỳ thời Pháp thuộc. Năm 1956 nhập với Mỹ Tho để thành tỉnh Định Tường, hiện giờ là một quận của tỉnh nầy, gồm có 15 xã.

          HÒNG: Hầu, mong. Ca dao có câu:

                    “Cái vòng danh lợi cong cong,

                 Kẻ toan ra khỏi người mong bước vào”.

          BÃO LỤT: Bão là gió lớn và có mưa to; lụt là nước dâng lên dữ dội. Trận bão ở Gò Công xuất phát tại biển Tân Thành, thuộc tỉnh lỵ Gò Công, vào đêm 16 tháng 3 năm Giáp Thìn (1904) làm chết 5.000 người, nhà cửa và các gia súc trong tỉnh bị thiệt hại không kể xiết và các tỉnh như: Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang cũng bị ảnh hưởng rất nặng. Hiện giờ dân chúng còn nhớ hai câu thơ của người xưa truyền lại:

                    “Bão rồi thành ngọn sơ rơ,

             Chim không nơi đậu vật vờ khá thương”.

          CHẲNG SỜN: Chẳng khờn, lòng chẳng hề nao núng trước nghịch cảnh. Đức Thầy hằng khuyên:

                    “Khuyên dân lòng chớ có sờn,

                   Rán tu thì được xem đờn trên mây”.

         

CHÁNH VĂN
                    791.“Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
         Đến đó vậy thời trời mới sáng ra.
                    Chợ này đông-đúc người ta,
          794. Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
                    Đến đây Thầy Tớ hóa mười,
         Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông.
                    Ai ai đều cũng ngóng trông,
         798. Coi lũ khách này hát thuật làm sao.
                    Hát mà trong bụng xáo-xào,
         Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
                    Cả kêu dân-chúng hỡi ôi !
         802. Sao không thức tỉnh việc đời gần bên”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 791 tới câu 802)

          -Khi Đức Giáo Chủ đặt chân đến Bà Rịa trời vừa sáng, chợ nầy nhóm rất đông, phần nhiều là họ bán nho tươi và đường chà là. Thầy trò Ngài giả ra một gánh hát Sơn Đông gồm có 10 người và đủ tiện nghi bán thuốc. Dân chúng tựu lại khá đông, ai ai cũng trông coi lũ khách trú nầy hát thuật hay dở ra sao.

          -Tuy bên ngoài giả dạng hát để bán thuốc, chớ lòng Ngài lúc nào cũng xót xa, nhứt là Ngài chỉ cho bá tánh biết cảnh chiến tranh tàn khốc bên Trung Hoa hiện giờ, để rồi Ngài kêu gọi mọi người nên ý thức rằng nạn khổ ấy sẽ đến với chúng ta không còn xa mấy:

                    “Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,

                      Sao dân còn tríu mến trần mê ?

                            Mắt nhìn ngoại quốc thảm thê,

                    Nam bang cảnh khổ cũng kề bên tai”.

                                                  (Để chơn đất Bắc)

CHÚ THÍCH

          BÀ RỊA: Tỉnh thứ 15 của Nam kỳ thời Pháp thuộc, từ năm 1956 họp cùng Vũng Tàu và Đảo Hoàng Sa để thành tỉnh Phước Tuy.

          ĐUÔNG: Giống sâu bằng ngón tay hai đầu nhọn, thân có ngấn cạn, màu hột gà, thường ở giữa cổ hủ cây dừa và chà là. Ví dụ ăn Đuông, bị Đuông ăn.

          THẦY TỚ HÓA MƯỜI: Hai người mà hóa ra tới mười người cho đủ đoàn hát Sơn Đông.

          BÁN THUỐC SƠN ĐÔNG: Đầu tiên do nhà thuốc người Trung Hoa lập ra, rồi cho từng đoàn đi bán quảng cáo khắp nơi; phần nhiều là người Quảng Đông. Họ dọn bán theo chợ hoặc nơi nào có dân đông, bày đủ trò ca hát, ảo thuật, xiếc,v.v…để cho người ta thấy tựu lại xem rồi họ quảng cáo bán thuốc. Sau người Việt ta cũng lần lần lập ra nhà thuốc và cũng cho người đi bán thuốc lối ấy.

          LỮ KHÁCH: Đám khách trú, người Việt ta thường gọi người Trung Hoa là khách trú hay các chú (tiếng lóng).

          XÁO XÀO: Rầy rà, xung đột, làm rối loạn, nhưng chữ xáo xào ở đây ý nói cõi lòng Đức Thầy quá xót xa đau đớn, vì thấy vạn dân sắp lâm cảnh khổ.

 

CHÁNH VĂN
                    803.“Khổ đà đi đến như tên,
         Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
                    Vinh này của Đức Phật-Bà,
         806. Của Ông Phật-Tổ ban mà cho dân.
                    Tu cho nhàn toại tấm thân,
         Đừng làm tàn-ác xa lần Tiên bang.
                    Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
         810. Rán lo làm phước làm doan mới là.
                    Đến lâm cảnh khổ có Ta,
          Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
                    Tu hành phải rán trì mò,
         814. Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi”.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 803 đến câu 814)

          -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ cho biết việc khổ não sẽ đến với nhân loại rất mau lẹ, nếu ai cố gắng trau thân gìn Đạo sẽ được nhiều hạnh phúc. Với điều vinh hạnh an vui, đây là do Đức Quan Thế Âm và Đức Phật Tổ Thích Ca ban cho. Bằng ai tiếp tục con đường tội ác thì sau nầy phải vương lấy khổ sầu, không thể nào gần được nhà Tiên cửa Thánh.

         -Ngài hằng kêu gọi những người giàu sang dư ăn, dư để nên mở lòng thương xót kẻ cơ bần, tận tâm giúp đỡ cho họ có cơm ăn, áo mặc, thuốc uống.v.v…và trau tâm sửa tánh. Nếu ai làm được như vậy, thì hiện tại, được Đức Thầy và Đức Quan Thế Âm cứu độ khỏi cảnh hãi hùng của cơ tận diệt, và còn gây được duyên lành, để hoàn thành quả vị Phật Thánh ở tương lai.    

          -Bước tu hành của mỗi người nên kiên tâm bền chí, thực hành đúng theo quy cũ và đường lối của Đức Thầy đã vạch thì sớm muộn gì cũng đặng kết quả như ý.

          Và kể từ đây:

              “Phật Tiên Thánh cùng nhau xuống thế”.

                                                  (Kệ Dân, Q.2)

          Các Ngài giả dạng đủ hạng người: Buôn bán, chèo đò, tàn tật, ăn xin…để thức tỉnh bá gia. Đức Thầy căn dặn chúng ta phải dè dặt kính nhường, nếu lăng mạ khinh khi, ắt bị lầm lỗi.

CHÚ THÍCH

          VINH HOA: (Xem chú thích câu 666, Q.1)

          NHÀN TOẠI: Thanh nhàn thỏa nguyện. Người rút bỏ hết nghiệp duyên trần tục, tranh đấu lợi danh thì thân tâm lúc nào cũng an nhàn tự tại.

          Như Đức Giáo Chủ cho biết:

                    “Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu dao”.

          Và: “Gót sen thong thả xiết bao thanh nhàn”.

                                                  (Khuyến Thiện, Q.5)

          TIÊN BANG: Nước Tiên hay cảnh Tiên. Đây chỉ cõi đời Thượng ngươn Thánh đức, con người sống thời đó như ở cảnh Tiên. Đức Thầy từng kêu gọi:

                    “Theo Ta đến chốn Tiên Bang,

                Đặng coi các nước hội hàng Năm Non”.

                                                  (Thiên lý ca)

          LÀM PHƯỚC LÀM DOAN: Tức là tu phước là làm các việc từ thiện, bằng cách là đem các vật sở hữu của mình như: Tiền của, vải sồ, thuốc uống v.v…châu cấp cho mọi người được phúc lợi. Tất cả những việc làm lành, làm phải đều gọi là tu phước.

          Trong Tăng Nhứt A Hàm Kinh, Phật có nói với A Nan Luật:

                    “Thế gian muốn có sức,

                      Dạo trong hàng Trời, Người.

                      Phước Lực là hơn hết,

                      Do phước thành Phật Đạo”.

          Đức Thầy nay từng dạy:

                    “Muốn cho rắn đặng hóa cù,         

                Xả thân làm phước Diêm Phù vượt qua”.

                               (Khuyên người giàu lòng Phước Thiện)

            LÀM DOAN: là làm duyên. Ý nói người thi hành việc lành, việc phải thì chẳng những được hưởng hạnh phúc ở hiện tại, mà còn được gieo duyên lành, để tương lai hoàn thành ngôi Phật quả.

          Xưa kia, tại nước Xá Vệ có vợ chồng ông Trưởng Giả, sanh được người con gái nết hạnh phi thường, đặt tên là Thúc Ly. Điều lạ khi mới sanh, cô đã có sẵn bộ y phục trắng mịn che thân. Cô càng lớn, y phục ấy càng lớn theo.

          Đến tuổi cập kê, cha mẹ định gả chồng, nên sắm đủ đồ trang sức. Cô không đồng ý, cầu xin cha mẹ, cho cô đến gặp Phật để xuất gia. Cha mẹ rất nuông chiều nên đưa cô đi, sau khi yết kiến Phật, Ngài liền thâu nhận Thúc Ly vào hàng Tỳ Kheo Ni, bỗng nhiên y phục của cô đang mặc, biến thành pháp y (tức y phục nhà tu). Cô luôn tinh tấn tu hành, ít lâu được chứng quả A La Hán. Ông A Nan lấy làm lạ, bạch hỏi Phật, do phước duyên gì, Thúc Ly Tỳ Kheo được như thế ?

          Phật liền giảng cho A Nan và đại chúng nghe: Thuở quá khứ, lúc Đức Phật Tỳ Bà Thi trụ thế. Có một nhà vua mở đại hội bố thí và cúng dường Phật, cùng chư Tăng để cầu nghe Pháp. Các Tỳ Kheo đi khắp nơi, tuyên truyền công quả bố thí và nhận thực phẩm về hội.

          Bấy giờ có hai vợ chồng cô Đàn Nị Già, gia đình rất nghèo, cơm áo không đủ dùng, chỉ có tấm chăn rách, hễ chồng đi làm thì vợ ở nhà đóng cửa lại, còn vợ đi ra thì chồng cũng phải như thế. Hôm nọ cô Đàn Nị Già được nghe Thầy Tỳ Kheo thuyết giảng về công hạnh bố thí trừ được lòng tham xẻn v.v…Cô bèn bàn với chồng nên bố thí tấm chăn nầy, để giải thoát kiếp cùng khổ dầu chết cũng cam. Người chồng thuận ý, cô liền thỉnh Thầy Tỳ Kheo vào gần cửa để gởi tấm chăn về hội thí. Thầy Tỳ Kheo cảm động chú nguyện cho tín thí rồi lãnh chăn về.

          Tại Pháp hội, Đức Phật gọi Tỳ Kheo, trao tấm chăn ấy cho Ngài trước hết. Lúc đó nhà Vua và cả đại chúng đều có ý hiềm tỵ, vì sao Phật lại dùng cánh tay muôn phước, trang nghiêm thọ lãnh vật thô bẩn như thế ?

          Phật biết rõ tâm lý chúng nhơn, bèn đưa chăn ra bảo:“Ta xem tất cả các món quí giá trong Đại hội cúng thí hôm nay, chưa bằng được vật nầy”.

          Phật liền thuật rõ vợ chồng Đàn Nị Già cam chịu lõa lồ chết đói trong xó nhà để tròn hạnh bố thí. Đây là món vật khinh mà tình trọng. Nghe Phật nói, mọi người đều cảm động, Hoàng hậu tháo đồ trang sức vàng ngọc, cả Vua quan cũng đem y phục, tiền bạc góp lại gởi giúp vợ chồng Đàn Nị Già và bảo đến chỗ Phật nghe Pháp. Thuật đến đây, Phật Thích Ca bảo A Nan:

          “Đàn Nị Già nghèo khổ xưa kia, nay là Thúc Ly Tỳ kheo vậy. Do lòng thanh tịnh bố thí nên trải qua 91 kiếp, sanh ra nơi nào đều có y phục tùy thân, không hề bị túng thiếu. Và do ngày trước nơi Pháp hội của Phật Tỳ Bà Thi, nghe Pháp phát nguyện tu giải thoát, nên nay được gặp ta và đắc Đạo quả A La Hán. Các ông nên tinh tấn tu Pháp bố thí ấy”.

          Vậy danh từ “Làm phước làm doan”là Đức Thầy khuyên mọi người nên thi hành Pháp bố thí gieo duyên lành với Phật Pháp, hầu sau nầy được thành Đạo giải thoát. Như Ngài từng khuyên nhủ:

                    “Khuyên người hữu phước giàu sang,

                    Mau mau làm phước làm doan cho rồi”.

                                                  (Sám Giảng, Q.3)

          TRÌ MÒ: Trì là giữ gìn bền chặt. Mò là dò dẫm kỹ lưỡng mà đi lần lần. Đức Thầy từng dạy:

          “Tu hành trì chí mới là liễu mai”.(Sám Giảng,Q.3)

 Và:     “Đường Đạo đức bước đi từ nấc”.

                              (Diệu pháp Quang Minh)