3. Năm Tân-Tỵ (1941)

11 Tháng Tám 20202:48 CH(Xem: 1648)
3. Năm Tân-Tỵ (1941)

                                                  NĂM TÂN TỴ                                                  (1941)

  

Chúc xuân ông Thầy thuốc TRẦN-VĂN-TÂM
làm việc tại Nhà thương Chợ-Quán

 

Tràng pháo vang-vầy đến rước xuân,
Chúc ông năm mới chữ vui mừng.
Trăm điều phúc-lộc vừa đem lại,
Muôn chuyện nhàn-cư đến chẳng ngưng.
Tộc-họ cùng chung gìn nghiệp cũ,
Gia-đình sum-hợp giữ thường-luân.

Thanh liêm một mực tròn nhân cách,
Rạng vẻ non sông tiếng lẫy-lừng.

     Nhà thương Chợ-quán, Tết năm Tân-Tỵ (1941)

                                  

"NGÀY TẾT"

 

Tháng lụn ngày qua năm đã tàn,
Trẻ già nô-nức đón xuân sang.
Chờ coi năm mới hên hay chẳng?
Chóng đạt công-danh kẻo muộn-màng.

   *

*   *

Ngày Tết đến rồi các bạn ơi,
Tổ-Tiên truyền lại mấy ngàn đời;
Ước ao xuân mới bằng xuân cũ,
Thanh-bạch tâm hồn cuộc thảnh-thơi.

   *

*   *

Nầy hỡi chúa xuân ta rán chờ,
Khỏi ngày thảm lệ buổi nguy cơ.
Pháo tan xác pháo rền rang nhỉ,
Khói bốc đường mây áng mịt-mờ.

   *

*   *

Thời giờ kinh hãi sẽ đi qua,
Thế-giới trì xong cuộc thái hòa.
Chừng ấy chúa Xuân thêm tráng lệ,
Huy-hoàng tục cổ của ông cha.

   *

*   *

Thiên hạ đua nhau rằng mới mới,
Lòng ta nào thấy mới chi đâu.
Lao xao phố chợ hoành đôi tấm,
Rộn-rịp cửa nhà liễn mấy câu.
Lũ trẻ cười reo pha tiếng pháo,
Cụ già đùa chuyện lẫn năm châu.
Nào dè xuân ấy là xuân gượng,
Của buổi loạn-ly gợi thảm sầu.

   *

*   *

Lốp-bốp pháo chi nổ quá ồn,
Khắp cùng thành-thị khắp hương-thôn.
Người dư của-cải tiêu xa-xí,
Kẻ thiếu tiền-nong nợ mắc dồn.
Ba bữa cờ trương còn hớn-hở,
Bảy ngày nêu hạ hết lo nôn.
Thì ra năm mới như năm cũ,
Cảnh khó dân đen vẫn tự tồn.

     (Chép theo bản chánh do Đức Ông giữ)


CẢNH XUÂN

 

Kiểng vật khoe màu đua sắc tươi,
Cành hoa hé nở tợ như cười.
Xuân về cảnh đẹp càng thêm vẻ,
Dám hỏi Đông-Hoàng tuổi mấy mươi?

     Nhà thương Chợ-Quán, Tết năm Tân-Tỵ.

                                   

ĐI TRÌNH-BÁO

 

(Lúc Đức Thầy về Bạc-liêu ở nhà ông Võ-văn Giỏi thì nhà cầm quyền buộc phải đi trình diện tại bót cò mỗi tuần một lần, vào ngày thứ hai).

 

Việc chi mà phải đi trình báo?
Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.
Đợi máy huyền-cơ xây đến mức,
Tính xong cuộc thế lại non Bồng.

   *

*   *

Thứ hai bừng sáng mưa tầm-tã,
Lính đứng ngoài đường giục-giã ông.
Kiếp khách trần-gian vay lắm nợ,
Để đền trọn nghĩa với non sông.

   *

*   *

Người cười, người nhạo bảo ông điên,
Ông chẳng giận ai, cũng chẳng phiền.
Chỉ tiếc trần-gian đùa quá vội,
Chưa tường điên tục hay điên tiên.

     Bạc-liêu, 6-6 Tân-Tỵ (30-6-41)

TẠM NGƯNG LÝ-LẼ
 (vì nhà cầm quyền ở Bạc-liêu buộc ràng, dòm ngó)

 

Gặp lúc truân-chuyên lắm buộc ràng,
Cảm tình bổn-đạo tiếng riêng than.
Tạm ngưng lý-lẽ trong cơn túng,
Xin chớ ưu-sầu cuộc dở-dang.

   *

*   *

Nghĩ cuộc đời lương-tâm càng cố-gắng,
Lòng ta sao rối-rắm cuộc tằm-tơ.

Vì đâu nên nỗi hẫng-hờ,

Với người tha-thiết đợi chờ ngoài song!

     Bạc-liêu, 20-6 Tân-Tỵ (14-7-41)

                                    

VỊNH QUẠT MÁY

 

Khoa-học đời nay thật khéo cho,
Bày ra cái máy chạy vo-vo.
Tranh quyền tạo-hóa nồng thay lạnh,
Đông-Á lần hồi phụ quạt mo.

   *

*   *

Có tiền mua lấy cũng nên cho,
Tủ sắt còn đầy còn gió vo.
Nhưng ngặt khan dầu e hết điện,
Trở về lối cũ lượm cau mo.

   *

*   *

Cau mo chừng ấy đắt tiền cho,
Ngóng cổ thêm dài hút gió vo.
Chủ khách ngẩn-ngơ cơn nóng bức,
Thôi thì "toa mỏa" tạm dùng mo.

     Bạc-liêu, 21-6 Tân-Tỵ (15-7-41)
 
VỊNH CON BEO ĐÁ
(để chưng tại nhà ông Võ-văn-Giỏi ở Bạc-liêu)

 

Beo ơi, beo hỡi là beo!
Gần cọp sao mi lại giống mèo?
Ngóng cổ chờ ai đem thịt tới?
Hay chờ gạt chó cướp đàn cheo?
     Bạc-liêu, 1-6 nhuần Tân-Tỵ (24-7-41)
 
Cho ông HẠNH, rể của ông VÕ-VĂN-GIỎI
(ở Bạc-Liêu)

 

Đó rán tầm đường đến cảnh Tiên,
Thú vui phong-nguyệt lắm ưu phiền.
Lòng phàm rửa sạch niềm nhân-ngã,
Phước Phật trau-giồi kết thiện-duyên.

   *

*   *

Thiện-duyên ấy cũng tại nơi ta,
Hộ niệm oai linh Đức Phật-Đà.
Sớm, tối, đi, nằm, y chánh-pháp,
Thầy nguyền dắt đến cảnh Long-Hoa.

     Bạc-liêu, 1-6 nhuần Tân-Tỵ (24-7-41)

*

VÌ SANH-CHÚNG

 

Vì nghiệp trần mê hay bởi ai?
Tâm, can, tì, phế, thận đau hoài. (1)
Hay vì sanh-chúng còn lao-lý,
Nguyện uống cho đời chén thuốc cay.

     Bạc-liêu, 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)
 
NGŨ NGÔN CÁCH CÚ

 

Đã trải hai năm dư,
Mang một túi đồ-thư.
Lòng hằng mong phổ-hóa,
Dụng đủ cách thanh từ.

   *

*   *

Muốn khai kinh thả cá,
Trời chưa cho thỏa dạ.
Gặp buổi quá âm-u,
Đời đầy câu nhơn-ngã.

   *

*   *

Sóng bể cuộn phương Đông,
Chừng nào mới cho xong.

__________________________________________

(1) Lúc Đức Thầy còn ở Bạc-Liêu, Ngài thường đau ốm không thuốc nào trị được.


Câu ấy nhơn-dân hỏi,

Phải chờ lịnh Thiên-công.

 

Tại sao ta lại đau?
Quyết trị liệu phương nào?
Bịnh ni là tâm bịnh,
Dễ hết được đi sao?

     Bạc-liêu, ngày 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)

 

MONG CHỜ

 

Tây-Phương chư Phật cám ta-bà,
Chuyển pháp độ đời khỏi đọa-sa.
Mong-mỏi chúng-sanh đồng mật niệm,
Vọng cầu thế-giới dứt can qua.

   *

*   *

Can-qua binh lửa sát sanh-linh,
Khẩn bái Quan-Âm trút tịnh bình.
Giọt nước nhành dương mau tưới tắt,
Cứu đời an lạc hết giao chinh.

   *

*   *

Lòng người muốn khỏi họa đao-binh,
Nhưng Phật chờ oai sắc Ngọc-đình.
Trị tội cho xong loài ác-bạo,
Công-đồng thưởng phạt hết đao-binh.

     Bạc-liêu, ngày 6-6 nhuần Tân-Tỵ (29-7-41)

 

NIỆM DI-ĐÀ

 

Mắt nhìn trần đỏ niệm Di-Đà,
Nguyện vái thân nầy khỏi đọa sa.
Muôn đạo hồng quang oai Đức Phật,
Soi đường minh-thiện đến Long-Hoa.

     Bạc-liêu, ngày 10-6 nhuần Tân-Tỵ (2-8-41)
(Bài trên đây Đức Thầy viết ra để cho anh em tín-đồ nguyện trước khi niệm Phật).
 

Cho ông VÕ-VĂN-GIỎI ở Bạc-Liêu

 

Hào-quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo-pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên-chú nghĩ suy từ nét dấu,
Cố công gìn-giữ tánh thuần lương.
     Bạc-liêu, 20-7 Tân-Tỵ (11-9-41)
(Bài nầy cũng có ở trong quyển Khuyến-Thiện)


GIẢI-THOÁT CỬU-HUYỀN

 

Rán tu đắc đạo cứu cửu-huyền,
Thoát chốn mê-đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ-huyền.

     Bạc-liêu, 21-8 nhuần Tân-Tỵ (11-10-41)


 TỘI VỚI THIÊN-HOÀNG

 

Chúng-sanh đắc tội với Thiên-Hoàng,
Đạo-lý chẳng gìn ở dọc ngang.
Nên mới gây ra trường thảm họa,
Làm cho lê-thứ chịu lầm than.

     Bạc-liêu, 22-10 Tân-Tỵ (10-12-41)

                             

MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG

 

Theo lời ông Hương-bộ Thạnh thì trong khi Đức Thầy ở Bạc-liêu, ông ở Nhơn-Nghĩa (Cần-thơ) hăng-hái đi cổ-động cho người ta vào Đạo.

Khi được lịnh Đức Thầy bảo đừng đi hoạt-động nữa, ông buồn lắm. Nhơn thấy người tá-điền đem cho một trái sầu riêng, ông tức cảnh làm bài thi dưới đây rồi cho bà Hương-bộ đem đến Đức Thầy.

Đức Thầy trả lại ông bài thơ "Trái sầu riêng" và có cho thêm bài “Mấy đoạn tơ lòng” như dưới đây:

 

TRÁI SẦU RIÊNG

 

Thân hình gai gốc nghĩ càng thương,
Thật trái sầu riêng báu của vườn.
Lắm kẻ chê bai rằng nhám-nhúa,
Nhiều người yêu chuộng tại mùi hương.

Giúp đời trải dạ cơn khao-khát,
Đỡ chủ tàng che lúc nắng sương.
Trinh bạch tấm lòng trời đất rõ,
Đinh-ninh dạ trắng núi sông tường.

 

MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG

 

Mấy đoạn tơ lòng mấy đoạn đau,
Muôn dân ngơ-ngẩn đợi mưa dào.
Thiết-tha thiện-tín câu cầu nguyện,
Vui-đẹp dạ Thầy luống ước-ao.
Lòng người muốn vậy trời chưa vậy,
Cuộc thế xây vần đất phụ sao?
Nhẫn nhẫn cho rồi câu bĩ cực,
Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao.

     Bạc-liêu, năm 1941
(Theo lời ông Hương-bộ thì Đức Thầy còn gởi thêm 3 bài tứ cú đăng nơi trang 399 mà Đức Thầy đã cho rể ông Võ-văn-Giỏi ở Bạc-liêu.)

                                  

   TƯ TƯỞNG

 

Khuyên niệm Phật than rằng chưa rảnh,
Lúc bắt hồn mắc việc cũng đi.

   *

*   *

Chắp tay niệm Phật Di-Đà,
Lòng ta ta biết ai mà mặc ai.

   *

*   *

Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Chờ nơi thẩm phán sẽ cung khai.

   *

*   *

Thất đức thì ma quỉ rối loàn,
Tu đức thì ma quỉ tiêu tan.

   *

*   *

Phải rán tu đặng mà chết,
Chớ đừng để chết mà chẳng có tu.

     Bạc-liêu, 22 tháng 10 Tân-Tỵ

 

       VỌNG BẮC HÒA NAM

 

        Lâm san rày đã rời ra,
Dạo trong lê-thứ vậy mà xét-soi.
     Bàn với luận đặng coi chơn-lý,
     Lậu cơ trời thiên-ý bày ra.
        Thấy đời ta cũng thiết-tha,
Chiến-tranh ngoại-quốc hằng hà lụy rơi.
     Bị danh-lợi xe lơi tình nghĩa,
     Mới tranh-giành xoi xỉa cùng nhau.
        Phơi thây mà chẳng núng-nao,
Tranh cùng với đoạt chừng nào mới thôi.
        Hạ-nguơn lao khổ lắm ôi!
Tu sau mới được qua đồi chông gai.
     Lo bổn-phận thảo ngay trọn vẹn,
     Chừng lập đời không thẹn tấm thân.
     Câu quân lý tứ ân chạm dạ,
     Nếu chẳng gìn phải đọa đừng than.
        Chừng nào tiếng sấm nổ vang,
Thất-sơn lộ vẻ đền vàng báu thay.
     Chọn bến nước rủi may trong đục,
     Nếu chần-chờ lục đục trễ chơn.
        Yêu đời ta dạy làm ơn,
Lời ta khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
    Trong bổn-đạo gần xa ghi nhớ,
    Phải thi hành phận tớ cho xong.
        Để sau đến việc long-đong,
Xác thân khó thấy Mây Rồng hội kia.
    Chữ trung-tín chạm bia trước mộ,
    Người phượng thờ đặng độ chúng-sanh.
    Trả nợ thế nghĩa-ân trọn vẹn,
    Cảnh non Bồng kỳ hẹn ngày kia.
        Chúng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như thể vô đìa quên nơm.
    Nay nhằm lúc đêm hôm vắng-vẻ,
    Muốn tu hành lặng-lẽ mà nghe.
    Thử yên lặng để ve nó gáy,
    Gáy ít điều rõ máy thiên-cơ.
        Người khôn nghe nói ngẩn-ngơ,
Người ngu nghe nói mãi ngờ Khùng Điên.
     Kẻ chẳng mến tình riêng hay ghét,
     Ta tu hành hay mét làm chi.
        Hổ thay cho bực tu-mi,
Thân mình chẳng vẹn vậy thì không lo.
     Để đến việc dang lưng mà chịu,
     Ai biết điều sớm liệu cho xong.
     Miệng sự thế nhiều ông kiêu-hãnh,
     Ta dạy đời chẳng rảnh mà tranh.
        Gió đưa nhằm lúc đêm thanh,
Lời ta dạy-dỗ như nhành ghẹo chim.
        Gắng công mài sắt nên kim,
Những câu huyền-bí rán tìm cho ra.
    Viết ít câu ngâm-nga thời-thế,
    Ta khuyên đời như kế Trương-Lương.
        Tấm thân nào nại gió-sương,
Thương-yêu lê-thứ lo lường năm canh.
    Nếu ai muốn luận-tranh đạo-đức,
    Ta cho đời một bức thi ca.
        Hết gần rồi lại nói xa,
Nói cho sanh chúng rõ mà người chi.
    Dân với chúng còn nghi mãi mãi,
    Đạo tu hành nói phải mà nghe.
        Ngàn năm đạo-lý vắng hoe,
Bị ngươi Thần-Tú bày chè cùng xôi.
    Kinh với sấm ngoài môi nó tụng,
    Đạo suy-đồi bại-lụn vì ai.
        Đem nguồn chơn-lý bằng nay,
Ta thương dân chúng lạc-loài giống xưa.
    Mặc ai ý ai ghét ưa, ưa ghét,
    Định tâm thần xem xét thể nao.
        Dạy đời chẳng nệ công lao,
Khuyên người danh-lợi chớ rào làm chi.
        Ngày sau đến việc sầu bi,
Thương đời ta mới làm thi khuyên đời.
    Còn ẩn-nhẫn đợi thời chưa đến,
    Nên phải làm kẻ mến người khinh.

           Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ
 
Ông PHAN-CHÂU-BÁ (Long-Xuyên) hỏi:

 

Tang bồng nợ ấy trả sao xong?
Chí dốc từ-bi cổi tấc lòng.
Nhơn đạo còn mang chưa xử trọn,
Nghĩ sao giải-thoát nợ tang bồng?

 

ĐỨC THẦY đáp họa:

 

Đành rằng nợ thế trả chưa xong,
Mà biết ăn năn sửa lấy lòng.
Niệm chữ Di-Đà tan chướng nghiệp,
Thuyền từ Thầy rước lại non Bồng.

   *

*   *

Non Bồng Tiên Phật xót nhân-sinh,
Trí-huệ trau giồi khán kệ-kinh,
An phận hơn bề danh lợi tạm,
Tề gia trung hiếu vẹn thân mình.

      Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ
 

              BÀI NGUYỆN

TRƯỚC BÀN THỜ CỬU-HUYỀN

 

     Đầu cúi lạy Cửu-Huyền Thất-Tổ,
     Ngõ đáp ơn báo-bổ sanh thành.
        Nay con qui Phật tu hành,
Cửu-Huyền Thất-Tổ lòng lành chứng tri.
     Lời Phật dạy từ-bi bác-ái,
     Dạ nhơn-từ quảng đại mở-mang.
        Hiếu-trung con giữ vẹn toàn,
Từ rày chẳng dám lăng-loàn như xưa.
     Sau hưởng đặng phước thừa của Phật,
     Hồn nhẹ-nhàng vượt khỏi tử-sanh.
        Nguyện đem công quả tu hành,
Cứu trong tông-tổ vãng-sanh liên-đài.
     Về Phật-quốc ngày ngày an lạc,
     Cả giống-dòng giải-thoát luân-trầm.
        Rồi đem đạo-pháp huyền-thâm,
Độ trong sanh-chúng hết lầm hết mê.
     Cả vạn-vật đồng về Phật cảnh,
     Chẳng luyến trần ảo-ảnh gạt lường.
        Nguyệt cầu chư Phật mười phương,
Niết-Bàn tịch tịnh là đường vô-sanh.

 

(Bài nầy Đức Thầy viết tại Bạc-Liêu lối cuối năm Tân-Tỵ, nhưng vì thấy nó hơi dài nên Đức Thấy viết bài khác chỉ có 12 câu cho anh em bổn-đạo học mau thuộc. Ấy là bài “Cúi kính dưng hương trước cửu-huyền”).

                                   

NÉM CẤP-BẰNG

 

Lấy cái cấp-bằng ném xuống sông,
Thôi, thôi! tôi cũng “mét-xì” (1) ông.
Tuồng đời gẫm lại “nơ quô rẻn”, (2)
“Xăng phú ba manh” (3) trở lại đồng!

     Bạc-liêu, năm 1941
____________________________________ 

(1) Merci.

(2) Ne vaut rient.

(3) S'en f. . . pas mal.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn