CHUYỆN BÊN THẦY

23 Tháng Bảy 20206:58 CH(Xem: 376)
CHUYỆN BÊN THẦY
pghh-chuyen-ben-thay

Chuyện Bên Thầy

01- Sự lâm phàm của Đức Thầy
02- Trị bịnh cho Đức Thầy
03- Núi Trà Sư
04- Đăng Sơn lần thứ nhất
05- Đức Thầy tắm sông
06- Đức Thầy độ ông Võ văn Giỏi
07- Đức Thầy độ cho người Trung Hoa
08- Cải tử huờn sanh
09- Dạy đạo cứu đời
10- Lời dặn dò của Đức Thầy
11- Con theo Thầy
12- Đức Thầy uống nước Acid
13- Cấm thọ thực ba nhà
14- Chết ăn không được

15- Chuyển điển lành
16- Truyền phép linh
17- Tu tiến chớ tu lùi
18- Bài tà hiển chánh
19- Trái bí đao
20- Thể hiện từ bi
21- Rủa con
22- Đi tìm Phật
23- Nên có sát sanh trong ngày chay không
24- Phương pháp nhẫn nhục
25- Ngày Thầy trở lại
26- Lộ vẻ từ bi27- Phật Lão Nho
28- Cùng một sự ăn
29- Lòng Quảng Đại
30- Thầy chứng quy y
31- Tu quanh và tu tắt
32- Đậu rớt
33- Tùy cơ hóa độ
34- Theo Thầy hay theo Giáo lý
35- Ông thầy thuốc đi trị bịnh cho ông Tổ Thầy thuốc
36- Đức cả bao dung
37- Không nên chủ quan
38- Quy y thì phải làm y
39- Tôi làm huấn luyện viên
40- Khẩu nghiệp
41- Chân và giả
42- Đoàn kết để chung lo
43- Một bài ngụ ngôn
44- Theo bầy mới sống
45- Hạnh khiêm tốn của Đức Huỳnh Giáo Chủ46- Chỉ có một nấc
47- Lòng thành cảm ứng
48- Đức háo sanh
49- Lòng thành nước lã nên hồ
50- Muốn tìm Phật
51- Tà hay chánh
52- Lời khéo khỏi tai nạn
53- Tùy bịnh cho thuốc
54- Cái dũng của Thánh Nhân
55- Đạo không thể mất
56- Y Kinh diễn nghĩa
57- Phép thần thông
58- Chết không mất
59- Gìn Giới Luật
60- Muốn diệt Mê Si
61- Y theo Tôn Chỉ
62- Tu cách nào mới chánh
63- Hiểu lầm Phật dẫn độ
64- Câu chuyện Thiên cơ
65- Đức là Đạo cả
66- Bài toán đố67- Một buổi Khuyến Nông

68- Ông Hoàng Thiên Bảo
69- Tokyo Nhật Bản
70- Đệ Tam Thế chiến
71- Làm theo Giáo lý
72- Tôi sắm cây dù
73- Muốn có Huệ thì phải bắt sâu
74- Từ Bi
75- Ông Thần không tu ông Thần cũng chết
76- Hết đời Hạ Nguơn
77- Qua năm Dê
78- Không dè
79- Đức Thầy độ thầy Kiện Dậu
80- Không biết thì không dùng
81- Phật chỉ dụng lòng
82- Không học mà thông
83- Chí thanh cao
84- Dõi gót theo Thầy
85- Cử ăn hai con
86- Tu cách nào 

LỜI NÓI ĐẦU

Quyển CHUYỆN BÊN THẦY được xuất bản không nhằm tính cách thương mại, hoặc giới thiệu, hay quảng bá giáo thuyết của Tôn giáo.

Quyển Chuyện Bên Thầy do các bạn trẻ Đạo PHẬT GIÁO HÒA HẢO sưu tập với hình thức:

* Được chép nguyên văn từ những băng cassettes do các vị Đồng Đạo Niên Lão quê hương Việt Nam biên soạn và phát hành trước, hoặc sau biến cố năm 1975.

* Được viết lại từ những băng cassettes theo sự tự thuật của các Niên Lão trước kia thường ở bên cạnh Đức HUỲNH GIÁO CHỦ. Phần nầy, Ban Sưu Tập xin phép viết lại lời văn cho dễ đọc; riêng nội dung cốt chuyện luôn được giữ nguyên. Có nhiều trường hợp nguồn xuất xứ, cũng như người kể không nêu tên, Ban Sưu Tập chỉ ghi lại nội dung chánh của câu chuyện.

* Được viết qua sự trực tiếp kể lại chuyện của Quí Đồng Đạo mà Ban Sưu Tập biết rõ có uy tín và câu chuyện có lý do để nêu lên. Thường ở đoạn cuối của mỗi câu chuyện, chúng tôi có thêm Phần Nhận Xét. Phần nầy thuộc về thiển kiến cá nhân, nên không tránh khỏi lỗi lầm. Vì ích lợi chung, chúng tôi ước mong đón nhận những điều chỉ dạy của Chư Vị Cao Minh và Đồng Đạo giúp cho sự bổ túc sau nầy được hoàn hảo hơn.

Sở dĩ chúng tôi Kết Tập những mẩu CHUYỆN BÊN THẦY, bởi những lý do và quan niệm như sau:

* Những mẩu chuyện đầy Đạo vị có thể giúp cho các bạn tuổi trẻ dễ lần bước theo hành trạng của một vị Hoạt Phật lâm phàm tại quốc độ Việt Nam.

* Những mẩu chuyện có thể gián tiếp giải đáp điều thắc mắc của ai muốn tìm hiểu: Vì sao với số tuổi mới 19-20 mà Đức HUỲNH GIÁO CHỦ khai Đạo chỉ trong một thời gian ngắn mà đã có hằng triệu tín đồ quy ngưỡng

* Ngoài ra, nhà Biên Khảo sưu tầm tài liệu về tinh hoa của quê hương Việt Nam cũng ít phải vất vả sưu tầm nhiều tài liệu.

Bởi những điều nêu như trên, nhóm Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo chúng tôi không nệ hà khó nhọc ghi chép lại để giữ cho tài liệu nầy được lâu bền và ước mong có thể đóng góp vào tủ sách Đạo học của chư Thiện giả thêm phong phú.

Như chúng tôi trình bày ở phần vào đề là quyển sách nầy được ấn hành không nhằm mục đích truyền bá giáo thuyết riêng của một Tôn giáo, vì tôn giáo thường bị giới hạn bởi định kiến của nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, chúng tôi mong sao đề cập đến con đường hành Đạo là sự mở rộng thênh thang cho mọi Hành giả tìm nơi cứu cánh giải thoát.

Mong ước sau cùng là quyển CHUYỆN BÊN THẦY có thể trợ trưởng quí bạn Thanh Niên Đồng Đạo trên con đường Đạo đức miên viễn. Chúng tôi hy vọng quyển Chuyện Bên Thầy thứ Hai sẽ được Kết Tập đầy đủ hơn nữa.

Hoa Kỳ, Phật lịch 2542 ngày Rằm tháng 6, năm Mậu Dần (1998).

Ban Sưu Tập Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo.

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHUYỆN BÊN THẦY

Tiến sĩ LÊ HIẾU LIÊM

 

Mấy năm trước, được nghe 5 cuộn băng về Những Mẩu Chuyện Bên Thầy, tôi vô cùng thích thú và ao ước những câu chuyện Đạo sống động, đầy ý nghĩa nầy, về chính cuộc đời của một bậc Thánh, một vị Bồ Tát được sinh ra trên quê hương Việt Nam và rất gần gũi với chúng ta, sẽ được in thành sách để phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng biết, học hỏi và tu hành. Niềm mong ước ấy nay đã được thực hiện. Tôi nhiệt liệt tán dương công đức của Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo hải ngoại đã làm một việc có ý nghĩa, cho ra đời một tác phẩm vô cùng hữu ích cho mọi người tu. Qua tác phẩm nầy, chân dung thật, hành động thật, sống động, cao cả và vi diệu của một nhân vật tôn giáo lớn của Việt Nam cận đại, là Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, được giới thiệu trung thực. Tác phẩm nầy cho chúng ta thấy chính Ngài, một thanh niên bình thường trong lứa tuổi đôi mươi, đích thật là một vĩ nhân phi thường, một Bồ Tát có mặt thật giữa cuộc đời cứu khổ, cứu nạn cho con dân và quê hương Việt Nam.

Nếu so sánh về mặt xả thân hy sinh tranh đấu cho quốc gia, dân tộc, trong tinh thần Bồ Tát Đạo, với nhân vật tôn giáo được kính trọng nhất thế giới hiện nay, là Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, người được coi là hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, là một vị “Phật sống”, thì Đức Huỳnh Phú Sổ, qua cuộc đời hiến dâng trọn vẹn cho nền độc lập của tổ quốc Việt Nam, không thua không kém. Nếu so sánh về mặt tiến hóa tâm linh và sự chứng đắc những thần thông chân chánh trong chánh pháp của Đức Phật Thích Ca, như Tha Tâm Thông, biết tâm ý của người khác, Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, thấy và nghe xa ngàn dậm, thì Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ của Việt Nam đã có phần trội vượt, siêu việt hơn Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng. Đọc những mẩu chuyện trong cuốn sách nầy thì sẽ rõ. Tây Tạng được coi là đất nước có trình độ tiến hóa tâm linh rất cao trên thế giới. Việt Nam còn sinh những người con có trình độ tiến hóa tâm linh cao cả hơn cả người lãnh đạo tôn giáo và chánh trị của một nước có trình độ tiến hóa tâm linh rất cao. Còn gì vinh dự và vẽ vang hơn cho người Việt Nam chúng ta. Điều nầy chứng minh truyền thống tâm linh Việt Nam, trong chủ đạo Phật Giáo, không thua kém bất cứ truyền thống tôn giáo lớn nào trên thế giới.

Thế nhưng tiếc thay, Bụt nhà không thiêng. Trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được vô số người thuộc đủ mọi quốc tịch, sắc dân trên thế giới, trong đó có nhiều người Việt Nam, biết đến, ngưỡng mộ, tôn thờ và tiếng nói của Ngài được nhiều giới tôn giáo, khoa học, chánh trị trên thế giới lắng nghe, thì Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ của Việt Nam, không nói gì trên thế giới, không mấy ai biết, mà ngay cả 77 triệu người Việt Nam ngày nay, có được bao nhiêu người biết đến Ngài và biết chọn con đường tu hành mà Ngài đã giảng dạy là những người có nhiều phước duyên, công đức.

Tuy con số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo không phải là nhiều, nhưng với một người trẻ tuổi, chỉ mở đạo, hoằng pháp có vài năm, trong một hoàn cảnh nghiệt ngả vô cùng, và với những phương tiện giảng đạo thô sơ, mà đã có hàng triệu tín đồ, thì đây cũng là điều hy hữu, hiếm có trong lịch sử tôn giáo. Và chỉ có nhân cách siêu phàm của Ngài mới giải thích được sự thành công lớn lao nầy. Trong 50 năm nay (1948–1998), với những phương tiện truyền thông hiện đại, toàn cầu, có ai trên thế giới đã thu hút được một lượng tín đồ lớn lao, trong một thời gian ngắn ngủi như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của Việt Nam đã thu hút trong thời gian 1940–1947?

Cuốn sách quí giá nầy đã ra đời thật đúng lúc để giới thiệu cho mọi người vị Giáo Chủ trẻ tuổi nhất trong lịch sử tôn giáo Việt Nam và lịch sử tôn giáo thế giới. Đây là một tấm gương phản chiếu một nhân cách hoàn hảo, thánh thiện. Như những mẩu chuyện tiền thân của Đức Phật Thích Ca, như cuộc đời của thánh tăng, đạo sư đã đi vào huyền thoại, tác phẩm nầy đã đưa chúng ta lên cao, gần gủi những con người đã giác ngộ, và đồng thời trao cho chúng ta một thông điệp của Chư Phật, Bồ Tát: Bạn hãy là một vị Bồ Tát có mặt thật giữa cuộc đời để cứu khổ, cứu nạn cho quê hương và cho muôn người, muôn loài.

Hoa Kỳ, Phật lịch 2542 ngày 18 tháng 10 năm 1998.

LÊ HIẾU LIÊM

tác giả “Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ & PHẬT GIÁO THỜI ĐẠI”

 ---oOo--- 

Mẩu chuyện thứ 1

SỰ LÂM PHÀM CỦA ĐỨC THẦY

Tại Tổ Đình Hòa Hảo thuở Đức Bà còn sanh tiền, tuy tuổi hạc đã cao, nhưng Bà vẫn sáng suốt, không lầm lẫn như những thường nhân. Ngày nọ, nhân bà nhìn những cháu bé mới biết đi lẫm đẫm, bỗng bà nhớ lại Đức Thầy khi Ngài còn nhỏ; cảm xúc trước cảnh đó, Đức Bà kể mẩu chuyện được ghi lại dưới đây:

Đức Bà nói: Sau một thời gian về gá nghĩa với Đức Ông , một hôm bà nằm mộng, có một dị nhân đến mời bà đi viếng núi. Trên đường đi cảnh vật thật là đẹp mắt, ngàn hoa khoe sắc thắm, ngào ngạt gió đưa hương, mãi mê trước phong cảnh mà ở thế gian này bà chưa hề nhìn thấy, chợt bước đến cuối của vồ đá thật cao, nhìn quanh toàn là đá dựng lởm chởm, bà nghĩ là không thể nào đi lên được nữa, bà dừng chân lại chưa biết phải làm sao thì dị nhân mới nói:

– Tôi sẽ đưa bà lên viếng cảnh Non Bồng cho biết.

Dị nhân nắm tay bà, bà cảm thấy thân hình nhẹ bổng cùng bay vượt lên đến tận đỉnh của non cao, nơi đây một bình nguyên khá rộng, tòng bá xanh um, hoa kiểng lạ mắt mọc khắp mọi nơi, cảnh đẹp vô cùng, không sao nói hết đặng, chân bà bước có cảm giác hết sức nhẹ nhàng, đến bên gành đá, cạnh đó có một tảng đá như cẩm thạch mặt bằng phẳng bóng ngời, trên mặt có để một cái dĩa trắng chói sáng như thể bằng ngọc, trong đựng một trái đào chính đỏ tỏa ngát mùi thơm. Người dẫn đường liền mời bà ăn trái cây đó, bà đến bưng dĩa trái cây rồi mời lại dị nhân thì được người đó cho bà biết là:

– Vật quí này là riêng phần của bà được hưởng, còn người khác thì không.

Không khí nơi đây thật trong lành mát dịu, hương thơm của những loại kỳ hoa dị thảo làm cho tinh thần của bà phấn chấn chưa hề có, với hương vị đặc biệt của trái đào mà bà chưa từng nếm qua. Ôi! Nói sao cho xiết, đến khi bà vừa dùng xong trái đào thì người dẫn đường nói tiếp:

– Như vậy thì phần của bà đến đây đã xong, bà vừa ăn trái đào này là để gieo duyên cùng Phật Pháp.

Nói xong dị nhân đưa bà xuống núi, bà đi qua khỏi vồ đá cao, bị trợt chân bà liền tỉnh giấc mà lòng vẫn còn được cảm giác thơ thới nhẹ nhàng.

Thời gian sau thì bà thọ thai, thắm thoát đến tháng 11 âm lịch năm 1919 bà lại nằm mộng thêm một lần nữa:

Đang ngủ bà nghe hình như có tiếng gọi ngoài sân nhà, bà bước ra ngoài thì cảnh vật không phải là trước sân mà hoàn toàn thay đổi, cây cỏ tươi tốt, lại có một cành hoa lạ trổ ra mùi thơm ngào ngạt và chung quanh thì hoa nào cũng đang nở rộ như để đón chào bà. Đứng trước cảnh vật tươi mát đó thì bỗng chốc có vầng mây trắng kéo đến, sau đó một đám mưa bao quanh mình bà, những hạt mưa như mù sương, nhẹ nhàng ve vuốt khắp thân thể của bà, tạo cho bà có một cảm giác sảng khoái như cởi bỏ tất cả sự nặng nhọc mà bà đang cưu mang; kế tiếp, lại có vầng mây ngũ sắc từ trên cao rơi nhẹ xuống phủ quanh mình bà, cả tâm hồn lẫn thể chất êm dịu không sao tả xiết. Một hồi lâu vầng mây ấy tan đi, bà bước vào nhà liền thức giấc.

Kế đó bà cảm thấy trong người có sự chuyển động, báo cho bà biết sắp đến kỳ sanh, bà gọi Đức Ông để báo tin. Đức Bà thuật lại chuyện hạ sanh Đức Thầy thật là khác thường.

Đức Thầy ra đời được bao trong cái bọc, khi ra khỏi mình mẹ thật là trong sạch, không có máu huyết đầm đìa, hôi tanh nhơ bẩn, cái bọc tự nứt ra một hài nhi với cặp mắt long lanh nhìn thế gian trầm tư chớ không hề có tiếng khóc. Đức Bà kể tiếp:

Từ lẫm đẫm mới biết đi cho tới tuổi khôn lớn, phẩm hạnh của Thầy nghiêm trang khác thường. Khi đến tuổi cắp sách, đầu tiên học với ông thầy giáo Khoái tại thôn Hòa Hảo, sau đó Ngài đi thi tiểu học ở quận Tân Châu, thi xong, Ngài về nhà, không chịu tiếp tục học thêm nữa.

Ngài vẫn ở chung trong gia đình, sinh hoạt bình thường như mọi người khác, nhứt là công việc đồng áng, thường ngày tuy có sự gần gũi với những người thiếu niên đồng lứa tuổi, nhưng chưa bao giờ Ngài dự vào những cuộc vui chơi.

Điều đặc biệt hơn nữa là tuy với lứa tuổi còn đang niên thiếu, nhưng người ta thường thấy Ngài hay ngồi trầm tư dưới những cội cây cao bóng mát trong khu vườn sau nhà.

Thuở đó Đức Ông làm ruộng ở Kinh Thần Nông, Ngài cũng theo giúp việc, thường khi trâu, bò đến ăn phá, Ngài chỉ đuổi chúng đi nơi khác, không hề đánh đập những con vật này.

Tuy đang mắc việc ở trại ruộng, nhưng hễ cứ đến ngày 14, ngày Rằm hoặc 29, 30 Âm lịch thì người ta thấy Ngài trở về ở tại nhà, sự có mặt đều đặn trong những ngày nói trên, làm cho hầu hết người trong nhà cho là chuyện lạ và có ý tò mò, hễ có ai hỏi đến đều được Ngài trả lời là bị bệnh, nhưng chưa bao giờ thấy Ngài dùng thuốc men hoặc có vẻ chi là bệnh.

Lúa gặt xong, người ta phải gom từ cụm nhỏ lại thành ra lớn, được gọi là chồng mớ lúa, Ngài cũng làm như mọi người, nhưng công việc thì khác thường, Ngài cũng gom lại từng mớ và xếp ngay hàng thẳng lối, chiều nào cũng ngay thẳng giống như nhau, mớ nào lớn thì sớt qua nhỏ, chia đều nhau, lại còn lấy tay vỗ vào gốc lúa cho bằng đầu. Thấy chuyện làm lạ thường, ông Út (bào đệ của Đức Ông) và ông Tám Khâm (cháu gọi Đức Ông bằng cậu) đều nói:

– Ngày mai thì gom vô cà lang mà ở đó sắp cho ngay hàng vỗ cho bằng đầu, sớt mớ này qua mớ nọ làm chi?

Có nói chi thì Đức Thầy cũng không trả lời, vẫn yên lặng làm theo ý của Ngài. Thấy vậy ông Út mới rầy:

– Cứ chồng thí cho mau, ở đó sớt đi sớt lại, so tới so lui, còn nhắm cho ngay hàng thẳng lối làm gì.

Đức Thầy trả lời:

– Mấy ông làm sao thì làm, còn tôi làm như vậy đó!

Ông Út nói nhiều lần mà Thầy vẫn làm theo việc Ngài làm, thấy vậy ông Út phó mặc.

Khi Đức Thầy được 18 tuổi, Đức Ông tính đến chuyện lập gia thất. Ở tại xã Hưng Nhơn, ông Cả Cẩn có người con gái cùng tuổi với Đức Thầy, nhan sắc và tánh tình thùy mị, trang nghiêm. Xét về lý đời thì thật là tương xứng, vì thế ông cả Cẩn muốn kết nghĩa thông gia với Đức Ông, hai người đã ước hứa với nhau, Đức Ông hẹn sẽ đưa Thầy đến để trai gái gặp nhau, điều này đã tỏ ý nhiều lần nhưng đều bị Ngài cự tuyệt. Hết cách giải quyết, Đức Ông đến bàn chuyện với ông Út giúp ông làm cách nào để đưa Thầy sang nhà ông Cả Cẩn để cho ông giữ đúng lời hứa hẹn. Ông Út vâng theo lời.

Nhân một hôm Thầy sang chơi nhà ông Út, ông ngỏ lời nhờ Thầy cùng đi với ông sang nhà ông cả Cẩn để giúp cho ông giải quyết việc sổ sách. Đức Thầy trầm ngâm hồi lâu rồi mới lên tiếng:

– Ông Út cần tiếp việc thì tôi sẽ đi với ông.

Vài ngày sau hai người cùng đi đến nhà ông Cả Cẩn, ông tiếp khách được một lúc thì người con gái bưng nước ra mời, trông cử chỉ của chủ khách và cô con gái ông Cả Cẩn thì Đức Thầy đã rõ biết câu chuyện. Ngài liền đứng lên nói cùng ông Út:

– Ông nói gạt tôi phải không ông Út.

Nói xong Đức Thầy bước ra cửa đi về.

Ông Út nói lại: Đức Thầy có ý phiền nên cả tháng không qua lại nhà của ông Út. Thời gian sau Đức Ông có đề cập đến chuyện hôn nhơn đều bị Đức Thầy từ chối quyết liệt.

Viết theo lời thuật trong băng nhựa của ông Năm Chơn (tức ông Ngô Ngọc Chơn) trước khi Đức Thầy mở Đạo người ta thường gọi ông này là ông Đạo Năm. Là cháu, con người chị thứ Tám của Đức Ông, nhà ở bên cạnh Tổ Đình.

Mẩu chuyện thứ 2

TRỊ BỊNH CHO ĐỨC THẦY

Chuyện này do Đức Bà kể tiếp theo chuyện trên.

Thời gian sau Đức Thầy bắt đầu thân bịnh, ngày càng trầm trọng thêm, chạy chữa thuốc thang đủ cả mà bịnh tình vẫn không thuyên giảm.

Đức Bà thấy căn bịnh lạ thường quá, cứ trầm tư mặc tưởng, thân hình ngày càng tiều tụy, Bà lo nghĩ là mắc phải bịnh tà. Bà đề nghị cùng Đức Ông thử tìm thầy bùa, thầy pháp chữa trị coi như thế nào, bởi thuốc Tây thuốc Tàu uống vào như uống nước lã thì biết làm sao hơn.

Đức Ông nghe theo lời, chở Thầy đi nhiều nơi, nhưng đến đâu thì các lương y cũng đều bó tay, và thuở đó Đức Ông bận việc làng nên thường vắng nhà. Bệnh tình của Đức Thầy ngày càng trầm trọng, đến bảy ngày không ăn uống chi cả, thấy thế Bà hết sức đau lòng, từ trong bước ra chỗ Thầy nằm, nắm chân Thầy lay dậy mà hỏi rằng:

Trong mình ra sao? Không ăn uống làm sao sống nổi.

Đức Thầy ngồi dậy, hai tay căng ra thẳng nhìn bà rồi nói:

– Bà Cả, bà nhìn tôi coi có phải ba đầu sáu tay.

Đức Bà nhìn Thầy nghĩ là đã mê sảng rồi, Bà khóc.

Kế đó người nhà chở Đức Thầy đi nhiều nơi để điều trị.

Tại Mặc Dưng có ông Sãi Cả người Miên, ông này chuyên dùng bùa ngải để trị bịnh tà ma, ông có nhiều pháp thuật. Đức Ông cùng vài người nữa chở Thầy đến đó.

Sau khi nghe Đức Ông trình bày bệnh tình của Thầy, ông Sãi Cả bước vào bên trong chánh điện của chùa, một lúc sau, ông bưng ra một ly nước, đỏ như nước rượu cho bịnh nhân uống.

Thầy không chịu uống, thấy thế Đức Ông rầy:

– Bệnh tình như vậy, thầy bảo uống thuốc lại không chịu, thì làm sao hết được bịnh.

Thấy Đức Ông phiền trách nên Thầy vị tình bưng ly thuốc uống. Uống vừa xong Thầy rùng mình làm cho cả chùa chuyển động gần muốn sập, làm cho mọi người lo sợ sắp bỏ chạy ra ngoài, cho đến khi đức Thầy không còn rùng mình nữa thì chùa cũng ngưng chuyển động.

Trước chuyện lạ thường chưa hề xảy ra, ông Sãi Cả tay chân run rẩy, mặt mày xám ngắt, đâu còn lòng dạ nào chữa trị nữa.

Mẩu chuyện trên được ghi lại trong băng nhựa, theo lời thuật của ông Năm Chơn (tức Ngô Ngọc Chơn) là cháu, con người chị thứ Tám của Đức Ông.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đoạn này, có một vài người bảo là nên để ra ngoài những Mẩu Chuyện Bên Thầy, bởi trông nó giống như chuyện khoa học giả tưởng, nó không thể chứng minh bằng những phương pháp khoa học hiện đại. Nhưng xét thấy khoa học là con đẻ của Phật học, để hiểu người con, thì chỉ có cha mới hiểu rõ ngọn ngành, còn con mà muốn hiểu được cha thì cần phải có thời gian lâu dài.

Hơn thế nữa chuyện này lại xảy ra trước mắt của nhiều người, mà họ lại là những người vô tư. Xét thấy cũng nên ghi đúng lại sự thật để cùng nhau suy gẫm, chắc cũng không hệ gì. Còn như câu chấp đúng hay sai, mỗi sự việc đều đòi hỏi phải chứng minh mà trước đây Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói: Ngoài thế giới này còn hằng hà sa số thế giới khác” và trước khi uống nước đều phải niệm kinh siêu độ cho những sinh vật sống trong ly nước. Với Phật nhãn Ngài đã nói đúng sự thật. Nhưng vào thời kỳ Trung cổ như thế đó bảo khoa học phải chứng minh thì chắc là không có cách nào chứng minh được. Rồi mãi đến hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, với sự tiến bộ vượt bực của khoa học thì lời của đấng Tôn Sư đâu ai cần bảo phải chứng minh chi nữa.

Mẩu chuyện thứ 3

NÚI TRÀ SƯ

Sau đó, người nhà đưa Đức Thầy đến ông Ba Nhựt, ngụ tại núi Trà Sư để tiếp tục trị bịnh, ông này người đời thường gọi với đạo hiệu là ông Đạo Som, tu luyện đạo bằng pháp thuật và bùa ngải, cũng là người nổi tiếng trong vùng Thất Sơn. Khi trị bịnh tà ma thì ông thường hay dùng cây som làm binh khí, hình thức giống như cây gươm, nhưng nhỏ hơn, không phải gỗ hay kim loại mà bằng sừng của con trâu. Những bệnh nhân thường hễ khi thấy vủ khí này đều quỳ lạy xin ông tha cho là tự nhiên khỏi bịnh.

Đến khi gặp Đức Thầy, ông cũng làm như thế. Ông bị Thầy dùng tay điểm mặt mà nói rằng:

– Tôi không phải đau bệnh tà ma chi mà ông som tôi.

– Ông đạo Ba Nhựt dừng lại, đem cất hai cây som vào trong rồi trở ra nói với Đức Ông:

– Ông Cả ơi! Tôi ở vùng Bảy Núi này trị bịnh đã hơn mười mấy năm rồi, chưa có bịnh nhân nào dám điểm mặt tôi, hôm nay con ông điểm mặt tôi, như vậy cái gốc hành bịnh này lớn lắm, thôi ông dắt về đi, chừng tôi truy căn gốc thì tôi mới làm đặng.

Trên đường về, đi được một lúc, Đức Thầy cho mọi người biết là tại vùng Bảy Núi này chỉ có ông Ba Nhựt là người linh giỏi hơn các người khác.

Sau đó theo lời hẹn, Đức Ông đưa Thầy đến lần thứ hai để ông Ba Nhựt chữa. Đến nơi thì được biết ông Ba Nhựt chưa tìm ra căn gốc của bịnh. Nhưng vì đường xa và với lời yêu cầu khẩn thiết của Đức Ông nên ông Ba Nhựt cố gắng chữa trị, nhờ vào lòng thành tâm này mà ông Ba Nhựt biết được nguyên nhân phát sinh căn bịnh và Đức Thầy không như những thường nhân khác.

Bởi không rõ nguồn cội nên ông Ba lập đàn triệu thỉnh Chư Vị Sơn Thần Năm Non Bảy Núi giúp ông để chữa bịnh cho Thầy. Ông thành tâm cầu khẩn nên được bốn vị hiện về, với thân hình cao lớn, đầu đội mão, trang phục màu sắc sặc sỡ, từ ngoài đi vào; ông Ba Nhựt thật hết sức hoan hỷ cho lời cầu khẩn linh ứng của mình mà chư vị hiện đến tiếp tay với ông để chữa bịnh.

Nhưng khi bốn Chư Vị tiến tới bộ vạc mà Đức Thầy đang nằm, thì chia nhau mỗi ông một góc giường, tay khoanh tròn, đầu cúi mọp sát đất để đảnh lễ Thầy. Xong đâu đó, bốn ông khoanh tay nghiêm chỉnh đứng hầu Đức Thầy chớ không dám nhúc nhích.

Được chứng kiến cảnh đó, ông Ba Nhựt hoảng kinh, nói không ra lời, lấy tay khoát, khoát năm ba lần mới nói được:

– Ông Cả ơi! Ông hãy đưa con ông về, chừng nào con ông làm Thầy thế gian này thì sẽ hết bịnh, chớ còn tôi không dám chữa trị chi nữa đâu.

(*) Đến khi Đức Thầy mở Đạo thì ông Ba Nhựt đến quy y với Ngài. Sau đó, Đức Thầy có trở lại nơi của ông Ba Nhựt ở, Thầy dùng nước sơn đề trước cửa điện ba chữ HUỲNH LONG ĐIỆN rồi Ngài bước vào trong, hỏi mượn bộ vạc tịnh của ông Đạo Ba. Ngài ngồi thiền nơi đó suốt 64 ngày.

Mẩu chuyện trên được ghi lại trong băng nhựa theo lời thuật của ông Năm Chơn là cháu, con người chị thứ Tám của Đức Ông.

Mẩu chuyện thứ 4

ĐĂNG SƠN LẦN THỨ NHỨT

Mẩu chuyện này theo lời thuật của Đức Ông tại AN HÒA TỰ, có rất nhiều người nghe.

Cuộc hành trình, trên đường đi có nhiều chuyện nhiệm mầu xảy ra, nhưng Đức Ông không thể nào nhớ hết, ông chỉ thuật lại một vài mẩu chuyện khá đặc biệt mà ông còn nhớ rõ.

Trước khi đi núi, Đức Thầy có nhắc Ông đem theo đồ lớn để làm lễ (đồ lớn là khăn đóng áo dài) khi đi đến bến xe Châu Đốc, Thầy nói với Đức Ông mua dép làm bằng vỏ xe hơi để mang đi đường núi rừng, bởi mùa này mưa nhiều, ngó tranh mới lên rất bén, còn giày dép thường mang, đi núi bị trơn trợt khó đi. Đây là một điều lạ, bởi từ thuở nhỏ cho đến lớn, có bao giờ Ngài lên rừng, tại sao Ngài lại thành thạo như một hướng đạo chuyên nghiệp. Mua xong hai đôi dép, Ông còn mua thêm mười ổ bánh mì lên núi phòng khi đói lòng.

Trên chuyến xe đi Nam Vang, khi đến Cần Giọt Cam Chạy thì Thầy gọi xe dừng lại. Tại nơi này, trên núi người Pháp có làm nhà tù để nhốt tù binh và những người chống đối chúng, thường ngày cấm ngặt thường dân đi lại, lúc này vào năm 1939, tình hình không được yên ổn nên người Pháp phòng bị rất là nghiêm ngặt, bất cứ ai đi trên đường này đều bị bắn bỏ, mà hôm nay Thầy lại dẫn Đức Ông đi trên con đường này. Khi đi được nửa đường thì có xe tuần tiểu của Pháp chạy xuống, hai bên hông xe lính chỉa súng, sẵn sàng nhả đạn. Thầy chỉ cho Đức Ông, ông kinh tâm tán đởm, vội chun lẹ vào rao mui ẩn tránh, chờ hồi lâu không thấy Thầy theo vô, Đức Ông nhìn ra thấy Thầy vẫn đứng tự nhiên, lưng dựa vào cột lồng đèn bên đường, không trốn tránh, mà lạ một điều là không thấy quân lính Pháp nói chi đến Ngài. Đến khi xe qua khỏi, Thầy gọi Đức Ông ra để tiếp tục đi.

Đi thêm một đoạn nữa thì Thầy báo cho biết là đã hết đường, bắt đầu vào rừng, cả hai đều thay dép vỏ xe. Trên con đường của lối vào, Đức Ông nhìn không phải đường mòn sẵn có, nhưng khi đi vào thì ngay đây, ai đã dọn sẵn con đường đi, dấu chặt cây còn mới tinh nguyên, chưa lá nào bị héo, ông thầm nghĩ là có người nào đi đốn củi nên họ dọn trống đường để đi. Đức Thầy bước đi trước ngay vào con đường đó, nhìn xa xa thì cũng toàn những dấu mới đốn dọn, còn người nào làm chuyện đó thì không thấy, chỉ thấy mủ cây còn chảy, lá cây còn xanh. Như hiểu được sự thắc mắc của Đức Ông, Thầy quay lại hỏi:

– Ông Cả có biết đường nầy ai dọn cho tôi và ông đi không vậy?

Đức Ông trả lời:

– Nào ai biết!

Đức Thầy nói:

– Chư Vị Sơn Thần dọn đường cho tôi với ông Cả đi đó.

Đi được một lúc Đức Thầy quay lại hỏi:

– Ông Cả! Ông ôm cái gì trông lùm xùm vậy?

– Ôm bánh mì. Đức Ông trả lời.

Thầy hỏi tiếp:

– Đem bánh mì làm chi vậy ông Cả?

– Mua để phòng lên núi đói đặng ăn!

– Đưa tôi xách cho.

Đức Ông đưa bánh mì cho Thầy, Thầy xỏ tay vào quay xách, đi một đỗi có nhánh cây nhô ra, Thầy máng một chục ổ bánh mì lên đó rồi tự nhiên đi. Đức Ông bước theo hỏi:

– Sao không mang theo lại máng đó!?

– Máng đó, phòng khi có người đi núi, đói, họ lấy mà ăn, còn tôi với ông đi núi có thiếu gì cơm mà ông sợ.

Đức Ông nhìn mấy ổ bánh tiếc của, nhưng thấy Thầy rảo bước cũng đành phải đi theo. Đức Thầy nói tiếp:

– Lên núi có cơm mà cơm chay thôi nghe ông Cả, cá thịt thì không có.

– Có cơm nuốt no bụng thôi chớ cần gì cá thịt.

Đi được một đỗi, mặt trời lên cao, lòng đã đói mà không thấy nhà cửa, trại hoặc chùa am chi cả, chỉ thấy toàn là rừng rậm hai bên, núi non mù mịt. Đức Ông lo sợ, tự nghĩ, đói rồi, làm sao có cơm ăn đây? Bỗng Đức Thầy quay nhìn lại:

– Ông Cả đói rồi phải không? Ráng chút nữa sẽ có cơm ăn.

Đức Ông lấy làm lạ, giữa rừng sao lại có cơm ăn, nghĩ như vậy chớ không nói ra. Đi được một lúc nữa đến tảng đá bằng phẳng, trên có một cái giếng nước nhỏ, Đức Thầy dừng lại, ngồi trên tảng đá, lấy tay bụm nước uống và gọi:

– Ăn cơm ông Cả ơi!

Đức Ông thấy Thầy uống nước, còn ông thì đói chớ không khát, sao lại còn kêu ông ăn cơm, cơm đâu mà ăn! Ông ngồi chần chờ chưa biết phải làm như thế nào, thấy Đức Thầy hớp thêm một hớp nữa rồi giục:

– Ông ăn cơm chớ! Sao còn ngồi hoài đó vậy?!

Đức Ông bước đến bên giếng, thấy nước trong ngần, ông bắt chước theo Thầy dùng hai tay bụm nước uống.

Ông nói: Khi bụm nước uống mùi thơm ngào ngạt, thơm thật lạ thường, mùi vị từ xưa đến giờ chưa hề có. Đức Ông bụm uống nhiều hớp nước một lúc thì no đầy và khoan khoái khác thường. Kế đó Thầy hỏi:

– No chưa ông Cả! Ông còn đói nữa không?

Đức Ông mới hiểu lời của Thầy bảo cơm chay trên núi, ông thấy lòng không đói, không thèm cơm mà lại no đủ khỏe khoắn lạ thường.

Tiếp tục lên đường, cũng với con đường mới dọn, bỗng Đức Thầy dừng lại gọi:

– Ông Cả ơi! Sửa soạn đồ lớn để làm lễ.

Đức Ông nhìn không thấy chùa miễu, am cốc chi mà sao Đức Thầy bảo làm lễ, vậy thì làm lễ ở đâu. Tuy nghĩ vậy chớ ông cũng mặc áo dài, bịt khăn đóng vào, vừa xong. Đức Thầy chỉ:

– Đó, lại làm lễ ông đó.

Đức Ông nhìn theo thì thấy có một bàn thạch, ông già đã ngồi sẵn nơi đó, lấy làm lạ, ông hỏi Thầy:

– Ông đó là ai vậy?

– Ông lại làm lễ rồi hỏi ông ta, chớ sao ông lại hỏi tôi!

Đức Ông bước lại chắp tay làm lễ và được ông già đó khuyên việc tu hiền, giúp đỡ xã hội, lập công bồi đức. Câu chuyện sắp kết thúc, Đức Ông mới hỏi ông ấy là ai, thì được ông cho biết, danh từ gọi ông trước kia là Cố Quản. Đức Ông kỉnh lễ rồi lui ra.

Đoạn này Đức Thầy có giải thích cho Đức ông được rõ là xưa kia Đức Cố Quản bị Pháp vây hãm rồi mất tích, nay thì Đức Ông gặp lại nơi này.

Tiếp tục lên đường cũng theo hàng cây mới dọn. Đến xế chiều bỗng nghe Đức Thầy gọi ông mặc đồ lớn để làm lễ. Đức Ông nhìn chung quanh cũng không thấy chùa miễu chi, nhưng cũng nghe lời mặc áo dài bịt khăn đóng vào, xong rồi Đức Thầy cũng chỉ cho ông thấy một người ngồi trên bàn thạch y như kỳ trước mà ông này tướng mạo rất là trang nghiêm. Đức Ông hỏi ông đó là ai vậy thì cũng được Đức Thầy bảo cứ hỏi ông ấy thì rõ.

Đức Ông đến làm lễ và cũng được ông ấy nhắc việc tu hiền, giúp đỡ xã hội, lập công bồi đức, nghe dạy việc xong. Đức Ông hỏi ông tên chi, thì được ông cho biết là Nguyễn Trung Trực. Thầy nói thêm cho Đức Ông rõ, ông Nguyễn Trung Trực khi xưa bị Pháp hành quyết tại Rạch giá, nay cũng còn ở nơi đây.

Rồi lại tiếp tục lên đường đến chiều tối thì Đức Thầy dừng lại, Ngài leo lên một tảng đá bằng phẳng rồi quét dọn sạch sẽ rồi bảo Đức Ông: Tối rồi nghỉ ngơi. Đức Ông cũng cảm thấy mệt mõi, bước lên tảng đá nằm nghỉ, một lúc thì trời sẩm tối, sương núi lạnh lùng, làm cho ông lạnh muốn phát run. Ông than, lạnh như vầy, không có mền đắp thì làm sao ngủ đặng.

Lúc đó Đức Thầy đã nằm xuống, Ngài nói:

– Không có gối, ông nằm trên cánh tay của tôi ngủ đỡ đi.

Đức Ông nghe lời nằm xuống, gối đầu trên cánh tay của Thầy, Thầy mới dùng cánh tay bên kia ôm ngực của Đức Ông, còn chân thì gác ngang lưng của ông, Thầy ôm Đức Ông nằm trên tảng đá. Đức Ông nói, khi Thầy ôm xong, bao nhiêu lạnh lẽo tức khắc tan đi, sự ấm áp thật lạ lùng, tỷ như được đắp đôi ba cái mền vậy. Đức Ông đi dần vào giấc ngủ lúc nào không hay, đến khi gần tỉnh giấc thì nghe Đức Thầy gọi:

– Ông Cả ơi! Trên non rừng rậm mà sao có xe hơi chạy, đèn sáng quá, mở mắt ra coi.

Đức Ông nghe gọi thì mở mắt ra thì thấy hai con cọp bạch ngồi hai bên, cặp mắt như đèn pin rọi vô sáng lòa. Đức Ông hoảng hồn, lấy tay bịt mắt, bắt đầu phát lạnh run lập cập. Đức Thầy hỏi:

– Gì mà run dữ vậy?

– Mẹ đẻ cho tới lớn chưa từng gặp qua cảnh này.

– Thôi ông đừng sợ, Chư Vị Sơn Thần đến giữ cho tôi với ông ngủ, có chi mà ông sợ dữ vậy.

Mặc Đức Thầy nói, còn ông run thì vẫn run, run mãi không sao kềm đặng, thấy ông sợ quá Đức Thầy an ủi ông, một lúc thì bảo ông mở mắt ra. Ngài nói lớn:

– Sáng, người ta đi hết rồi, còn đâu nữa mà sợ.

Ông mở mắt thì không còn thấy hai con cọp, ông bình tĩnh lại, ngồi dậy và tiếp tục lên đường, cũng con đường mới vừa được dọn dẹp. Đến trưa ông cảm thấy đói, Thầy hiểu ý, khuyên ông cố gắng đi, chốc nữa sẽ có cơm. Đức Thầy cũng dừng lại bên tảng đá bằng phẳng, cũng có giếng nước nhỏ trong ngần, Ngài lấy tay bụm nước uống và bảo:

– Ăn cơm ông Cả.

Hôm nay ông không còn ngần ngại mà bước lại liền, lấy tay bụm nước uống thì mùi vị thơm ngát, ngọt ngào giống hệt như ngày hôm qua vậy. Rồi kế đến những ngày khác cũng giống như nhau, mỗi ngày chỉ dùng một bữa nước mà no suốt cả ngày. Suốt những ngày theo Thầy trên non, chỉ duy nhứt dùng nước thay thực phẩm mà không thấy đói hay thèm cơm, còn về sức lực thì dường như mạnh mẽ hơn xưa, tinh thần cũng có phần phấn chấn. Đi đến trưa Đức Thầy bảo:

– Để tôi dẫn ông lại hồ sen xem chơi cho biết.

Khi đến hồ sen, Thầy chỉ cho ông coi chuyện lạ thường, lá sen thật to, ước sức người vào ngồi đó cũng chưa chìm, còn bông nở thật là to, không biết muôn ngàn cánh, nhụy đơm quanh, sự đẹp chưa hề có trên thế gian, còn gương sen đường kính độ ngoài thước Tây, hột sen phần ló ra ngoài cũng bằng bắp tay, càng nhìn gợi cho ông lòng thích thú lạ kỳ, Đức Ông trầm trồ, nhưng liền theo đó Đức Thầy bảo:

– Ông Cả coi thì được chớ đừng bẻ hái chi.

Đức Ông nghe vậy nên không dám đụng đến, và hỏi Thầy bông sen gì mà to lớn quá như vậy.

– Sen Tây Vức đó ông Cả. Đức Thầy trả lời.

Trên bước đường đăng sơn, đến chiều tối thì Thầy dừng lại, Ngài leo lên tảng đá lớn bằng phẳng, quét dọn sạch, gọi Đức Ông nghỉ ngơi và lần này thì khác hơn mọi khi, Ngài dặn ông hãy quan sát chung quanh nơi này trước khi nằm nghỉ. Đức Ông thấy nơi này toàn là đá trắng, bên cạnh ông nằm có vài bụi tranh đưa lá ra, ông đưa tay gút ba gút lá tranh làm dấu. Đức Thầy thì đã nằm trước rồi, Ngài cũng đưa cánh tay như mọi hôm để ông gối đầu, cũng ôm ông như những bữa trước, và sự ấm áp khỏe khoắn giống như mọi hôm. Nhưng hôm nay còn thêm một điều hết sức lạ thường, vì khi đang ngủ thì cảm giác xác thân nhẹ nhẹ, như đang đu đưa trên chiếc võng, mà khi chợt giấc thì vẫn thấy đang nằm y nguyên trên tảng đá. Đến khi ngủ lại thì có cảm giác như trên. Trong đêm đó cứ thức rồi ngủ, ngủ rồi thức không biết bao nhiêu chập mà kể. Cuối cùng đang trong giấc ngủ mê thì nghe bên tai Thầy gọi:

– Dậy ông Cả ơi! Sáng rồi dậy rửa mặt đặng đi.

Kế đến Thầy dắt ông lại giếng nước nhỏ để ông rửa mặt rồi trở lại chỗ cũ ngồi. Đức Thầy bảo:

– Ông thử nhìn lại coi có phải là chỗ ngủ đêm hôm không?

Đức Ông nhìn lại thì cảnh vật nơi đây hoàn toàn khác lạ, đá hôm nay đen và những bụi tranh cũng không còn thấy nữa, ông ngơ ngác tưởng chừng như đang trong cơn mơ. Sự thay đổi hoàn toàn chỉ sau một giấc ngủ thì làm sao ông còn bình tĩnh đặng nữa. Trong bối cảnh này, ông biết còn có ai khác hơn ngoài Đức Thầy, bởi thế ông phải hỏi Thầy:

– Chỗ này là nơi nào vậy?

– Nơi này khác hơn chỗ ngủ ngày hôm qua, từ đây đến đó, nếu đi bộ sẽ mất năm hoặc sáu ngày đường, vì núi này đầu nằm Đông Độ, đuôi nằm Tây Qui, một phía thì ở Xiêm La, một phía thì ở Cao Miên, mà tôi đưa ông qua đây là khỏi cái suối lớn rồi.

(*) Trên núi Tà Lơn có con suối lớn, chiều ngang độ hai trăm thước, người ta thường gọi là suối San Hà, nước chảy như thác, xuồng ghe hoặc người thì không cách chi qua lại cho đặng. Quả là một lằn ranh thiên nhiên ngăn cách mọi sự vật.

Tiếp tục nhiều ngày Thầy dẫn Đức Ông băng rừng lội suối khắp các nơi, làm cho đôi chân của ông không còn sức chịu đựng đặng nữa, ông luôn miệng than thở. Thấy thế, Thầy nói:

– Ông ráng đi cho đủ tám ngày để ông giải hết quả trần, ở trên này ông đi một ngày thì dưới trần ông giải quả được một tháng.

Đi được đến ngày thứ sáu thì Đức Ông cho biết không còn cách chi đi đặng nữa, Đức Thầy cũng lại khuyên:

– Ráng ông Cả ơi! Đủ tám ngày để giải cho hết quả!

– Thôi có giải thì về dưới trần hãy giải, chớ tôi đi hết nổi rồi!

Thấy Đức Ông than quá, Thầy dắt ông trở về. Khi về đến chơn núi, ông giẫm phải hòn sỏi nơi ngón chân cái, bị cảm giác ê một chút vậy thôi, vậy mà khi về đến nhà, vết đó tự phát lên làm độc đau nhức thấu tim gan, ông ôm chân lăn lộn, không ăn uống ngủ nghỉ chi đặng, và cũng không có thuốc nào làm giảm được cơn đau nhức.

Đức Ông nằm trên giường ôm chân lăn lộn kêu rên. Trong khi đó, bên cạnh, Đức Thầy nằm trên võng đong đưa với một tư thế bình thản, mặc nhiên. Còn ông Năm Truyền thấy vậy nóng lòng không chịu nổi, muốn đến bạch với Thầy nhờ cứu giúp cho Đức Ông, nhưng khi đến võng của Thầy đang nằm thì không nói được nên lời, phải đi qua luôn; rồi khi thấy Đức Ông đau lại nóng lòng muốn đến biện bạch với Thầy, nhưng khi đến nơi thì cũng mở miệng không đặng. Ông Năm hết sức băn khoăn, cứ năm lần bảy lượt tới lui, đến khi Đức Thầy lên tiếng thì ông mới mở lời được:

– Ông Năm! Làm cái gì mà đi tới đi lui hoài vậy, muốn nói gì thì nói.

Ông dừng lại xá Thầy và mới nói được:

– Thầy ơi! Cậu Út đau cái chân tôi thấy nóng ruột quá, sao Thầy không kiếm thuốc trị giùm cho cậu.

– Cái quả của ông Cả là tự ông phải trả, tôi đã nói với ông ráng đi thêm hai ngày nữa trên non để giải quả trần dưới thế hai tháng mà ông không chịu, lại còn nói về dưới trần muốn trả bao nhiêu thì trả. Quả của ông Cả thì ông Cả trả cho hết, còn như ông muốn ông Cả hết ngay bây giờ thì ông đứng ra hứa lãnh cái quả này cho ông Cả, tôi sẽ làm hết bịnh cho ông coi.

Nhưng khi thấy Đức Ông đau đớn rên than quá thì ông Năm Truyền sợ không dám lãnh, đứng làm thinh một hồi rồi bước đi.

Độ vài phút sau thì Đức Thầy gọi ông Năm Truyền múc cho Thầy một ly nước mưa. Tay bưng ly nước, Ngài rời cái võng, đến chỗ Đức Ông nằm, Ngài nhìn từ đầu gối đến ngón chân đau, ba lần như vậy, rồi Ngài hớp nước phun từ đầu gối đến ngón chân cũng ba lần. Ông Năm Truyền đứng ngó. Kế Ngài bưng ly nước để trên bàn rồi lại võng nằm.

Liền theo đó, Đức Ông ngồi dậy gọi cô Năm (Cô Năm Biên là em kế của Đức Thầy) dọn cơm cho ông ăn, ông đói lắm, chân của ông hết đau nhức rồi,

Cô Năm dọn cơm nơi bàn, ông ngồi ăn như người khỏe mạnh chưa hề bị đau ốm chi. Đức Thầy nói với ông Năm Truyền:

– Ông Năm thấy không? Tôi làm là hết đau nhức liền, nhưng mà quả của ông để ông trả cho dứt.

Đức Thầy nói trong khi đó Ngài cũng tự nhiên nằm trên võng, còn Đức Ông khi ăn cơm uống nước xong rồi, vấn một điếu thuốc hút, khi hút xong, vừa liệng bỏ tàn thuốc, thì la nhức, ôm chân nằm xuống, lăn lộn rên than suốt ngày đêm, cơn đau kéo dài gần đúng hai tháng thì Đức Thầy viết cho Đức Ông và Đức Bà một bài thơ:

Chừng nào vết nọ liền da,

Chuột kia mãn hạn khỉ vào vườn hoa.

Ấy là thời đại của Ta,

Thầy ra cứu thế mới là hiển vinh.

(Cho Đức Ông và Đức Bà SGTV t 191)

Đúng hai tháng vết thương không chữa trị mà tự nhiên lành. Sau khi vết thương của Đức Ông lành thì Thầy gọi ông Năm Truyền lập cho Ngài một bàn hương án ngoài trời để Ngài mời ông bà Cả chứng kiến cho Ngài thỉnh Ấn Ngọc Hoàng cứu dân độ thế, lúc nầy đúng vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão.

Viết theo lời kể trong băng nhựa của ông Năm Chơn.

(*) Ông Năm Chơn là cháu, con người chị thứ Tám của Đức Ông, nhà ông Năm Chơn ở sát bên Tổ Đình.

Mẩu chuyện thứ 5

ĐỨC THẦY TẮM SÔNG

Chuyện này vào năm 1939. Ông Bảy Phan văn Dứt con của ông Cả Chín, ông Cả làng Mỹ Hội Đông, cùng bạn làng với Đức Ông. Khi Đức Thầy mở Đạo thì ông Cả và con là ông Bảy Dứt cùng đến quy y với Đức Thầy.

Nhân ngày ông Cả Chín và con là ông Bảy Dứt đến thăm Đức Thầy, Đức Thầy rủ ông Bảy Dứt đi tắm với Ngài và có hơn mười người cùng đi tắm chung, ông Bảy Dứt thuở đó cùng tuổi với Đức Thầy. Lúc này Thầy thường mặc bà ba trắng và Ngài đang viết bài Để Chơn Đất Bắc.

Tuy trong lúc tắm có trên mười người, nhưng Thầy chỉ gọi ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài. Ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài nhẹ, không dám kỳ mạnh, vì lúc này kim thân của Ngài ốm quá, thấy thế, Thầy bảo:

– Ông Bảy à! Kỳ lưng tôi cho mạnh đi, lưng tôi cũng đất không chớ gì.

Nghe theo lời, ông Bảy kỳ mạnh, Thầy gục tới, gục lui, sức không chịu nỗi. Thầy quay mặt nhìn lại thì ông Bảy thấy là một ông lão râu tóc bạc phơ, có chòm râu dài, lông nheo, lông mày toàn là một màu trắng.

Từ đang tuổi thanh niên, bỗng chốc Đức Thầy trở thành một cụ già râu tóc bạc phơ, thật là ngoài sức tưởng tượng của ông Bảy, sự việc làm cho ông kinh hoàng tột độ, ông nhìn Thầy sửng sốt. Thấy thế Thầy bảo với ông Bảy:

– Chắc ông lạ lắm phải không? Mới đây tôi từ một người đang tuổi thanh xuân, bỗng chốc trở thành cụ già râu tóc bạc phơ.

Lúc đó ông Bảy vẫn đang trong trạng thái sửng sốt, thì Đức Thầy tiếp luôn:

– Ông đọc lại Quyển Thứ Nhứt của tôi, thì ông sẽ biết rõ tôi hơn.

Khi già lúc lại trẻ thơ,

Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.

Đi nhiều càng thảm càng phiền,

Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.

Rồi Ngài nói tiếp:

– Tôi già cũng đặng, mà trẻ cũng đặng, ông hãy nghe thêm một đoạn nữa:

Vàm Nao rày đã đến rồi,

Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình.

Hát hai câu hát huê tình,

Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao.

Sáng ngày chợ nhóm lao xao,

Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.

Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,

Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau.

Đứa này nói để cho tao,

Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.

Sau câu chuyện, ông Bảy nhìn thấy Đức Thầy đã trở lại trạng thái bình thường là một người trai trẻ lúc đầu, và Ngài nói:

– Thôi bây giờ đến phiên tôi kỳ lưng lại cho ông Bảy.

Ông Bảy vội vàng thưa:

– Bạch Thầy, con đâu dám để Thầy kỳ lưng cho con.

Thôi vậy cũng được, bây giờ mình cút bắt cho vui.

Những người cùng tắm, kể Đức Thầy nữa là 16 người, ông Bảy thưa với Thầy:

– Thầy cút hay là tụi con cút trước.

– Các ông cút trước Thầy bắt cho.

Ông Bảy nói:

– Tụi con lặn là Thầy khó bắt lắm, bởi tụi con mỗi đứa chia nhau mỗi ngã thì lâu lắm Thầy mới bắt hết được.

– Thì các ông lặn đi, Thầy bắt được hay không là các ông biết liền.

Các ông chia nhau lội ra xa chỗ Thầy đang đứng rồi hè nhau lặn một lượt, khi họ lặn xong, Ngài mới đưa tay vuốt và vỗ nhẹ trên mặt nước, tức khắc mọi người đều nổi lên, mà mặt và mắt thì đỏ lơ.

Đức Thầy bảo:

– Tại sao tôi chưa bắt mà các ông trồi lên hết vậy?

– Bạch Thầy! Tụi con đang ở dưới nước, trên nầy không biết Thầy làm gì mà tụi con nghe tiếng nổ thật mạnh, tụi con chịu không nỗi, giống như cá bị ngộp phải trồi lên.

– Tôi chỉ vỗ tay nhẹ trên mặt nước, mấy ông không chịu nỗi phải trồi lên, tôi nói để mấy ông rõ, sau này cái tay của tôi chỉ là thế giới người ta sẽ tu nhiều lắm. Thôi bây giờ đến phiên tôi cút để các ông bắt.

– Thầy lặn là tụi con ôm Thầy lên liền hè! Bởi tụi con mười mấy đứa giống như cái đăng vậy, Thầy lặn sao khỏi được tụi con.

– Ờ! Mấy ông ráng bắt Thầy cho được nha!

Nói xong Ngài lặn, cả mười mấy người đều thấy mặt nước không một mảy gợn sóng, con cá lòng tong ăn móng mà còn dợn nước nhiều hơn.

Sau khi Đức Thầy lặn rồi, cả mười lăm người hè nhau lặn tìm Ngài, tất cả cố mở mắt ra mò tìm cả giờ mà không sao bắt gặp được Ngài, lạnh tay chân đều móp, run rẩy, cùng leo lên bờ ngồi, họ lo sợ phát khóc vì nghĩ là Thầy đã mất tích.

Các người còn ngồi đó khóc than với nhau, thì ngay khi ấy Đức Thầy từ trên Tổ Đình đi xuống mà chưa ai hay. Ngài đến vỗ vai ông Bảy:

– Tôi chờ các ông lâu quá mà không thấy các ông lên, các ông ở đây làm gì?

Các ông quay lại thấy Thầy thì ai nấy đều mừng rỡ, Thầy chỉ vào đôi mắt của các người mà rằng:

– Nước mắt của bà con còn nhiều lắm! Nhưng đến khi tôi vắng mặt và lúc trở về thì nó sẽ cạn đi nhiều! Bởi quá nhiều cảnh khổ!

PHẦN NHẬN XÉT

Trong buổi đi tắm sông, Đức Thầy dùng sự để nhắc nhở và báo cho tín đồ có một thời gian Ngài xa vắng mọi người, không ai biết Ngài ở đâu mà tìm, và cũng đừng uổng công tìm kiếm, hãy nương theo Giáo Lý, Giới Luật của Ngài mà tinh tấn tu hành. Rồi sau đó Thầy sẽ trở lại tìm gặp tín đồ của Ngài, nếu chúng ta cứ tìm, cứ chạy theo sắc tướng, càng tìm sẽ dễ lạc vào con đường của tà sư ngoại giáo.

Đức Thầy cho biết:

Tam thiên lục bá giáng lâm trần,

Khốc tử lang tâm biến họa dân.

Có ba ngàn sáu trăm mối đạo xuống thế gian này, gây nên không biết bao nhiêu tai họa cho loài người trong cơn mạt Pháp, ai mà ham linh, ham nghiệm, ham quyền, ham chức sẽ sa vào cạm bẫy của kẻ xấu, tức đường đạo sẽ lểnh lảng đau thương, nghiệp quả chắc sẽ sâu dầy tội báo.

Mẩu chuyện thứ 6

ĐỨC THẦY ĐỘ ÔNG KÝ VÕ VĂN GIỎI

Thời gian Đức Thầy vân du đó đây, Ngài trở về Xà No, rồi đến Bạc Liêu, sau đó Ngài đến ở tại nhà ông Ký Võ văn Giỏi. Lúc này bà Ký đã quy y với Đức Thầy rồi, còn ông Ký thì chưa quy y.

Ông ký Giỏi đang làm việc cho Pháp, vì chưa hiểu đạo nên ông không tin Đức Thầy là Phật, nhưng có một điều là nhìn tư cách của Thầy thì ông rất là kính trọng, ông thường gọi Đức Thầy bằng Ngài.

Hôm nọ người bạn ở Pháp có gởi tặng cho ông Ký ba gói trà, được biến chế đặc biệt hơn các loại trà khác, người ta thường dùng để đãi khách quý của họ. Có được trà, bèn suy nghĩ trà này nên đãi ai, ông liền nhớ, tại nhà ông có mặt của Đức Thầy là thượng khách.

Buổi trưa hôm đó cũng là đặc biệt, ông tự vào bếp nấu nước pha trà, chớ không sai gia nhân như mọi khi. Ông tự rửa ly tách để vào bộ kỹ trà, châm trà xong, ông gọi bà Ký:

– Tôi nhờ bà mời Thầy của bà ra nhà khách dùng trà. Ông luôn dùng từ Thầy của bà ký, chớ không phải Thầy của ông.

Đức Thầy bước ra Ngài nói:

– Ông Ký mời tôi uống trà.

Ông Ký cúi đầu:

– Dạ tôi mời Ngài uống trà.

Ngay lúc đó Đức Thầy ngồi xuống ghế, ông ký rót tách trà, đứng lên dùng hai tay dâng tách nước cho Thầy. Ngài đưa tay lấy tách nước và nói:

– Ông Ký ngồi xuống đi.

Ngay lúc đó bỗng dưng Ngài trầm ngâm, Ngài dùng tách trà của ông Ký mới dâng mà hất ra sân. Trước sự việc như vậy làm cho ông Ký băn khoăn trong lòng, quá đỗi ngạc nhiên, không hiểu mình có gì xúc phạm làm cho Đức Thầy phải hất tách trà ra sân.

Ông Ký con đang ngẩn ngơ thì liền theo đó Ngài mới ôn tồn bảo với ông:

Ông Ký à! Chắc ông khó chịu trước hành động lạ thường của tôi, tách trà tôi không uống mà lại hất ra sân. Vì cách đây độ một ngàn thước có kho xăng đang bốc cháy dữ dội, nhờ tách trà của ông, tôi dùng kịp thời để tưới tắt ngọn lửa.

Nghe Thầy nói xong, trong lòng ông Ký nẩy thêm sự ngờ vực hơn nữa. Ông nghĩ, chỉ một tách trà nhỏ như thế thì làm sao dập tắt lửa của kho xăng đang cháy cách đây một ngàn thước. Hoàn toàn ngoài sức hiểu biết và ngoài sự tưởng tượng của con người, hơn thế nữa ông là một người có trình độ hiểu biết về khoa học. Vì lẽ đó ông đứng thộn người ra, chưa biết phải làm thế nào hay đối đáp ra sao với Đức Thầy. Thấy thế Ngài mới nói với ông:

– Tôi biết ông khó tin lời của tôi. Vậy ông hãy vào lấy chiếc xe hơi của ông, tôi chỉ đường cho ông chở tôi đến nơi, khi chứng kiến thực sự việc đã xảy ra, chừng đó ông sẽ được giải đáp những gì ông đang thắc mắc nơi lòng.

Ông Ký nghe vậy, buộc lòng phải ra lấy xe chở Ngài đi, ông mở cửa xe để Thầy vào ngồi . Đức Thầy chỉ ông chạy về hướng cây cầu, ông Ký nghe theo lời lái xe đến nơi. Vừa lên dốc cầu thì ông phải cho xe dừng lại, vì có rất đông người đứng trên cầu.

Dân nơi đó họ thấy ông Ký đến, họ xúm nhau chào hỏi và họ rất ngạc nhiên tại sao ông Ký biết có đám cháy mà đến sớm quá vậy. Mỗi người một câu, hồi lâu trật tự mới được ổn định. Ông ký hỏi họ nguyên nhân như thế nào. Thì bà con nơi đây cho ông biết:

Trưa nay nắng quá gắt, kho xăng bỗng nhiên bị bốc cháy dữ dội, mà kho xăng chứa trên hai chục ngàn lít, ngọn lửa bốc cao lên, nhà cửa xung quanh ai nấy cũng đều nghĩ là sẽ bị thiêu hủy tất cả. Sự kinh hoàng tột độ, bởi không ai biết cách nào dập tắt được ngọn lửa.

Thì ngay lúc đó bỗng đâu có đám mây đen kéo lẹ đến, rồi cơn mưa ào ào phủ xuống ướt cả vùng đang cháy, kho xăng được dập tắt tức khắc. Nhưng có một điều hết sức lạ lùng làm sao là nước mưa bốc lên mùi thơm của trà, một loại trà thơm hiếm quý mà chúng tôi chưa được dùng qua bao giờ. Mọi người lại thêm một phen ngẩn ngơ cho chuyện lạ lùng chưa hề xảy ra.

Chỉ riêng có ông Ký, ông nhìn phớt qua Đức Thầy mà nơi lòng của ông có một sự biến chuyển hết sức trọng đại.

Ông Ký hỏi thăm họ có thiệt hại gì không, họ cho biết nhờ có trận mưa kịp lúc dập tắt ngọn lửa nên không có thiệt hại nào của họ. Đức Thầy cùng ông Ký quày xe trở lại nhà.

Ngay ngày hôm đó, khi Đức Thầy còn đang nghỉ trưa nơi phòng của Ngài, thì ông Ký gọi bà Ký, nhờ chuyển lời xin của ông, được quy y làm đệ tử của Ngài.

Bà Ký vô cùng mừng rỡ, chờ Thầy thức giấc để vào trình với Ngài, còn ông Ký thì đi tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ tề chỉnh, đứng trước ngôi Tam Bảo chờ nhận lễ quy y, nhưng khi ông Ký lên nhang, sắp sửa đốt đôi đèn trên bàn Phật thì Đức Thầy ngăn lại, Ngài chưa cho ông Ký quy y, bèn nói với ông Ký rằng:

– Ông mới thấy sự linh nghiệm mà vui mừng muốn quy y theo tôi, khi tâm của ông chưa thật sự nhìn vào chân lý, như vậy khó bền chắc, cần thêm một thời gian nữa, khi cơ duyên đến trọn vẹn thì quy y cũng chưa muộn.

Trước sự việc xảy ra không hẹn, không cân nhắc trước, làm cho ông Ký chơi vơi, khó lòng dỗ giấc ngủ và cũng không biết tâm sự với ai, ông nhớ đến những người bạn cùng chia sẻ kiến thức học hỏi với nhau khi còn du học ở Pháp quốc, ông vội viết thư gởi cho họ.

Độ một tuần lễ sau, sáng hôm nọ, Đức Thầy gọi ông Ký nói rằng:

– Ông nên chuẩn bị để tiếp đãi những người bạn thân của ông, họ từ Sai gòn sắp đến rồi đó.

Thêm một phen ông sửng sốt, không hiểu tại sao Thầy lại biết rõ việc này, vì có bao giờ ông nói cho ai nghe việc làm của ông. Đức Thầy nói tiếp:

– Họ đến đủ ba người như trong thư ông đã mời họ.

Quả nhiên đến mười giờ hơn thì có tiếng còi xe hơi trước cổng nhà, ông tự ra mở cổng thì quả đúng ba người bạn của ông, cùng mừng rỡ chào hỏi nhau xong, kế tiếp là bữa cơm trưa, ông Ký nhờ bà mời Thầy dùng cơm chung với khách.

Thường thì Thầy làm việc hoặc nghỉ ngơi ở phòng riêng của Thầy, phòng này bà Ký tự trang hoàng với giường ngủ bằng đồng, bên cạnh kê một cái bàn viết.

Trong bàn cơm thì câu chuyện cũng chưa có gì đặc biệt. Đến khi uống trà thì họ mới vào đề câu chuyện, họ hỏi Đức Thầy:

– Thưa ông, chúng tôi được ông Ký viết thư kể rõ chuyện ông dùng ly nước trà tưới tắt được lửa đang bốc cháy tại kho xăng cách đây một ngàn thước, điều này nghe qua chúng tôi không thể nào tin hay hiểu cho được, vậy có cách nào ông chứng minh cho chúng tôi hiểu được không?

Người kế tiếp nói vào: Hiện giờ khoa học đang trên đà tiến bộ, ông có thấy họ chế ra điện lực, quạt máy, tàu thủy, máy bay, trên đà đưa nhân loại vào cơ khí kỹ nghệ hóa, hoàn toàn khoa học thực nghiệm, còn chuyện của ông có tính cách huyền thoại, làm sao chứng minh được cho mọi người cùng hiểu.

Bởi có túc duyên với Ngài, Thầy nhìn họ cảm thông, ôn tồn nói với mấy vị khách:

– Các ông nên hiểu, khoa học là con đẻ của Phật học, muốn chứng minh sự nhiệm mầu của Phật học thì không thể lấy khoa học thực tiển mà chứng minh được vì khoa học nó chỉ giới hạn trong phạm vi kiến thức của con người, các ông muốn làm gì thì đều lấy trí để suy nghĩ, còn hàng tiến hóa thì có khác hơn.

Các ông khách luôn suy diễn theo khoa học thực nghiệm, họ chưa thấu hiểu lẽ nhiệm mầu của Phật pháp nên họ nói với Ngài:

Việc ông làm, lời ông nói trên phương diện thực tế thì chưa thể chứng minh được, ông hãy xem đây là quạt máy, tôi mở con tắc điện là quạt mát ngay và tôi mở con tắt đèn là có ánh sáng; miệng nói, tay họ hành động, tạo cho căn phòng sáng và mát mẻ, họ hãnh diện nói tiếp với Ngài:

– Đó ông xem, khoa học đã thực tế giúp ích cho đời sống của con người, còn với ông thì ông làm sao? Đức Thầy nhìn họ cảm mến và với giọng từ tốn Ngài nói cùng họ:

– Các ông cần điện đèn mới sáng, quạt mới quay, tôi thì không cần điện cũng vẫn sử dụng các thứ được như thường, các ông tắt hết điện đi, tôi dùng tay chỉ các thứ sẽ hoạt động lại, mà tôi báo trước, sức sáng và sức quay nó tăng lên nhiều lắm.

Nghe qua ai nấy nhìn Ngài với lòng ngờ vực, nhưng rồi họ cũng y lời tắt điện, bóng đèn và quạt trở lại bình thường. Ông Ký ngồi yên không lên tiếng, bà Ký đứng sau lưng hầu Đức Thầy cũng trong tư thế yên lặng lắng nghe sự trao đổi của Thầy với các ông khách.

Liền đó, Ngài dùng ngón tay chỉ bóng đèn, đèn bật sáng, sức sáng tăng gắp bội hơn khi xài điện, và Ngài đưa tay tiếp tục chỉ cánh quạt ở trần nhà, quạt quay với tốc độ thật nhanh, làm cho cánh quạt quằn cong như không còn sức chịu đựng được nữa, làm cho các ông khách sợ hãi, họ vội vàng thưa với Ngài:

– Thưa ông Tư! Chúng tôi đã tin ông là Phật rồi, ông cho nó ngưng giùm lập tức, nếu không, chắc chắn tai nạn sẽ xảy ra!

Buổi trưa hôm đó, các ông khách tắm rửa sạch sẽ, họ nhờ chủ nhà xin phép với Đức Thầy để họ được quy y theo Ngài.

Buổi lễ quy y thật trang nghiêm, ba người khách cùng ông chủ nhà quỳ trước ngôi Tam Bảo, với sự chứng kiến, khuyên dạy của một vị Hoạt Phật lâm phàm tại đất nước Việt Nam.

Hôm đó Đức Thầy có cho các người bài thơ:

Khoa-học đời nay thật khéo cho,

Bày ra cái máy chạy vo-vo.

Tranh quyền tạo-hóa nồng thay lạnh,

Đông-Á lần hồi phụ quạt mo.

***

Có tiền mua lấy cũng nên cho,

Tủ sắt còn đầy còn gió vo.

Nhưng ngặt khan dầu e hết điện,

Trở về lối cũ lượm cau mo.

***

Cau mo chừng ấy đắt tiền cho,

Ngóng cổ thêm dài hút gió vo.

Chủ khách ngẩn-ngơ cơn nóng bức,

Thôi thì “toa mỏa” tạm dùng mo.

(Vịnh Quạt Máy SG TT TB Trang 362)

Tiếp theo Đức Thầy Thuyết Pháp và dạy phương Tịnh Độ cho các người.

Ông ký Võ văn Giỏi được Đức Thầy chỉ cho phương Tịnh Độ, ông hành trì hàng ngày, luôn luôn trì niệm, lúc nào ông cũng mặc chiếc áo tràng dù có khách hay không cũng vậy, và ông thường hay ở riêng trong phòng tịnh niệm của ông.

Thời gian lâu trôi qua, một hôm ông báo cho gia đình hay là ông sắp vãng sanh qua miền Cực Lạc.

Quả đúng ngày giờ như ông đã báo, ông tắm rửa thay đồ sạch sẽ, nằm trên giường xuôi tay chân niệm Phật cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, sắc mặt của ông trông hết sức là an nhiên tự tại. Một điều cần được biết là ông đang khỏe mạnh bình thường chớ chẳng phải đau ốm bịnh hoạn chi hết.

Ông Võ văn Giỏi được Đức Thầy cho bốn câu thơ tại Bạc Liêu ngày 11 tháng 9 năm 1941 nhằm ngày 20 tháng 7 năm Tân Tỵ:

Hào-quang chư Phật rọi mười Phương,

Đạo Pháp xem qua chớ gọi thường.

Chuyên-chú nghĩ suy từ nét dấu,

Cố công gìn giữ tánh thuần-lương.

(Khuyến Thiện Quyển 5)

Mẩu chuyện thứ 7

ĐỨC THẦY ĐỘ CHO NGƯỜI TRUNG HOA

Năm Ất Dậu (1945), Đức Thầy trên đường Khuyến Nông và vân du thuyết giáo, lần khởi hành từ Long Xuyên đến Rạch Giá, xe của Đức Thầy ngồi do Bác Sĩ Trần Lũy lái, tháp tùng theo Thầy với một chiếc xe khác nữa gồm có ông Phan Thành Vọng và các vị đồng đạo. Xe của Đức Thầy đi trước, còn xe của ông Vọng đi sau.

Xe vừa đến thị xã Mông Thọ, Đức Thầy gọi ông Bác Sĩ Lũy dừng xe lại, Thầy mở cửa bước xuống, Ngài bước vào quán bên vệ đường rồi ôn tồn nói với người chủ quán:

– Này cô chủ quán! Cô vui lòng cho tôi gởi bánh xe lại đây, nếu một lúc nữa có chiếc xe Traction nào ngừng tại đây, xe bị bể bánh, thì cô nói cho họ biết là tôi có gởi cái bánh xe để cho họ thay.

– Anh nói như vậy thì tôi biết ai đâu mà nói cho họ thay bánh xe, còn xe cộ chạy dập dìu thì biết ai đâu bị bể bánh mà hỏi.

– Không! Xe chạy thì nhiều, nhưng khi có xe nào bể bánh ngừng tại đây, thì cô chịu khó lăn bánh xe này ra để cho họ thay, rồi cô lấy tiền công.

– Thôi! Anh nói vậy thì hay vậy, anh cứ để đó đi.

Cô không nói gì thêm nữa. Lúc bấy giờ Bác Sĩ Lũy có thái độ giận ra mặt, liền theo đó Đức Thầy bảo:

– Thôi thì chúng ta lên đường.

Khi Thầy bước lên xe, lúc ông Lũy chưa kịp mở máy thì Thầy nói:

– Cái chuyện nhỏ như vậy mà ông cũng nóng giận nữa sao?

– Thưa Thầy không giận sao đặng! Cái tuổi của con cở nào rồi, mà con còn kêu Thầy bằng Thầy, còn tuổi của nó bao lớn mà gọi Thầy bằng anh. Vậy mà không giận sao được!

Đức Thầy cười mà rằng:

– Tuổi của tôi và tuổi của cô ấy gần bằng nhau, người ta không quen biết thì kêu bằng anh là phải rồi, đâu có lỗi gì trong cách xưng hô, còn giữa tôi với ông là tình thầy trò, ông là đệ tử, tôi là thầy, ông gọi tôi bằng Thầy là phải, còn tôi đâu phải là thầy của người ta, chuyện nhỏ như vậy mà cũng giận nữa sao? Thôi mở máy xe đi!

Ông Lũy lái xe trên đường đi Rạch Giá.

Theo đây, nhắc đến chiếc xe đi sau, gần đến chợ Mông Thọ thì xe bị nổ vỏ, xe giảm tốc độ và ngừng lại được thì đúng ngay trước cửa cô chủ quán. Ông Phan Thành Vọng lo sợ vì biết không có vỏ nào khác để thay, như vậy là phải nằm lại đây rồi, ông Vọng ngó trước, ngó sau, trông có xe nào về Rạch Giá hoặc trở lại Long Xuyên để vá vỏ xe, ông lo lắng chạy tới chạy lui.

(*) Ai mà biết ông Vọng, thì hiểu với bộ tướng của ông trông phải tức cười, bởi ông là võ sĩ, khi nói chuyện hay ra bộ tịch.

Lúc nầy cô chủ quán trông thấy có chiếc xe xẹp vỏ đang dừng trước quán của cô thì cô mới bước ra gọi ông Vọng:

– Nè ông! Hồi nãy có anh Thanh niên, dừng xe tại đây, anh có gởi cho tôi một bánh xe và bảo tôi, khi nào có chiếc xe hư vỏ ngừng tại đây thì lăn bánh xe này ra cho họ đặng lấy tiền công. Vậy có phải chiếc xe của ông hay không?

Ông Phan Thành Vọng nghe nói vậy thì giật mình, ông châu mày lại, vội vàng hỏi người Thanh niên đó ra sao? Cô chủ quán mới trả lời rằng:

– Anh nầy rất đẹp trai, trắng cao ráo và tóc để gần ngang vai. Ông Vọng vô cùng mừng rỡ:

– Vậy là Thầy của tôi rồi! Sao Thầy tôi biết mà gởi bánh xe cho cô!

Ông vội lăn bánh xe, thay xong, ông lấy tiền trả công cho cô chủ quán. Cô chủ quán nói:

– Thưa ông! Tôi đâu có công cán gì mà lấy tiền của ông, nhưng tôi có điều thắc mắc xin ông giải đáp cho, anh Thanh Niên kia còn trẻ, ông thì lớn tuổi hơn, mà ông nói ông đó là Thầy của ông, theo tôi thấy Thầy chùa thì cũng không phải Thầy chùa, Thầy thuốc thì cũng không phải Thầy thuốc. Vậy chớ ông đó là Thầy gì của ông?

– Cô à! Từ trước tới giờ cô có nghe nói đến ông Tư Hòa Hảo chưa? Đức Thầy của chúng tôi mà người đời thường gọi là ông Tư Hòa Hảo đó! Tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo là đệ tử của Đức Thầy chúng tôi!

– Vậy sao? Tôi đã nghe lừng danh ông Tư Hòa Hảo mà tôi chưa biết mặt, đến hôm nay mới có cơ hội cho tôi được biết mặt Ngài; nhưng thưa ông, vậy chớ ông Tư đi đâu vậy?

– Thầy tôi đi thuyết pháp Khuyến Nông ở Rạch Giá.

– Thưa ông! Như tôi có thể được đến nghe thuyết pháp chăng?

– Đó là điều tốt lắm chứ! Chúng tôi còn phải cổ động bà con đi nghe Thuyết pháp, nếu cô muốn đi nghe thì sáng sớm ngày mai, tôi sẽ ra đây đón cô đi nghe, để tôi đền ơn cô giữ bánh xe cho tôi.

– Nếu được như thế thì may cho tôi quá.

Nói xong ông từ tạ cô chủ quán, lên xe tiếp tục đi mà lòng của ông phát sinh cảm tình sâu xa với cô chủ quán. Khi đến nhà riêng của Bác Sĩ Trần Lũy, ông gặp lại Đức Thầy, chắp tay xá Ngài và tường thuật lại câu chuyện, ông nói tiếp:

– Thầy ơi! Nếu không có bánh xe Thầy gởi, thì giờ này tụi con cũng còn ở nơi đó, chớ làm sao gặp được Thầy!

Đức Thầy cười, Ngài bước đến vỗ vai ông mà rằng:

– Chuyện có một chút vậy mà ông cũng đem lòng thương!

Rồi Ngài tiếp:

– Tôi cho ông biết nghe! Thương cũng khổ, mà ghét cũng khổ đó nghe! Hai cái thương, ghét đều khổ cả.

– Cô đó có cảm tình quá mà không thương sao được Thầy!

Đức Thấy mới nhấn mạnh:

– Thương cũng khổ, mà ghét cũng khổ.

Rồi Ngài tiếp tục giảng thuyết cho mọi người cùng nghe, riêng ông Bác Sĩ Trần Lũy và ông Phan Thành Vọng thì thắm thía gật gù suy nghĩ qua bài Pháp vô thượng của Đức Thầy.

Theo lời hứa, sáng hôm sau, ông Phan Thành Vọng lái xe ra Mông Thọ rước cô chủ quán vô Rạch Giá. Tại sân vận động, người ta đến nghe Pháp thật là đông. Sau buổi thuyết pháp Khuyến Nông, mọi người tan dần ra về, còn cô chủ quán được theo đến nhà riêng của Bác Sĩ Trần Lũy. Lúc đó cơm nước mới dọn ra, Đức Thầy chưa kịp dùng, thì cô chủ quán đến. Thầy đưa mắt hướng về cô chủ quán với ánh mắt vô cùng từ dịu và lời nói ôn tồn, Thầy hỏi:

– Hôm nay cô đến đây, có muốn bàn thêm việc gì và cô cần việc chi?

Cô chủ quán chắp tay thưa:

– Bạch Thầy! Con đến xin phép Thầy cho con được quy y.

– Quy y tu hành là điều tốt! Cô hãy đến trước ngôi Tam Bảo, tôi đọc như thế nào thì cô đọc theo như vậy, rồi y theo đó mà tu.

Sau khi làm lễ phát nguyện quy y cho cô rồi, Đức Thầy kêu ông Bác Sĩ Lũy bảo cho cô chủ quán một bức Trần Dà, một quyển sách nhỏ rồi dặn cô về coi theo đó mà tu. Xong rồi, nhưng thấy cô do dự, như còn cần thêm điều gì, thấy thế Đức Thầy hỏi:

– Cô có cần thêm gì nữa, cô cứ nói.

– Bạch Thầy! Hôm nay quy y theo Phật là một điều hết sức may mắn cho con, còn riêng thân tộc của con, chưa ai biết đạo đức chi cả, họ đang sống ở Chợ Lớn Bình Tây, có cách nào chuyển họ đến diện kiến với Thầy để họ được quy y theo Thầy.

– Thôi! Phần của cô, cô lo, còn phần của giòng họ để giòng họ lo, cô nên nhớ, đầu ai chí nấy, cô khỏi phải bận tâm lo cho người ta. Làm việc giác ngộ cho đời là tốt đó. Tôi nói cho cô biết, cả thân tộc của cô, họ không chịu quy y theo tôi đâu, họ nói, chừng nào tôi nói được tiếng Tàu thì họ mới chịu quy y theo tôi.

Cô chủ quán suy nghĩ, tại sao Đức Thầy biết rõ giòng họ của mình và mình là người Tàu. Cô cáo từ ra về, thẳng đường cô đi luôn về Chợ Lớn.

Gặp thân nhân cô tường thuật lại việc đã xảy ra, và khuyến khích mọi người nên theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Họ trả lời với cô: “Họ có nghe nói đến Đức Thầy lâu rồi, nhưng tất cả đều cho Thầy là người không có học nhiều, tuổi trẻ, sức hiểu biết chưa chắc gì bằng được họ, và họ còn nói, chừng nào Thầy nói đươc tiếng Tàu là họ chịu quy y theo Ngài”.

Cô chủ quán với một lòng tha thiết kêu gọi hãy cứ đến gặp Đức Thầy một lần thôi rồi có theo Đạo hay không theo cũng không sao. Cuối cùng, bởi nể lời trong thân tộc, họ miễn cưỡng đồng ý đi đến gặp Đức Thầy.

Dẫn đầu trong đoàn 17 người là ông tên Nghí, họ tiến về xã Hòa Hảo. Dường như sẵn có túc duyên với Phật, nên Đức Thầy có dịp ghé lại Tổ Đình trên chuyến đường đến Tân Châu Thuyết Pháp. Họ đến nơi thì Thầy từ Tổ Đình bước ra, Ngài chắp tay cúi đầu, người đi đầu là ông Nghí, tay ôm nhang đèn cũng như họ đi cúng chùa vậy. Sau đó Đức Thầy đứng xuôi tay nhìn thẳng về phía họ, ôn tồn Ngài nói một tràng dài tiếng Tàu. Ai nấy nghe xong, ông Nghí buông nhang đèn xuống đất, quỳ lạy Đức Thầy giữa lộ nhiều lạy đến khi Thầy kịp đỡ họ dậy và mời họ vô nhà, trao đổi câu chuyện hồi lâu, tất cả đều xin quy y theo Thầy. Riêng ông Nghí xin được ở lại với Đức Ông một thời gian và sau đó ông đem cả gia đình về lập nghiệp tại xã Hòa Hảo. Ông Nghí cũng là một người Tàu rất thân với Đức Ông thân sinh của Đức Thầy.

PHẦN NHẬN XÉT:

Tâm của một vị chứng đắc, tình thương lúc nào cũng ban rải khắp mọi nơi, tùy duyên mà hóa độ cho muôn loài. Đức Thầy biết rõ tâm tính của người Tàu, có sự tự hào về chủng tộc cũng như ngôn ngữ, muốn cho quy phục Phật Pháp thì Ngài phải dùng ngôn ngữ của họ. Ngài không phân biệt chủng tộc, dưới mắt của Ngài, mọi người, mọi sinh vật đều bình đẳng, Ngài nhìn cái tâm, cái Phật tánh đồng nhất thể của mọi loài.

Người ta lấy làm lạ giữa sự đối đáp của Đức Thầy với nhóm người Tàu, tại sao mới chỉ mấy câu nói của Ngài mà làm cho tất cả những người Tàu này đều quỳ lạy tín phục, trong khi Ngài là một người hết sức trẻ tuổi và thật là quá xa lạ đối với họ.

Nguyên khi được cô em gái cho biết là đã có vị Phật ra đời, kêu gọi họ quy y tu hiền theo Phật Đạo, thì trong nhóm mới thảo luận với nhau: “Mình đã có Đạo Nhân của Đức Khổng Tử, vang danh khắp thiên hạ, hơn thế nữa, đạo Nhân đã ra đời từ lâu thì cần gì học theo Đạo Phật. Họ cho đạo Nhân đã quá đủ rồi và còn hơn cả đạo Phật, tại sao lại phải bỏ cái cao để đi tìm cái thấp, chỉ vì nể tình cô em gái mà cùng nhau đến gặp Đức Thầy”.

Nhưng khi gặp Đức Thầy rồi, lời nói đầu tiên của Ngài đã giải tỏa cho họ cái cao ngạo, dị biệt cố hữu ở trong lòng và cùng lúc Đức Thầy vạch rõ cho họ con đường Phật Đạo mà họ cần thiết phải bước đi, và chỉ có con đường duy nhứt nầy mới mong đạt được quả vị Phật, mới thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Ngài thấu hiểu tâm tư, giải đáp tất cả uẩn khúc trong lòng họ cùng một lúc, trong khi họ chưa một lần mở lời cùng Ngài, thì thử hỏi làm sao họ lại không tín phục cho đặng.

Chúng ta đã theo Phật Đạo, tức là chúng ta theo con đường của Phật đã đi qua, chắc ít nhiều gì hành giả cũng rõ biết đâu là túc duyên với Phật Pháp. Kể từ chuyện Đức Thầy biết rõ xe của ông Phan Thành Vọng bể vỏ trước quán của cô gái người Trung Hoa mà cô và tộc họ của cô có túc duyên cùng Ngài, họ sẽ quy y theo Đạo Phật.

Ngài biết rõ con đường của chúng sanh đang đi và sẽ đi và với Lậu Tận Thông thì Ngài hiểu rõ từ nhiều tiền kiếp những người Tàu này đã có duyên nghiệp cùng Ngài, nên Ngài đã ra công độ cho họ vậy.

Duyên lành rõ được Khùng Điên,

Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần.

(Viếng Làng Mỹ Hội Đông) SG TT TB Trang 243

Mẩu chuyện được chép từ băng nhựa theo lời thuật của Tu Sĩ Nguyễn văn Điềm.

(*) Ông Phan Thành Vọng người gốc Rạch Giá, sau khi Đức Thầy ra đi. Ông về ở Long Xuyên. Ông Vọng có lập Đại Đội Bổ Túc ở Long Xuyên.

Mẩu chuyện thứ 8

CẢI TỬ HUỜN SANH

Sau ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Đức Thầy vừa Thuyết Pháp độ đời, vừa dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh, khiến nhiều người được mạnh mà cảm đức từ bi cao cả của Ngài và phát tâm tu niệm. Họ đã được Pháp Vũ rưới mát cõi lòng, nên sự phát tâm càng lúc càng thêm đông đảo, khiến nơi Tổ Đình người người vào ra tấp nập. Lúc ấy ở Tân Châu có người tên Sinh, anh nầy rất nghèo nhưng hiền hậu. Một hôm vợ anh mắc bịnh dịch tả nặng, anh chạy chữa hết phương mà bệnh càng nặng thêm. Nghe người chỉ ở Hòa Hảo có ông Tư mới ra đời trị bịnh rất hay, trị đâu hết đó.

Anh sinh bèn chèo ghe đưa vợ đi xuống Hòa Hảo. Vì thấy bịnh vợ quá nặng nên anh rán hết sức chèo nhanh cho mau tới. Ghe cặp bến Tổ Đình, anh lập tức vô mui cõng vợ lên, nhưng anh hoảng hốt vì chị đã chết.

Còn nỗi khổ nào hơn cảnh tử biệt của người vợ son trẻ, anh buồn tuyệt vọng. Ra lái ghe định nhổ sào lui về lo ma đám cho vợ. Bỗng nghe tiếng gọi từ trên bờ:

– Thôi! Anh khoan về, hãy đem vợ lên đây tôi trị cho.

Anh Sinh trả lời với vẻ thất vọng:

– Vợ tôi đã chết rồi ông à!

– Không sao, cứ đem vợ anh lên, tôi cứu cho.

Không nỗi mừng nào hơn, anh Sinh đã được Tiên Phật cứu khổ cho gia đình mình, nên anh đem vợ anh lên nhà sau, đặt chị vào bộ ván.

Mọi người có mặt nơi Tổ Đình lúc này đều đổ xô tới nhìn. Họ rất ngạc nhiên, không hiểu Đức Thầy cho đem cái xác chết vô nhà làm gì, nhứt là Đức Ông. Bởi nhà đương cuộc Pháp thuộc thời ấy vốn là con chim sợ tên, chuyện quần tụ đông đảo ở Tổ Đình và cử chỉ vượt hẳn với kẻ tầm thường của Đức Thầy, làm sao họ không khỏi lo sợ cho địa vị của họ bị lung lay. Nên uy tín của Ngài càng tăng cao là họ xem như chiếc gai trước mắt, lúc nào họ cũng muốn nhổ. Thế mà hôm nay Đức Thầy lại đem xác chết vô nhà, sao khỏi chuốc họa vào thân. Đức Ông tỏ vẻ khó chịu, đi tới đi lui, muốn nói lên chỗ dị đồng này, nhưng dường như có một mãnh lực nào khiến ông không thể nói. Còn Đức Thầy thì rất tự nhiên, Ngài lấy cái tô đưa cho anh Sinh, bảo:

– Anh hãy xuống mé sông, niệm Phật rồi múc xuôi theo giòng nước một tô đem lên đây.

Vì quýnh quá, anh Sinh quên nên múc ngược nước đem lên.

Ngài bảo:

– Anh múc tô khác đi, vì tô này anh múc ngược nước rồi.

Anh Sinh nhớ lại giựt mình, liền tiếp lấy cái tô chạy nhanh xuống mé sông, niệm Phật rồi múc xuôi nước đem lên.

Đức Thầy phun từ đầu đến chân chị Sinh. Lạ thay, màu da xám của chị bỗng trở nên hồng hào, rồi chị từ từ thở nhè nhẹ. Thế là chị Sinh sống lại và lành mạnh như thường.

Anh Sinh mừng ríu rít. Vợ chồng đồng tạ ơn Thầy, và phát nguyện quy y.

Thuật theo lời của ông Lê Văn Phú tự Tho.

Mẩu chuyện thứ 9

DẠY ĐẠO CỨU ĐỜI

Vào khoảng mùa hè năm Canh Thìn (1940), Đức Huỳnh Giáo Chủ đang lưu trú tại nhà ông Hương Bộ Võ Mậu Thạnh ở Rạch So Đũa, thuộc làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ.

Tại đây Ngài tiếp tục phát phù trị bệnh, bá tánh và tín đồ xa gần tới lui tấp nập.

Hôm ấy có quý ông Hương Quản Chiến xã Phú Thành, Hương chủ Lâm Thơ Cưu xã Mỹ Hội Đông và ông Cả Hân ở xã Long Kiến, cùng một số tín đồ từ Long Xuyên, Châu Đốc đến viếng Đức Thầy. Suốt ngày người ta kéo đến nhờ Đức Thầy trị bịnh không ngớt. Sau đó Ngài đem lời đạo lý ra bày giải, khuyến khích mọi người lo tu hành để thoát khỏi sự khổ triền miên từ kiếp này qua kiếp khác. Có đoạn Ngài nói:

– Tôi có bổn phận dạy đạo để cứu đời, chớ không phải trị bịnh cứu đời, nhưng bá tánh không hiểu cứ kéo lại xin thuốc, xin bùa mãi, buộc lòng tôi tạm dùng ít giấy vàng, lá cây, nước lạnh mà giúp đỡ họ, để họ có dịp gần gũi và nghe lời đạo lý mà tu hành, thoát khổ, chớ sau này số người mắc bịnh có lúc đông không thầy thuốc nào cứu kịp.

Nói đến đây Ngài đưa bàn tay trái lên và điểm từ ngón mà nói rằng:

– Nếu bây giờ bá tánh không tu, chừng sau đúng thời kỳ rồi con Phật Phật dắt, con Ma Ma bắt, con Quỉ Quỉ diệt.

Thuật theo lời ông Huỳnh Hữu Hạnh, tự Hương Quản Chiến.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đức Thầy cho biết nhiệm vụ của Ngài là dạy Đạo để cứu đời. Thật vậy, các Đấng cứu thế bao giờ cũng chú trọng vào việc đưa chúng sanh ra khỏi sông mê trở về bờ giác, mới vĩnh viễn an vui. Thế nên lòng từ ái chứa chan của bậc Đại Giác như Ngài thì bao giờ cũng muốn cắt đứt cái khổ sanh tử triền miên mà đưa con người đến chân hạnh phúc.

Ngài đã từng phán dạy:

“Dìu nhơn-sanh khỏi chốn mê lầm,

Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới”

(Gởi Bác Sĩ Cao Triều Lợi ở Bạc Liêu)

Nhưng vì chúng sanh mê nhiễm quá nhiều, họ luôn chú trọng đến bản thân, muốn có được trường tồn, nên rất sợ sự chết chóc, ốm đau. Còn về tâm linh thì không biết vun bồi đức hạnh.

Biết rõ tâm bịnh của chúng sanh nên Ngài tùy cơ hóa độ, thật vậy, bởi biết dùng pháp Tam Độ Nhứt Như mà đã đưa họ từ chỗ khỏi bịnh khổ mới cảm kích đức ân của Ngài. Có cảm kích đức ân, họ mới dễ thắm nhuần Pháp vũ. Bởi Ngài khéo dùng phương tiện nhiếp hóa nhơn sanh, nên chỉ một thời gian ngắn mà số chúng sanh được Ngài hóa độ không sao đếm tính, và Ngài còn cho biết ở đoạn sau này, nếu ai tu hành chơn chánh sẽ được Phật dắt dìu vì là con của Phật. Còn người chạy theo dị đoan mê tín, tin tưởng tà mị sẽ về với cõi Ma, và sẽ không có lòng nhân, tạo nhiều điều ác, thì là con Qui sẽ bị Quỉ diệt.

Nói tóm lại, Ngài khai minh Chánh Giáo là gì một nhiệm vụ thiêng liêng cao cả, đem Chánh Pháp để độ chúng sanh thoát khỏi vòng trầm luân oan nghiệt.

Còn việc chữa bịnh giúp đời là phương tiện để độ kẻ nghiệp nặng tình sâu. Bởi người được độ thoát sanh tử mới hoàn toàn hết khổ, còn kẻ được cứu khỏi bịnh thân thể chỉ là một giai đoạn tạm thời chớ làm sao mà hết khổ được.

Tuy nhiên Ngài phải dĩ huyễn độ chơn, về điểm này Ngài có dạy ở bài Sứ Mạng:

– Trên thì nói Phật Pháp cho kẻ có lòng mộ đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của chư vị với Trăm Quan.

Ta có phúc duyên nên mới gặp Giáo Pháp của Ngài, vì đó là một Đại Chu Thoàn, có hiệu năng đưa người qua bể khổ. Thế nên ta gấp rút tu hành kẻo tử thần không hẹn.

Mẩu chuyện thứ 10

LỜI DẶN DÒ CỦA ĐỨC THẦY

Ông Út (Ông Út là chú ruột của Đức Thầy tên Huỳnh văn Quốc) có kể mẩu chuyện lúc Đức Thầy còn ở Tổ Đình.

Đức Thầy dắt ông Út ra cây dầu sau hè Tổ Đình. Ngài Nói:

– Sau này tôi vắng tín đồ tôi thời gian rất lâu. Chừng nào chết chôn không kịp tôi mới về.

Đức Thầy nói tiếp:

– Lúc ấy Ông hãy dùng lu mái giú để đựng nước, tôi múc cho bịnh nhân uống, nước gánh không kịp, múc không xiết. Tôi múc nước rưới trúng ai thì hết đó. Đây là giai đoạn tôi cứu tín đồ tôi, sau đó tôi vắng mặt mười ngày cho tín đồ tôi trả quả. Lúc ấy trời đất tối thui, Năm Chèo xuất hiện, trên rừng núi thì thú dữ tràn xuống ăn thịt người không xiết.

Thú thì con xé con lôi,

Con giành con giựt ăn thôi muôn trùng.

Ông Út hỏi:

– Như vậy thì ai nó cũng ăn sao Thầy?

Thầy đáp:

Người tu thú ấy cúi đầu,

Người không tu niệm ngõ hầu nó ăn.

Thầy nói tiếp:

– Nữa nước ngập tới hai cây dầu này.

– Như vậy chết hết sao Thầy?

– Không sao, chừng ấy Văn Thù Bồ Tát xuống cứu vớt. Sau đó Trời đốt lửa tẩy trần cháy lụn xuống ba tấc và đất đỏ như gạch. Sau ngày tận thế Hạ Ngươn, Phật Trời sẽ dùng phép mầu lập lại Thượng Nguơn.

PHẦN NHẬN XÉT:

Mỗi vị Phật hay vị Giáo Tổ lâm phàm đều có sứ mạng thiêng liêng, mà sứ mạng đó không ngoài sự cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Bởi vì Phật thì lúc nào cũng đầy lòng từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ. Mặc dù có sẵn lòng bác ái, vị tha chứ không thể bôi xóa được ác nghiệp quá nhiều của chúng sanh ở vào thời cùng cơ tận pháp. Bài Sứ Mạng, Ngài có dạy:

– Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên.

Tuy nhiên Phật ái chúng sanh như mẫu ái tử, có bà mẹ nào lại muốn cho con phải khổ, nhưng nếu con không nghe lời mẹ cứ làm quấy, để phải tội thì mẹ cũng không thể bênh vực được. Cũng như trường hợp của Đức Thầy, dù rằng Ngài quá thương chúng sanh mà phải lâm phàm độ thế, nhưng Ngài chỉ báo trước cái khổ phải đến với chúng sanh, và chỉ con đường giải khổ bằng cách là phải tu thân hành thiện.

Bởi vì:

Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,

Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.

Và:

Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,

Người tu niệm sống đời thượng cổ.

(Quyển 2: Kệ Dân Của Người Khùng)

Nếu chẳng tu thân hành thiện hoặc tu mà chẳng thiệt tâm trau sửa thì dù Ngài có quảng đại thần thông cũng không sao cứu được. Huống chi đây là cơ tận diệt, cuộc diễn biến của đại tam tai, mà mình không lo tu tỉnh thì có Phật nào sửa luật nhân quả cho mình.

Về điểm này, Đức Thầy khuyến nông tại Châu Đốc, thuyết pháp xong, ông Viễn liền hỏi Đức Thầy:

– Thưa Thầy, Hội Long Hoa thì Thầy chọn lựa những người hiền, nhưng sao con thấy hiện giờ, hung hiền lộn xộn quá thì làm sao mà chọn?

Thầy nói:

– Đến chừng đó quả đất này sẽ là: Cảnh hồng trần tợ biển mênh mông.

– Bạch Thầy! Vậy hung hiền chết hết sao?

Đức Thầy đáp:

– Đừng lo, cứ tu đi, vì đến chừng đó người tu thật sẽ có:

Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,

Chèo thuyền Bát-Nhã cứu thì trần gian.

Gió đưa lướt sóng buồm loan,

Rước người tu niệm xê-xang phỉ tình.

(Quyển 3: Sấm Giảng)

– Vậy các ông hãy lo tu tập thật đi, thì sẽ có ngày Văn-Thù rước chớ lo gì.

Là tín đồ ngoan đạo ta phải tuân thủ theo lời vàng ngọc của Đức Tôn Sư, thì lo chi ngày Long Hoa không có mặt.

Mẩu chuyện thứ 11

CON THEO THẦY

Vào năm 1987 tôi có đến Bạc Liêu để viếng lại ngôi nhà của bà Ký Giỏi và quí bà, quí cô. Lúc ấy tôi được nghe bà Ký Nhu kể lại chuyện như sau:

Lúc Đức Thầy đi Khuyến nông năm 1945, sau buổi Thuyết Pháp tại Tân Châu, anh em tín đồ tụ họp quanh Đức Thầy khá đông. Bỗng Thầy đưa tay lên hỏi lớn:

– Ai muốn theo Thầy?

Tất cả đồng thanh ứng tiếng:

– Con theo Thầy, con theo Thầy!

Đức Thầy không nói gì hết, bỗng 15 phút sau có tiếng còi báo động. Vì lúc đó lộn xộn lắm, mỗi lần có tiếng còi báo động thổi, thì có giặc, hoặc đồng minh dội bom. Thế nên nghe tiếng còi báo động, mạnh ai nấy chạy trốn. Lúc này anh em đồng đạo chạy tản lạc hết, chỉ còn lại bà Ký Nhu và ba bốn đồng đạo còn ngồi chung quanh Đức Thầy. Đức Thầy hỏi:

– Sao mấy bà con không chạy theo người ta đi?

Cô Ký Nhu bạch:

– Bạch Thầy! Chúng con theo Thầy, Thầy ở đâu chúng con ở đó.

Đức Thầy cười mà nói:

– Mấy bà con biết không, mới lúc nãy theo Thầy đông quá, mà bây giờ có chuyện bỏ Thầy cũng đông.

Thuật theo lời bà Ký Nhu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thật câu nói của Đức Thầy rất sâu xa. Bởi biết trước là Ngài sẽ vắng mặt và khi đó, các tín đồ phải chịu nhiều trận phong ba. Câu nói của Thầy tuy ngắn gọn mà hàm chứa ý nghĩa rất sâu xa. Thật vậy, nước có loạn mới biết tôi trung, nhà có nguy mới hay con thảo. Thời gian vắng mặt khá dài của Đức Thầy là một cuộc thi cử có giá trị vô cùng. Bởi Ngài vắng mặt chớ Giáo Lý của Ngài vẫn còn đây. Thế mà cũng có nhiều người chạy đi nơi khác, hoặc gặp thời pháp nạn thì thối chí nãn lòng, rồi không giữ dạ trung kiên cùng đạo cả, nỡ phụ ơn khai hóa của Tổ Thầy, mà để mặc cho danh, lợi, tình quyến rủ, đành bỏ cội quên nguồn, đến khi biết mình sa hầm sập bẫy mới hối tiếc thì đã quá muộn màng.

Vậy hỡi ai là người sáng ngoan và trí giác, khi đã gặp Giáo Lý cùng đấng Từ Bi, nên cố gắng thi hành câu:

Chánh Tinh-Tấn dù thành hay bại,

Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.

Dầu cho ai phá rối đức tin,

Ta cũng cứ một đàng đi tới.

(Quyển 4: Giác Mê Tâm Kệ)

Mẩu chuyện thứ 12

ĐỨC THẦY UỐNG NƯỚC ACID

Vào khoảng cuối năm Canh Thìn nhà cầm quyền Pháp dời Đức Thầy đến nhà thương Chợ Quán. Chúng ác tâm muốn ám hại Đức Thầy bằng cách ném đá giấu tay.

Một hôm tên quan Ba Pháp kêu Bác Sĩ Trần văn Tâm mà trao ly nước acid bảo cho Đức Thầy uống. Ông Tâm tiếp ly nước acid, đến gần Đức Thầy rồi nhìn ly thuốc độc ấy, có vẻ buồn vô hạn. Ông dư hiểu là không một ai có thể uống một phần mười của ly thuốc này mà sống được, nên ông không nỡ xuống tay, nhưng cũng không có cách nào cãi lịnh của kẻ cường quyền. Đức Thầy muốn cởi mở sự khổ tâm của ông Tâm, liền tươi cười bảo:

– Ông đem thuốc bổ cho tôi uống đấy à? Được! Cứ đưa tôi uống.

Vừa nói Ngài đưa tay tiếp nhận ly acid, ông Tâm miễn cưởng đưa cho Thầy, với một tâm hồn đau khổ hiện ra mặt.

Uống xong Đức Thầy nằm ngủ một giấc. Thức dậy nhìn ông Tâm và cười nói:

– Bác sĩ cho tôi ly thuốc bổ khi nãy thấy trong mình tôi khỏe quá.

Ông Tâm rất đỗi ngạc nhiên và kính phục Ngài vô cùng, thật ngoài sức tưởng tượng của nhà khoa học. Còn đang miên man suy nghĩ thì Đức Thầy kêu ông Tâm nói tiếp:

– Bác sĩ, ông đi trị bịnh cho người ta chớ vợ của ông ở nhà đang mắc bịnh nan y, chẳng những ông không trị được, mà các Bác sĩ khác cũng đều bó tay. Thế nên tôi không nỡ uống hết, mà còn chừa lại một phần tư đây, ông cứ đem về cho vợ ông uống thì mạnh liền chứ không sao đâu.

Vì quá khâm phục Đức Thầy, ông Tâm liền tiếp nhận ly nước acid đem về. Đứng bên cạnh giường bịnh của vợ, ông gọi:

– Bà ơi! Ngủ thức?

Với giọng nói yếu ớt mệt nhọc, bà Tâm trả lời:

– Thức!

– Thuốc đây bà uống đi!

Bà Tâm vừa đưa tay nhận thì ông Tâm giựt lại. Với giọng nghẹn ngào ông nói:

– Bà ơi! Giữa tình nghĩa vợ chồng, từ khi bà lâm bịnh đến nay, tôi cũng hết lòng lo chạy chữa, nhưng kết quả chỉ thất vọng mà thôi. Hôm nay tôi đi làm việc, vừa chứng kiến cảnh kỳ lạ. Bà biết ly này là ly gì không? Không đợi bà trả lời, ông nói:

– Đó là nước acid!

Bà Tâm lặng lẽ nhìn chồng để chờ nghe rõ câu chuyện, ngừng một lúc ông tiếp:

– Bà biết không, hồi sáng này, tên quan ba Pháp đưa ly nước acid, bảo tôi phải cho ông Đạo ở tỉnh Châu Đốc, thôn Hòa Hảo phải uống, mà chúng bảo là bịnh thần kinh, nhưng theo dõi ông, thì tôi không thấy ông bịnh chút nào cả, chỉ thấy ông có một phong độ khả kính, những nét thông minh và sắc thái vượt hẳn người thường. Ngoài những điểm ấy ông lại làm nhiều việc tôi nghĩ không phải là hạng phàm tình. Bà biết không, khi ông uống nước acid vô chẳng những ông không chết như kẻ khác, còn cho là bổ khỏe và biết là ở nhà Bà bị bịnh nan y, bảo tôi đem về cho bà uống sẽ hết. Nhìn vợ, ông Bác sĩ tiếp, ai cũng biết thứ này là thứ giết người, nhưng bịnh của bà thì tôi thấy không thể sống được nên tôi muốn cho bà uống, may ra Trời Phật nhỏ phước cho bà hết bịnh thì hạnh phúc biết bao. Vì tôi tin rằng ông Đạo ấy là bậc Tiên Phật thị hiện để cứu khổ cho gia đình mình. Tuy nhiên, cầm ly thuốc độc đưa cho bà, tôi thấy lòng còn lo sợ. Vậy theo ý bà thì sao? Cho tôi biết với!

Bà Tâm tỏ vẻ vui tươi:

– Nếu vậy ông cứ đưa tôi uống đi, có lẽ Trời Phật ban phước cho gia đình ta. Tôi uống ly thuốc này có chết cũng vui, chớ ông nghĩ coi, sống làm chi để kéo dài sự đau khổ cho thân mình luôn cả chồng con. Thà uống, theo tôi thấy đây là cơ hội ngàn năm một thuở, nếu có chết linh hồn cũng được an vui.

Nói xong bà Tâm tiếp lấy ly thuốc đưa lên trán khấn nguyện rồi uống vào, trong khi ông Tâm nhìn vợ có vẻ bồi hồi lo sợ. Một lát sau ông hỏi vợ:

– Có gì lạ không bà?

Bà Tâm nói:

– Thấy khỏe lắm, bịnh của tôi giảm nhiều rồi.

Ông Tâm mừng rỡ vô hồi. Rồi sau bà Tâm hoàn toàn lành bịnh hẳn.

Thuật theo lời Ông Lê văn Phú.

*- Lời phụ chú của nhóm kết tập: Về việc Đức Thầy uống nước Acid, có một vài người chứng kiến và xác nhận, đó là con ông Thầy thuốc Tâm đang cư ngụ tại Pháp Quốc và cháu ngoại cô Ba Bắc (cô Ba Bắc là người đã chăm sóc cho Bà Thầy thuốc Tâm trong lúc Bà đang bệnh) Con ông Thầy thuốc Tâm và cháu ngoại cô Ba Bắc có đến Hội Quán Miền Nam California xác nhận việc Đức Thầy uống nước Acid.

Mẩu chuyện thứ 13

CẤM THỌ THỰC BA NHÀ

Theo lời ông Lê văn Lưu ngày 22 tháng 9 Tân Tỵ (1941). Chính ông được nghe ông Cao Bá Hấn thuật lại.

Ông Cao Bá Hấn là tín đồ thường gần gũi Đức Thầy với nhiệm vụ thơ ký. Một hôm ông Hấn ngỏ ý hỏi Đức Thầy về vấn đề xử thế tiếp vật. Phải làm thế nào cho đúng với tư cách của người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, và nên giao tiếp với những hạng người nào trong xã hội?

Lúc ấy đến buổi dùng cơm. Đức Thầy nghiêm nghị nhìn ông Cao Bá Hấn phán dạy:

– Tôi cấm ông không được dùng cơm ở ba nhà.

Ông Hấn ngạc nhiên nói:

– Bạch Thầy, có biết bao nhiêu nhà trên đất này, Thầy cấm có ba nhà thì làm sao con tránh.

Đức Thầy dạy:

– Ông nhớ nghe, ba nhà là: Một nhà buôn bán súc vật, hai nhà chuyên nuôi súc vật, ba nhà làm nghề hạ bạc. (chài, câu, lưới bắt tôm cá).

Thời gian ít lâu sau, ông Cao Bá Hấn ghé thăm nhà một người bạn làm nghề đóng đáy (giăng lưới chận cá dồn lại để bắt ở sông hay rạch). Ở mãi mê trò chuyện khá lâu, đến buổi dùng cơm, gia đình dọn mâm lên mời ông dùng bữa. Ông chợt nhớ lại lời Thầy dạy, ông Hấn liền từ chối không dùng bữa.

Thấy hành động bất thường của ông, chủ nhà ngạc nhiên hỏi:

– Từ trước đến giờ mỗi lần anh ghé thăm, không bao giờ từ chối những bữa cơm thường nhựt. Hôm nay có điều gì phiền muộn, hay tôi có lầm lỗi gì chăng, mà anh lại từ chối với gia đình tôi vậy?

Ông Hấn xua tay đáp:

– Không! Không! Không có việc chi buồn phiền mà gia đình anh cũng không có gì làm tôi phật ý cả, chẳng qua tôi giữ theo lời Thầy cấm đó thôi.

– Thầy cấm thế nào? Ông chủ nhà hỏi.

Ông Cao Bá Hấn đáp:

– Thầy cấm tôi không được ăn cơm ở ba nhà. Một nhà buôn bán súc vật, hai là nhà nuôi súc vật, ba là nhà làm nghề hạ bạc, mà nhà anh lại làm.

Chủ nhà nghe nói ngắt lời:

– Nếu Thầy đã cấm anh như vậy, tôi không ép. Nhưng anh là tín đồ Thầy, tôi cũng là tín đồ của Thầy, Thầy cấm anh, tôi cũng phải chừa nữa chớ. Thôi anh hãy dùng với tôi bữa cơm này, tôi hứa với anh sẽ không làm nghề này nữa.

Ông Hấn nghĩ, biết đâu Thầy dạy mình để hóa độ bạn này. Nghĩ xong ông liền nhận lời dùng cơm với gia đình. Người bạn và ông thầm khấn nguyện Đức Thầy sẽ chứng giám cho việc làm của mình. Thật thế, sau khi bạn của ông Cao Bá Hấn dùng bữa cơm xong, ông liền đem lưới, đụt ra. Lưới ông bằm to bằm nhỏ, đụt ông chặt bỏ ráo trơn. Xong ông xoay qua nói với ông Cao Bá Hấn:

– Thầy đã cấm mình không làm, mà mình để cho người khác làm thì mình cũng có một phần lỗi lớn.

Thuật theo lời ông Lê văn Lưu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Câu chuyện này Thầy dạy ông Hấn, mà cũng là huấn từ để dạy chung cho tất cả tín đồ. Bởi vì trong mười điều ác sát sanh là đứng đầu và trong năm giới, giới sát cũng là vi thủ. Bởi nhà buôn bán súc vật và nuôi súc vật cũng như làm nghề hạ bạc, đều là gây tạo quá nặng nề sát nghiệp, nên chẳng những Thầy cấm, mà Đức Phật xưa kia cũng cấm chư đệ tử không cho gần gũi và thọ thực ở nơi có tạo ác nghiệp nói trên. Đức Thầy cũng đã từng phán dạy, sinh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhơn loại vậy.

Lời Thầy cấm ông Hấn thọ thực ba nhà là một tiếng chuông buổi sớm để thức tỉnh những ai có duyên với Thầy mà còn nặng mang sát nghiệp, hoặc nuôi hoặc mua bán có tính cách cộng đồng sự sát nghiệp, là tín đồ biết nghiệp sát là một thứ nghiệp không nhỏ. Hơn nữa, người tu hành ai lại quên câu:

Đạo Phật là Đạo Từ bi, Bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ.

Thế thì người chơn tu lúc nào cũng trong đức hiếu sanh làm căn bản. Ông bạn của ông Cao Bá Hấn quả là người có thiện căn, đại trí, nên vừa nghe ông Hấn kể lại liền giác ngộ rất nhanh, lại có đủ dũng lực mới thắng nổi con ma lợi, mà chặt bỏ lưới đụt và kết luận bằng câu: “Thầy đã cấm mình, mình không làm mà để cho người khác làm thì cũng có phần tội lỗi lớn”. Câu nói tuy thông thường mà hàm chứa ý nghĩa thanh cao, rất xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo. Thật vậy, nếu một tín đồ biết tuân thủ quy luật của Thầy Tổ như ông Hấn và người bạn ông, thì có lo gì không chóng đạt đến kết quả thanh cao để đến nơi đầy an lạc.

Mẩu chuyện thứ 14

CHẾT ĂN KHÔNG ĐƯỢC

Vào khoảng tháng 4 năm Canh Thìn (1940), một buổi chiều nọ, ông Lê Phát Khuynh đi xuống Tổ Đình để nghe Đức Thầy Thuyết Pháp.

Sau khi giải bày tường tận cho đồ chúng nghe về Giáo Lý nhà Phật, khi bàn đến việc quảy đơm cúng tế, Đức Huỳnh Giáo Chủ Ngài hướng về ông Lê Phát Khuynh bảo:

– Này ông Hương Trưởng, lúc mạnh ông ăn được mấy chén?

Ông Khuynh vội vàng đáp:

– Bạch Thầy, khi mạnh giỏi tôi ăn được năm bảy chén.

Đức Thầy lại hỏi:

– Còn lúc đau ông ăn được mấy chén?

– Bạch Thầy, lúc đau tôi ăn được một hai chén là quá rồi.

Đức Thầy hỏi dồn:

– Lúc chết ông ăn được mấy chén?

Với câu hỏi đột ngột, ông Khuynh lặng thinh không đáp, vì chẳng biết Đức Thầy muốn dạy gì.

– Tôi hỏi thật đó!

Và Ngài lập lại một lần nữa.

Ông Khuynh có vẻ lúng túng, gượng trả lời:

– Bạch Thầy, lúc chết ăn sao được mà ăn.

Đức Thầy liền nhỏ nhẹ:

– Đúng thế ông à! Khi chết con người không bao giờ ăn được. Sở dĩ con cháu cúng giỗ là để tưởng nhớ đến công ơn bậc sanh thành dưỡng dục và để nhớ ngày chia cách đời đời. Tưởng câu: Sự vong như sự tồn vậy thôi. Nhưng nếu sát sanh gà vịt nhiều thì linh hồn của người chết sẽ khó được siêu thoát.

Ngài giảng luận một hồi lâu rồi vào trong, lát sau Ngài đi ra. Ngay lúc đó anh em đồng đạo đang bàn bạc nhưng chưa ngã ngũ được vấn đề. Thấy Đức Thầy ra, một đồng đạo đứng lên bạch:

– Thưa Thầy, chúng con đến ngày quảy đơm, muốn cúng phải làm sao, mong Thầy chỉ dạy.

Đức Thầy đáp:

– Cúng ít tội ít cúng nhiều, tội nhiều.

Có vị đồng đạo lẹ miệng:

– Không cúng được không Thầy?

– Không cúng sa địa ngục.

Lời Ngài như có vẻ quả quyết. Sau đó Ngài xuống đọc bài thi: Báo Hiếu Đạo Nhà cho tất cả mọi người nghe, và khuyên nên cúng chay:

Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay,

Sát vật trâu heo đứa mị bày.

Kẻ chết cho ăn suy khó hiểu,

Người còn bạc đãi lạ lùng thay?

Cháu con báo hiếu theo nhà Phật,

Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.

Trong sạch nghĩa nhơn vầy mới đúng,

Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.

Thuật theo lời ông Nguyễn văn Thượng.

PHẦN NHẬN XÉT:

Cây có cội nước có nguồn, đã là con người thì ai lại chẳng có cha mẹ tổ tiên và biết ân sâu nghĩa nặng. Muốn đáp ơn nghĩa sâu rộng đó, họ cũng không làm gì hơn là kẻ trọng ơn còn sống thì nuôi dưỡng báo đền, lúc chết thì lo quảy đơm cúng tế. Đó là thông lệ xưa nay, nhưng phần đông người ta quan niệm sự cúng kiếng là để cho ông bà ăn như khi còn sống, chớ không ngờ ai cũng là thân tứ đại, khi chết phải trả về cho tứ đại, thì làm sao mà ăn cho được. Còn linh hồn thì theo đường tội phước. Hơn nữa thần thức không có hình tướng thì đâu ăn uống như người sống được. Thế mà người ta cứ lo sát sanh hại vật cúng kiếng, làm cho vong nhơn phải chịu quả báo khổ đau mà không sao nói được.

Thế nên Ngài bảo: “Cúng tội ít”, vì cúng ít là sát sanh ít. “Cúng nhiều tội nhiều”, tội nhiều là vì sát sanh nhiều. Còn không cúng thì con người không nhớ nguồn cội, nên tội lại nặng hơn.

Để phá tan sự ngộ nhận của người đời, Ngài mới đưa ra tám câu thi, hầu vạch rõ lối đi cho mọi người được thức tỉnh mà làm tròn chữ hiếu. Nghĩa là muốn báo hiếu cho cha mẹ tổ tiên thì nên cúng chay, vừa tránh được sát nghiệp, vừa hiếu đạo vẹn toàn.

Xưa có ông Trưởng giả, ông này bình sanh thường làm việc thiện, rất tin luật nhơn quả. Khi lâm trọng bịnh ông gọi các con lại dặn:

– Khi cha chết các con phải nhớ cúng chay từ ma đám tuần, từ quảy đơm, nhứt định không được cúng mặn cho cha.

Khi ông từ trần con cháu y lời cúng chay, đến thất thứ Bảy, chúng mới bàn tán, cha mình khi sống không ăn chay trường, nay chết mình cứ cúng chay hoài làm sao cha ăn ngon miệng. Hơn nữa mình mời bạn bè đến mà cứ cúng chay hoài, người ta nói mình hà tiện, cúng cha không dám cúng thịt cá. Thôi còn một tuần để mình làm heo cúng cha, trước cúng, sau mời bà con đến để đãi đằng. Thế là họ làm heo, gà, vịt, cúng tuần trùng thất cho ông rất linh đình.

Còn đang ăn uống, bỗng có đứa bé độ mười tuổi dẫn con trâu đến ngay trước cửa, tự nhiên con trâu ấy ngã ra chết tốt. Đứa bé liền lấy nắm cỏ đút vô miệng bảo:

– Ăn đi trâu, ăn đi trâu!

Thấy hành động kỳ lạ, những người trong nhà liền nói:

– Thằng nhỏ nầy bộ điên rồi sao chớ, con trâu đã chết rồi cứ đút cỏ, kêu ăn hoài, làm sao ăn được?

Đứa nhỏ nói:

– Trâu tôi mới chết còn nóng hổi, tôi cho nó ăn cỏ, các ông nói tôi điên, còn cha các người đã chết 49 ngày rồi mà các người còn đòi cúng cho ông Trưởng giả ăn, như vậy các người mới là điên hơn tôi chớ!

Con ông Trưởng giả hỏi:

– Ê mầy ở đâu, con nhà ai mà dám nói tụi tao điên vậy?

Đứa nhỏ đáp:

– Ta là Trưởng giả, cha của các ngươi đây. Bởi các ngươi không nghe lời dạy của ta mà sát sanh cúng kiếng, khiến cho ta phải chịu tội khổ, nên ta hiện đến để cho các ngươi biết, các ngươi là con bất hiếu, chớ không phải là báo hiếu ta đâu. Nói xong, con trâu và đứa bé biến mất.

Bây giờ các con ông Trưởng giả đều sám hối phát tâm tu hành.

Mẩu chuyện thứ 15

CHUYỂN ĐIỂN LÀNH

Năm Bính Tuất (1946), Đức Thầy ở Miền Đông về Sài gòn, để vận động duy trì nền độc lập, vì thực dân Pháp đang thực thi tái chiếm Miền Nam lần thứ hai.

Một hôm được thư của Nguyễn Bình xin diện kiến Đức Thầy. Xem xong Ngài hồi âm chấp thuận, và ghi rõ ngày giờ, địa điểm hội kiến. Theo sự hướng dẫn trong văn thư hồi âm của Đức Thầy, Nguyễn Bình và phái đoàn đến địa điểm một cách dễ dàng.

Sáng hôm ấy khi tiếp đón Nguyễn Bình và phái đoàn y xong. Đức Thầy phân ngôi chủ khách và trà nước đãi đằng. Nguyễn Bình mở đầu câu chuyện:

– Thưa ông Tư, tôi có vài điểm muốn hỏi ông, vậy có điều chi sơ xuất, xin ông thứ lỗi cho.

Thưa ông, theo nhận xét của tôi, kể từ ngày Pháp thuộc đến nay, đất nước ta bị ngoại xâm đô hộ, vì thế nên có biết bao tôn giáo, đảng phái ra đời để mưu đồ độc lập. Họ ra đời trước nên đã gom hết phần tử tinh hoa, chỉ còn lại đa số đều là chất phát, thật thà. Đến nay ông mới ra đời thu thập quần chúng, như vậy quá muộn rồi. Tôi nghĩ một xưởng rèn đúc đồ, có nhiều người vào trước, đã lựa hết sắt thép tốt, còn lại sắt vụn. Ông là người tới sau, tôi không biết ông lấy sắt vụn để làm gì?

– Sự nhận xét của ông rất đúng, việc ra đời của tôi là sau rốt, nhưng không muộn mà lại đúng lúc. Ông có biết đâu tôi có sẵn lò nấu, tôi mới gom lại số sắt vụn này cho hết, chừng ấy tôi sẽ đem nó vào lò nấu, lọc rồi đúc những dụng cụ tinh xảo hữu ích để giúp cho nhơn loại. Nếu ông cứ nhìn vào quá khứ, chưa thực nghiệm hiện tại và tương lai mà vội phê bình thì e có điều sai biệt.

Qua câu trả lời ngắn gọn đầy ý vị siêu nhiên của Đức Thầy, Nguyễn Bình và đồng bọn không thỏa mãn. Sau cuộc biệt đàm của chúng, Nguyễn bình đứng lên hỏi tiếp:

– Thưa ông Tư, câu trả lời của ông làm cho chúng tôi đang thắc mắc, càng thêm thắc mắc. Vậy xin ông có cách nào thực nghiệm để chúng tôi vững niềm tin, chắc đây là sự thực.

Đức Thầy từ tốn đề nghị:

– Nếu quí vị muốn thực nghiệm, cần phải khảo thí cấp tốc.

– Thưa ông Tư, thế nào là khảo thí cấp tốc, và ai mới đủ tư cách dự thi?

– Muốn dự thi cần phải có những nguyên tắc này:

1- Thành lập một Ban Giám Khảo, mỗi bên một hoặc hai vị.

2- Cuộc thi trong thời gian mười phút và đề thi tự do.

3- Bốn hồi kiểng đổ:

a- Báo tin làm bài.

b- Báo tin qua chín phút.

c- Báo tin góp bài thi.

d- Chấm dứt cuộc thi.

4- Khi chấm bài và cho điểm phải được mười điểm là xuất sắc nhứt.

Để tìm cách hạ bệ ông Tư Hòa Hảo, thế là cuộc thi được tổ chức tại văn phòng. Muốn chắc ăn thêm, Nguyễn Bình phát biểu ý kiến:

– Tôi đến đây tất cả mười người, tôi và ông Tư làm Giám khảo, còn chín người kia thi hết cho vui.

Đức Thầy mĩm cười và tỏ lời chấp thuận, liền đó Ngài giục Nguyễn Bình:

– À, sao ông chưa lựa bên tôi một thí sinh để vào thi, vì chín đồng chí của ông đang chờ kia.

Không chút ngần ngại, Bình liền chọn một thí sinh trong số sáu mươi người có mặt, nắm tay dắt lại chỗ ngồi.

Thì ra, anh này là một tín đồ ở Lục Tỉnh vừa đến thăm Thầy, hai hôm trước đây và được Thầy lưu lại. Anh ta quần áo lam lũ, tướng hình cằn cỗi, tóc râu lượt thượt, vẻ mặt sợ hãi, anh nói:

– Bạch Thầy! Bạch Thầy! Con có biết gì đâu mà thi!

– Thầy dạy sao chẳng nghe lời, hãy đến thi đi, biết gì thi nấy.

Anh ta lủi thủi đến chỗ ngồi. Tất cả tín đồ đều lo sợ cho anh chàng thí sinh quá chất phát này mà thi với chín vị thức giả kia.

Bình ngồi thản nhiên không giấu nỗi nụ cười tự đắc.

Đoạn Đức Thầy kéo học tủ lấy ra một mảnh giấy, một bình mực, một cây viết ngòi lá tre trao cho tín đồ đem đến cho vị thí sinh đồng đạo. Bình cũng lo giấy viết cho đồng bọn.

Đến phần Ban Giám Khảo tuyên bố nguyên tắc thi. Đồng hồ nơi bàn chỉ mười giờ, cuộc thi bắt đầu. Kiểng đổ lần một, thí sinh bắt tay vào việc. Bầu không khí lúc này càng sôi động hơn lên, vì tất cả tín đồ ở ngoài đều hồi hộp theo dõi và không ngớt lo sợ cho anh đồng đạo thí sinh của mình có đậu hay không đây?

Khi ấy chín vị thức giả kia đang hân hoan, nét mặt thản nhiên, phát họa thi bài đủ kiểu, duy có anh thí sinh Hòa Hảo thì khoanh tay trước ngực, mắt đăm chiêu nhìn ra cửa, như thả hồn vào cõi hư không. Đã năm phút qua rồi mà anh vẫn ngồi im trong tình trạng ấy. Trên bàn Giám Khảo, Nguyễn Bình đầy vẻ tự đắc, chắc thắng trăm bề khi nhìn diện mạo anh thí sinh Hòa Hảo. Còn Đức Thầy thản nhiên hình như không có gì xảy đến.

Đến phút thứ sáu, bỗng anh chàng thí sinh ấy đứng lên, làm toàn thể mọi người hồi hộp, vì sợ anh bỏ cuộc. Không ngờ anh lại ngồi xuống như cũ và giữ y tình trạng ban đầu. Nếu anh nhắm mắt lại thì trông như một thiền gia ngồi thiền.

Đến phút thứ bảy anh lại đưa thẳng tay lên, mọi người giựt mình vì tưởng đã đầu hàng.

Ban Giám Khảo hỏi:

– Anh muốn gì?

– Xin thêm giấy mực.

Đến phút thứ tám, anh chàng thí sinh tỏ ra rất bình tỉnh và an nhiên.

Tiếng kiểng bắt đầu đổ lần thứ hai, mọi người gần như tuyệt vọng, nhưng bất thần anh trải thẳng mảnh giấy lên bàn, lấy bình mực đổ vào lòng bàn tay, rồi thoa đều lên giấy, đen gần hết mảnh giấy. Sau đó anh đứng lên, xếp giấy lại và mang đến bàn Giám Khảo nạp bài thi, rồi anh ta trở về chỗ cũ xem rất tự nhiên. Thế là mười vị thí sinh hôm nay, chỉ anh chàng thí sinh chất phát này nạp bài lên trước, còn lại chín vị kia ngồi thừ ra, vì chắc chắn mình sẽ thắng cuộc trước anh chàng thí sinh này, nên rất tự hào khinh dễ. Cho nên khi chuông đổ lần thứ ba chín vị mới xem lại bài của mình. Văn sĩ thì bài văn chưa kết luận. Thi sĩ, thì bài thơ bát cú chỉ có thất hoặc lục cú. Họa sĩ, thì vẽ rồng, cọp thiếu gạc, thiếu chân. Nhưng vì nguyên tắc, nên phải đem nạp bài. Góp bài xong Nguyễn Bình đề nghị xét bài nhiều trước, Đức Thầy đồng ý.

Khi xét bài Nguyễn Bình không khỏi ngạc nhiên vì không bài nào được trên năm điểm. Tuy nhiên, ông cũng còn hy vọng thắng cuộc. Đến bài sau cùng, Bình lật tờ giấy xếp hai ra, thấy mảnh giấy bị bôi đen gần hết. Tỏ vẻ ngạo nghễ, quay sang hỏi Đức Thầy:

– Chẳng biết tín đồ của ông làm cái gì?

Đức Thầy ung dung nói:

– Tôi cùng ông đều làm Giám Khảo, sao đề thi ông không hỏi thí sinh?

Nguyễn Bình hơi sượng và gọi anh chàng thí sinh lên hỏi:

– Tôi không biết anh làm cái gì như vầy?

Ông vừa nói vừa cầm mảnh giấy đưa lên, cả hội trường xôn xao lên. Anh thí sinh nghiêm nghị trả lời:

– Thưa Ban Giám Khảo, đây không phải là cuộc thi cấp tốc với đề thi tự do hay sao?

Nếu phải sao ông không hỏi tôi làm đề thi gì, mà hỏi tôi làm cái gì. Câu hỏi như vậy có được coi là hợp lý chăng?

Im lặng giây lát anh tiếp:

– Thưa ông, bài làm của tôi hôm nay mang tên đề thi Vân Long. Vân long nghĩa đen là mây rồng. Đề thi này có nhiều ý nghĩa, nhưng tôi chỉ trình bày vài ý thôi:

– Theo truyền thuyết rồng rất quan trọng vì là một trong tứ linh, nhưng truy nguyên rồng phải trải qua nhiều giai đoạn. Như từ kiếp rắn có tu, rắn mới thành cù, cù có tu mới thành rồng, rồng nhờ tu luyện mới có thần thông. Khi bay lượn trên không, vận hành trong vũ trụ, rồng hóa tường vân bao phủ che bọc thân mình, mắt phàm phu không bao giờ trông thấy nguyên hình con rồng được. Nếu họa hình mà không họa mây che là còn khiếm khuyết, vì rồng không ở ngoài mây. Biết rồng là vật tưởng tượng, mây mới là hiện tướng, họa mây hàm xúc rồng.

Ý thứ nhì, mực đen giấy trắng là hai vật liệu dành cho văn nhân, thi sĩ dùng để diễn tả tâm sự của mình, và cũng là vật tượng trưng tuyệt hảo để giúp cho tao nhân mặc khách biểu lộ nhiệt tình đối với nước non vậy. Giấy màu trắng tiêu biểu cho lòng trong trắng của hiền nhơn. Căn cứ vào lịch sử trên bốn ngàn năm văn hiến, tổ tiên ta với một tấm lòng trong trắng can cường, hy sinh xương máu chống lại ngoại xâm để có nền móng gấm vóc hôm nay.

Mực màu đen tượng trưng cho vô minh che khuất lương tri sanh ra sân hận, thù hiềm, ích kỷ làm điều gian ác, bán giống, buôn nòi, quên mình là con cháu Rồng Tiên. Thế nên tôi mượn mực thoa đen giấy trắng.

Đến đây anh thí sinh cúi chào rồi lui ra.

Bầu không khí rất là sôi động, Nguyễn Bình và các đồng chí của y ngạc nhiên tột độ trước một điển lành chưa từng thấy, Nguyễn Bình bỗng đứng lên thay mặt Ban Gám Khảo tuyên bố kết quả:

– Cuộc khảo thi cấp tốc hôm nay, anh thí sinh Hòa Hảo được chấm đậu với số điểm mười.

Lời ông ta vừa dứt thì một tràng pháo tay vang dội. Kiểng đổ lần bốn.

Nguyễn Bình và đồng chí của ông đứng lên gĩa biệt.

Thuật theo lời ông Lê văn Phú tự Tho.

Mẩu chuyện thứ 16

TRUYỀN PHÉP LINH

Một buổi chiều đầu năm Canh Thìn (1940), Đức Thầy sau khi đi thăm các danh lam thắng cảnh trên ngọn núi Tà Lơn hùng vĩ, Ngài trở về xã Thới Sơn thuộc quận Tịnh Biên. Đêm ấy Ngài tạm trú tại nhà bà nhạc mẫu ông Hương Giáo Tập, một bà lão rất ngưỡng mộ Đạo Pháp.

Nghe tin Đức Thầy về đây, tất cả tín đồ quanh Nhà Bàng lũ lượt đến nghe Đức Thầy Thuyết Pháp, có một người đứng lên cung kính bạch với Ngài rằng:

– Bạch Thầy, mấy ông đạo trên núi thường luyện phép để phò vua giúp nước, còn Đức Thầy sao không dạy đệ tử luyện phép như bên đạo Tiên?

Đức Thầy đáp:

– Đạo Phật chỉ dạy con người tu tâm sửa tánh cho được trọn lành, trọn sáng, còn pháp thuật là tà giáo. Nếu còn ham luyện phép tức còn nuôi óc cạnh tranh và cầu danh lợi. Phép linh cũng như con cá linh, nước vừa chớm giựt. Loài cá linh này đua nhau lên trước, nên phải chịu chết sớm.

Thuật theo lời ông Ngô Thành Bá.

PHẦN NHẬN XÉT:

Nhiều người đứng ngoài ngưỡng cửa của Đạo Phật, không nhận xét rõ cái mục đích chính của Đạo ra sao, nên họ chỉ nhìn qua loa rồi kết luận rằng, Đạo Phật là một đạo, chỉ dành cho người ta van xin cầu đảo, hoặc làm nhiều sự linh ứng có tính cách thần kỳ. Chính ông đồng đạo kể trên cũng ham linh như bao nhiêu người khác, nên mới đem chuyện phép linh hỏi Đức Thầy. Đức Giáo Chủ tức nhiên là đã dư hiểu tâm niệm của tín đồ mình, và tâm lý chung của quần chúng, nên Ngài lột bỏ óc cạnh tranh và mê tín của con người để gọi họ trở về với chơn lý.

Thật vậy, chỉ có chơn lý là bất diệt và có đủ hiệu năng đưa con người vượt khỏi vòng tiếp nối sanh tử. Đó là tự trau tâm, sửa tánh cho đến trọn sáng trọn lành là điều căn bản mà Ngài đã từng phán dạy:

Trau tâm luyện tánh cho minh,

Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.

(Quyển 5: Khuyến Thiện)

Còn việc bùa phép thì kẻ tà mị làm cũng được, nên Thầy ví nó như cá linh. Họ có thể hô phong hoán võ, sái đậu thành binh mà biến hóa Phật Thánh v.v…

Xưa Tổ Ưu Ba Cúc La đã vào ngôi vị Tổ mà khi Ma Vương biến ra Phật còn phải lễ bái, dù rằng Tổ bảo Ma hiện cho Ngài xem. Thế mà khi chúng hiện, Ngài còn ngỡ là Phật đến, nhưng sở dĩ chúng thua Phật là bởi chúng không có chơn lý vững chắc, cũng không có Từ Bi Hỉ Xả, cũng chưa đạt Vô Lậu Thần Thông. Nên chi chúng ta hôm nay ở vào buổi cùng cơ tận pháp, nghiệp nặng, tình dày, chướng sâu, huệ cạn. Trí mờ ám, lại phải đương đầu với mọi nỗi khó khăn. Mắt lờ lệch phải dò đi trên đường nhiều lối tẻ, thế mà còn ham linh, ham nghiệm, sao tránh khỏi sợ e mang nghèo, chẳng khác nào người bị bịnh quá nặng mà không lo uống thuốc theo lời chỉ dạy của lương y, lại đi tìm tòi coi thuốc từ đâu có, của ai làm ra, mùi vị ngon dở thể nào, thì tránh sao khỏi chết. Bởi người ham linh có nhiều điểm tai hại chẳng nhỏ như:

1- Còn cạnh tranh, mà cạnh tranh là hình thức tạo ra danh, mà danh là một trong ba thứ trở ngại lớn của người tu giải thoát.

2- Khó tránh khỏi nẻo tà. Bởi bọn tà sư ngoại đạo thường dựa vào sự linh ứng mà khuyến dụ ta, hoặc bỏ chánh đạo mà theo chúng, hoặc đem tiền bạc của cải cúng dưng cho họ. Hơn nữa, Thầy Tổ vắng bóng, chúng sẽ làm một vài trò ảo thuật hoặc kỳ hạnh rồi đoán chuyện nọ chuyện kia và tự xưng là Đức Thầy trở lại, hoặc đệ tử số một số hai đã được Đức Thầy sai về cứu dân độ thế.

Đã biết rõ chuyện đó nên Ngài đã từng khuyên dạy trước lúc ra đi:

Ra đi dặn lại ít lời,

Khuyên trong bổn đạo vậy thời rán nghe.

Dầu ai tài phép bày khoe,

Ham linh ham nghiệm sợ e mang nghèo.

(Dặn Dò Bổn Đạo)

Và:

Phật Trời đâu dụng phép linh,

Chỉ dùng đạo đức mặc tình ghét ưa.

(Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)

Vậy! Ai là người muốn vượt bể trầm luân để trở về nguồn chân hạnh phúc, phải nên thông suốt Giáo Lý của Tổ Thầy, lo trau tâm luyện tánh, không nên ham linh ứng bên ngoài mà phải thấu triệt yếu tố căn bản. Điều cần yếu là phải làm hết các việc từ thiện, tránh tất cả những điều độc ác, quyết rửa tấm lòng cho trong sạch thì nhứt định sẽ kết quả dễ dàng.

Mẩu chuyện thứ 17

TU TIẾN CHỚ TU LÙI

Lúc Đức Thầy ở Saigòn có hai bà Huỳnh thị Cưởng và em thứ tư là Huỳnh thị Lịnh ở Tòng Sơn. Sau khi được quy y với Đức Thầy, hai bà về nhà cố gắng lo tu thân hành thiện. Hằng ngày thường xem Sấm Giảng của Đức Thầy là một quyển kinh nhựt tụng, khi đọc đến câu:

Chay bốn bữa ấy là quy tắc,

Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm kệ)

Thì hai bà bàn tán với nhau. Bà Hai nói với bà Tư:

– Dì Tư à! Thầy bảo “Chay bốn bữa ấy là quy tắc”, mà mình ăn sáu ngày, lại ăn thêm mỗi năm ba tháng nữa, sợ e trái lời Thầy có lỗi.

Bà tư nói:

– À! Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng từ khi chưa quy y mình ăn theo truyền thống của cha mẹ theo Thiền Lâm, bây giờ đã quy y với Đức Thầy thì phải ăn lại bốn ngày, chứ ăn dư sợ có lỗi quá chị.

Hai bà ngẫm nghĩ rồi nói:

– Muốn biết rõ hơn, chị em mình nên đi lên Sài gòn, trước thăm Đức Thầy, sau nhờ Thầy dạy cho mình biết, coi nên để y hay sửa lại.

Bàn tán xong, vài ngày sau hai bà đi đến Sai gòn. Khi ra mắt Đức Thầy, bà Tư lẹ miệng bạch:

– Bạch Thầy, chị em con lên thăm Thầy và nhờ Thầy dạy cho chúng con biết một việc. Nguyên trước kia chưa quy y với Thầy, chị em con ăn chay theo Thiền Lâm, một tháng sáu ngày, với ba tháng Tam Nguơn. Nay Thầy dạy ăn bốn ngày, vậy bây giờ chúng con ăn bớt lại hay là ăn luôn, nhờ Thầy chỉ dạy.

Nét mặt từ bi, Đức Thầy mĩm cười bảo:

– Thuở nhỏ cô đi học lớp mấy trước nhứt?

– Dạ Bạch Thầy, đầu tiên con học lớp Năm.

Đức Thầy hỏi:

Rồi năm sau cô học lớp mấy?

Bà Tư bạch Thầy:

– Năm sau con học lớp Tư.

Đức Thầy dạy:

– Ờ! Mới thì học lớp Năm, sau lớp Tư, rồi đến lớp Ba, Nhì, Nhứt. Nên nhớ là càng học càng lên, chớ không ai học xuống bao giờ. Sự tu cũng vậy, các cô ăn mỗi tháng sáu ngày, một năm ba tháng là tốt lắm, cớ sao đổi ăn bớt lại? Sở dĩ Thầy dạy chay bốn bữa đó là nguyên tắc đầu tiên của người sơ học, phải tùy trình độ của họ mà cho họ tập sự theo điều kiện tối thiểu. Rồi khi trình độ giác ngộ khá thêm sẽ từ từ tiến, chớ chẳng lẽ ở một chỗ hoài sao? Nên nhớ tu là phải tu lên chớ đừng tu xuống nhé!

Thuật theo lời của cô tu sĩ Lý Mỹ Phước, con gái bà hai Huỳnh thị Cưởng.

PHẦN NHẬN XÉT:

Các đấng cứu thế bao giờ cũng tùy duyên hóa độ, cũng như đấng cha lành lúc nào cũng phải biết rõ ố tật của con thơ. Chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngày xưa khi hóa độ đệ tử, trước tiên Ngài cũng dạy cho hàng đệ tử tại gia ăn chay mỗi tháng có hai ngày là mùng Một và ngày Rằm. Khi trình độ giác ngộ của họ tiến hóa, thì lòng từ bi cũng theo đó mà phát sinh và từ từ ăn sáu hoặc mười ngày, hoặc trường chay. Đó là diệu dụng của bậc Đại Giác thường hành tới phương diện giác tha về điểm này.

Một hôm ông Cò Tàu Hảo trong câu chuyện đàm luận đạo đức vói Đức Thầy, ông nói:

– Tôi thấy Pháp môn của Ngài dạy tu giải thoát, còn bên Tam Kỳ người ta dạy tu Tiên nhưng ăn chay trường rất nhiều, còn Ngày dạy có bốn ngày sao giải thoát được?

Đức Thầy trả lời:

– Mình là người Đạo Phật rồi. Sở dĩ tôi dạy tín đồ tôi ăn chay bốn ngày đó là quy tắc, tối thiểu là bốn ngày, rồi tự họ nhận thức cho rõ ràng sẽ tiến lên chứng bốn bực Thinh Văn, Viên Giác, Bồ Tát, Phật, vô số tính đếm. Còn nếu tôi bắt người ta ăn chay trường thì người ta làm không nỗi vì họ chưa nhận thức rõ từ chỗ bốn bữa, rồi họ nhận thức được từ từ tiến lên, Cái đó mới là kết quả, còn bắt buộc sẽ không có kết quả ông ạ!

Qua câu chuyện trên, ta thấy Đức thầy cũng như Đức Phật bao giờ cũng tùy duyên hóa độ. Cũng như phương pháp tập bơi lội của đứa trẻ, khi nó chưa biết lội, nó cảm thấy sợ nước lắm, nên mẹ phải dùng phù phao và theo sát bên nó, đôi khi nó còn không chịu lội nữa. Nhưng đến lúc lội giỏi thì nó thấy ham thích, dù không được mẹ bảo, chúng vẫn đòi tắm bơi lội.

Chúng ta có phúc duyên được gặp chân lý siêu mầu của Thầy Tổ, nên cố gắng tu tiến chớ tu lùi.

Mẩu chuyện thứ 18

BÀI TÀ HIỂN CHÁNH

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), Đức Thầy khai Đạo tại Hòa Hảo. Lúc ấy Tôi (Nguyễn Hữu Hạnh) chưa biết gia đình của Đức Ông và cũng chưa biết Đức Thầy.

Gia quyến tôi trước kia thọ pháp với một ông Sư tên Hai Cung ở Mỹ Luông cũng căn gốc của Đức Phật Thầy và Đức Cố Quản.

Bỗng nhiên một hôm Đức Thầy gởi cho ông Sư Cung hai quyển Giảng, quyển Nhứt và quyển Nhì. Ngày Chín tháng Tư năm Kỷ Mão người anh tôi có bịnh, rước ông Hai Cung đến nhà. Ông mang theo hai quyển Giảng Đức Thầy gởi cho ông. Nhơn lúc trị bịnh cho anh tôi, tôi đem ra đọc và giải nghĩa cho ông nghe. Tôi đọc xong hai quyển Giảng, nhận xét chơn lý, tâm hồn tôi vừa phục, vừa kính mến Đức Thầy và nghĩ rằng: Đức Phật Thầy Tây An tái sanh. Liền khi ấy, đêm mùng Chín tháng Mười một, gặp dịp may có người ở xóm đem vợ đến Đức Thầy trị bịnh, tôi liền quá giang đến Tổ Đình, lúc bấy giờ sáng ngày mười một tháng mười một, khi đến Thầy đang Thuyết Pháp quyển Giảng thứ Tư. Thầy ngừng lại hỏi tôi:

– Mới qua Hương Quản!

Và Đức Thầy nói luôn những chuyện ông Sư Cung, thầy trước của tôi, làm cho tôi sửng sốt. Tôi nhận Thầy là một Đấng Tiên Tri. Liền đó tôi xin Thầy được chép quyển Tư tức quyển Giác Mê Tâm Kệ. Khi đang chép, Thầy tới lui coi tôi chép và Thầy dặn chép cho thật kỹ từ nét, từ dấu, đừng để trật dấu, trật một chữ mất nghĩa một câu. Đây là lần đầu tiên tôi đặt cả đức tin nơi lòng.

Qua ngày mười hai tháng mười một, tôi trở về gia đình, trình với Cữu Huyền cùng thân mẫu và yêu cầu ông Sư cho phép tôi được quy y với Đức Thầy. Được sự đồng ý của gia đình và Sư Cung, tôi thọ giáo quy y Thầy. Đức Thầy biết cả hình thức gia đình tôi, Thầy dạy rằng:

– Trước kia Hương Quản còn mê, nay tỉnh ngộ nghe lời Thầy dạy. Bức Trần Điều mà Hương Quản làm bàn thờ Chư Vị ở nhà để y như vậy, làm ngôi Tam Bảo thờ Phật. Bên hữu thờ Bà độ mạng thì dẹp đi, bên tả thờ ông Táo cũng dẹp luôn.

Thầy giải nghĩa:

– Đúng là bà Cữu Thiên, bà chúa Tiên, thời này mấy bà đã vào hàng Phật rồi. Vậy Hương Quản về kiếm bông hoa, nước lã và cầu nguyện, vái như vầy: Hồi trước tôi còn mê nên thờ vậy, nay tôi quy y theo Thầy, Thầy tôi dạy: Nếu thật là bà Cữu Thiên Huyền Nữ thì chúng minh cho tôi thỉnh về ngôi Tam Bảo, thờ chung với Phật để tôi sùng bái. Còn ai ở đây hưởng đồ cúng kiếng xin đi chỗ khác mà kiếm ăn, từ đây tôi không còn cúng kiếng nữa. Trang ông Táo cũng vậy rồi dẹp.

Tôi vâng lời làm y theo lời Thầy dạy, và từ đó tôi thường lui tới thăm viếng Đức Thầy. Đến ngày mười tháng mười hai năm Kỷ Mão, tôi đến viếng Thầy lối bảy tám giờ sáng. Ngày đó làng Hòa Hảo cúng cầu an tại đình Thần. Đức Thầy đứng ở mé sông trước Tổ Đình, bỗng đi thẳng lên bước vào nhà, Thầy cười và nói:

– Thật tức cười các ông Hương Chức, Hội Tề làng Hòa Hảo hết sức.

– Cười gì vậy Thầy Tư? Đức Ông hỏi.

Đức Thầy chỉ xuống đình và nói:

– Ông Cả không thấy sao? mười hai Hương Chức Hội Tề xúm nhau đâm họng con heo, đem ngay trước bàn Thần, rồi ráp nhau bận áo dài bịt khăn đóng lạy con heo mà đền tội sát sanh chưa xong, chứ Thần nào chứng mà ăn.

Lúc đó tôi có đứa con thứ ba năm đó đúng 12 tuổi. Tôi ký bán cho ông Táo một con heo, đúng mười hai tuổi sẽ cúng. Tôi đã nuôi sẵn một con heo, định đến ngày hai mươi tháng Chạp năm Mẹo đúng lời vái sẽ cúng trả lễ. Tôi đem chuyện ấy bạch với Thầy, Thầy cười mà nói rằng:

– Phật Táo Ngài làm việc với Đức Ngọc Đế chớ không có ở dưới trần nuôi con cho chúng sanh đặng ăn thịt heo. Hương Quản hãy bán con heo đó đặng chi độ trong gia đình và tránh tội sát sanh. Nếu ai đòi thì nói Thầy không cho cúng, Thầy lãnh cho.

Và Thầy dạy thêm:

– Không nên cúng hạn, dưng căn đổ đốt, thôi nôi, đầy tháng gì hết, chỉ cúng Cửu Huyền Thất Tổ mà thôi.

Nhờ ơn đức oai linh của Tổ Thầy, gia đình tôi từ lúc theo Thầy học Đạo cho đến nay 30 năm khỏi tốn hao cúng kiếng chè xôi, và gia quyến cũng không bịnh hoạn ốm đau chi cả. Từ đó cứ mười bữa nửa tháng là tôi đến viếng thăm Thầy. Tôi có hỏi thêm nhiều chi tiết về ăn chay. Thầy dạy:

– Ăn chay bốn ngày, còn ăn sáu ngày hoặc mười ngày cũng được. Thầy dạy bốn ngày là những người chưa từng ăn chay lạt, nên Thầy dạy bốn ngày cho hạng người ấy để tập ăn, còn ai dùng nhiều được thì tốt.

Về việc niệm Phật tôi bạch với Thầy được Thầy dạy:

– Chữ Lục Tự trì tâm bất viễn.

– Khi đi tiểu, ở trần có niệm được chăng?

Đức Thầy cười và nói rằng:

– Hương Quản đi tiểu, đi cầu vẫn niệm được. Đó là Hương Quản tưởng Phật chớ không phải Hương Quản rủ Phật lại mà lỗi. Ngoại trừ khi gần gũi vợ chồng niệm không được.

Thuật theo lời ông Huỳnh Hữu Hạnh.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đức Thầy dạy ông Huỳnh Hữu Hạnh tức Hương Quản Chiến nên dẹp sự thờ cúng lễ mễ theo lối dị đoan, mà cũng là lời khuyến cáo chung của hàng môn đệ. Hay nói một cách khác là một tiếng chuông đánh thức kẻ mê mờ chưa hiểu rõ lý chơn. Bởi vì đấng vô hình chơn chánh thì không ăn của hối. Kẻ tà thì ta không nên phượng thờ mà chúng ăn quen sẽ rước họa cho gia đình ta. Thế nên cúng kiếng không thể mở mang trí tuệ và khó thoát khỏi lưới ma. Ta hãy nghe lời từ huấn của Đức Tôn Sư:

– Còn hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

(Lời Khuyên Bổn Đạo)

Mẩu chuyện thứ 19

TRÁI BÍ ĐAO

Năm Kỷ Mão (1939), tại cù lao Ba, xã Vĩnh Trường, quận An Phú, Châu Đốc, có một tín đồ Cao Đài tên là Hai Tạo. Ông có người vợ tên là Nguơn, thọ bịnh rất nặng, đã điều trị nhiều thầy mà không thuyên giảm, cả Bác sĩ cũng chạy luôn, lúc ấy cô Năm Công là người ở cùng xóm, mới chỉ cho ông biết rằng ở Hòa Hảo có ông Tư trị bịnh hay lắm, nên chở bà Hai xuống đó may ra đặng mạnh chăng?

Nghe lời Năm Công, ông Tạo cùng con gái là cô Thêu và bà Thái thị Quy tự là Hai Giáo, là cháu gọi Hai Tạo bằng chú, chở bà Hai Tạo ra đi. Khi đến Tổ Đình, ông Tạo liền lên ra mắt và nhờ Thầy cứu độ vợ ông.

Đức Thầy bảo ông xuống sông múc xuôi theo giòng nước cho bịnh nhơn uống. Rồi Đức Thầy buộc dây chuối cả tay lẫn chơn cho người bịnh thì bịnh nhơn được thuyên giảm đôi phần. Ngài bảo thêm:

– Nếu muốn bệnh nhơn mau hết thì hãy đem ba món đồ hiện có nơi đây liệng bỏ xuống sông thì bịnh sẽ hoàn toàn dứt hẳn.

Lúc ấy Đức Thầy nhìn ngay cô Thêu vì cô ấy có đeo ba món đồ là: Một sợi dây chuyền, một chiếc đồng hồ và một cái khâu thảy đều bằng đồng cả, song thời ấy rất có giá trị. Vì thấy cô Thêu tiếc của, còn mãi chần chờ nên bà Hai Giáo khuyên cô nên vì chữ hiếu mà làm cho mẹ sớm bình phục. Cô Thêu liền mở ba món đồ ném xuống sông.

Khi ra về Đức Thầy bảo thêm:

– Cần một trái bí đao, một ít đường phèn, nước mưa nấu cho bịnh nhân uống sẽ mau bình phục.

Trên đường về từ sông Tiền tới sông Hậu, vượt qua nước xoáy Vàm Nao hướng Châu Đốc chừng vài mươi thước, bà Hai bơi mũi, trông thấy trái bí đao trôi trên mặt nước liền vớt, nhưng bị trợt đi, cô Thêu vớt được và để sau chót khoang xuồng. Khi đến nhà mọi người phân chia công việc, kẻ kiếm nước mưa, người kiếm đường phèn, còn cô Thêu lo xẻ gọt trái bí đao. Khi xẻ trái bí đao ra, cô Thêu xanh mặt, vì ba món đồ cô đã liệng xuống sông Hòa Hảo nay lại nằm trong ruột trái bí đao. Lúc ấy mọi người nghe chuyện đều ngạc nhiên kính phục sự huyền diệu của Đức Thầy, còn bịnh nhơn sau khi đã uống thuốc xong, ngủ một giấc, khi tỉnh dậy thì trong mình bình phục hoàn toàn.

Nhờ cảm kích ơn đức của Đức Thầy đã cứu bịnh và khâm phục diệu dụng thần thông cùng lời Thuyết Pháp vi diệu thậm thâm của Đức Thầy, nên bà Hai Giáo âm thầm phát nguyện quy y theo Phật Giáo Hòa Hảo. Sau đó bà có thỉnh được quyển Sám Giảng của Đức Thầy nên bà hoan hỉ đem giới thiệu cho chú của bà là ông Hai, vốn sẵn lòng cảm kính nên khi đọc qua Sám Giảng cả gia đình ông Tạo đều công nhận Đức Thầy là một vị Phật sống tái thế. Do đó cả gia đình ông và một số thân thuộc khác đồng nguyện quy y theo Phật Giáo Hòa Hảo cả hình thức lẫn tinh thần.

Mẩu chuyện này do bà Hai Giáo là người trong cuộc kể lại. Lúc trước bà ở cù lao Ba, hiện nay bà ngụ tại ấp Long Châu Một, xã Thạnh Mỹ Tây.

PHẦN NHẬN XÉT:

Câu chuyện này cũng như nhiều câu chuyện khác, mục đích chính của Đức Thầy là dạy đạo để cứu đời. Nhưng đối với kẻ ít căn lành, Ngài cũng phải dùng phép Nhứt Quán Lợi Hành để độ họ, chớ không dùng huyền diệu của Tiên gia mà độ bịnh thì họ sẽ không có dịp cảm kích đức ân, cũng đâu có dịp được thấm nhuần pháp vũ,

Vợ ông Tạo được mạnh tuy là quý, nhưng đâu bằng cái quý của người đã gặp Phật Pháp và phát nguyện quy y tu tập. Cứu bịnh chỉ là giải cái khổ nhứt thời, còn tu hành thì mới giải được cái khổ triền miên. Đức Thầy đã ra đời như vầng thái dương rọi tan sương mù, dù đối với kẻ độn căn hay lợi trí đều được nhuần gội đức ân.

Thật phúc duyên thay cho những ai là người sanh vào thời mạt hạ mà được gặp giáo pháp của Tổ Thầy.

Mẩu chuyện thứ 20

THỂ HIỆN TỪ BI

Hồi Đức Thầy còn ở Sài gòn, ông Năm Lửa tức Trần văn Soái thường gần gũi Đức Thầy, ông lo giũ mùng dọn chiếu để tạo công đức. Bữa nọ ông Năm vạch ra trong cái gối tay bèo của Đức Thầy nằm, thấy ba con rệp cắn máu no tròn. Ông đem ra giết hết ba con. Tay vừa giết miệng ông vừa nói:

– Cắn, cắn, cắn.

Tối Đức Thầy về, vừa nằm xuống thì Ngài liền ngồi dậy và bảo:

– Ông Năm, ông Lửa đâu?

Ông Lửa dạ và đứng khoanh tay, Thầy mới tiếp:

– Con rệp nó cắn tôi, chớ căn ông sao mà ông giết nó?

Lúc đó ông Năm không nói gì. Qua bữa sau, khi ông giũ mùng cho Đức Thầy cũng thấy ba con rệp cắn no tròn như ngày hôm qua. Lúc bây giờ ông không giết như lần trước nữa. Ông mới nghĩ trong tâm rằng: Chắc mấy người trong nhà mét với Thầy. Nghĩ xong ông mới lấy cái chung bắt ba con rệp bỏ vào, bịt miệng lại và rình coi không có ai hay mới bỏ ra đồng phơi nắng. Sau đó Đức Thầy về, tối lại mới vừa nằm xuống thì Ngài cũng liền ngồi dậy và kêu:

– Ông Lửa!

Ông Lửa chạy lại khoanh tay:

– Bạch Thầy kêu con chi?

– Đã tôi nói với ông là con rệp nó cắn tôi, chớ cắn ông sao mà ông giết người ta hoài vậy. Lần trước ông giết người ta một cái chết tốt còn đỡ, lần này ông đem phơi nắng. Thật tội nghiệp cho chúng quá.

Đức Thầy nói vậy rồi thôi cũng bỏ qua. Đến ngày sau, chiều lại ông Năm Lửa giũ mùng như thường bữa. Hôm sau cũng gặp ba con rệp máu no tròn như hai bữa trước, ông lấy làm lạ vô cùng, ông mới nói:

– Được rồi, bữa nay tao cho mày cắn nghen.

Ông nói vừa dứt lời thì ông há miệng ra bỏ ba con rệp vào trong miệng nuốt tuốt và nói:

– Mầy vô trong bụng tao cắn đi!

Tối lại cũng y như hai lần trước, Đức Thầy vừa nằm xuống thì ngồi dậy mà kêu ông Năm Lửa:

– Ông Năm Lửa đâu ra biểu coi.

Ông Năm Lửa ra Đức Thầy mới nói:

– Chà! Lần trước thì giết, lần kế thì phơi nắng, rồi bấy giờ ông nuốt luôn. Ông uống lần thuốc này mạnh dữ à!

Lần sau chót Đức Thầy lại vui chớ không rầy như hai lần trước, vì thấy ông Lửa quá tôn kính Đức Thầy.

Thuật theo lời bà Ký Giỏi.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ai cũng biết ông Năm Lửa trước kia là một tay ngang dọc lẫy lừng, bình sanh ông không hề khuất phục một ai. Ông tên là Trần văn Soái, mà tánh quá nóng nảy nên người ta gọi thành danh là Năm Lửa. Sau khi quy y với Đức Thầy, vì quá kính phục đức độ cao cả của Ngài, nên nguyện theo bên cạnh Ngài và sớm hôm hầu hạ.

Tuy đã được Thầy chỉ dạy, không cho sát giết mà mang nhiều tội lỗi và mất đức từ bi, nhưng bởi thương kính Thầy nên ông nóng ruột ba con rệïp cắn Thầy mình. Tuy biết lòng thành kính của đệ tử như vậy, nhưng Ngài vẫn rầy ông Năm Lửa, bởi vì:

“Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Nghĩa là mỗi chúng sanh đều có tánh Phật, nên lúc nào Ngài cũng không muốn chúng sanh giết hại lẫn nhau, mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại.

Có lần ở trong bưng biền vì thấy muỗi cắn Đức Thầy quá nhiều mà Ngài chỉ đuổi chớ không đập. Anh em tín đồ thấy thế, đợi đến lúc Thầy ngủ, các ông lén đập muỗi cho Ngài, thì Thầy quở và dạy:

– Ai biểu các ông làm vậy? Nó nhờ máu người mà nó sống, ta nếu không cho thì đuổi đi, hơn nữa nó cũng có Phật tánh, nó cùng ta không khác, nhưng sở dĩ nó chưa bằng là vì nghiệp còn nhiều. Vậy lòng từ bi chúng ta sẵn có, cấm anh em chẳng nên sát hại chúng mà mang tội lớn.

Cao quý thay lòng từ bi của bậc Đại Giác bao giờ cũng ban tình thương của tâm từ và bình đẳng. Dù loài vật nhỏ nhưng vẫn thương yêu, không nỡ sát hại. Chúng ta hôm nay nên cố gắng noi theo đức độ cao cả của Ngài mà tế nhân độ vật để nuôi lớn từ tâm hầu có tăng cao công đức.

Mẩu chuyện thứ 21

RỦA CON

Ở Phú Thuận có hai vợ chồng người nọ đem một đứa con gái lối 18 tuổi đến nhờ Đức Thầy trị bịnh. Thầy dòm người con gái nói:

– Tại sao lại hại người ta thế?

Người con gái rất lanh trả lời:

– Cha mẹ của tôi gả vợ cho tôi lâu lắm rồi kia mà, chớ nào phải tôi dám làm ngang.

Đức Thầy nói với cha mẹ người con gái:

– Tại bà tất cả, lúc cháu này bảy tuổi, bà có rủa, đồ Hà Bá đéo, cho nên Thần Hà Bá dưới sông nghe vậy mới nhập vào con bà từ đó đến nay.

Sự việc làm cho bà này ngạc nhiên, vì con bà cũng bắt đầu xanh men mét từ đó đến giờ.

Đức Thầy khuyên bà từ nay trở về sau chẳng nên rủa con nữa, nên đem lời hiền lành mà giáo hóa chúng. Rồi Ngài quay sang đứa con gái nói:

– Thôi người ta đã ăn năn rồi, ngươi phải trở về chỗ cũ. Từ nay đừng làm chuyện xằng bậy.

Vừa nói, Ngài vừa ngậm nước phun vào mặt, tức thì cô bé té ra. Giây lâu tỉnh lại, và nói chuyện tỉnh táo như thường. Cha mẹ người này cám ơn rối rít. Đức Thầy khuyên:

– Ông bà nên ăn chay, niệm Phật, làm lành.

Thuật theo lời cô Tu sĩ Võ thị Đồng.

PHẦN NHẬN XÉT:

Nhiều người không rõ tai hại của khẩu nghiệp, nên mỗi khi tức giận thì họ kêu mời cõi âm mà trù rủa. Người phụ nữ trên đây cũng ở vào trường hợp đó, nhưng đến khi đau ốm thì khóc than, khẩn vái cúng kiếng tà ma. Vì thấy chúng sanh lầm lạc như thế nên Đức Giáo Chủ từ bi phán dạy:

Khổ lao đà sắp đến nơi,

Thế gian bớt miệng kêu mời cõi âm.

(Quyển 3, Sám Giảng)

Từ khi nghe được những lời từ huấn của Ngài, người ta mới biết được tai hại của khẩu nghiệp mà chừa bỏ rất nhiều. Câu chuyện trên đây cho ta thấy rõ, người không biết giữ gìn khẩu nghiệp thường buông lời nói ác hoặc kêu mời cõi âm mà khiến sai, mời thỉnh, chẳng những mang tội ác khẩu, còn gặp lắm tai họa cho gia đình mình. Chừng đó mới hối tiếc khóc than thì ôi thôi đã muộn. Ta hãy nghe lời từ huấn của Đức Tôn Sư.

Lựa lời tiếng dịu-dàng trong sạch,

Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.

Tích thiện thì thường có phước dư,

Bằng tích ác họa-ương đeo đắm.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Mẩu chuyện thứ 22

ĐI TÌM PHẬT

Năm 1966 tôi được thụ huấn khóa đào tạo Giảng Viên Truyền Bá Giáo Lý Trung Ương tại Thánh Địa Hòa Hảo. Bỗng được tin cô Ký Giỏi về viếng Tổ Đình.

Vốn sẵn tính hiếu kỳ, tôi muốn được biết cô Ký, vì tôi nghĩ cô chắc có nhiều duyên phước lớn mới được theo hầu Đức Thầy, và được Ngài quang lâm đến ngụ tại nhà cô trong thời gian truyền đạo và nhứt là muốn được nghe cô kể chuyện bên Thầy mà lúc nào tôi cũng khao khát được nghe. Ý đã quyết định nên chiều hôm ấy tôi rủ vài bạn nữ khóa sinh cùng đi, và định nghỉ đêm tại Tổ Đình để nghe cô kể chuyện.

Khi đến nơi, chúng tôi chào hỏi, cô cháu được biết nhau trong bầu không khí vui tươi. Tôi nói:

– Thưa cô Hai, chúng con từ trước đến nay nghe tiếng cô nhưng chưa gặp mặt, hôm nay mới được biết cô. Thưa cô, chúng cháu là kẻ sanh sau đẻ muộn, rất khao khát được biết những mẩu chuyện chung quanh Đức Thầy, mà cô là người có nhiều duyên phước nên được hầu Thầy. Vậy tối nay chúng cháu xin ở đây một đêm, nhờ cô kể cho chúng cháu nghe nhiều mẩu chuyện suốt thời gian cô được theo Thầy.

Cô Ký tươi cười đáp:

– Ờ được, mấy cháu ở đây đi, cô kể hoài cũng được nữa. Tưởng gì chớ kể chuyện bên Thầy cô sẵn sàng lắm.

Thế là sau thời cúng tối, tôi bắt đầu đặt câu hỏi với cô Hai, giống như một nhà phóng viên tìm tin tức cho báo chí. Mở đầu câu chuyện, tôi hỏi:

– Thưa cô Hai, chúng cháu muốn biết nguyên nhân nào cô ở Bạc Liêu mà sớm gặp Đức Thầy để quy y? Cô cười nói:

– Ờ! Để cô kể lại cho cháu nghe, kỳ diệu lắm cháu ơi! Đâu phải khi không mà cô được gặp Đức Thầy để quy y đâu. Cháu biết không, cô là dân Tây, đâu có phải dễ tin Phật Pháp mà tu. Một bữa nọ cô nằm mộng thấy cha cô về rầy cô và nói

– Phật đã xuống thế rồi mà sao con không chịu tu? Nè cha cho con biết, nếu cứ mãi mê danh lợi thì sau khổ đừng than trách, ăn năn cũng chẳng kịp nghe con. Phật xuống thế kỳ nầy là cơ tận diệt, nếu không tu thì vĩnh viễn chịu đọa nghe con. Cô bị cha rầy quá tay, cô khóc nức nở và nói:

– Thưa cha! Con biết Phật đâu mà tìm, tu làm sao mà tu? Cha cô nói:

– Con đi theo cha sẽ gặp Phật.

– Thế là cô đi theo cha cô đến một cảnh giới xinh đẹp. Nhứt là một hồ sen rất to, dưới hồ có nhiều hoa đua nở. Chính giữa có một hoa sen thật lớn, có hào quang sáng rực, lại có một người tướng mạo xinh đẹp đứng trên đó. Cha cô nói:

– Nầy con hãy nhìn cho kỹ. Vị đứng tại hoa sen lớn đó là vị Phật đã giáng thế tại Việt Nam rồi đó con. Con nhớ tìm cho được vị nầy mà quy y. Nhìn kỹ nghe con!

Cô dạ, dạ và chăm chú nhìn từ đầu cho tới chân. Khi tỉnh giấc, cô rờ gối thì biết mình đã khóc ướt gối, cô kể lại cho ông Ký nghe và xin ông để cô đi tìm Phật.

Vốn sẵn có duyên lành nên ông Ký chấp thuận. Thế là sáng ra cô kêu tài xế lái xe chở cô đi tìm Phật. Cô nghĩ, chắc Phật thì ở núi, thôi mình đi cạnh núi. Con đường đi từ Bạc Liêu dài lên, đi tới đâu cô cũng hỏi thăm chỗ nào có vị linh thính hoặc kỳ hạnh cô đều đến gặp mặt, coi phải là vị Phật mình được thấy trong mộng không.

Trải ba ngày cô đi tới Châu Đốc, có người chỉ ở Tân Châu có ông Đạo linh lắm. Cô không đi núi, liền cho xe thẳng về Tân Châu. Khi đến nơi, gặp ông Đạo đó cũng không phải. Lòng cô buồn bã lắm. Hỏi thăm người ta chỉ ở Hòa Hảo có ông Đạo còn trẻ mà sáng suốt và có nhiều đặc điểm thoát tục. Nghe đến ông Đạo Nầy, cô thấy lòng mừng khấp khởi và nôn đi tìm coi có phải không.

Ghé chợ mua ít trái cây rồi đi thẳng tới Hòa Hảo. Khi xe gần đến Tổ Đình, khiến cô không ngồi yên, như mình sắp gặp cha mẹ chết đi sống lại. Gần tới chợ Mỹ Lương là cô ngồi ló đầu ra ngoài để tìm kiếm. Có lẽ Đức Thầy đã biết nên Ngài ra đứng tại cửa ngõ đưa mắt nhìn ra đường. Bỗng cô hô lên cho xe ngừng lại, vì đã gặp Đức Thầy, người mà cô đã thấy đứng trên hoa sen trong mộng. Cô bước xuống xe làm lễ Đức Thầy, được Thầy nghiêng mình đáp lễ. Lén nhìn Thầy từ đầu đến chân, quả đúng rồi, vị Phật mà mấy ngày qua cô hằng tìm kiếm. Cô khóc nức nở, dù rán kềm cũng không được, cô khóc thật lớn và tủi tấm tức tấm tưởi, làm cho chú tài xế và mấy người chung quanh chẳng biết sự gì. Biết mình là vợ một thầy Ký mà khóc om sòm như con nít cũng kỳ quá, nhưng không làm sao nín được, cô phải ôm mặt chạy tuốt vào nhà bếp, nhưng vẫn khóc càng lớn hơn, đến đỗi Bà Cồ, nội Tổ của Đức Thầy ở nhà trên cũng nghe, nên bà hỏi:

– Ai làm gì mà khóc dữ quá vậy?

Đức Thầy cười nói:

– Cháu ông Lưu ạ!

Rồi Đức Thầy bước xuống nói:

– Thôi chớ, khóc hoài sao!

Con ơi! Tự nhiên cô nín như chưa hề khóc. Liền đi rửa mặt và ở lại đây mấy ngày để nghe Pháp và quy y.

Thuật theo lời cô Tu Sĩ Võ Thị Đồng.

Mẩu chuyện thứ 23

CÓ NÊN SÁT SANH TRONG NGÀY CHAY KHÔNG

Vào mùa Thu năm Kỷ Mão (1939), lúc bấy giờ Đức Huỳnh Giáo Chủ còn đang truyền giáo tại Thánh Địa Hòa Hảo.

Dưới bến Tổ Đình có mấy người đang làm đáy, chận bắt cá linh theo nước trôi xuống, những người này cũng đã thọ giáo với Đức Thầy.

Theo quy tắc trong Đạo thì đa số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đều ăn chay kỳ, mỗi tháng 4 ngày, nhưng buổi sáng hôm đó, nhằm ngày chay lạt mà số người đóng đáy, vẫn tiếp tục đóng đáy như thường. Buổi chiều lại, Đức Thầy từ trên Tổ Đình ung dung đi xuống. Ngài thấy họ đang dùng cơm chay, ai nấy vẫn không thấy Ngài nói gì. Khi trở lên Ngài vẫn tiếp tục công việc trị bịnh như thường lệ. Cứ mỗi ngày đầu thời cúng tối, những người làm đáy đều lên Tổ Đình để nghe Đức Thầy Thuyết Pháp. Sau mấy giờ thuyết giảng đạo mầu cho mọi người cùng nghe, Đức Thầy xoay qua mấy người làm đáy nghiêm nghị hỏi:

– Hôm nay mấy ông ăn chay hay ăn mặn?

– Bạch Thầy chúng con ăn chay.

– Thôi từ đây Thầy cho phép các ông ăn mặn. Nhưng mấy ông đừng đóng đáy trong mấy ngày chay nữa.

Mọi người ngồi lặng thinh ngơ ngác, chẳng hiểu Đức Thầy muốn nói gì.

Đức Thầy bèn giải thích:

– Yếu điểm của sự ăn chay là cữ sát sanh, chứ không phải để cho người ta khen mình là người có đạo, Nếu hôm nay các ông ăn mặn, chỉ sát hại một vài cân cá thôi. Đằng nầy các ông ăn chay mà đóng đáy bắt cá thì giết chết biết bao nhiêu mạng sống?

Nghe lời giải thích chí lý của Đức Thầy, số người làm đáy vừa hối hận, vừa vui mừng vì đã được Đức Thầy dạy cho bài học quí báu, khiến cho họ nhận được chân giá trị của sự ăn chay.

Thuật theo lời của ông Lê Phát Khuynh.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đọc chuyện trên cho ta thấy câu nói đầy từ bi nhân ái của Đức Thầy là lời khuyến cáo chung cho đồ chúng. Nhờ lời từ huấn ấy mà anh em tín đồ ý thức được nghĩa lý cao siêu của những ngày chay lạt.

Về điểm này, có lần ở Tổ Đình, Đức Bà rộng sẵn một lu cá cạnh cây cầu dưới sông. Bữa nọ Thầy nói với anh em có mặt:

– Thôi bữa nay mình nấu cháo ám ăn.

Rồi Thầy xăn tay áo sửa soạn đi làm cá. Ngài xung phong vào lấy dao đi làm cá. Khi đi đến nơi, Thầy bắt cá thả xuống sông hết. Có người đi xuống sau ngạc nhiên hỏi thì Thầy đáp:

– Người ta bắt giam và bỏ đói mấy ông như vầy, mấy ông chịu không? Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác chớ!

Thật vậy, chư Phật và chư Bồ Tát đã thấy biết được sự luân chuyển của chúng sanh, từ loài người biến ra loài vật và từ loài vật chuyển nên người. Thế nên chúng cũng biết tham sống sợ chết, chứng tỏ cá thấy người đều hoảng sợ lặn trốn, thế mà loài người nỡ tạo lưới, nôm, chài, rập để bắt giết chúng mà ăn thịt thì tránh sao khỏi quả báo đen đúa ở tương lai. Thế nên người tu Phật, nếu ai tự thấy mình không đủ điều kiện tuyệt sát, trường chay thì cũng nên cố tránh bớt đi những phần sát nghiệp. Nhứt là những ngày chay lạt để tránh bớt nghiệp sát sanh, và thể hiện đức hiếu sanh của người Phật tử.

Mẩu chuyện thứ 24

PHƯƠNG PHÁP NHẪN NHỤC

Giữa rừng núi âm u nơi Miền Thất Sơn hùng vĩ, mỗi khi khách du hành để bước đến, ai cũng thấy lòng thanh thoát và tin nơi đây có những gì thiêng liêng huyền bí.

Ông Nguyễn văn Phẩm, người quê quán ở Cao Lãnh nay thuộc Kiến Phong. Bởi sớm nhận xét cảnh đời đầy đau khổ, vạn vật vốn vô thường, nên ông tách rời gia đình tìm đến non Thiên Cẩm sơn (núi Cấm) để lo bề tu tâm dưỡng tánh.

Sau khi viếng qua các thắng cảnh, ông Phẩm dừng chơn tại Đá dựng cùng một vài bạn đạo lo việc tu hành. Một buổi chiều tà, mây trắng tỏa trùm cả rặng cây vách đá, gió thu thổi nhè nhẹ làm mát dịu lòng người. Ông Phẩm ra đứng trước cửa điện hóng mát, mắt đăm chiêu theo con đường xuống núi. Bỗng thấy một đoàn người từ phía chân núi tiến lên, khi tiến lại gần, ông Phẩm thấy người đi trước hướng dẫn, tuổi độ hai mươi, tướng mạo cao ráo, trông ra dáng khoan nhã, da trắng mặt hồng đỏ, lộ đầy vẻ trang nghiêm khí phách. Người ấy chính là Đức Huỳnh Giáo Chủ, còn năm người đi sau là tín đồ của Ngài. Qua lời chào hỏi, ông Phẩm bắt đầu thầm kính Đức Thầy.

Hôm ấy đoàn người nghỉ đêm tại đây. Sau thời cúng tối, Đức Thầy ngồi lại thuyết Pháp cho mọi người cùng nghe. Trong thời Pháp ấy Đức Thầy nói rất nhiều, nhưng ông Phẩm còn nhớ được một câu của Ngài khuyên:

– Các ông tu hành nên trừ được tánh nóng giận mới mong kết quả.

Đoạn rồi Ngài đặt câu hỏi:

– Nếu ai đem đến cho mình một món quà mà mình một mực khước từ thì họ phải làm sao?

Ai nấy không hiểu ý như thế nào, nên đều lặng thinh hết.

Ngài bèn nói tiếp:

– Nếu mình không nhận lãnh thì họ phải đem về. Cũng như thế đó, nếu có người dùng lời bất nhã, hoặc nặng nhẹ đối với mình mà mình nhận được, lòng không chút sân hận, tức bao nhiêu nghiệp quả đó người dùng lời nặng nhẹ kia phải mang.

Thuật theo lời ông Nguyễn văn Phẩm.

PHẦN NHẬN XÉT:

Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước đây, Đức Thích Ca Mâu Ni đã bốn mươi chín năm trụ thế hoằng pháp độ sinh, Ngài cũng thường đem Pháp Nhẫn mà dạy đời, vì đó là một trong sáu chiếc đò Lục Độ, là cái đại chu thoàn khi có phải dùng nhiều môn: Quyền, Thật, Đốn, Tiệm, nhưng lúc nào pháp nhẫn cũng được lưu hành. Đức Phật và Chư Tổ, Đức Thầy không ngớt khuyên dạy:

Ai chửi mắng thì ta giả điếc,

Đợi cho người hết giận ta khuyên.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Ngài còn biết tánh sân hận là một tai hại không nhỏ, như là:

Cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn, bạo tợn, chẳng còn nghĩ được phải quấy tốt xấu, vì lửa sân đốt cả rừng công đức. (Nhứt tin chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn)

Và câu:

Nhẫn nhục đệ nhứt đạo, tiên tu trừ ngã nhân, thị lại vô sở thọ tức chơn Bồ đề tâm (Người tu hành dù nhiều năm khổ hạnh, nhưng nếu không trừ được tánh nóng giận của mình thì đường tu khó mong đạt thành sở nguyện). Như ông Cốt Đầu Lâm Thất, đã dày công tu tập chứng đến Ngũ Thông, nhưng không diệt được tánh sân nên phải đầu sanh vào đường ác đạo.

Ta hãy nghe lời phán dạy nhẫn nhục của Đức Tôn Sư:

Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,

Thì đâu có mang câu thù-oán.

Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,

Chữ từ-bi ta diệt nó liền.

Sự oán thù đáp lại chữ hiền,

Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Nếu chúng ta cố gắng vâng theo lời phán dạy của Ngài thì có lo chi không hưởng đời chơn hạnh phúc.

*- Chú nghĩa: “Nhẫn nhục đệ nhứt …” Đạo hạnh bậc nhứt, trước tu trừ tâm nhân ngã, kế đến là không còn kẹt chỗ thọ cảm, đó tức là chơn tâm bồ đề. (Ban sưu tập)

Mẩu chuyện thứ 25

NGÀY THẦY TRỞ LẠI

Bà Út có kể mẩu chuyện như sau: Lúc còn ở Tổ Đình, có lần Thầy qua nhà ông Út, lúc có đủ mặt ông Út, bà Út. Đức Thầy nói:

– Sau nầy có thời gian tôi vắng tín đồ tôi, không một ai biết tôi ở đâu mà tìm, làm cho tín đồ tôi phải buồn tủi lắm. Nhưng đó chẳng qua là một cơn thử thách thôi.

Thầy nói tiếp:

– Ông Út bà Út biết không, lần trước họ bắt tôi, tôi không cho họ bắt, nhưng lần sau tôi đến cho họ bắt. Lúc đó tôi dùng hóa thân cho họ bắt tôi, từ đó làm cho tôi xa vắng tín đồ tôi luôn.

Ông Út hỏi:

– Rồi Thầy về không Thầy?

Đức Thầy đáp:

– Về chớ, nhưng ông nên nhớ là tôi sẽ về nguyên xác cũ, nghĩa là tôi đi sao về vậy chớ không có gì thay đổi hết.

Ông Út hỏi?

– Như vậy Thầy về luôn hay sao Thầy?

Đức Thầy đáp:

– Không! Tôi chỉ về một thời gian ngắn để sắp xếp công chuyện rồi đi nữa. Mà tôi báo cho ông Út bà Út hay nghe, khi tôi vắng mặt rồi ở nhà có chư Thần ghi chép hết các việc làm không sai một mảy. Khi tôi về thì các ông đem nạp sổ, cuốn nào cuốn nấy dầy cộm. Kẻ nào chân tu, kẻ nào giả tu, giữ giới hay không giữ giới, hung ác hay lương hiền, đều được kiểm soát kỹ lưỡng hết. Khi tôi xét bộ sổ rồi mới niêm yết lại, từ đó về sau không ăn năn sám hối được nữa. Nhưng tôi về chỉ bảy ngày là vắng mặt nữa.

Ông Út hỏi:

– Sao Thầy về mau quá vậy?

Ông Út hỏi tới đây Thầy lộ sắc buồn, châu đôi mày nói:

– Vì lúc đó là thời kỳ của Năm Chèo nổi lên sát phạt nhơn sanh chết vô số kể. Nếu tôi ở lại thì làm sao khỏi động lòng, mà ra tay bắt nó sớm thì sẽ có tội với Thiên Đình, nên phải vắng mặt để nó trị hết người hung, rồi mới trở về mà thâu nó.

Đức Thầy nói tiếp:

– Khi Năm Chèo nổi lên không phải nó nuốt riêng một nước mình nghe ông Út bà Út, mà các nước cũng bị nó nuốt nữa à! Nếu là người hung nó nuốt tất cả, mà còn người hiền thì ở đó nó chẳng làm gì. Tu hành như bà Út đây thì đứng coi chớ sao đâu. Còn người hung thì chư Thần lôi cổ lại cho nó nuốt, đến khi nó no thì cắn rảy bỏ, cho đến máu chảy thành sông, thây trôi lểnh nghểnh. Chừng đó ai muốn vớt thây thì xuống Chợ Mới mà vớt. Lúc mười tám nước thấy vậy đem bom to, súng lớn, đại bác, thần công, máy bay, tàu chiến đến để trừ nó. Nhưng đâu trừ được, bởi nó có phép thần thông, nên khi cường quốc đem vũ khí tối tân đến, đều bị nó phun lửa cháy hết. Rồi nó còn dùng phép bay lên hư không phun lửa đỏ trời, làm cho các nước đều kinh sợ. Bấy giờ họ mới hội kiến với nhau để tìm phương trị nó, nhưng tất cả đều bó tay. Cuối cùng họ mới đặt bàn cầu nguyện, nhờ Phật Trời cho có một bậc đức rộng tài cao ra tay cứu thế, chớ họ thì phải chịu đầu hàng. Lúc đo tôi mới đi trên mặt nước mà trở về. Hỏi các ông cường quốc: Sao? Các ông có cách nào để trị nó nữa không? Các cường quốc mười tám nước đồng đứng lên nói:

– Thưa Ngài, chúng tôi không còn cách nào trị nó nữa hết.

Thầy nói:

– Nếu như vậy các ông đứng qua một bên đi, để tôi thâu nó cho.

Còn Năm Chèo, từ khi biết Thầy về, nó lặn mất không còn tâm dạng. Dùng thần thông kêu lên một tiếng tức thì nó nổi lên. Từ thân hình to lớn dị thường, nó rùng mình một cái, bỗng biến ra nhỏ lại và không phải hình con sấu Năm Chèo, mà là một con Long Mã. Long Mã liền chạy tới trước mặt Thầy; qùy hai chân trước xuống. Con Long Mã nầy trên lưng có hàm ấn rõ ràng. Khi đó Thầy lên lưng cỡi nó. Long Mã liền chạy đi biểu diễn, ban đầu trên mặt đất, kế chạy trên mặt nước. Sau cùng chạy giữa hư không như ở đất liền.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ngược dòng sử Đạo, ta thấy sự vắng mặt khá dài của Đức Tôn Sư đã để lại cho các đệ tử trung kiên biết bao là buồn tủi, đau xót. Điểm nầy đâu phải là Thầy không thấu hiểu cho ta. Hơn nữa là một vị Phật lâm phàm thì có điều gì Ngài không thông đạt.

Nhưng dù cho Đức Thế Tôn còn trụ tại thế cũng chẳng làm gì khác hơn, bởi do nghiệp quả của chúng sanh và cũng là cơ thử thách. Cho nên chúng ta phải:

Đợi cơ Thiên Địa xoay vần đến.

Chờ cuộc phong lôi đổi vận lành.

(Muốn Lánh Phồn Hoa)

Hơn nữa một cuộc chọn lọc để chuyển biến con người từ Hạ Nguơn Hạ trở lại Thượng Nguơn Thánh Đức đâu phải là một chuyện giản đơn. Thế nên, chẳng những Ngài đã báo trước trong nhiều đoạn Sấm Thi, mà còn nói riêng ở nhiều câu chuyện khác, về sự vắng mặt của Ngài. Có điều ta cần lưu ý, dù là Tiên Đạo hay Phật Đạo, nếu đã thử đệ tử tức nhiên là phải đòi hỏi ở sự khó khổ, nhẫn nại, trường kỳ, mới biết được sự kiên trinh bền chí của đệ tử ra sao, chớ đâu thể một sớm một chiều, thí sinh được chấm đậu lãnh thưởng bao giờ.

Về việc Năm Chèo thì Ngài cho biết:

Con sông nước chảy vòng cầu,

Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.

Chừng ấy nổi dậy phong ba,

Có con nghiệt thú nuốt mà người hung.

Đến chừng thú ấy phục tùng,

Bá gia mới biết người Khùng là ai.

(Sấm Giảng Quyển1: Khuyên Người Đời Tu Niệm)

Chẳng những thâu con Long ác nghiệt mà Đức Thầy còn hàng phục chư bang như câu:

Khùng mới nói chơi chư bang hàng phục.

(Hố Hò Khoan)

Thâu cho được con Long ác nghiệt,

Thì khắp nơi mới biết mến yêu.

(Sa Đéc)

Trong kinh Pháp Hoa phẩm Dược Thảo Dụ thứ năm, Phật tỷ dụ ông Trưởng Giả, thấy các con vì ỷ lại cha thương lo cho mình rồi không nghe lời cha dạy. Cha biết con có bịnh, nhưng không lo tìm thuốc. Cha có khuyên dạy, nhưng chẳng nghe lời, nên ông tìm cách lánh mặt, trước khi lánh mặt, ông tìm cách dạy con ở nhà lo uống thuốc và chỉ rõ cái lợi ích của người biết dùng thuốc, cái hại của người có bịnh không lo uống thuốc v.v…

Khi ông vắng mặt, các con vì thương nhớ cha mới suy gẫm lời dạy của cha mà trước kia mình không nghe nay phải khổ, phải chịu mất cha v.v… Từ đó họ ăn năn sám hối, lo dùng thuốc đúng liều nên lành mạnh, bấy giờ cha về được sum họp an vui.

Ông Trưởng Giả khéo tạo phương tiện để vừa thử thách vừa thức tỉnh con. Đó chính là Đức Thích Ca Từ Phụ.

Chúng ta hôm nay cũng thế, sự vắng mặt khá lâu dài của Đức Thầy là một cơ thử thách mà cũng là một phương tiện khéo léo của đấng cha lành.

Thế nên, nếu ta biết nghe lời Thầy dạy dùng thuốc, tức tu theo Giáo Lý của Ngài để trị cho hết bịnh tà quấy, mê si, thì nhứt định ngày Long Hoa sẽ có mặt.

Dầu cho nay xa cách Sở, Tề,

Sau Thầy tớ gặp nhau Phật cảnh.

(Sa Đéc)

Ngoài ra, người thiện tín còn được ban thưởng xứng vị, xứng ngôi, và được coi hội của Phật Tiên chuyển lập, như câu:

Dương trần bỏ bớt tánh tham,

Đừng chơi cờ- bạc, đừng làm ác- gian.

Để sau coi Hội coi hàng,

Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Mẩu chuyện thứ 26

LỘ VẺ TỪ BI

Năm Quí Dậu (1933), lúc Đức Thầy tuổi đời còn niên thiếu mà đã biểu lộ đức tánh từ bi cao cả. Ai để tâm theo dõi câu chuyện lạ ở làng Hòa Hảo sau đây, chắc không khỏi suy nghĩ luận bàn.

Thời nầy dân cư trong làng Hòa Hảo còn thưa thớt, cỏ cây rậm rạp. Sau nhà Đức Ông, một vườn tre rộng đến hàng mẫu Tây, đến mùa nước lên, chẳng biết từ đâu vô số cò trắng tập trung về làm ổ, đẻ rất nhiều ổ trứng. Cò mẹ, cò con thật đông đảo.

Thấy vậy Đức Ông ra lịnh cấm người ngoài và người nhà, bất cứ ai chẳng đặng vào vườn tre hốt trứng và bắt cò mẹ, cò con. Nhờ vậy nên mỗi lúc loài cò rủ nhau về càng đông. Việc nầy thiên hạ đồn vang, thấu đến tai viên chủ quận Tân Châu. Một ngày kia Đức Ông có việc đến Quận đường, dịp nầy viên chủ quận Tân Châu liền ngỏ ý với ông Cả:

Thưa bác, nghe đồn sau nhà vườn bác có nhiều cò trắng, vậy xin phép cho tôi phái người đến bắn một bữa về làm tiệc nhậu chơi, có được không bác Cả?

Đức Ông suy nghĩ một chút rồi đáp:

– Thưa chủ Quận, chẳng mấy khi quan Quận hỏi tôi mà chẳng đáp ứng được, tôi thấy cũng hết sức e ngại, nhưng tôi xin quan Quận suy nghĩ, giải quyết giùm sự nan giải trong lòng tôi. Số là trước đây mấy tháng, loài cò nầy chẳng rõ từ đâu về làm ổ tại vườn tre của tôi khá nhiều. Tôi cũng đã cấm người trong nhà, ngoài làng xóm, không ai được hốt trứng, bắt con ăn thịt, bởi tôi nghĩ rằng chim cò là loài cầm thú thường rất sợ người, thế mà khi chúng làm ổ tôi ra xem chúng chẳng hề sợ sệt chi cả. Chúng dạn dĩ lạ lùng. Tôi thiết nghĩ từ hồi nào tới bây giờ chưa từng xảy ra như vậy. Rất lạ là chúng nó không hề đậu, hay làm ổ ra ngoài, mà chỉ trú ngụ trong phạm vi vườn của tôi mà thôi, chắc chúng nó tin tưởng có sự che chở an ổn của tôi. Rồi ngày qua tháng lại được ở yên, nên chúng mới rủ nhau về làm ổ đông như thế.

Thưa quan Quận, chẳng những ở trong làng Hòa Hảo, dân có tới xin bắt chim cò, mà cá nhân viên ban Hội Tề lân cận như Hưng Nhơn, Hiệp Xương, Bình Thạnh Đông, Tân Huề, Phú An cũng đến xin như vậy. Trước sau tôi đều nhứt nhứt không cho. Tôi nghĩ chắc có số người nào đó, bởi tôi không thỏa mãn yêu cầu ấy mà họ đến nhờ quan Quận cho người đến bắt cò mở đường trước cho họ tấn tới chăng?

Quan Quận nghĩ coi, bấy lâu nay lũ cò mẹ, cò con đều tin tưởng sự che chở của tôi, bỗng hôm nay tôi thuận để cho quan Quận bắn giết chúng nó, thì hóa ra tôi gạt gẫm bầy cò tới cho đông để rồi cho người vào sát hại như vậy. Đối với chúng chim cò là tôi bất tín, còn đối với người làng nước là tôi bất uy. Vì từ đầu chí cuối, ai đến yêu cầu vào vườn sau bắn tôi cũng đã từ khước hết kia mà. Thưa quan Quận, theo tôi nghĩ Ngài muốn ăn mỹ vị cao lương gì mà chẳng được, không thiếu món chi. Thế mà cần chi thịt cò, rất tanh hôi tầm thường ấy.

Nói tới đây ông ngưng nghỉ. Viên chủ quận chưa tha còn dài dòng lý sự:

– Thưa bác Cả, tôi nghe loài chim cò săn được đem nhổ sạch lông rồi ram, đem ướp vị, nướng cho vàng, rồi mỗi người một con, rứt thịt mà ăn từ ngoài tới trong. Nhậu rượu thú vị lắm. Hôm nào nhờ bác Cả cho bắn một mớ để làm mồi uống rượu chơi, xin bác vui lòng.

Thấy thái độ cương quyết của quan chủ Quận Đức Ông mới trả lời:

– Thưa quan chủ Quận, những nỗi khó khăn nơi lòng tôi, như tôi đã vừa cạn tỏ. Nếu quan Quận quyết ý, thì ngài lấy tư cách chủ Quận, cứ đến đó muốn bao nhiêu tùy ý. Sau đó Đức Ông ra về.

Chỉ mấy bữa sau, một buổi sáng vào khoảng 8 hay 9 giờ, một chiếc xe hơi từ Tân Châu đến ngừng trước nhà Đức Ông. Có hai nhân viên xuống xe định vào gặp ông Cả để trình lịnh chủ Quận, xin bắn cò. Ông cả đi vắng, họ gặp bà Cả và nói:

– Thưa bà Cả, chúng tôi xin trình lịnh quan chủ Quận xin bắn cò. Nay ông đi vắng, xin bà trao lịnh nầy đến ông Cả. Đoạn hai người ra xe nay nịt bì đạn, súng trường rồi đi thẳng vào sau vườn.

Hai người chưa ra tới vườn, bỗng họ gặp một trang thiếu niên, dáng mạo khôi ngô, tráng kiện khác thường. Đó là Đức Thầy, Ngài đứng giữa lối đi, chận hai người lại và ôn tồn hỏi:

– Hai ông phải là người trên quận bảo xuống bắn cò chăng?

Một trong hai người đáp:

– Phải. Rồi hỏi lại:

– Cậu đây có phải Cậu Tư con bác Cả không? Đức Thầy đáp:

– Phải.

Và Ngài nói tiếp:

– Tôi nhận thấy hai ông tiền căn có chút duyên với Phật, nên vì hai ông mà tôi khuyên đây. Mặc dầu hôm nay hai ông thi hành lịnh trên làm việc sát sanh, nhưng thảo nào tránh khỏi ngày cộng nghiệp do luật nhơn quả bất di bất dịch, hai ông sao không nghĩ câu: “Nhơn vật dử đồng” của cổ nhân. Đây là đồng tình thương, cùng một bản giác. Nếu con người có tình thương vợ chồng, thì loài chim chóc, cò diệt, chúng cũng có tình trống mái ấp yêu. Nếu con người biết ham sống sợ chết, thì chúng cầm, điểu cũng đồng như ta vậy. Nay hai ông có thấy không? Loài điểu thú cũng ấp yêu đẻ trứng nở con, lớp trưởng thành hình vóc, lớp mới nở, lớp ra ràn. Nếu hai ông bắn giết mẹ cha chúng nó, chồng hoặc vợ chúng nó rồi, hai ông hãy hình dung cảnh chia ly, tử biệt, con mất cha, vợ mất chồng. Rồi đến cái chết dần mòn thê thảm của ổ trứng hoặc của đoàn con thơ dại như thế nào? Chắc hai ông thừa hiểu, khi vợ hoặc chồng, khi mẹ hay cha chúng bị giết hại rồi thì trứng sắp nở kia cũng bị ung thúi, chim cò non thì phải chết đói, chết khô rũ xác tiêu hình. Các ông bắn giết một hai con thì sẽ chết theo năm bảy con khác, hoặc đến nguyên cả tổ, cả đàn chim vô tội, thử coi cái cảnh bi thảm là dường nào? Thế thì tại sao nỡ đành lòng, chỉ vì miếng ăn mà sát sanh hại mạng.

Hai tay xạ thủ nãy giờ đứng yên nghe Đức Thầy nói tới đó, thấy đầu óc có vẻ bồi hồi cảm động. Mắt họ đăm chiêu nhìn xuống, tỏ ra rất tư lự.

Bỗng một anh nói:

– Thưa Cậu Tư, lời cậu vừa khuyên thật là quí báu, song bổn phận chúng tôi hôm nay chẳng gì hơn là phải săn cho được thịt cò để mà về phục lịnh trên. Xin Cậu Tư biết cho hoàn cảnh nầy của chúng tôi.

Tiếp theo đó hai bóng người lầm lũi tiến bước. Đức Thầy cũng bước từng bước, Ngài vừa đi vừa nói:

– Tôi vì tình thương mà phải nói, hai ông vì bổn phận mà phải làm. Do đó tôi báo cho hai ông biết trước, hai ông sẽ bắn không được con cò nào đâu!

Kế Ngài rẽ qua lối khác trong vườn vào nhà. Câu nói đó của Đức Thầy khiến cho hai xạ thủ đều sanh nghi, vừa rảo bước chân, một anh nói nhỏ với bạn mình:

– Nghe người ta bảo Cậu Tư đang lên cơn thì phải? Người kia đáp:

– Anh thấy chưa, chim cò đông đặc, chúng sống chen chút như thế nầy. Thứ súng nhạy và đạn chày nầy nổ ra một phát thì chúng sẽ chết hàng lũ hàng đàn. Vậy mà cậu ấy nói bắn không được, đó chẳng phải là lên cơn sao?

Lúc bấy giờ hai tay xạ thủ quả đang thấy tận mắt, cò đứng đó đây dẫy đầy trên các bụi tre, lớp lớp điệp trùng, ổ trứng không đếm xuể. Có điều rất lạ là chúng chẳng hề biết sợ người, chúng tỏ ra rất tự nhiên, mặc cho loài người xuất hiện, lướt xông đến tận sào huyệt chúng. Cả hai đều đinh ninh rằng chỉ nổ ra một phát đạn, ít ra cũng lượm hàng chục con mồi. Chuẩn bị xong đâu đó, họ liền cho nổ phát súng đầu.

Đùng … ùng … ùng … làm vang động cả khu vườn xưa nay có tiếng yên tĩnh nhứt. Đàn cò nghe động đột ngột nhứt tề chúng bay bổng lên không trung. Chúng bay đi lượn lại, kế rồi dần dần đáp xuống chỗ cũ, không thấy con nào bỏ tổ bay đi loạn hàng bỏ ngũ. Quan sát kỹ, hai anh quả chẳng tìm thấy và không lượm được một con cò trống mái nào. Thế có lạ không?

Sau đó tiếng đùng … ùng … ùng … thứ hai, rồi thứ ba kế tiếp.

Thật kỳ lạ, từ phát súng đầu cũng như phát súng cuối cùng, hễ sau tiếng nổ thì đàn cò lập tức bay lên, và hễ dứt tiếng nổ một tí thì chúng bay về y tổ cũ, tuyệt nhiên không có con nào bị đạn, thọ thương. Có điều lạ hơn nữa là hễ góc vườn nào bị bắn có tiếng nổ thì lũ cò bay lên đáp xuống. Chổ khác không nhắm tới thì thấy con nào con nấy tỏ ra bình thản xem như không có gì xẩy ra. Hai ngươi trước sau đã làm tiêu hao hết mười mấy viên đạn trong số mười tám viên đã lãnh, thế mà chẳng hề lượm bắt được con mồi nào, thế mới lạ. Không biết làm sao hơn, cả hai xạ thủ đều thất vọng não nề, đành mang súng dài với viên đạn cuối cùng lủi thủi ra xe.

Họ bàn nhỏ với nhau, phải chi nghe lời Cậu Tư không bắn từ đầu, bì đạn còn, rất dễ phục lịnh cấp trên. Giờ thì đạn đã hết, mà không lượm được chim cò gì, thất bại sẽ về ăn nói làm sao? Thế nào cũng bị quở trách nặng nề.

Khi cả hai tiến bước ra đường cái, bỗng Đức Thầy đi đến Ngài hỏi:

– Hai ông có biết tại sao bữa nay bắn chẳng được cò chăng?

Thấy cả hai đang lúng túng chưa tìm được câu đáp, Ngài liền tiếp:

– Hai ông có duyên lành kiếp trước nên gặp may mắn, nên khi lãnh mười mấy viên đạn, song chỉ một viên đạn thiệt mà thôi, còn bao nhiêu là đạn giả cả. Cho nên bắn chẳng được chim cò. Từ này về sau đừng lãnh việc sát sanh nữa! Nếu lãnh được đạn thiệt thì ôi thôi cái cảnh đoạn trường, giết mẹ bỏ con, chồng xa vợ, vợ bỏ chồng, tội ác ấy chừng nào mới hết.

Thế là hai xạ thủ được nghe Đức Thầy thuyết về luật nhân quả một lần nữa. Trước những lời lẽ đầy hiền hòa nhơn ái của Đức Thầy, cả hai người đều thừ người ra như tượng gỗ. Thấy vậy Ngài giục thúc:

– Thôi hai ông cứ yên lòng, đừng quá lo phiền về việc vừa rồi không kết quả sẽ bị quở phạt. Không sao đâu, nếu thất bại về việc nầy sẽ thành công vào việc khác để bù lại. Gặp hoàn cảnh ấy thì ta nên nhớ câu: “Nhứt ẩm nhứt trác giai do tiền định” của người xưa vậy. Hai ông hãy về đi, hai người quên rồi sao? Giờ này mà về đến nơi là trễ giờ qui định rồi đó.

Tới đây hai người liền cúi chào Đức Thầy rồi bước ra chỗ xe đậu. Anh tài xế rất đỗi ngạc nhiên vì thấy cả hai nhà thiện xạ về tay không. Họ đã qua nhiều khâu chuẩn bị, phí cả buổi trời đi săn bắn. Theo tưởng tượng của người lái xe, sau những phát súng nổ vang dội, chắc chắn hai người lượm xác chim cò mang không xuể, đàng nầy hóa ra công dã tràng xe cát rồi.

Hai xạ thủ từ từ lên xe, họ nặng nề ngả người lên nệm êm, chậm rãi trả lời tài xế đang dồn dập hỏi lý do về không, tay trắng. Một anh nói trong não nề, thất vọng:

– Bữa nay dở quá, bắn hết đạn mà chẳng lượm được con cò nào.

Thế rồi anh tài xế rồ xe thẳng đường về Tân Châu, còn trong tâm trí của hai người kia thì đầy nỗi ưu tư. Họ linh cảm giờ nầy quan quận đang băn khoăn chờ đợi, chắc ông ấy đang sẵn sàng tổ chức các món phụ tùng để nhắm vào món chính là thịt cò, mà cò chim ở đâu đâu. Hơn nữa trong chuẩn bị, quan quận đã mời thực khách là những đại biểu của hương chức hội tề trong chín xã. Chương trình như có báo trước là sau vài tiếng đồng hồ bàn việc nước việc làng là tới giờ liên hoan hội ẩm, mà thịt cò chiên bơ là món đặc biệt hơn hết. Thế mà hai ta đi không về rồi, như thế nầy biết lấy chi mà đỡ đòn?

Trong khi cả hai đang miên man suy nghĩ, bỗng xe tới hồi trục trặc. Tài xế cho xe dừng lại, bước ra lục lạo buồng máy sửa chữa. Hai xạ thủ cũng xuống xe xả mát, coi lại nơi đây là trước đình thần Phú An. Thình lình có hai đứa trẻ từ sau đình chạy tới kêu nói:

Hai chú ơi! Hai chú có súng ra đây bắn hai con chim lớn quá kia kìa, chúng đang đậu ở cây sao đó.

Hai anh nghe báo mừng ra mặt, vội xách súng chạy ra, quả thấy hai con chim khoang cổ to đậu ở ngọn cây sao khá cao. Hai anh khoát tay bảo hai hứa trẻ vô ẩn ở dưới mái hiên đình, để mình kiếm chỗ khuất giấu mình ngắm nghía. Một anh nói vừa đủ nghe:

– Đã hết mười bảy viên không được con nào, giờ chỉ một viên độc nhứt, chắc gì bắn trúng mục tiêu.

Anh xạ thủ xách tòn ten con mồi chạy vào phủ đường, quan quận nãy giờ chờ đợi, thoáng thấy xe về, lên tiếng hỏi dồn dập:

– Cò đâu? Sao tụi bây lâu lắc quá, đã gần 11 giờ rồi, chỉ có hai con đó à?

Hương chức hội tề vừa tan hầu, mỗi ông một câu hỏi han rộn rịp, bầu không khí ồn ào thiếu ổn định. Hai xạ thủ trả lời ngắn gọn:

– Bắn cò chẳng đặng, chỉ được hai con nầy.

Một vị trong ban hội tề làng nào đó đưa ra một câu hấp dẫn góp phần xoa dịu bầu không khí đang căng thẳng. Câu nói của ông nầy vừa góp phần cứu vãn tình hình, cũng vừa khen ngợi cho vui:

– Thịt cò đâu bằng thịt chim khoang cổ. Nầy nhé, có mười con vịt Xiêm trống tơ cũng chưa đổi được cặp chim khoang cổ nầy, nhứt là bộ đồ lòng của nó đem xào chua uống rượu là tuyệt hảo.

Quả nhiên cặp khoang cổ đồng loạt hy sinh, chúng đã chết đúng lúc để góp phần cứu vãn tình thế. Bây giờ thay vì bị quan khiển trách tối đa thì bộ đồ lòng của cặp chim to lớn nầy trở thành món khai vị, làm phát pháo đầu cho bữa tiệc liên hoan hôm ấy. Rõ thật là rượu nồng thịt béo dễ gây phấn khởi trong lòng của bao thực khách lúc bấy giờ. Nhứt là hai xạ thủ đã tỏ ra bất tài, suýt hỏng việc lớn của quan ngài, đáng trách mà không bị quở phạt, trái lại họ còn được phép oang oang kể lại giữa tiệc về mẩu chuyện lạ họ vừa mục kích ở tận dưới làng Hòa Hảo cho quan đầu quận và đại biểu hương chức chín xã hội tề cùng nghe.

Món lòng chim khai vị cạn dần. Tiếp theo chương trình là món thịt chim khoang cổ xào lăng, gia vị bún, nắm, củ hành tiều thơm nức mũi. Buổi liên hoan vui nhộn diễn ra trong không khí cởi mở sôi động. Các quan chức vừa thưởng thức món chim rừng thêm có bồ đào mỹ tữu. Tất cả vừa thích thú nghe hai xạ thủ thi nhau kể chuyện dài dài. Hai anh luân phiên nhau kể lại từng chi tiết mà chính họ là vai thường trực từ giờ đầu cho tới phút cuối. Từ lúc gặp Cậu Tư Hòa Hảo, Cậu Tư đã khuyên can như thế nào, Cậu Tư nói tiên liệu những gì sắp đến, cuối cùng kết quả đưa tới đều y như lời báo trước, như có việc sắp xếp trước vậy. Lạ nhứt là đàn cò đông vô số mà chúng chỉ làm tổ sống tự nhiên trong phạm vi vườn nhà ông Cả Hòa Hảo mà thôi. Đến việc tốn hết mười mấy viên đạn mà chẳng lượm được con chim cò nào. Ly kỳ hơn nữa, ngẫu nhiên mà y như Đức Thầy cho biết trước rằng nếu thất bại việc nầy, bắn cò không kết quả, sẽ thành công việc khác. Hai người lấy làm thích thú quay lại cuốn phim vừa diễn ra ban sáng ở làng Hòa Hảo, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào.

Trong buổi liên hoan ai cũng chăm chú theo dõi. Trong số thính giả hôm ấy, có ông Đào Thành Đô, Hương cả làng Tân An là ít ăn thịt uống rượu hơn hết, và ông đã lắng nghe câu chuyện một cách say mê. Hai anh xạ thủ vừa kể hết câu chuyện làm cho thính giả đều ngạc nhiên, cho là việc chưa từng có. Mọi người đều miên man suy nghĩ. Riêng quan chủ quận Tân Châu, người chủ trì buổi liên hoan hôm ấy thì tỏ ra dửng dưng. Chắc ở tận đáy lòng ông quận không khỏi gợn lên một sự sỉ hổ, bởi ông không đạt được ý muốn ban đầu mà ông đã dùng quyền uy quá đáng, có lẽ bất công đối với vị Hương Cả ở Hòa Hảo.

Thế là quan Quận lên tiếng kết thúc, vừa cũng để chữa nỗi thẹn thầm:

– Đối với tôi thì chỉ là một sự thường nên không lấy gì làm lạ, chẳng qua là phước chí tâm linh vậy thôi.

Bữa tiệc chưa tàn hẳn, vị Hương cả làng Tân An, cụ Đào Thành Đô đã cáo say. Thật ra trong bữa tiệc cụ ít ăn uống. Xuống ghe hầu về làng, mang theo tâm sự miên man, suy nghĩ nhiều chuyện lạ ở Hòa Hảo mà cụ vừa được nghe kể lại.

Thuật theo lời của ông Lê văn Phú tự Tho.

PHẦN NHẬN XÉT:

Theo tài liệu Phật học, thì mỗi khi Phật lâm phàm để hóa độ chúng sanh trong thời niên thiếu đều có lộ từ bi. Chính Đức Phật Thích Ca xưa kia cũng thế. Đó là báo hiệu cho chúng sanh biết Phật sẽ ra đời, cứu độ chúng sanh thoát khổ.

Về việc đàn cò, nhận xét cốt truyện nầy có ba ý chánh:

1- Đức Ông với Bi, Trí, Dũng.

2- Đức Thầy với việc chúng sanh ăn nuốt chúng sanh.

3- Cứu đàn cò thoát chết có ý chi?

Đức Ông đối với Bi Trí Dũng trong thời kỳ đạo đức đang xuống dốc, con người cứ trụy lạc hoan chơi, rượu chè, cờ bạc, chơi bời, không phải riêng một ai, mà đâu đâu cũng thế, lúc ấy ở Hòa Hảo có ông Cả khác thường. Khi đàn cò đến làm ổ trùng điệp, nào là trứng cò, cò con, cò mẹ, sao không bắt hoặc hốt trứng mà ăn? Trái lại còn đùm bọc, chở che nhiệt liệt.

Đứng về đạo đức mà xét, ta thấy Đức Ông đã thể hiện đức Bi. Hơn nữa thời nầy là thời Pháp thuộc, thế lực đang thịnh hành, nên ai có quyền thế thì người ta tìm cách để cầu thân. Trái lại quan chủ quận Tân Châu xin bắn cò, mà cò là loài chim rừng thế mà Đức Ông dùng tài lưu loát để khuyên can ông Quận đừng ăn thịt cò, là Đức Ông đã có đức trí.

Ở vào thời Pháp thuộc tức nhiên chức vụ quan chủ quận là người có quyền sinh sát nằm trong tay, nếu ai nghịch lại ý muốn của họ, người đó coi như là xấu số. Thế mà Đức Ông lại được quan quận thành khẩn tới hai lần, nhưng ông vẫn không cho. Đó là: “Uy vũ bất năng khuất”, ấy là đức Dũng.

Lòng từ bi của Đức Thầy, khi thấy chúng sanh ăn nuốt lẫn nhau. Bởi vô minh che mờ tâm trí, nên chúng sanh cứ vì miếng ngon thịt béo mà sát giết lẫn nhau, để rồi phải chịu sự luân chuyển xuống lên mà trả nợ nần, nên phải tiếp nối cái khổ triền miên theo bánh xe Lục Đạo. Thật đúng với lời của Đức Thầy cho biết rằng:

Chuyển luân trong nhân vật các loài,

Căn mờ ám làm điều dại dột.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Bởi thế Phật mới biểu lộ từ bi. Mặc dù chưa tới thời kỳ khai cơ lập giáo, nhưng cũng đánh dấu cho chúng sanh biết là đã có Phật ra đời để cứu khổ.

Cứu đàn cò thoát chết có ý chi? Có rất nhiều ý, nhưng chúng tôi xin dẫn ba ý chính:

a- Ý thứ nhứt: Xét nhận linh tánh con người và vạn vật, căn cứ theo nhân sinh luận và tâm linh học thì loài người linh hơn vạn vật, đều đó ai ai cũng công nhận. Nhưng cũng có cái ta thua chúng. Bằng chứng vào thời hạn hán chỉ nghe tiếng con ếch kêu ta biết trời sắp mưa, quả thật có vậy. Loài kiến cũng biết tha trứng dời chỗ ở khi sắp có nước lũ. Chim hồng, chim nhạn cũng biết vầy đàn dời chỗ khi tiết trời sắp đổi. Thế thì chúng ta thua chúng nó rồi, vì chúng nó biết trước mà chúng ta chưa biết. Vậy đàn cò cũng thế, sở dĩ chúng lũ lượt kéo đến làm ổ tại vườn Đức Ông là vì chúng đã biết nơi đây đã có Phật ra đời, kéo đến làm ổ mà không sợ một ai. Vì nương theo hồng đức của bực Lưỡng Túc Tôn che chở cho chúng được an toàn, nên khi bị bắn chúng vẫn bình tĩnh an nhiên không bao giờ sợ hãi. Như vậy mới năm 1933 mà chúng đã biết có Phật ra đời tại nhà Đức Ông rồi, nên mới kéo đến mà nhờ sự đùm bọc che chở của bậc Đại Giác Ngộ. Còn ta phải đợi đến năm 1939, được Thầy mở Đạo Thuyết pháp ta mới biết mà quy y. Như vậy ta thua chúng rồi, vì chúng biết trước mà ta không biết.

b- Ý thứ nhì: Để cho người vững niềm tin, bởi loài cò là giống chim muôn mà còn được Phật bảo bọc an toàn. Huống chi là loài người, nếu chịu làm đúng theo Thánh giáo của Ngài thì tin chắc sẽ được Phật lực gia hộ vạn bội lần như thế nữa.

c- Biểu lộ vạn năng: Ở vao thời kỳ cuối của buổi hạ nguơn nầy, nền văn minh khoa học họ đủ sức tiêu diệt loài người, nhưng Đức Thầy đã ung dung cho biết là:

Đầu ngưỡng vọng đất trời minh chứng,

Tấm lòng thành quyết dựng đạo đời.

(Thu Đã Cuối)

Vậy dựng Đạo lập Đời do sắc lịnh của Phật và Trời để chấm dứt cái Nguơn đen tối bạo tàn nầy mà lập lại cái Nguơn trong lành và toàn thiện. Nên khi vâng sắc lịnh lâm phàm, Ngài đã hé lộ huyền cơ qua nhiều nơi trong Sấm Thi của Ngài không sao tả xiết. Như là:

Trần thế lợi danh giấc mộng tràng,

Đời cùng Tiên Phật hạ phàm gian.

Hỡi ai tâm trí mau tầm Đạo,

Tầm đấng hiền từ cứu thế gian.

(Lộ Chút Huyền Cơ)

Vậy nếu là người trí, thì nên hết lòng tuân thủ giới quy, kiên tâm tu tiến, dù gặp cảnh thiên nan vạn khổ chớ nên nãn chí nao lòng. Bởi Ngài đã báo cho ta biết trước là:

Ra kệ nầy hai chữ Bảo An,

Cho trần thế được tâm thanh tịnh.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Vậy Bảo là bảo bọc che chở, còn An là an toàn mọi sự. Đức Thầy chúng ta là Phật nên có đủ đức độ vạn năng để bảo bọc che chở cho ai là người thiệt tâm tu sửa. Vậy chúng ta hãy vững niềm tin mà nghe lời chỉ dạy của Ngài để được bao bọc che chở an toàn mọi sự để tiến đến chỗ thanh tịnh giải thoát.

Mẩu chuyện thứ 27

PHẬT, LÃO, NHO

Ông Cả Đào Thành Đô, Hương cả làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc là một nhà nho uyên thâm. Ông cả Đô nặng lòng ái quốc ưu dân, gặp cảnh nước mất nhà tan, ông luôn thao thức trước tiền đồ Tổ Quốc. Ông mượn chức vị Hương cả, đứng đầu Ban hội Tề làng Tân An làm bình phong để tiện bề hoạt động theo ý muốn. Ông cả có sắm chiếc ghe hầu bốn bổ chèo. Khi có việc lên quan xuống huyện, ông xuống ghe bảo gia nhân chèo đưa ông đi. Ông mượn phương tiện nầy chu du khắp Hậu giang, Tiền giang để tìm người tri âm, tri kỷ. Ông cả chẳng những thông suốt Tứ Thư, Ngũ Kinh của Khổng Mạnh mà còn am hiểu về đạo Phật, đạo Lão nữa. Sĩ phu trong vùng đều nghe danh ông Cả. Ông thường lui tới vấn đáp họa thơ với các nhà nho như Năm Di, Bảy Hinh v.. .v.. .

Ngày kia ông Cả nghe Đức Thầy mở Đạo dạy đời ở Hòa Hảo. Đức Thầy có biệt tài trị bịnh bằng giấy vàng nước lã mà bịnh chi cũng lành. Ngài cũng có đặc tài cải tử huờn sanh, làm chấn động y giới lúc bấy giờ.

Ông cả Đô nhớ lại giữa thế kỷ trước, tức thế kỷ mười chín, ở miền Tây Nam Việt nầy đã có Đức Phật Thầy Tây An cứu đời, cũng bằng phương pháp tương tợ như Đức Thầy đang áp dụng ngày nay. Cùng với chuyện lạ ở làng Hòa Hảo mà ông được nghe từ bữa tiệc liên hoan có thịt chim ở quận đường Tân Châu, nên ông quyết đến Hòa Hảo để dò xem hư thực.

Chỉ mới lần đầu đến yết kiến Đức Thầy mà Ngài tỏ ra am hiểu nhiều về ông Cả. Ngài ôn tồn nói:

– Mừng ông Cả Tân An mới đến, mời ông ngồi.

Nếu ai để ý một chút cũng đều thấy Đức Thầy bình đẳng tuyệt đối. Với bất cứ ai cũng vậy, Ngài không chút gì tỏ ra kẻ trọng người khinh, Ngài đối xử giống nhau với hết thảy mọi người đến viếng Ngài. Có điều đặc biệt là gặp ai Ngài cũng biết tất cả, biết rõ họ tên và chỗ ở nữa. Đức Thầy tiếp tục hoằng Pháp độ sanh, trong hàng thính giả bây gờ có thêm ông Đào Thành Đô. Ông cả làng Tân An cũng chú ý ngồi nghe Đức Thầy Thuyết Đạo mà quên mõi mệt, và ông nghĩ rằng bình sinh mình chưa từng gặp Thiền sư hoặc Pháp sư nào có biện tài như Đức Thầy. Thật là danh bất hư truyền.

Về Nhơn đạo, Ngài khuyên ai nấy học theo Khổng Mạnh, cư xử với nhau. Trai thì giữ trung hiếu, gái thì lo tròn tiết hạnh. Đức Thầy chỉ dạy một cách rành mạch lớp lang làm cho ông Đào rất khâm phục. Có lúc ông Đào muốn đứng lên vỗ tay hoan hô tán thán lời Thuyết Pháp lỗi lạc của Đức Thầy, nhưng ông Đào trấn tĩnh ngồi yên theo dõi. Kế Đức Thầy tạm ngưng thuyết Pháp, Ngài xoay sang trị bịnh, bởi lúc bấy giờ có lắm bệnh nhơn chờ đợi thôi kể sao cho xiết.

Bịnh thì ung thư nội ngoại, người đau gan kẻ lại đau tim, đau huyết vận, thổ tả, loạn thần kinh cũng có, lắm bịnh đã đi tới Bác sĩ, các danh y đương thời đều cho là nan y. Thế mà khi chở đến Đức Thầy chỉ dùng giấy vàng, nước lã cho bịnh nhơn uống, kỳ diệu thay, hết thảy đều được Ngài cứu khỏi, được lành mạnh rồi về nhà.

Có lần Đức Thầy nói:

– Có bà con cho rằng tôi lên cơn khùng, người đời nói thế cũng phải. Bởi trước cảnh chết của chúng sanh sông máu, núi xương, tôi biết mà không khùng sao được. Vậy tôi cũng nên nói tiếp chuyện tôi phát khùng, rồi mùa Thu năm nay (1939) bắt đầu trên thế giới từ Âu sang Á, vì danh lợi mà nhơn loại tương tranh chủ nghĩa, họ gây ra cảnh máu đổ thịt rơi, cha lìa con, vợ mất chồng, đệ huynh ly tán, cảnh tóc tang bi thảm, kể sao cho xiết.

Ngài ngâm một đoạn Sấm giảng:

Mèo kêu bá tánh lao xao,

Đến chừng Rồng Rắn máu đào chỉnh ghê.

Con Ngựa lại đá con Dê,

Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.

Khỉ kia cũng bị xáo xào,

Canh khuya Gà gáy máu đào mời ngưng.

(Quyển 1Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm)

Đức Thầy nói thêm:

– Bà con nên biết, đến đó canh khuya gà gáy chiến tranh tạm ngưng chứ chưa dứt. Ấy cũng bởi nhân háo sát nên phải chịu quả tận tiêu, và khi lòng từ bi của Phật Tổ nơi cõi trung ương cho Phật mở đạo cứu đời, thì đồng thời cũng cho mở bốn cửa Trời, sai hung tinh xuống thế tạo ra các thứ dữ để tiêu diệt kẻ hung. Bởi đó họ ngưng tiểu chiến tranh để chuẩn bị đại chiến tranh. Hẳn bà con còn nhớ chuyện Phong Thần, khi trận Tru Tiên kết liễu, chết tất cả là bao nhiêu, nhưng phải đợi đến trận Vạn Tiên, cái chết ôi thôi vô số. Đến đó mới dứt cuộc đại loạn của thời mạt Thương, qua kỷ nguyên nhà Châu hưởng tám trăm năm an lạc.

Nói đến đây Ngài ngâm lên một đoạn kệ trong quyển thứ nhì:

Khắp thế giới cửa nhà tan nát,

Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.

Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt chiu,

Nay tận diệt lập đời trở lại.

Khắp thế giới biến vi thương hải,

Dùng phép mầu lập lại Thương Nguơn.

(Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng)

Đoạn Ngài thuyết tiếp:

– Bởi tôi biết cái chết của chúng sanh như thế, vì quá thương thảm cho chúng sanh mà tâm trí tôi dường thể điên khùng.

Kế Đức Thầy xoay qua ông cả Đô, Ngài hỏi:

– Ông Cả Tân An hôm nay muốn hỏi tôi về Lý Tâm Truyền của tôn giáo phải không?

Ông Đào chưa kịp nói thì Đức Thầy nói tiếp:

– Ông Cả nên biết, từ cổ chí kim, khi các vị Giáo chủ ra đời lập giáo đều có chủ thuyết của riêng mình. Muốn được truyền bá chủ thuyết ấy, theo không gian và thời gian bất diệt, gồm có ba yếu tố chính:

1- Phải được thầy khẩu truyền.

2- Phải được trợ tâm đắc.

3- Sau hết thầy mới tâm truyền.

Về Giáo chủ Phật đạo, do Đức Thích Ca Mâu Ni khai sáng, lấy chân không tịch diệt tức là Chánh Pháp Nhãn Tàng Niết Bàn Diệu Tâm làm Tông. Trước khi tịch diệt, Phật Tổ truyền cho Ca Diếp tại Linh Thứu Sơn. Sau đó Ca Diếp truyền xuống ba mươi hai đời Tổ do đó mà đạo Phật trải qua hơn hai ngàn năm rồi mà vẫn còn được thạnh hành.

Đức Thầy giảng tiếp:

– Về Giáo chủ Đạo Tiên là do Lão Tử mở đầu. Trong thời của Ngài, đạo lấy Hư Vô Thanh Tịnh làm Tông, nhưng vì thiếu tín đồ tâm đắc, nên Ngài Lão tử phải truyền qua văn tự, viết bộ Đạo Đức Kinh trên năm ngàn lời. Cho đến một trăm năm sau, Trang Tử học Đạo Đức Kinh được tâm đắc, sẽ được tâm truyền. Trang tử đã làm cho Lão Tử học thuyết vang tiếng một thời và được truyền mãi mãi đến ngày nay.

Kế Đức Thầy thuyết về Đạo Nho:

– Về Giáo chủ Đạo Nho, do Khổng Tử chủ trương, lấy Nhất Quán làm chánh Tông. Phu Tử truyền cho Tăng Sâm, Tăng Sâm mới truyền cho Khổng Cấp là con Khổng Lý, tức cháu nội Đức Khổng Tử. Khổng Cấp tâm truyền cho Mạnh Kha tức Mạnh Tử, do đó mà Đạo Nho được truyền bá cho đến ngày nay.

Đến đây Đức Thầy tạm ngưng để dùng bữa. Trong hàng thính giả hôm ấy được dịp bàn tán sôi nổi, họ thầm phục tài biết nhiều hiểu rộng của Đức Thầy, bởi Ngài chỉ có hai mươi mốt tuổi đời, mà bác lãm quần thơ, suốt thông Tam Giáo. Cuối cùng ai cũng nhận Đức Thầy là bậc Sanh Nhi Tri.

Riêng ông cả Đào Thành Đô, từ khi được Đức Thầy gọi cho tới khi Ngài dứt lời để dùng cơm, ông Đào dường như bị phép định thân, ông ngồi yên như một pho tượng, cho đến khi số người nghe Pháp ra về gần hết, bấy giờ ông Cả mới đứng lên đi thẳng xuống ghe hầu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ông cả Đô tuy là một nhà Bác Lãm Nho Gia, nhưng khi diện kiến Đức Thầy, được nghe lời thuyết giảng của Ngài cũng phải hết lòng kính phục. Mà không phục làm sao được? Xưa nay người chuyên học Phật thì rành Đạo Phật, người học Nho thì am hiểu về nho là lẽ thường của thế sự, nhưng ở đây Đức Giáo Chủ lại khác hẳn với kẻ phàm tình. Nghĩa là Bác Học Nhi Tri, quán thông mọi lẽ. Chẳng những quán thông mọi lẽ theo thế trí biện thông của hàng hữu học, mà lại còn thấu triệt cơ huyền cả vũ trụ càn khôn. Nếu không phải là Phật thì còn ai mà bác lãm như thế nầy? Đọc qua về chữ Khùng mà Ngài đã đề cập đến, ta thấy chỉ có lòng từ bi của bậc Đại Giác mới có tình thương sâu rộng thế kia. Tu hàng nhị thừa cũng không có được đức từ bi thế ấy. Điểm nầy Ngài cũng biểu lộ ở câu:

Thương quá sức bắt cuồng tâm não,

Quyết cứu đời dùng Đạo phổ thông.

(Đến làng Nhơn Nghĩa)

Về việc tiên tri của Ngài, ta thấy ở quyển Nhứt (1939), khởi đầu Đệ Nhị Thế Chiến năm Mèo cho tới hai quả bom Nguyên tử của Đồng minh dội xuống nước Nhựt để chấm dứt chiến cuộc ở tháng Tám năm Dậu:

Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.

(Sấm Giảng Quyển 1)

Đây chỉ mới ngưng mà thôi, sau cuộc tổng kê con số chết của cuộc chiến hai phe Đồng Minh và Phát Xít từ năm Mẹo tới năm Dậu, nghĩa là từ đầu đến cuối Đệ Nhị Thế Chiến, con số chết trên năm mươi triệu dân:

Lật qua các báo mà coi,

Thấy con số chết có mòi kinh nguy.

(Khuyến Nông)

Nhưng Ngài còn cho biết thêm, đó chỉ là tiểu thế chiến mà thôi. Bởi cơ tận diệt của Lý Tam Nguơn, thì đây khúc cuối của Hạ Nguơn, nên phải có một cuộc tẩy trần để lập lại Thượng Nguơn Thánh Đức. Để sáng tỏ vấn đề hơn, Ngài còn cho biết, vào cuối đời Thương khi chư Tiên lập Bảng Phong Thần, chỉ nội trận Tru Tiên mà chết vô số kể. Thế mà còn chưa hết, phải chờ đến khi Thông Thiên Giáo Chủ lập trận Vạn Tiên, con số chết còn thê thảm gấp mấy lần. Bấy giờ Hồng Quân Lão Tổ mới ra cứu vớt và chấm dứt chiến cuộc đời Phong Thần.

Đọc chuyện trên ta thấy cơ nghiệp của nhà Châu được dựng chỉ có tám trăm năm mà còn phải trải qua một cuộc chết chóc hãi hùng, huống chi đây là cuộc Đại Tam Tai của buổi tận Hạ Nguơn, lọc lừa người hiền trở về với nguơn Thánh Đức, đâu phải là chuyện tầm thường. Nhưng có điều rất hân hạnh cho ta là, chúng ta đã được Đức Thầy vâng sắc lịnh của hai vị Phật Tổ lâm phàm, đã báo trước cho ta biết rằng đây sắp đến ngày tận diệt, những tai họa hãi hùng và chỉ đường cho ta thoát khổ, mà con đường đó là con đường thẳng, tắt dễ đi, đó là đường về Tịnh Độ, đường an lành xác thể, dầu sóng gió dập dồn.

Thời giờ có hạn, chúng tôi xin miễn bàn việc truyền giáo của Khổng Mạnh và Lão Trang, mà chỉ kết thúc lại ở ba yếu tố căn bản mà mỗi người học đạo nào cũng phải được mới đạt đến kết quả hoàn mãn:

1- Được khẩu truyền.

2- Tâm đắc.

3- Mới được Thầy tâm truyền.

Chúng ta hãy bình tâm mà xét lại, về khẩu truyền thì hiện nay mỗi người chúng ta tuy không trực kiến với Đức Thầy để lãnh lấy khẩu giáo của Minh Sư, nhưng cũng được phúc duyên mà tiếp nhận toàn bộ giáo lý của Ngài, thì đó là ta đều được tiếp nhận khẩu truyền của Ngài rồi đấy.

Tâm đắc, về điểm nầy nó thuộc bản tâm, nên phải đòi hỏi ở mỗi bản ngã tự mình biết lấy, nghĩa là khi mình học giáo lý của Thầy mình thì tự tiếp nhận và trau sửa được những gì. Nếu điều nào chưa làm được thì phải nổ lực thiệt thi cho bằng được ở bản tâm mình. Nếu được hai điều ấy rồi thì sẽ kết quả là Thầy mình tâm truyền cho mình vậy. Cũng như Phật Thích Ca đã tâm truyền cho Tổ Ca Diếp, và Tổ Ca Diếp tâm truyền cho Tổ A Nan.

Tóm lại học Giáo lý là khẩu truyền và hành Đạo là Tâm Đắc, mà được Thầy Tâm Truyền thì kết quả chứng đắc vậy.

Mẩu chuyện thứ 28

CÙNG MỘT SỰ ĂN

Lúc Đức Thầy đang lưu trú nơi tư gia ông Võ Mậu Thạnh, tại xã Nhơn Nghĩa Cần Thơ. Có ông Sáu Viên một tín đồ từ Long Xuyên đến viếng thăm Đức Thầy, tiện việc, ông Viên bạch hỏi Thầy về sự ăn uống của người tu ra sao?

Đức Thầy bèn giảng cho ông Viên nghe:

– Sự ăn uống là giúp cho cơ thể mạnh khỏe hầu thi hành việc đạo nghĩa. Thân xác ví dụ như chiếc xe, cơm là xăng, vật thực là nhớt. Xe có xăng nhớt chạy mới được. Xe chạy bằng xăng nhớt, nếu nói rượu là quí, đem đổ vào thì xe chết máy. Thịt của các loài cá thì nặng nên chìm, song mau tiêu, còn thịt của các loài thú có dầu mở nên nổi, nhưng lâu tiêu. Ông xét coi món gì mau tiêu và ít tội thì cứ dùng. Nên nhớ rằng: Ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn, và người tu không nên chấp thức ăn ngon dở, nhiều ít, hoặc chú tâm đến các thức ăn trước khi dùng. Cũng như hiện giờ là mười giờ, tôi khỏi cần biết lát nữa đây ông Hương Bộ cho tôi ăn món gì.

Được nghe lời Thánh huấn ấy, ông Viên rất vui mừng, cởi mở, và ghi nhớ mãi trong tâm tư.

Thuật theo lời ông Sáu Viên.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lời dạy sáng suốt của Đức Thầy như một huấn từ của bà mẹ thân yêu. Thật vậy tuy cái ăn nó là sự sinh hoạt rất tầm thường, ai cũng phải nhờ nó mới sống được, nhưng nếu người không biết làm chủ được cái ăn thì cái ăn là thứ trở ngại không nhỏ đối với con người. Xưa nay kẻ tiểu nhơn thường đặt cho sự ăn làm quan trọng, nên họ vì cái ăn sanh oán sanh thù, vì cái ăn mà không màng tới lẽ phải trái nghĩa nhân, vì cái ăn mà họ không từ chối những điều tội ác, nếu có ai làm mất món ăn thích khẩu của họ, họ sẽ không ngần ngại để cho ngọn lửa sâu độc phóng ra, đôi khi đến chỗ nồi da xáo thịt, tương sát tương tàn.

Đối với Giáo lý của nhà Phật thì cái ăn là một trong năm món dục lạc, chướng ngại cho kẻ tu hành, nếu không biết điều phục nó. Xưa nay người được coi là tu hành chính chắn thì lúc nào họ cũng không quan trọng món ăn và luôn gìn lòng vị tha xả kỷ. Xưa Tôn Giả Ca Thiên Diên chỉ dùng phương cách ăn uống của Ngài mà hóa độ được Ác Sanh Vương là ông vua đầy gian ác.

Ai có từng theo chơn Đức Thầy trong thời gian vân du hóa chúng, đều nhận thấy ở nơi Ngài rất đầy đủ đức độ qua sự ăn uống. Chẳng những Ngài không chú trọng mặc đẹp, ăn ngon, lại còn vì chúng sanh mà ban tình thương cho các loài vật nhỏ. Bởi vì: “Muôn loài đều có đạo, chớ sát hại loài nào”, lời của Đức Lục Tổ.

Câu nói của Đức Thầy: “Ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn”, có một giá trị tuyệt đối. Nếu ai biết áp dụng câu nầy thì người ấy nhất định sẽ là người tốt đẹp đối với xã hội nhơn quần, hay nói một cách khác là họ cũng một bậc hiền nhân quân tử.

Muốn cho tín đồ lấy trí mà xét được việc tội phước của mình, nó ảnh hưởng rất lớn trong cái ăn. Thay vì khuyên hạn chế việc sát sanh để tránh bớt điều tội lỗi thì Ngài mách khéo cho tín đồ biết rằng: “Xét coi món gì ăn vào mau tiêu và ít tội lỗi thì cứ dùng”.

Cao quý thay lời từ huấn của đấng cha lành, không phải chỉ để dạy riêng ông Sáu Viên mà chúng ta đều có diễm phúc được học theo kim ngôn ngọc ngữ nầy, để áp dụng cho mình, nhứt định sẽ trở nên một con người cao đẹp và hưởng quả phúc tốt tươi ở tương lai.

Mẩu chuyện thứ 29

LÒNG QUẢNG ĐẠI

Năm Đinh Hợi (1947) Đức Thầy về Phú Thành, ngày 14 tháng 2 Âm lịch, lúc 10 giờ đêm tại nhà Hương Chủ Bộ. Thầy tỏ ra cử chỉ băn khoăn không vui. Thầy hỏi tôi và tướng Nguyễn Giác Ngộ rằng:

– Mấy người thù Việt Minh không?

Tôi và ông Nguyễn làm thinh không dám trả lời. Thầy tiếp:

– Thôi thù làm chi, lỡ mình với họ xô xát với nhau, chết một mớ ít, mình cũng nên bỏ qua. Đó chẳng qua là duyên nghiệp với nhau, nếu thù mà xô xát với họ nữa càng chết nhiều thêm chớ có ích gì! Vì mình là nhà cách mạng từ bi, bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ, mềm mỏng dẻo dai, dung hòa nhẫn nại để thu phục nhơn tâm họ. Đến chừng tôi trở về bọn họ theo mình hết trơn.

Tới câu Thầy nói Thầy trở về Thầy chỉ ra oai ra lịnh. Lúc ấy tôi nghe Thầy nói: “Đến ngày Thầy trở về”, tôi lấy làm lạ, tôi liền lập tâm hỏi Thầy thì Thầy nói tiếp thêm nhiều vấn đề. Rồi Thầy đi tới đi lui tỏ ra không yên tâm. Đúng 12 giờ khuya tôi bạch với Thầy lúc ra về. Đức Thầy vịn vai bên trái của tôi cùng đi chậm chậm một khúc đường, vừa đi vừa dặn dò công việc làm. Lúc ấy tôi còn nhớ, bỗng nhiên Đức Thầy dừng lại, buông vai tôi và bảo:

– Rán lo cho đoàn thể.

Khiến gì chừng đó tôi quên đi, không hỏi đặng một lời nào nữa. Bặt qua ngày 22 tháng 2 Nhuần năm Đinh Hợi (1947) Thầy đi hội nghị với Trần văn Nguyên và Bữu Vinh. Đến ngày 25 Thầy vắng mặt cho đến ngày hôm nay.

Viết theo lời ông Huỳnh Hữu Hạnh.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lòng quảng đại của bậc Đại Giác Ngộ đối với chúng sanh lúc nào cũng ban tình thương sâu rộng, bởi có lòng Từ, Bi, Hỉ, Xả nên tha thứ hết những ai tối tăm lầm lỗi. Chẳng những tha thứ họ, mà còn vì họ mình chấp nhận mọi nỗi khó khăn khổ sở.

Xưa Đề Bà Đạt Đa quyết lòng hại Phật nhiều phen và Ương Quợt hành hung với Đức Thế Tôn, nhưng Ngài vẫn từ bi hóa độ. Và có một lần bọn Lục Sư ngoại đạo xúi đệ tử lập mưu hại Phật. Vì quá mê tín nên người ấy nghe theo. Một hôm hắn đào một cái hầm ở trước cửa nhà, rồi lấy chông nhọn cặm đầy ở dưới, phía trên y ngụy trang bằng một lớp đất thật mỏng, nằm trên lớp sậy, rồi y giả bộ thỉnh Phật đến cúng dường. Y còn ác tâm nấu đồ ăn để thuốc độc cho Đức Phật ăn. Nếu Phật đến nhà y tức phải đi qua hầm chông đó, sẽ bị rơi chết vì chông nhọn. Nếu Ngài có qua khỏi không chết, thì vào nhà cũng bị tử vì thuốc độc. Làm thế cho thỏa lòng ghen ghét của tên ngoại đạo là thầy của y.

Tuy biết rõ cái độc của ngoại đạo, Đức Phật chuẩn hứa sẽ đến nhà anh để hóa duyên. Khi Đức Phật đến thì hoa sen dưới hầm chông nổi lên đỡ chơn Ngài, tên ngoại đạo hoảng sợ, đến lạy Ngài xin sám hối. Đức Phật vào nhà, vợ tên ngoại đạo dọn cơm có thuốc độc để cúng dường Ngài, anh ta sợ Phật dùng phải độc dược liền cản lại:

– Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, xin Ngài nán lại giây lát, chờ con dâng cơm khác cho Ngài vì trong cơm nầy có thuốc độc. Bạch Ngài, xin Ngài chứng cho con sám hối, vì con là kẻ độc ác, mê muội vô cùng, xin lượng từ bi tha tội cho con. Đức Phật mĩm cười bảo:

– Không sao, thuốc độc chỉ hại người còn chứa tâm độc, còn Như Lai đã trừ sạch ba thứ ấy trước khi thành đạo dưới cội Bồ Đề, Thế nên thuốc độc không làm hại được Như Lai.

Nói xong Ngài an nhiên thọ thực, còn anh ngoại đạo vừa run rẩy vừa sợ hãi, vừa kính phục Ngài. Khi Phật dùng cơm xong, anh lạy xin sám hối một lần nữa, cầu được xá tội.

Đức Phật từ bi phán dạy:

– Không sao, con chớ sợ. Như Lai nói cho con biết, Như Lai có Tứ Vô Lượng Tâm, nên thường hành Bình Đẳng Hạnh. Dù có người vừa tán dương ta, vừa lễ bái ta, cùng một lúc người vừa sỉ nhục ta, vừa đánh đập ta, hai người đó Như Lai vẫn thương yêu như nhau không khác.

Gương từ bi vô lượng của Đức Phật ngày xưa và lòng từ bi của Đức Huỳnh Giáo Chủ hôm nay, cũng như trường hợp Đức Thầy uống nước acid do ông Tâm đưa, thế mà Ngài vẫn cứu vợ và mẹ ông Tâm khỏi bịnh nan y và nhận ông làm đệ tử. Thật vậy, nước acid làm gì có thể làm hại Ngài đã tận trừ tam độc. Sở dĩ chúng ta còn khổ là tại ta đã chứa nhiều nhân tội ác. Tâm ta còn tham, sân, si nên gặp thuốc độc ta phải chết bởi lòng ta độc ác. Lòng quảng đại của Đức Thầy hôm nay giống như của Đức Thế Tôn ngày xưa vậy.

Ta đọc lại Đại Đức của chư Phật để thấy được tâm hồn giác ngộ cao cả của đấng cứu thế. Tóm lại nhờ bốn đức độ cao siêu và lời phán dạy đầy lòng từ bi hỉ xả như trên của Đức Thầy, nên chỉ một thời gian ngắn Ngài đã thành công trên bước đường độ tha hóa chúng.

Mẩu chuyện thứ 30

THẦY CHỨNG SỰ QUY Y

Ông Trưởng Ban Phổ Thông Giáo Lý tỉnh Phong Dinh có nhắc mẩu chuyện của ông Bảy ở Xà No như sau:

Số là ông Bảy nầy có cất nhà ở giữa đồng để làm ruộng, thường xem Sấm Giảng của Đức Thầy để tu hiền. Ông lập ngôi Tam Bảo và bàn Thông Thiên, khấn nguyện nhờ Đức Thầy chứng giám. Ông tự khép mình vào hàng tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ăn chay giữ giới, cúng lạy theo lời Đức Thầy chỉ dạy. Đến tháng 6 Âm lịch, Đức Thầy về Cần Thơ Khuyến Nông, ông Bảy đến xin Đức Thầy cho qui y. Ông Bảy sắp trình thưa công việc thì Đức Thầy nhìn ngay ông và nói:

– Ủa ông đã qui y vào lúc 12 giờ trưa tháng Giêng hôm trước mà, tôi đã chứng kiến một lần cho ông rồi, còn qui y gì nữa? Qui y một lần thôi chớ!

PHẦN NHẬN XÉT:

Tâm lý chung của con người thì khi họ ân cần mong muốn một điều gì, hoặc van xin với ai, thì họ rất sợ không được người đó chấp thuận. Nếu được chuẩn hứa một điều nào quan trọng thì họ thường lập lại đôi lần để cho người kia đừng quên. Thế nên ông Bảy tuy đã âm thầm phát nguyện qui y, nhưng vẫn còn lo ngại, không biết sự phát nguyện của mình có được Thầy chứng không?

Vốn là một bậc Đại Giác thì làm gì chẳng rõ được tâm niệm của chúng sanh, thế nên không để cho đệ tử thắc mắc lo âu, Ngài liền cởi mở cho ông Bảy mà cũng cởi mở chung cho đa số tín đồ. Về điểm nầy Ngài có viết

Mấy người bê trễ chậm chơn tới Thầy,

Nghe theo lời chỉ sau đây.

Lãnh bài cầu nguyện về rày mà tu.

(Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)

Tuy lãnh bài cầu nguyện mà tu như vẫn được như đã gặp Ngài. Bởi vì:

Tuy là hữu ảnh vô hình,

Chớ dân lòng tưởng sân Trình đáo lai.

(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

Bởi Phật chỉ dụng chữ tín thành, khi được sống bên cạnh Thầy mà không sửa tánh răn lòng thì sao bằng người ở xa ngàn dậm mà ngoan đạo, tiến tu. Xưa Phật còn trụ thế, lúc Ngài đi thuyết Pháp ba tháng ở Thiên Cung mới trở về, các đệ tử đưa nhau đến yết kiến Ngài, Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc đến cúi đầu, lễ sát chơn Phật mà bạch:

– Bạch Thế Tôn, đệ tử Liên Hoa Sắc, người đã đến yết kiến Phật trước nhứt, để lạy mừng Ngài từ Thiên Cung vừa trở về Tịnh xá. Đức Phật từ bi đáp:

– Liên Hoa Sắc, con không phải là người đến yết kiến Như Lai trước đâu!

Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc nhìn đi nhìn lại chung quanh, chưa ai đến trước mình, bà mới bạch:

– Bạch Thế Tôn, chớ vị nào đến trước con, sao con không thấy?

Đức Phật ôn tồn đáp:

Chính Tôn Giả Tu Bồ Đề là người đến viếng Như Lai trước nhứt. Tuy ông chưa đến bằng hình thể, chớ tâm ông đang hướng về làm lễ Như Lai trước hơn các môn đệ khác.

Vậy chúng ta là người trí không lo sợ là Thầy mình không biết rõ việc làm phải của mình, mà phải sợ mình không sáng suốt và đủ nghị lực để bỏ những thói hư tật xấu của mình và cũng đừng nên lo tìm hiểu cái quấy dở của kẻ khác mà phê phán. Khách quan, can đảm và nhận xét mà bài trừ cái quấy dở của mình, vì lúc nào bên mình cũng có:

Lưỡng Thần ghi chép liên miên,

Nào tội, nào phước dưới miền trần gian.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Hơn nữa đối với Đức Thầy thì:

Cặp mắt thánh dòm xem tứ hải,

Thương hồng trần mượn xác tái sanh.

(Diệu Pháp Quang Minh)

Chớ lo chi Ngài không biết được việc làm của mình, nhưng sở dĩ đôi khi cái phải chưa đến với ta là bởi cái phải ta mới làm mà cái quấy ta đã làm trước hơn, nên đợi khi:

Quả dữ trả rồi nhân thiện đến.

(Bài Thơ Cho Cô Hai Gương Cần Thơ)

Nhứt định không có việc làm nào lại không được sự chứng biết của bậc vô hình và Thầy Tổ.

Mẩu chuyện thứ 31

TU QUANH VÀ TU TẮT

Lúc Đức Thầy bị thực dân Pháp an trí tại làng Nhơn Nghĩa, Cần Thơ, thì sự lui tới của các tín đồ đã gặp nhiều trở ngại. Tuy vậy có một số xả thân mộ đạo hằng len lỏi đến thăm.

Ông Hai Huê và ông Ba Ngà là hai trong những người mộ đạo kể trên, đã chèo thuyền từ Phú An, Tân Châu đến Nhơn Nghĩa để thăm Thầy. Trên đường đi hai ông đã đồng ý với nhau, là khi đến nơi, ông Ngà sẽ xin phép Đức Thầy cho ông được ở lại để hầu hạ Ngài, còn ông Huê sẽ chèo ghe về một mình.

Khi đến nhà ông Hương Bộ Thạnh, nơi Đức Thầy tạm trú, sau 24 giờ thăm viếng và nghe lời huấn dụ, ông Ba Ngà trình với Đức Thầy ý định ở lại hầu hạ Ngài. Đức Thầy không nói gì, đôi mắt từ bi nhìn ông Ngà với vẻ cảm động, rồi Ngài đi thẳng vào phòng. Lúc sau trở ra, Ngài trao cho ông Ngà 7 đồng bạc và nói:

– Ông muốn tu về cất cốc ở sau nhà mà tu, và đây là 7 đồng bạc, ông hãy cầm lấy đi đường.

Ông Ngà do dự không muốn lấy, thưa rằng:

– Con đi ghe không tốn tiền.

Đức Thầy bảo:

– Thầy cho thì phải nhận, rồi sẽ rõ!

Khi về đến Tổ Đình Hòa Hảo thì ông Ba Ngà lâm bịnh, ông Hai Huê phải chèo một mình về Phú An báo cho thân thuộc ông Ngà hay. Hôm sau ông Ngà được người nhà mướn xe ngựa đến Tổ Đình chở về nhà.

Đúng bảy ngày từ hôm giã biệt Đức Thầy thì ông Ngà bỏ xác. Mộ phần chôn cất phía sau nhà ông, dưới một túp nhà mồ theo phong tục thời đó, cất để che mưa che nắng cho người chết. Chín hôm sau nữa ông Hai Huê đến Xà No báo tin cho Đức Thầy hay, nhưng ông chưa kịp nói thì Đức Thầy đã bảo:

– Kiếp sống của ông Ba Ngà chỉ có bấy nhiêu đó thôi!

Ông Hai Huê thực thà bạch với Đức Thầy rằng:

– Không biết ông Ba ngà chết như vậy mà linh hồn có được an ổn để tu hành không?

Đức Thầy đáp:

– Thầy đã độ cho ông Ngà, nhưng đó chỉ là tu quanh vì ông Ngà mới vừa biết đạo kế thì bỏ xác.

Ông Hai Huê liền hỏi tới:

– Bạch Thầy thế nào là tu tắt?

Đức Thầy giảng cho ông Hai Huê nghe:

– Nếu còn xác thịt, vừa lo làm ăn, vừa lo tu hiền, để tự mình sửa mình, độ người, khiến họ với mình đồng tu, thì đó là tu tắt.

Ông Hai Huê lãnh hội được tâm pháp của Đức Thầy. Từ đó ông vừa làm để sống, vừa nổ lực hoằng Pháp, hành thiện.

Thuật theo lời ông Nguyễn văn Đô.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ông Ba Ngà là một môn đồ có duyên với Đức Thầy nên mới được gặp Thầy và sớm qui y. Tuy rất thương đệ tử, nhưng Thầy chỉ cho 7 đồng bạc để báo cho ông biết là ông chỉ sống có 7 ngày nữa mà thôi. Thầy cho biết Ngài đã độ linh hồn ông, nhưng đó là tu quanh, vì người chết chỉ tu bằng tâm linh, nên không thể làm được việc lợi tha như người có thể xác.

Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là đạo nhập thế, là một nền đạo vị nhân sanh, thế nên giáo lý của Ngài luôn chú trọng đến sự tế nhân lợi vật, như Ngài đã từng phán dạy. Cách tu hành đúng theo nghĩa xác thực của nó là làm thế nào phát hiện được những đức tín cao cả, và thực hành trên thực tế, bằng mọi biện pháp để đem lại cái phước lợi cho toàn thể chúng sanh, thì đó là thỏa mãn trong đời hành đạo của mình. Những điều nầy người chết không thể làm được. Nếu người có thân xác mà làm đúng theo lối Đại Thừa của Ngài chỉ giáo thì còn có sự cao quí nào hơn. Phúc duyên thay cho chúng ta, vừa uống được suối Ma Ha, lại vừa được có thân xác vẹn toàn, như đèn đã có sẵn dầu tiêm, chỉ chờ đốt lên là sáng tỏ.

Mẩu chuyện thứ 32

ĐẬU RỚT

Vào khoảng thượng tuần tháng Giêng năm Canh Thìn (1940), Ông Ngô Thành Bá hân hạnh được Đức Thầy hướng dẫn đi núi Tà Lơn. Sau khi trở về được ít hôm thì ông Bá phát bịnh khá nặng, chạy chữa đủ thuốc men nhưng không thấy giảm. Càng trị thuốc nhiều chừng nào thì bịnh ông Bá càng gia tăng chừng nấy, mà hễ ông nằm yên niệm Phật hễ uống theo mấy toa thuốc Nam của Đức Thầy thì bịnh cầm cự lại đó chớ không hết dứt. Bấy giờ ông Ngô Thành Bá mới nhớ lại lúc đi non gặp nhiều gian khổ ông có than với Đức Thầy là đi non cực khổ quá. Đức Thầy liền nói:

– Trò có duyên lớn cùng Thầy, nên trên trước bảo Thầy đem trò đi non giải căn quả đặng tu hành. Trò đi với Thầy năm sáu ngày sau khỏi sa địa ngục năm sáu tháng.

Ông Bá Thưa:

– Giải căn quả gì mà cực khổ quá, con xin Thầy có giải thì để về dưới thế sẽ giải.

Giờ đây ông Bá mới biết lời nói ấy ứng nghiệm không sai. Gần hai tháng bịnh trạng của ông bá cứ dây dưa mãi. Bỗng một hôm Đức Thầy đến thăm và bảo ông Hương Quản Diệp đem xe máy chở ông Bá về Tổ Đình cho nằm ở phía sau dưỡng bịnh. Thời gian ông Bá ở đây bịnh lần lần bớt. Hôm nọ Đức Thầy từ phía trước đi vào thấy ông Bá ngồi trên chiếc giường với gương mặt lộ đầy vẻ hân hoan, Đức Thầy liền nói:

– Sau hôm nay coi bộ trò vui mừng thế?

– Bạch Thầy, con thấy Thầy mở Đạo chẳng bao lâu mà người ta biết tu hành đông quá nên con mừng.

– Đông gì trò ơi! Sau nầy rồi họ cũng bị rơi rớt lần lần, chỉ còn một số mà thôi!

Nói đến đây, Đức Thầy lấy ngón tay chỉ cây xoài sau hông nhà đang trổ bông vàng ánh mà kêu ông Bá nói tiếp:

-Trò thấy các bông xoài kia không? Bây giờ mỗi bông đậu cả mấy chục trái, nhưng đây rồi bị giông qua gió lại, nó sẽ rụng dần dần. Tới lúc xoài già không còn bao nhiêu đâu! Chẳng những thế, đến khi đem lồng hái, nó bị nhảy lồng bớt một mớ, và đem giú nó còn úng nữa chớ. Tín đồ của Thầy sau nầy cũng như thế đó!

Thuật theo lời ông Ngô Thành Bá.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lời tiên tri của Đức Thầy quả thực không sai. Dò lại trang sử Đạo, ta thấy từ khi Đức Thầy vắng mặt đến nay, hơn bốn mươi năm tròn, bóng người đi vẫn biền biệt phương nào, để lại cho bao triệu tâm hồn thiết tha mong đợi. Lời Thánh ngôn đã bảo: “Trường đồ tri mã lực, sự cữu chí nhơn tâm”. Đường xa mới biết sức giỏi của ngựa, ngày dài mới thấy được lòng người. Ngài cũng đã từng phán dạy:

Đường xa mới rõ biết tài ngựa ký,

Lúc nguy nàn tường tận kẻ vô lương.

(Bài Không Buồn ngủ)

Phải chăng vì sự mong đợi quá dài mà tin hồng vẫn bặt, lại còn phải trải qua nhiều lần pháp nạn, mà nhứt là Pháp nạn triền miên. Khác nào xoài mới đơm hoa mà trải nhiều trận giông cuồng bão lớn. Thế nên đường tu đối với người nhẹ dạ sao khỏi thối chí nãn lòng.

Song song với những điều chướng ngại lúc Phật Pháp suy đồi còn biết bao sự quyến rủ. Nào là danh, nào lợi, nào tình; còn tà sư ngoại đạo nổi lên như nấm, thì đối với kẻ thiếu kiên trinh, có mong gì mà bền gan chờ đợi. Đã biết rõ điều nầy, Đức Giáo Chủ mới ân cần phán dạy:

Tín nữ thiện nam gìn mối đạo,

Dầu cho lăn lóc rán kiên trinh.

Kiên trinh mà chịu lúc nàn tai,

Dẫu có gian nan dạ chớ nài.

Vàng đá bao phen cơn nước lửa,

Chì, thau lắm chuyện lúc non hài.

Bền gan chờ đợi ngày sum hiệp.

Gắng chí trông mong bữa tiệc khai.

Thiên địa tuần huờn gom một mối,

Phàm trần vẹn kiếp kiến Bồng Lai.

(Bài Tỉnh Bạn Trần Gian)

Ta thử nhận xét, một lớp học tuy có nhiều học sinh, nhưng khi thi cử thì đâu khi nào đậu hết cả lớp. Tức nhiên số rớt sẽ nhiều hơn số đậu, nhưng số rớt đó không phải là lỗi ở tại giáo sư hoặc giám khảo, mà là lỗi ở sự chăm học của học sinh, nên kết quả phải thua kém bạn bè. Rồi dần dần học lên lớp càng cao, thì bài vỡ khó khăn hơn nữa, nhứt là vào lúc thi cử, có thế văn bằng của họ mới có giá trị. Huống chi đây là trường thi Đạo lại càng khó khăn hơn, bởi vì:

Phật thi Đức, Tá quốc thi văn, Nhơn tùng thi chánh, Nhơn Tăng thi lòng (lời ông Ba Thới).

Xưa có một vị Quốc vương lòng quá kính mộ Phật Pháp nên ông ra lịnh nếu ai phát tâm tu hành ông sẽ ủng hộ triệt để. Ông thường ưu đãi các nhà tu và trọng như cha mẹ. Trong nước của ông người tu rất nhiều nhưng có người tu không thiệt tâm tu, nên cửa Thiền môn có đôi khi xảy ra những điều đáng tiếc. Ông tự nghĩ, có lẽ ta quá ưu đãi cho nên số người không thiệt tu mới lợi dụng làm xằng. Thế là ông ta ra chỉ dụ thứ hai: Nếu ai tu bị tội tử hình. Từ khi được tin vua ra chiếu chỉ ai tu sẽ bị chém đầu thì họ ùn ùn sa ngã, ngoài đường không bóng dáng người tu, cửa Thiền môn thì Tăng, Sư đều vắng bặt. Thời hạn kỳ đã đến, vua sai quân lính đi lục soát hết am, cốc, chùa chiền, non núi, tìm nơi nào có nhà tu bắt hết về triều.

Trải mấy ngày lùng kiếm, họ bắt về được một ông nhà tu, ông tên Thanh Tiến Sĩ.

Vua hỏi:

– Ngươi không nghe chỉ dụ của Trẫm sao mà còn tự nhiên lo tu hành thế nầy?

– Tâu Bệ hạ, Bần đạo có nghe chiếu chỉ của Bệ hạ chớ!

– Thế Ngài không sợ chết sao mà còn dám tu?

– Tâu Bệ hạ, thế thường thì ai cũng sợ chết cả, nhưng bần đạo xét, sợ cũng không khỏi bao giờ, vì cái chết có tư vị một ai đâu! Nên Bần tăng chấp nhận cái chết hôm nay để rồi không còn chết nhiều lần khác nữa.

Nhà vua hỏi:

– Ngài nói thế nghĩa là sao?

– Tâu Bệ hạ! Bần đạo muốn nói đường tu của bần đạo là con đường vượt nẻo tử sanh, chỉ một kiếp được trực vãng Tây Phương an lạc, không còn chết đây sanh kia, nhiều đời tử sanh nghiệp nối. Còn nếu bần đạo sợ tội tử hình của Bệ hạ mà thối chuyển đường tu thì phải chấp nhận đường sanh tử, luân hồi nối tiếp. Cho nên bần tăng quyết chí tu hành dù có bị rơi đầu cũng không hối tiếc.

Nhà vua sai võ đao đem Thanh Tiến Sĩ ra pháp trường. Trước cái chết Ngài vẫn bình tĩnh vui cười. Nhà Vua vô cùng kính phục, mới bước lại sám hối và nói rõ dụng ý của mình muốn thử coi ai là người tu thiệt, và đồng thời tôn Ngài làm Quốc sư.

Câu chuyện trên cho ta thấy sự thử thách của người xưa so với ngày nay thì có là bao. Tuy phải trải qua bao nhiêu trận gió giông nhưng không rơi rụng mới là chơn giá trị. Và nên nhớ lời Thánh huấn của Đức Tôn Sư:

Tuy ngày nay chúng nó hùng cường,

Chừng phân định thì ta cao quí.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Và:

Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,

Cứ bền chí có ngày thong thả.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Mẩu chuyện thứ 33

TÙY CƠ HÓA ĐỘ

Anh Năm Tính người ở tỉnh Phú Yên, Trung Phần, di cư vào miền Nam từ năm 1940 ngụ tại nhà ông chủ Trưởng Chân xã Kiến An, quận Chợ Mới, An giang. Vốn người chất phát làm ăn, nên ở đây ai cũng mến thương và anh cũng trở thành tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo từ độ ấy.

Nhơn một buổi tiếp chuyện với ông cả Mười, ông thấy anh Tính có lòng nhiệt thành đối với Đạo, nên kêu anh đi với ông lên Sai gòn thăm Đức Thầy một lần. Anh Tính rất vui mừng và xin được cùng đi theo. Chuyến đi nầy gồm có ông cả Mười, ông Lâm Thơ Cưu, anh Tính và một ít anh em đồng đạo khác. Trời vừa rựng sáng, con thuyền từ từ tách bến, lướt nhanh trên giòng nước cuồn cuộn đưa đi, anh em cứ luân phiên chèo không ngừng nghỉ, suốt ba ngày đêm mới tới.

Thời gian nầy, Đức Thầy ở số 168 đường Lefèvre, Sai gòn. Hôm ấy mọi người đều lên hết, duy có anh Tính ở lại giữ ghe và cùng chờ người hướng dẫn xin phép với Đức Thầy xong mới được lên.

Anh ở tại ghe đợi tới chiều, không thấy ai xuống hết, bèn bước lên đường đi thơ thẩn gần tới ngang cửa lầu chỗ Đức Thầy ở.

Lúc bấy giờ Đức Thầy đang nói chuyện với số tín đồ ở các tỉnh, Ngài bèn đứng phắt dậy, khoát cánh cửa, đưa tay ngoắc anh Tính vào, giữa lúc ấy mọi người đều ngạc nhiên.

Được lịnh Thầy, anh Tính rất mừng rỡ, nhưng cũng phập phồng lo sợ, nên vừa đi vừa niệm Phật. Vào đến nơi, Đức Thầy chỉ chiếc ghế bảo anh Tính ngồi và hỏi:

– Ông ra đây làm gì?

– Con ra đây thăm Thầy và nhờ Thầy chỉ cho phương pháp để về lo tu hành.

– Ông muốn tu để được như thế nào?

– Con hiện giờ không vợ, không con nên muốn tu giải thoát. Bạch Thầy!

Đức Thầy lấy quyển Khuyến Thiện in khổ nhỏ trao cho anh Tính và dạy rằng:

– Ông đem về xem theo đây mà tu giải thoát.

Được Đức Thầy tặng cho quyển Giảng, anh Tính cảm thấy lòng mình thơ thới, tràn ngập nỗi vui mừng. Khi về nhà anh Tính học thuộc lòng quyển Khuyến Thiện và thường suy nghiệm nghĩa lý trong đó. Nhờ thế, chẳng bao lâu anh thấu đạt con đường hành đạo, lo chuyên trì Lục Tự và tránh mười điều ác. Đời sống anh không bị ngoại vật chi phối và sự tu hành càng ngày càng tiến triển.

Sau thời gian, trong chuyến đi buôn nồi, anh vừa đến vàm kinh xáng Vĩnh Hanh, anh định ghé lại để bán số nồi, kế anh bị trúng gió khá nặng. Xóm nầy nhằm anh em tín hữu thuộc Đại Đạo Tam Kỳ. Họ hết lòng lo chạy thuốc men cho anh, nhưng không giảm được. Các vị ấy bèn hỏi:

– Nếu anh có từ trần, chúng tôi làm lễ theo nghi thức đạo Tam Kỳ được không?

Anh Tính gượng gạo trả lời:

– Tôi cám ơn quí ông nhiều lắm, nhưng tôi đã qui y theo Phật Giáo Hòa Hảo rồi. Vậy xin quí ông làm lễ an táng tôi theo nghi thức Phật Giáo Hòa Hảo.

Nói xong anh Tính nằm xuôi tay thẳng chân mà niệm Phật, và hơi thở anh từ từ dứt hẳn.

Thuật theo lời cô Mai Yến.

PHẦN NHẬN XÉT:

Anh Năm Tính người miền Trung tuy sống xa Đức Thầy, nhưng rất có nhiều thiện duyên, hữu phước nên mới gặp Đức Thầy liền phát tâm tu giải thoát, lại có đủ điều kiện. Nhứt là được Ngài cho quyển Khuyến Thiện, nội dung dạy trừ thập ác, Thiền Tịnh song hành, như là:

Trau tâm luyện tánh cho minh,

Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Và Ngài còn chỉ rành về yếu môn tịnh độ vì đó là pháp kết quả rốt ráo như:

Môn tịnh độ là phương cứu cánh,

Rán phụng hành kẽo phụ Phật xưa.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Ngài còn quả quyết, nếu chúng sanh nào cò đủ ba điều kiện thì chỉ một kiếp là vượt thoát khỏi các khổ Ta Bà, được vãng sanh về An Dưỡng Quốc qua câu:

Dầu Tiên phàm Ma Quỉ Súc sanh,

Cứ nhứt tâm tín nguyện phụng hành.

Được cứu cánh về nơi an dưỡng,

Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng.

Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Đồng thời Ngài còn chỉ rõ cái khổ ở cõi Ta bà, luôn luôn lúc nào cũng có vô số, nhưng Ngài chỉ tóm lại thành tám điều, còn cõi Cực Lạc thì Y báo, Chánh báo đều được an vui.

Sự truyền Pháp của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất khế cơ và khế lý, khiến anh Tính đã được thắm nhuần Pháp vũ. Anh áp dụng Thiền Tịnh song hành và luôn cầu sanh Lạc quốc. Kết quả anh được bình tĩnh lúc bỏ xác, chứng tỏ được vãng sanh. Anh giữ được chánh niệm lúc lâm chung và sáng suốt, từ khước đề nghị của tín hữu Cao Đài. Vì anh là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nên xin được an táng theo nghi thức của đạo mình. Cao quí thay anh đã giữ đúng câu:

Một đời một đạo đến ngày chung thân.

(Tự Thán)

Đọc chuyện trên ta thấy anh Tính là một người đáng coi là đàn anh gương mẫu. Chẳng những riêng anh Tính mà chúng ta hôm nay, mỗi người đều đã có trong nhà quyển Sấm Thi của Đức Tôn Sư. Nếu ta chịu gắng gổ trì hành và một lòng trung kiên, nhẫn nại thì lo chi không sánh kiệp người xưa.

Thật vậy, nếu người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, dù là cư sĩ tại gia mà giữ đúng lời chỉ dạy của Đức Thầy thì đó là tại gia Bồ Tát Tăng vậy.

Mẩu chuyện thứ 34

THEO THẦY HAY THEO GIÁO LÝ

Thời gian luân lưu đó đây để hóa chúng độ tha, những lời thuyết Pháp vi diệu thậm thâm của Đức Thầy đã đánh thức biết bao triệu con tim trở về nguồn giác, khác nào ánh thái dương rọi tan đám sương mù. Họ hân hoan vì được nếm ân vị của suối Ma Ha, nên rất hăng say theo gót chân Thầy để có dịp được thêm thắm nhuần Pháp vũ.

Một hôm, sau buổi thuyết Pháp, bỗng Ngài đưa quyển giảng lên hỏi lớn rằng:

Tất cả bổn đạo theo Thầy hay theo Giáo lý của Thầy?

Tất cả đồng loạt đưa tay lên và đồng thanh ứng:

– Con theo Thầy! Con theo Thầy!

Đức Thầy để quyển giảng xuống, nét mặt từ bi nhìn khắp các đệ tử bảo:

– Bà con theo Thầy đến khi Thầy vắng mặt rồi theo ai? Phải theo Giáo lý của Thầy mới đúng chớ.

Tất cả những người có mặt nơi đấy, vừa được nghe câu Kim ngôn của Ngài như một tiếng chuông cảnh tỉnh, họ đều cúi đầu lãnh giáo ngọc ngữ của đấng cha lành.

Theo lời thuật của ông cựu Hội Trưởng quận Thốt Nốt.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đức Thích Ca Mâu Ni ra đời, trụ thế hoằng pháp chỉ có 49 năm mà chánh Pháp của Ngài đến nay trên 25 thế kỷ, vẫn còn chói rạng bốn phương. Thật vậy Chánh Pháp là chơn lý, mà chơn lý là lẽ thật, thì lẽ thật làm sao mất được. Bởi Đức Thầy tiên tri là Ngài sẽ xa cách tín đồ, và thời gian xa cách đó là một trận thử thách gay go, nên hành giả phải nắm chặt giáo lý siêu thượng của Ngài, cũng như người đi biển phải có la bàn, nếu không họ phải chịu lạc lõng bơ vơ giữa bao la trời nước, lại gặp sóng to chắc phải làm mồi cho lũ cá. Cũng thế, người tu tự xưng mình là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo mà không nắm vững Giáo lý của Ngài sẽ dễ bị sai đường lạc lối, dù người rất có tâm thành với đạo. Bởi có tâm với đạo mà thiếu trí nên khi Thầy Tổ vắng bóng thì dễ bị kẻ giả trá tà mị lợi dụng. Họ nhân cơ hội nầy mà xưng Tiên Phật, hoặc là Thầy Tổ trở lại. Đức Tôn Sư đã biết rõ nên báo trước cho ta điều nầy, trong Sấm Thi, Ngài có nói rất nhiều không sao kể xiết, như đoạn:

Các đạo tà mưu khéo âm thầm,

Dân rán tránh kẽo lâm mà khổ.

Chúng nó xuống khuyên răn nhiều chỗ,

Dùng phép mầu lòe mắt chúng sanh.

Ai ham linh theo nó tập tành,

Sa cạm bẫy khó mong sống sót.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Ai đọc kỹ Sấm Thi của Ngài và theo dõi mẩu chuyện chung quanh Thầy, đều nhận thức được bao lần dặn dò của Đức Tôn Sư. Bởi Ngài đã biết rõ sau nầy Ngài sẽ có thời gian dài vắng mặt và tà đạo sẽ lộng hành. Nếu không ôm chặt giáo lý của Ngài thì sẽ dễ bị ngoại đạo cám dỗ, nhứt là nghe linh ứng, kỳ hạnh, hoặc xưng Thầy trở lại và mượn xác cậu nọ cô kia, họ cũng dựa theo giáo lý của Ngài rồi viết trại theo, khiến những người nhẹ dạ dễ tin, có tâm nhưng thiếu trí, tưởng là Thầy mình trở lại, thật là một sự đáng thương, đáng tiếc làm sao! Ta hãy xét kỹ, Thầy ta là một vị Phật có sắc lịnh của hai vị Phật Tổ lâm phàm, Ngài vắng mặt vẫn còn để lại cho ta một kho tàng Pháp bảo và đã dạy là:

Làm theo lời chỉ ngày rày gặp Ta.

(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

Thế là mình hãy xét kỹ coi mình có làm y theo lời chỉ dạy của Ngài không? Nếu có thì lo gì không gặp Ngài. Về điểm nầy có lần ở Sai gòn, Thầy gọi ông Lê Bá Thế mà dạy rằng:

– Ông hãy nói lại cho bổn đạo của Thầy biết, đừng một ai lo lắng cho Thầy, mà hãy tự lo cho chính mình. Hãy tu tâm luyện trí và cần xem quyển Khuyến Thiện của Thầy mà tu hành. Những người tu hành chơn chánh đúng theo lời dạy của Thầy thì về sau sẽ được Thầy cho người tìm đến, chớ bây giờ đừng ai đến để tìm Thầy.

Vậy nếu ta có theo sát Giáo lý của Ngài, thì dù có xa cách nghìn dặm, nhưng cũng như ở bên Tôn Sư. Trái lại nếu không nghe lời dạy của Ngài thì càng tìm kiếm chừng nào lại xa Ngài chừng ấy và không tránh được mưu khéo của kẻ tà đạo thì khổ não vô cùng. Cũng như ông Ba Thới cho biết:

“Lầm tà đạo nhân hư bất dụng.”

Mẩu chuyện thứ 35

ÔNG THẦY THUỐC ĐI TRỊ BỊNH CHO ÔNG TỔ THẦY THUỐC

Lúc Đức Thầy ở Bạc Liêu, một hôm ông Nguyễn Tấn Bảy đến xin xem mạch cho Đức Thầy vì lúc đó thể xác Thầy có bịnh. Đức Thầy đưa tay cho ông Bảy xem mạch. Ông Bảy vừa đặt tay vào tay Thầy thì Ngài liền giựt lại và nói:

– Nóng quá!

Ông Bảy không hiểu ý cứ ngỡ Thầy nói tay mình nóng, nên xin Thầy cho ông tiếp tục xem mạch. Đức Thầy đưa tay ra, ông Bảy vừa rờ đến Thầy thì Ngài cũng bảo:

– Nóng quá!

Và giựt tay lại như lần trước. Luôn cả ba lần như vậy. Ông Bảy nghĩ chắc Đức Thầy muốn dạy cho mình điều gì đây, nên cung kính bạch:

– Bạch Thầy! Xin Thầy dạy cho con biết ý gì mà mỗi khi con chạm đến tay Ngài thì Ngài bảo là nóng. Có phải Thầy muốn nói sự tu của con còn nóng nảy chăng? Nhờ Thầy chỉ giáo.

Với nét mặt từ hòa, Ngài hoan hỉ phán dạy:

– Ông Bảy à! Tôi nói cho ông biết nghe, nhịn người ngoài thì dễ chớ nhịn ở trong nhà thì khó lắm ông à!

Ông Bảy khâm phục Đức Thầy vô hạn, bởi Ngài nói rõ tâm trạng của ông. Ông Bảy nhớ lại, từ khi mình biết lo tu hành, luôn luôn cố giữ sự nhẫn hòa với những người chung quanh, nhưng đối với vợ con thì sao ông cảm thấy khó nhẫn quá, nên thường xảy ra chuyện to tiếng đối với gia đình, đến khi qua rồi ông mới thấy hối tiếc, luôn luôn như vậy. Hôm nay Thầy đã thấy rõ tâm niệm của mình, vậy mình nhờ Thầy chỉ dạy cho phương pháp diệt lòng sân với gia đình. Nghĩ xong ông cung kính bạch:

– Bạch Thầy! Quả đúng như vậy Thầy ơi! Nhẫn với người ngoài thì dễ chớ nhẫn với vợ con khó quá. Con chẳng biết làm thế nào để khắc phục tánh nóng giận đối với gia đình, nhờ Thầy chỉ dạy cho con.

Đức Thầy tươi cười đáp:

– Ông biết tại sao nhịn trong gia đình khó không?

Không đợi ông Bảy trả lời, Đức Thầy từ bi dạy tiếp:

– Tại mình thấy có quyền làm cha, làm chồng, mình cứ nghĩ mình lớn quá, nên mỗi khi có chuyện bực tức làm sao nhịn được.

Ông Bảy liền nói:

– Bạch Thầy! Thật đúng vậy, tại ý nghĩ nầy khiến con không diệt được lòng sân hận của mình nỗi chớ gì. Xin Thầy dạy cho con phương pháp diệt nó.

Đức Thầy dạy:

– Muốn diệt nó, mỗi khi khởi lòng sân, ông phải nhớ là phải cuốn cái lưỡi lên.

Lãnh hội được huấn từ của Ngài, ông vô cùng hoan hỉ. Và từ đó ông đem áp dụng đều được kết quả như ý và đem chỉ lại cho đồng đạo khác đều được kết quả tốt đẹp cả.

Thuật theo lời ông Nguyễn Tấn Bảy Hội Trưởng Tỉnh Bạc Liêu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thật vậy, tánh sân hận là một trong ba thứ độc chướng đã có từ lũy kiếp đến nay, nên muốn diệt nó đâu phải là chuyện dễ dàng. Nếu không diệt được nó thì khó đến bên kia bờ giải thoát. Ông Bảy cũng là một hành giả quyết tâm tu sửa, nhưng không nhẫn được với vợ con, bởi thấy mình là chủ quyền nên không muốn vợ con làm trái ý. Đó chẳng qua là bản ngã của con người.

Nếu đứng về mặt đời mà nói thì cư sĩ thường mắc kẹt ở điểm nầy. Bởi cái ngã nhơn cứng chắc nó bao bọc mờ đục tâm giác ngộ, nên họ không muốn ai chạm đến danh vị quyền lợi của họ cả. Nếu ai vô tình hay cố ý chạm đến họ sẽ sân hận quát tháo bảo thủ cái ta của họ. Ông Bảy được Đức Thầy khai ngộ đúng bịnh của ông, mà cũng là bịnh chung của quần chúng. Đồng thời Ngài còn dạy cách diệt nó bằng cách là khi nóng giận nên cuốn lưỡi lên, đây là một phép lợi ích lớn của người Phật tử thường hành trong yếu môn Tịnh độ, vì phép nầy dễ đình chỉ vọng tâm và điều hòa cơ thể. Hơn nữa lưỡi đã cuốn lên thì đâu còn nói được mà sân, và nếu cuốn lưỡi thì mình đã hành theo pháp Hành Trì Tịnh Độ. Thế nên chẳng những ông Bảy mà chúng ta cũng nên lấy pháp nầy để áp dụng sẽ được lợi ích không nhỏ, Ngài khéo dạy ta dùng phương tiện để dẹp tánh sân của mình vậy.

Mẩu chuyện thứ 36

ĐỨC CẢ BAO DUNG

Thuở Đức Thầy độ tha hóa chúng càng lúc càng đông, do tài trí vượt hẳn mọi người của Ngài, khiến cho kẻ bán nước buôn dân sanh lòng ganh tị, lúc nào chúng cũng coi Ngài là một chướng ngại không nhỏ cho sự bán giống buôn nòi của chúng. Muốn giữ câu: “Tiên hạ thủ vi cường” nên họ tổ chức cuộc bí mật ám sát Đức Thầy để dễ bề thao túng theo hành động bất lương.

Một hôm chúng mướn anh Bê mới 21 tuổi, với số tiền khá lớn, bảo làm sao ám sát cho được Ngài. Anh Bê nhận lời và lấy khẩu súng nhỏ, hứa là mai sẽ thi hành. Khi về nhà anh lộ nét mặt băn khoăn lo nghĩ. Chị Bê vợ mới cưới của anh, thấy chồng có vẻ khác thường nên cứ theo han hỏi nguyên do. Ban đầu anh còn giấu, nhưng chị cứ hỏi nhiều lần, anh mới tỏ bày sự thật là định mai nầy anh ám sát ông Tư Hòa Hảo. Vợ anh nghe rõ câu chuyện toát mồ hôi, liền than thở với chồng:

– Anh đừng nên làm chuyện đó không nên. Ông Tư Hòa Hảo là người đức hạnh, hiền từ, cứu dân độ thế, lại là một nhà cách mạng chơn chánh, ích nước lợi dân. Mình ham chi tiền thưởng, dẫu lớn bao nhiêu thì cũng xài tiêu hết, chứ việc làm tội lỗi sẽ gây ảnh hưởng xấu cho con cháu về sau.

Chị tha thiết với chồng, nhưng anh Bê nhứt quyết, còn rầy vợ:

– Việc của tôi làm tôi biết, bổn phận của đàn bà không nên xen vào việc riêng của tôi.

Chị cố khuyên nhủ mãi nhưng không thức tỉnh được chồng. Đêm đó chị cứ thao thức vì lo sợ cho việc làm tội ác của chồng sắp diễn ra ngày mai. Ngồi bên cạnh chiếc đèn dầu leo lét, nhìn chồng đang ngủ say, chị lắc đầu sầu thảm. Đến canh ba chị chợt nghĩ, bất cứ giá nào cũng không để chồng mình giết hại ông Tư Hòa Hảo. Rồi chị lén lấy khẩu súng nhỏ của anh tháo hết đạn ra, xong rồi chị mới yên lòng đi ngủ.

Sáng ra, anh Bê thức sớm, lập tức mang súng đi thẳng lại khúc đường mà anh thấy Đức Thầy thường đi ngang mỗi sáng sớm. Chờ khoảng 30 phút, bỗng thấy Đức Thầy từ xa đi tới chỉ có một mình. Giờ may mắn đã đến, anh Bê chuẩn bị tư thế để ra tay. Thầy vừa đến, nhìn anh Bê cười và khẻ nói:

– Mới 21 tuổi sao dám lãnh tiền đi giết mướn chi vậy? Không sợ quả báo sao? Nè! Cây súng không có đạn đâu, vợ em đã lấy ra hết hồi khuya rồi, đừng làm bậy sẽ bị họa lớn nghe! Tôi tuy đi một mình chớ lính Bình Xuyên lúc nào cũng theo hộ vệ mật đông lắm. Làm không được việc mà còn mắc họa nữa à!

Đoạn Thầy nói tiếp:

– Tôi có sứ mạng dạy đạo cứu đời nên em không thể giết được đâu.

Anh Bê nãy giờ đứng thừ người ra như tượng gỗ, mặt tái mét không còn chút máu, vội đi nhanh về nhà. Vô buồng móc súng ra coi thì không có một viên đạn nào cả, hỏi ra thì chị Bê mới chịu thiệt, và khuyên chồng một lần nữa. Anh Bê nói:

Thôi mình đừng nói nữa, tôi đã biết tội của tôi rồi. Vậy vợ chồng mình nên tìm tới ông Tư Hòa Hảo để quy y, vì chắc chắn Ngài là Phật rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.

Thấy chồng thức tỉnh chị Bê mừng vô hạn. Vợ chồng đồng tìm đến Đức Thầy phát nguyện qui y.

Thuật theo lời của cô Tu sĩ Võ thị Đồng.

PHẦN NHẬN XÉT:

Câu chuyện nầy cho ta thấy, lòng từ bi của bậc Đại Giác thật vô lượng vô biên, đối với kẻ giết mình mà không giận hờn, mà con ban rãi tình thương cao cả. Nếu không phải là Phật thì có ai làm được hạnh đức nầy. Bởi Ngài lâm phàm với sứ mạng thiêng liêng là:

Phổ tế chúng sanh qua bể khổ,

Di Đà miệng niệm lánh trần gian.

(Tỉnh Bạn Trần Gian)

Định ngôi phân thứ, gây cuộc hòa bình cho vạn quốc chư bang.

Huống chi Ngài đã từng xông đuốc khói từ bi từ lũy kiếp, nên đối với chúng sanh bao giờ Ngài cũng ban tình thương bình đẳng như nhau, và đã:

Nguyện uống cho đời chén thuốc cay.

Nếu khi xưa Đức Thế Tôn đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa và từ bi độ Vô Não. Đức Lục Tổ độ cho Hạnh Xương là người đến thích khách Ngài. Thì hôm nay, từ hạnh của Đức Kim Sơn Phật cũng không hơn không kém. Vợ chồng anh Bê quả là người có túc duyên với Phật Pháp. Tuy gieo nhân đen đúa mà khi biết được đức độ cao cả của Ngài lại kịp thời giác ngộ phát nguyện quy y.

Vậy chúng ta là người tín đồ ngoan đạo phải rán học theo gương hạnh cao cả của Ngài để tiến vững trên bước đường tu thân hành thiện.

Mẩu chuyện thứ 37

KHÔNG NÊN CHỦ QUAN

Vào khoảng tháng 12 năm Bính Tuất (1946), tại nhà ông Tư Đức ở Miền Đông, Đức Thầy ra lịnh về Miền Tây. Ngài đòi trên 40 tín đồ lên để dạy việc.

Đúng ngày 28 tháng Chạp tất cả có mặt đầy đủ tại Tổ Đình Hòa Hảo. Đức Ông bảo anh em hãy trở về lo cúng Tết, qua chiều mồng Một sẽ trở lại đây và mùng Ba sẽ lên đường. Trong số nầy có ông Tạ Hùng Vĩ một tín đồ đã qui y theo Phật Giáo Hòa Hảo nhưng chưa được diện kiến Đức Thầy lần nào. Ông Vĩ bị bịnh sốt rét đã nửa tháng qua đến nay chưa bớt, cơm cháo gì cũng ăn không được, nhưng khi nghe có lịnh Đức Thầy đòi thì lòng ông rất vui mừng hăng hái. Đoàn người đi bằng xuồng nhỏ băng qua Đồng Tháp Mười để đến Miền Đông. Suốt bốn ngày mới tới vị trí. Trong bốn ngày nầy ông Vĩ vẫn còn bị nóng lạnh, nằm luôn trong nóp, không ăn chi cả. Khi nào khát nước quá thì vói xuống múc một hớp nước rồi niệm Phật mà uống; nhưng có điều lạ là khi đến nơi ông Vĩ trong người hơi khỏe và nghe đói bụng, nên yêu cầu cô Tư người có trách nhiệm nấu cơm trong văn phòng, nấu cho ông ít chén cháo. Ông Vĩ dùng luôn hai chén cháo, thấy ngon miệng quá nên múc thêm chén thứ ba, chưa kịp ăn, bỗng thấy cô nữ cán bộ tuổi độ hai mươi, vai mang một túi đồ, vừa bước vào vừa kêu cô Tư nói:

– Tôi đi công tác về đói bụng quá, cô Tư có cơm cho tôi ăn ba hột.

Để túi đồ xuống, cô Cán bộ hỏi tiếp:

– Anh Tư đi đâu vắng rồi cô Tư?

– Thầy tôi hôm nay đi hội nghị chưa về.

– Thật anh đó lần nào đi hội cũng về tối hết.

Nãy giờ ông Vĩ ngồi lặng yên theo dõi từ cử chỉ và lời nói của cô Cán bộ. Lúc đầu ông chưa biết cô hỏi thăm ai, chừng nghe cô Tư trả lời Thầy tôi hôm nay đi hội nghị chưa về, ông Vĩ mới rõ cô Cán bộ hỏi thăm về Đức Thầy. Bỗng nhiên ông thấy nơi ngực mình có vật gì ngăn tức, cặp mắt hoa lên, đầu mặt nóng phừng phừng và tay chơn đều run run khó kềm lại được. Bởi theo ông là cách xưng hô của cô Cán bộ đó đối với Đức Thầy là quá vô lễ. Cả triệu tín đồ Miền Tây chưa một ai dám dùng ngôn ngữ như thế. Ông nghĩ nếu không phải mới đến thì ông sẽ cho cô ấy một bài học đích đáng, nên ông cố dằn xuống, nhưng không thể nuốt được chén cháo thứ ba nữa. Ông Vĩ sợ ngồi lâu đó rồi không dằn được lòng tức giận mà sanh chuyện lôi thôi, nên ông bỏ đi ra ngoài cho khuây khỏa. Ông Vĩ lần bước theo con đường cặp mé rạch, độ mười phút sau, bỗng thấy một người từ xa đi lại. Mặc dù từ trước ông Vĩ chưa từng gặp mặt Thầy lần nào, nhưng khi trông thấy tướng mạo người ấy thì ông chắc đây là Đức Thầy. Qua cái chắp tay chào mừng, Đức Thầy liền hỏi:

– Ông ở Miền Tây lên tới hồi nào? Tất cả đều mạnh giỏi hết phải không?

Đoạn rồi Đức Thầy một tay choàng qua vai ông Vĩ cùng bước đi, còn một tay Ngài vừa vuốt ngực ông vừa nói:

– Thầy của mình chớ Thầy của người ta sao mà buồn tức!

Đức Thầy lập lại câu nói và động tác luôn ba lần. Nghe qua ông Vĩ quá ngạc nhiên, run sợ và tự nghĩ tại sao mình chưa trình bày việc nầy mà Đức Thầy lại biết trước, và lúc nãy mình tức giận không đúng lý. Thế rồi ngực ông bắt đầu nhẹ lại và cảm thấy bịnh trạng trong người dường như dứt hẳn.

Thuật theo lời ông Tạ Hùng Vĩ.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đọc chuyện trên ta không nên chê trách ông Vĩ sao quá chủ quan và hãy bình tâm nhận xét. Bởi ông Vĩ quá tôn kính Đức Thầy nên khi nghe lời nói của cô nữ chiến sĩ Bình Xuyên, tự nhiên thấy lòng bực tức khó chịu. Thật vậy bởi tâm niệm chủ quan là căn bịnh của chúng sanh, mà nó cũng do tích-lũy-nghiệp của con người, nhưng ông quên rằng, cô ấy chỉ là người ngoại đạo. Câu nói của Đức Thầy vừa an ủi đệ tử vừa biểu lộ lòng hỷ xả của bậc Giác Ngộ hoàn toàn nên tự tại. Đối với chúng sanh không phân biệt hay chấp trước kẻ phàm tình, bởi vạn vật đều vô thường thì âm thanh và ngôn ngữ đều là một thứ giã tạm, còn danh vị thế trần cũng như thế. Thế nên Ngài từng phán dạy:

Kêu thằng hay gọi là ông,

Cũng không có muốn ai hòng tôn ti.

(Mượn Cây Đuốc Huệ)

Còn kẻ phàm tình như chúng ta thì cũng không khác chi ông Vĩ, bị cái ái ngã chấp thủ quá nặng, nên cứ bênh vực cái ta. Cái gì mình thương kính quí trọng thì muốn ai cũng tôn quí như mình. Nếu ngược lại là giận hờn ghen ghét, đôi khi họ phải đi đến chỗ giết chóc nữa.

Mẩu chuyện thứ 38

QUY Y THÌ PHẢI LÀM Y

Năm Canh Thìn (1940), một ngày đẹp trời, quần chúng đến yết kiến Đức Thầy rất đông. Họ sắp hàng nhau, kẻ đứng, người ngồi, tụ họp đầy trước đường ở Tổ Đình để nghe Đức Thầy thuyết Pháp. Lời của Đức Thầy trong sáng, hấp dẫn lạ lùng, khiến mọi người chăm chú như say ngây ngất.

Bỗng một đoàn phụ nữ khoản 20 người từ ngoài tiến vào vái chào Đức Thầy rồi xếp hàng chen vào đám đông nầy.

Đức Thầy hỏi:

– Các bà từ xa đến đây hẳn là mộ đạo và chắc là có quy y?

Bà đứng tuổi cuối đầu nhỏ nhẹ thưa:

– Bạch thầy! Chúng con đã quy y đầu Phật, mong theo Phật để tu hành.

Đức Thầy đáp:

-Được lắm, biết đạo là quí, nhưng từ trước đến nay phần đông quy y là chỉ để y, không làm theo. Bây giờ qui y thì phải làm y. Mấy bà nên sửa mình, trau tâm và niệm Phật.

Rồi Thầy nói thêm:

– Việc niệm Phật phải cho bền. Phải niệm niệm tùng tâm khởi niệm sáu chữ Di Đà, đi đứng, nằm ngồi đều tưởng niệm không quên. Bửa củi, giã gạo, xách nước, nấu cơm, đều niệm được cả.

Thuật theo Đuốc Từ Bi.

PHẦN NHẬN XÉT:

Hai chữ qui y đã có từ 25 Thế kỷ trước, và người qui y từ xưa đến nay không số đếm tính cho hết được. Nhưng phần đông người ta thường qui y rồi cứ để y, chớ không hề cải sửa. Để ý thức chung cho quần chúng, ngài nói với mấy bà tín nữ như trên, cốt để cho chúng ta biết sự tu hành là do ở chỗ trau tâm sửa tánh và chuyên nhứt niệm Phật. Ngài dạy:

– Nam mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi, rán niệm chớ quên, không đợi gì thời khắc.

Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,

Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.

Việc biến chuyển Thiên cơ rất gấp,

Khuyên chúng sanh hãy rán tu hành.

Cầu linh hồn cho được vãng sanh,

Đây chỉ rõ đường đi nước bước.

(Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng)

Nếu quy y mà cứ để y thì dù có trải qua vô lượng kiếp cũng chẳng được thành. Bởi muốn cho tín đồ biết được ý nghĩa của chữ quy y mà nhứt tâm trau sửa, nên Ngài đã viết ở đoạn khác như sau:

– Quy y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời Phật dạy. Phật từ thiện cách nào ta phải từ thiện theo cách nấy. Phật tu cách nào đắc đạo dạy ta, ta cũng làm theo cách ấy. Thầy cảnh tỉnh, giác ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời, cần nhứt ở chỗ giữ giới luật hàng ngày.

Chúng ta là người học đạo muốn khỏi khổ luân hồi, tiến triển trên con đường giải thoát thì lúc nào cũng cúi đầu tuân thủ lời Thánh huấn của Tổ Thầy, mới khỏi uổng công Cửu Huyền trông đợi nơi chín suối. 

Mẩu chuyện thứ 39

TÔI LÀM HUẤN LUYỆN VIÊN

Bước truyền đạo của Đức Thầy trong thời nước Việt Nam còn dưới ách thống trị của thực dân Pháp thật là vất vả. Chính Ngài rày đây mai đó gần ngót một năm.. Từ ngày 7 tháng 7 năm Canh Thìn (1940) tới ngày 19 tháng 5 năm Tân Tỵ (1941) Thầy bị người Pháp quản thúc tại nhà thương Chợ Quán. Sau đó họ mới trả tự do cho Ngài.

Nhưng khi Ngài đến Bạc Liêu, cư ngụ tại nhà ông ký Giỏi thì họ cũng buộc Ngài mỗi sáng thứ hai phải đến trình diện tại sở Cảnh sát. Ở đây họ dòm ngó mãi, làm cho nhiều người muốn đến viếng Đức Thầy đều phải thất vọng. Sau đó thì sự kiểm soát của họ mới lơi dần, người ta lần lượt kéo nhau nghe Đức Thầy Thuyết Pháp và xin thọ giáo qui y càng lúc càng đông.

Cứ mỗi lần có ai đến xin quy y thì Đức Thầy kêu ông ký Giỏi bảo chép giùm bài nguyện cho họ. Suốt tháng qua, ông Ký cứ ngồi viết ngày nầy sang ngày khác. Hôm nọ ông đang ngồi bỗng buông viết xuống suy nghĩ: “Đức Thầy ở đây ngót mấy tháng rồi, mình cứ lo viết bài nguyện cho người ta mà chính mình chưa được Đức Thầy cho bài quy y nào hết”. Ông Ký bèn rời chỗ ngồi, bước đến gần Đức Thầy thưa:

– Bạch Thầy! Hôm rày con lo chép bài cho người nầy người kia, mà phần con chưa có, nay nhờ Thầy cho con một bài để con quy y.

– Thì sẵn đó ông Ký cứ chép mà học, nhưng hễ qyi y thì phải cúng lạy cho đủ hai thời sáng và chiều mới được à!

– Thưa Thầy con học bài nguyện thì được chớ cúng lạy không được.

– Tại sao vậy?

– Vì từ trước tới giờ chưa quen quì lạy, nay quì lạy đau đầu gối quá.

Đức Thầy vừa cười vừa bảo:

– Thôi thì cứ học cho thuộc đi.

Cách một tuần sau, Đức Thầy gọi ông ký Giỏi đến:

– Hôm nay tôi mượn ông một việc được không?

– Bạch Thầy! Thầy dạy việc chi con cũng sẵn sàng làm hết.

– Kể từ nay tôi cử ông làm Huấn Luyện Viên nghe.

– Huấn luyện việc chi bạch Thầy?

– Thì có ai đến qui y, ông cứ chỉ dạy người ta cách thức cầu nguyện và lễ bái chớ gì!

Ông Ký vui vẻ ưng chịu. Trưa hôm ấy có ba người tới xin qui y, ông Ký lấy bài trao cho họ và dắt họ lại bàn thờ chỉ cách thức. Ba người ấy thưa:

– Chúng tôi hồi nào tới giờ chưa biết lạy Phật, ông Ký gần gũi Đức Thầy, có thấy Ngài lạy ra sao, nhờ ông vui lòng lạy trước cho chúng tôi lạy theo.

Ông Ký chần chờ, miệng chắc lưỡi, tay rờ rờ đầu gối và cố tìm cách lý thuyết cho ba người hiểu. Bấy giờ Đức Thầy ngồi từ ghế trước trông vào nói lớn:

– Lãnh trách nhiệm làm Huấn Luyện Viên thì việc gì cũng phải làm trước cho người ta học theo chớ.

Ông Ký giựt mình bèn quì xuống nguyện và lạy cho ba người ấy làm y theo. Bắt đầu từ đó hễ có ai đến qui y với Đức Thầy, ông Ký cũng tiếp tục làm như vậy. Thế rồi mỗi ngày hai thời cúng, ông Ký vẫn thường hành mà chẳng sợ đau đầu gối như lúc trước. Ông mới chợt hiểu Đức Thầy dùng phương tiện khéo léo để giúp ông lễ bái được một cách dễ dàng.

Viết theo lời ông Võ văn Trì.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ông ký Giỏi là một cao đồ của Đức Thầy, chức thầy ký của thời Pháp thuộc, rất sang và có giá trị lắm. Sau khi bà Ký được thấy linh mộng và tìm về Hòa Hảo mà qui y, còn ông thì chưa chịu qui y mà cũng không chống bán. Mãi cho tới khi Đức Thầy xuống tại nhà ông và cũng chính ông được chứng kiến sự nhiệm mầu như chữa cháy cho kho xăng ở Bạc Liêu bằng một ly nước trà, và sử dụng quạt máy mà không cần điện. Đồng thời ông nhận ở đức độ cao cả cũng như giáo lý tuyệt vời của Ngài, nên phát nguyện qui y. Sau khi qui y, ông rất tinh tấn tu hành, và cũng có nhiều đức tánh tốt. Đến khi lâm chung ông biết trước ba tháng và rất sáng suốt bình tĩnh. Bởi là người trí nên thường dè dặt mọi vấn đề, nhứt là vấn đề đức tin.

Khi nhận xét kỹ lưỡng ông liền phát nguyện qui y, nhưng ngặt nỗi mình sống trong cuộc đời sang trọng đã quen, giờ lại quỳ sao cảm thấy khó chịu quá, nên ông bạo dạn tấu trần sự thật với Thầy mình. Dĩ nhiên là Đức Thầy biết rõ tâm niệm của ông, tuy nhiên cũng phải tùy phương tiện cho khế cơ để nhiếp hóa đệ tử, nên Ngài chẳng buộc ông cúng lạy mà cử làm Huấn Luyện Viên. Thế là ông Ký chẳng những lễ bái hai thời mà còn lạy thêm nhiều thời nữa, bởi nhiệm vụ Huấn Luyện Viên. Nhưng ông vẫn hoan hỷ vì đã quen chớ không than thở chút nào.

Đọc qua câu chuyện trên, ta mới thấy tài phương tiện khéo léo vô hạn của Đức Thầy. Thật vậy, Bồ Tát lợi sanh vi bổn, nếu không phương tiện khéo léo, thì khó thực hành trên phương diện Giác tha.

Muốn lo toan độ thế

Phương diện phải sẵn sàng

Chớ để người nghi hoặc

Tánh họ mới minh quang.

(Lời của Lục Tổ)

Bởi sợ tín đồ cứ lo khoa trương hình thức bằng sự lễ bái, tu mà không lo trau sửa tâm mình, nên Đức Thầy dạy:

Còn lễ bái là điều phụ thuộc.

Còn sự cúng lạy là một điều cần thiết để trợ trưởng cho sự tu hành, nên Ngài đã khuyến tấn:

Sớm chiều bình đẳng chớ lơi,

Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai.

(Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)

Và:

Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,

Thì sẽ được tòa chương dựa kế.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Tuy sự lễ bái là điều phụ thuộc, nhưng lại cũng là món trợ đạo để giúp ta trên phương diện tu hành. Nếu thiếu nó cũng khó đưa ta đến chổ thành công, bởi vì:

“Hữu vi chi mỹ, giả chi tắc Phật Đạo năng thành”

(Kinh Kim Cang)

Lễ bái không chỉ giúp ta nhớ phận sự mà còn bớt tánh ngã mạn của ta. Chẳng những bớt tánh ngã mạn mà giúp ta diệt tội chướng và tăng đức hạnh.

Tuy hàng cư sĩ tại gia bận rộn với gia đình, ngoài đồng áng, nhưng ít nhứt cũng có hai thời rảnh rỗi để đến trước ngôi Tam Bảo mà chiêm bái Đấng Từ Bi, và để nhớ làm theo đức độ cao cả của Ngài. Chớ nếu bỏ hết hình thức thì cũng khó kiểm nội tâm. Bởi muốn đến nấc thang thứ mười thì ta không thể bỏ qua nấc thang thứ nhứt được.

Thế nên chẳng những ông ký Giỏi được Đức Thầy tạo phương tiện cho ông quen, siêng cúng lạy hàng ngày, mà ông Đổ văn Viễn và ông Vĩ ở chợ Nhà Bàng cũng xin miễn cúng lạy mà được Đức Thầy giải thích là không nên làm biếng cúng, vì Phật Tây Phương không chứng cho người làm biếng, và phải cúng lạy mới ra vẻ người tu, vì đó là bổn phận của mình.

Mẩu chuyện thứ 40

KHẨU NGHIỆP

Nơi Kim Sơn Tự (Tổ Đình Hòa Hảo) khoảng thượng tuần tháng 11 năm Kỷ Mão (1939), vào một ngày nắng sớm chan hòa, ấm áp, Đức Huỳnh Giáo chủ đang ngồi trên chiếc ghế dựa bàn bạc việc Đạo cùng một số tín đồ: Ông Năm Chơn, ông Biện Hùm, ông Năm Hiệu và ông Đặng Thành Tựu. Đang nói chuyện, bỗng Đức Thầy ngừng lại, đứng dậy hướng mắt ra cửa nói:

– Đem đi đâu vậy? Đem về đi, mượn người ta thì mang ơn người ta chớ!

Lúc ấy chẳng ai hiểu Đức Thầy muốn nói gì và ám chỉ việc chi. Thì một bà lão từ trên chiếc xe lôi ngoài đường đang bước xuống, trên tay bà đang bồng một em bé độ bảy tám tuổi, tay chơn buông thỏng như một xác chết đi vào. Bà lão vừa đặt đứa bé xuống bộ ván ngựa thì Đức Thầy cũng lập lại câu nói ban nãy:

– Đem đi đâu vậy, mượn người ta thì mang ơn người ta chớ.

Bà lão có vẻ lo lắng, giọng trầm buồn bạch với Ngài:

– Bạch Thầy! Nhờ Thầy ra ơn từ bi cứu giùm cháu tôi. Số là buổi chiều hôm qua, dâu tôi là mẹ đứa bé nầy vì tức giận nên đã kêu Thần Thánh mà trù rủa con nó rất nhiều, thành ra hôm nay mới xảy ra việc nầy.

Bằng một giọng buồn rầu bà tiếp:

– Nó đau nặng quá Thầy, xin Thầy làm phước cứu giùm nó.

Thật vậy, đứa bé kia chỉ còn chút hơi thở yếu ớt mà thôi. Mặc dầu nói vậy, nhưng Đức Thầy: “… Vì lòng từ ái chứa chan, thương bách tính tới hồi tai họa … dưới dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi …” (Bài Sứ Mạng)

Ngài đi ngay lại bàn Phật, lấy chung nước lã, đem trao cho bà lão cho đứa bé uống, chẳng mấy chốc đứa bé tỉnh lại như thường.

Viết theo lời ông Đặng Thành Tựu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lời xưa đã bảo: “Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, Nhứt ngôn khả dĩ tán bang.”

Đức Giáo Chủ đã phán dạy: “Trong đường tu nương theo Tam nghiệp thì khổ não lắm, chúng sanh tịnh được Tam nghiệp thì mới mong về cõi Phật.

Tam nghiệp là:

– Thân nghiệp.

– Khẩu nghiệp.

– Ý nghiệp.

Nhưng Thầy xét lại khẩu nghiệp các trò nặng nề hơn hết.”

Thật vậy, cái lưỡi là một lợi khí không nhỏ của nhơn sanh. Người ta không ngần ngại dùng cái lưỡi để bóp méo sự thật và biến kẻ ân thành oán, rồi dắt tay nhau đến chỗ tương sát tương tàn, biết bao thảm kịch do miệng lưỡi.

Đức Giáo Chủ cho biết cái lưỡi đã tạo những sự chia rẽ, những sự phân tranh phá tan sự đoàn kết, tình thân yêu của nhơn loại. Nó cũng là nguồn cội của bao sự bất hòa, hiềm khích. Phụ nữ ở nước ta cũng có nhiều người không cẩn hạnh, cẩn ngôn, nên khi tức giận thì buông lời nói ác, hoặc trù rủa, kêu mời không nể kiêng Thần Thánh. Đến khi lâm bịnh khóc than khấn vái. Nếu không mãn nguyện thì trách móc Phật Trời. Để khuyến cáo kẻ mê mờ, Ngài phán dạy ở điều răn cấm thứ tư:

“Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay hoặc nguyền rủa vì Thần Thánh không can phạm đến ta.”

Một nơi khác Ngài cũng từ bi phán dạy:

Bịnh ôn dịch cũng đừng mời thỉnh,

Cõi ngũ hành chẳng khá réo kêu.

Hãy gìn lòng chớ khá dệt thêu,

Nói xiên xỏ cũng không no béo.

(Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng)

Đức Giáo Chủ ra đời như vầng thái dương rọi tan đám sương mù đã từ lâu che lấp ánh sáng trí tuệ. Chẳng những dạy con người sớm tỉnh ngộ lên đường giải thoát, mà còn dạy họ hoàn bị hạnh tu nhân. Nên phận làm cha, mẹ cũng không quên làm gương hạnh cho con cháu. Ngài dạy:

Dạy rồi những việc đức ân,

Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào?

Lỗi lầm chớ có hùng hào,

Đừng chửi đừng rủa đừng cào đừng bươi.

Đem lời hiền đức tốt tươi,

Đặng mà giáo hóa vàng mười chẳng hơn.

Cũng đừng gây gổ giận hờn,

Cho con bắt chước sạ duơn mới là.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Từ khi nghe được lời phán dạy của Tổ Thầy, đa số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã trau sửa, nói lời chánh ngữ, nên đã trở thành con người tốt đẹp từ lời nói lẫn việc làm, và tránh khỏi bị tai họa do khẩu nghiệp gây ra.

Mẩu chuyện thứ 41

CHÂN VÀ GIẢ

Tháng 10 năm 1939, tức sau ngày Đức Thầy mở đạo năm tháng. Sau khi đến viếng thăm Ngài và nghe Pháp, một số đồng đạo xúm nhau ngồi trước khách đường tại Tổ Đình để trao đổi ý kiến. Kẻ tán thán công đức nói pháp kỳ diệu của Đức Thầy, người bàn bạc thiên cơ biến chuyển trong thế chiến thứ hai. Có người than thở rằng:

– Bây giờ nhiều đảng nhiều đạo mọc lên, ai cũng cho mình hay, mình đúng, làm chúng sanh trong chỗ mịt mờ tối tăm, càng mờ mịt tối tăm hơn, không biết đâu là chơn lý mà nương tựa.

Đức Thầy từ trong nhà thong thả tiến tới bên anh em đang xúm nhau đàm đạo. Đúng vào lúc có sự thắc mắc của một đồng đạo, lo lắng dùm cho chúng sanh sẽ lầm đường không biết đâu là chơn lý như đã nêu trên, thì Đức Thầy dừng chơn và Thuyết Pháp:

– Các ông hãy nhìn đây là chiếc đèn hột vịt và đây là cái lồng đèn bốn mặt bao phủ chung quanh bằng bốn màu kiếng, xanh, đỏ, trắng, vàng. Các ông hãy nhận rõ ánh sáng của đèn rồi để chiếc đèn vào lồng, bấy giờ các ông sẽ thấy gì? Có phải các ông tùy theo chỗ ngồi của mình mà thấy rõ ràng ánh sáng của ngọn đèn là ánh sáng của màu kiếng phía mình ngồi đó chăng?

Đức Thầy dừng một chút rồi tiếp:

– Cũng như thế đó, chơn lý chỉ có một là ánh sáng chơn thật của chiếc đèn tủa ra, còn sự trông thấy xanh đỏ trắng vàng của chúng sanh là tùy thiên chấp chủ quan của tự mình hoặc của ngoại cảnh chi phối mình mà thôi. Vì không chịu tìm tòi chơn lý nên không phân biệt được nẻo chánh đường tà, khiến người ta phân vân, hoặc có khi vì biên kiến mà sanh lòng tranh chấp, ghen hờn với nhau nữa. Điều đó thật đáng thương.

Giảng xong mấy câu, Đức Thầy ung dung rảo bước, còn đồng đạo thì như sực tỉnh cơn mê, trầm ngâm nét mặt.

Thuật theo lời ông Võ Quang Lệ.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lời giảng của Đức Thầy trên đây có ý nghĩa không khác bài pháp nói người mù rờ voi của Phật Tổ. Người ta bị vô minh che lấp chơn tâm rồi nhìn đời thiên lệch theo tà kiến nên nhận giả làm thiệt, chấp không ra có. Muốn diệt trừ phải giữ sự bình lặng của chơn tâm và phải tập trung tư tưởng suy nghĩ cho minh đúng lý rồi mới phán đoán sự vật. Ánh sáng chiếc đèn là sự thật mà các lớp màu của kiếng bọc bên ngoài là giả cảnh, làm hư vọng sự thật mà thôi.

Mẩu chuyện thứ 42

ĐOÀN KẾT ĐỂ CHUNG LO

Ngày mùng một tháng sáu năm Aát Dậu, sau khi làm lễ rước lư hương về An Hòa Tự, Đức Thầy qua Năng Gù để đi Khuyến Nông Thuyết Pháp.

Tại Long Xuyên, nơi đây Ngài được tiếp rước trọng thể. Thính chúng nhiệt liệt hoan nghinh trên diễn đàn đặt tại từng lầu một công sở xã Mỹ Phước nay là phòng thông tin tỉnh An giang. Bấy giờ tại Long Xuyên, Ban Trị Sự Tỉnh Bộ có sự bất đồng ý kiến giữa ông Phó Hội Trưởng và ông Thủ Bổn, khiến việc đạo có phần ngưng trệ. Hình như đã biết trước một cách tinh tường, nên khi dùng cơm trưa tại tư thất của ông Võ Tăng Sâm, có sự hiện diện của nhiều nhơn vật cao cấp, Đức Thầy với giọng cương quyết truyền rằng:

– Người làm đạo phải dẹp bỏ mọi tị hiềm cá nhơn, phải chung lo việc đạo với nhau. Kẻ nào chia rẽ về sau sẽ bị đứt đầu.

Tất cả đều im lặng trong bầu không khí nặng nề, răm rắp kính vâng lời dạy của Đấng trọn lành trọn sáng.

Viết theo lời của ông Lê Bá Thế.

PHẦN NHẬN XÉT:

Định luật xưa nay cho biết, chia rẽ thì diệt vong, tự mình diệt lấy mình chớ khỏi đợi đối phương tiêu diệt.

Lời phán của Đức Thầy ở trên là một bản án không hơn, không kém, mà nó cũng có giá trị cao trên việc động viên góp phần tài bồi đạo cả. Nếu hàng ngày tâm niệm và nhứt cử nhứt động đều lấy đó làm phương châm thì người tín đồ Phật Giáo Hào Hảo sẽ làm sáng danh Thầy Tổ và vững vàng Đạo Pháp biết chừng nào.

Mẩu chuyện thứ 43

MỘT BÀI NGỤ NGÔN

Buổi mai vừa vén màn sương lạnh của ngày tàn Đông năm Kỷ Mão. Mấy chậu kiểng, khóm hoa, trúc nơi Kim Sơn Tự đều có vẻ thơi thới. Nhứt là cây huỳnh mai trên mỗi cành đều ôm đầy ấp nụ vàng như cười tiển tiết Đông Thiên và sẵn sàng chờ đón mùa xuân bước tới.

Đức Thầy dừng chơn giữa sân hoa, Ngài vừa nhìn kiểng vật vừa trầm ngâm suy tư. Bên đường làng người qua lại tấp nập. Bỗng Đức Thầy chú ý đến toán người vừa lướt nhanh qua cổng ngoài, trên tay họ hoặc mang, hoặc xách những chiếc bội đương rất mỹ thuật với những chú gà nòi, cắt lông, cạo cựa trông rất oai phong. Chúng cất lên những tiếng gáy hăng độ, ý chừng muốn ăn tươi nuốt sống đồng loại chúng, hoặc vừa nghe tiếng gáy, hoặc vừa trông thấy được bồng ẫm trên tay của người đồng hành bên kia. Cảm xúc trước cảnh ấy, Đức Thầy ngâm lên một bài thơ tứ tuyệt:

Gà cồ coi vậy thiệt là ngu,

Nòi giống không thương lại oán thù.

Thiến tích cạo đầu làm mặt lạ,

Chém đâm nhau chết máu lu bù.

Ngâm xong bài thơ, Đức Thầy trở lại Trai phòng tiếp tục công trình hoằng Pháp.

Theo Đuốc Từ Bi.

PHẦN NHẬN XÉT:

Trên đây là một bài ngụ ngôn không hơn không kém. Nếu xưa Phan văn Trị làm bài ngụ ngôn: “Vịnh cá lia thia” để dụng ý chê trách những người vì lon, vì đai mà chạy theo thực dân Pháp để trở lại buôn nước hại nòi, thì ở đây Đức Thầy cũng đem câu chuyện “Gà nhà bôi mặt đá nhau” mà ngụ ý khuyên can những ai vì lơi quyền, vì ích kỷ mà đành quên nhân nghĩa và đạo lý để đến phải trở mặt thù hằn, ganh ghét lẫn nhau.

Chỉ vỏn vẹn 28 chữ, những câu thơ trên quả là lời thuyết Pháp, thuyết về lòng nhân không hiếu sát, thuyết về si mê biên kiến, nhẩn tâm sát hại lẫn nhau, thuyết về lòng người tráo trở, xoay lưng sấp mặt với đồng loại. Nhìn vào tấm gương hoen ố mà loại gà trống đã thể hiện, loài người nên tránh xa. Suy nghĩ ít vẫn thấy hay, mà càng ngẫm nghĩ thật nhiều thì cái ngụ ý của Đức Thầy cho ta một bài học thâm trầm biết mấy.

Mẩu chuyện thứ 44

THEO BẦY MỚI SỐNG

Miền Đông, ở tại nhà ông Tư Đức, vào một ngày cuối năm 1946. Khi vầng dương vừa ngã bóng nghiêng về đỉnh núi, tại đây một bầy vịt ước chừng vài chục con, sắc lông trắng ngà, kéo nhau đi ra bờ sông. Trong một bầy vịt đang đi thì thình lình có hai con ngã lăn ra vì bị gió độc.

Bấy giờ Đức Thầy hiện có nơi đây, Ngài bước tới chỗ hai con vật mắc bịnh kia rồi lấy tay vỗ nhẹ lên lưng chúng, hai con vật từ từ đứng dậy. Ngài đưa tay nâng lên và đẩy nhẹ chúng đi. Hai con vật nhờ vậy chạy theo nhập bọn với đàn vịt vừa đi phía trước. Đức Thầy đứng dậy, lúc ấy có sự hiên diện của ông Nguyễn Thành Hiệp. Ngài phán rằng:

– Vịt nhờ nương bầy nên mới sống, nếu đứng riêng thì nó đã chết rồi.

Thuật theo Đuốc Từ Bi.

PHẦN NHẬN XÉT:

Điểm trước tiên chúng ta nhận thấy nơi đây một huyền diệu mà bước đầu độ bịnh cho nhơn dân, Đức Thầy thường áp dụng Mật Giáo. Kế đến ta thấy Ngài cho ta một bài học đoàn kết thân ái với nhau, mà nhiều nơi Kinh Giảng Ngài thường nhắc lại:

Lòng trẻ thảo biết đoàn biết kết,

Phí xác phàm mê mệt đâu nài.

(Thu Đã Cuối)

Anh em lớn nhỏ quày về,

Hiệp nhau một khối chớ hề phân ly.

(Tiếng Chuông Cảnh Tỉnh . SG TT tr 462)

Hoặc:

Chớ chia rẽ phải đồng tâm lực,

Khua giọng vàng đánh thức bốn phương.

Chấn hưng Phật Giáo học đường,

Dưới trên hòa thuận chọn đường quy nguyên.

(Thu Đã Cuối)

Mẩu chuyện thứ 45

HẠNH KHIÊM TỐN CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

Đệ nhị thế chiến bùng nổ, thế giới khủng hoảng trước chiến tranh, dân chúng lâm vào cảnh điêu linh thống khổ, sự truyền giáo của Đức Huỳnh Giáo Chủ lúc đó cũng lắm truân chuyên khổ khó. Thực dân Pháp lo ngại trước uy tín của Ngài, họ buộc Ngài đi an trí nhiều nơi do họ chỉ định. Mãi đến năm 1942 Ngài mới thoát khỏi sự kềm kẹp của chúng và cư ngụ tại Saigòn.

Lòng nhớ thương Thầy, tín đồ lần lượt đến viếng Ngài. Năm Giáp Thân (1944), có một số tín đồ từ Cao Lãnh rủ nhau đi Sai gòn viếng Ngài. Họ đi bằng chiếc ghe tam bảng bốn bổ chèo. Chuyến đi này gồm các ông Hội Trưởng, Phó Hội Trưởng Quận Cao Lãnh, ông Hội Trưởng xã Tân Tịch, ông Hội Trưởng xã Tân Thuận Tây, các ông Hai Đấu, và Bùi văn Triển. Ngày mùng 2 tháng 3 nhuần 1944 thuyền rời Cao Lãnh đi theo những con sông lớn đến rạch, ngòi heo hút, trải qua ba ngày mới đến Sai gòn.

Bốn ông Hội Trưởng lên trước, ông Đấu và ông Triển nhờ bốn ông xin phép Đức Thầy cho hai ông diện kiến. Khi công việc của các ông Hội Trưởng trình xong, họ bạch với Đức Thầy cho hai người cùng đi được viếng Ngài. Đức Thầy chấp thuận, nhưng Ngài dặn sáng hãy dắt lên.

Sáng ngày đi quanh lộn trên đường Sai gòn một lúc lâu, hai ông được đưa đến sau một dãy phố hai tầng. Bước vào căn phố, đứng trước một cái bàn dài. Hai ông chờ đợi một lát sau, Đức Thầy ở ngoài cửa đi vào, vẻ mặt hiền hòa từ ái. Ông Đấu đứng lên xá Đức Thầy. Ngài nghiêm nghị thân hình, tay buông thẳng và đầu từ từ cúi xuống. Bấy giờ như có một mãnh lực vô hình thúc đẩy, ông Triển làm y theo ông Hai Đấu, dẫu rằng từ trước đến giờ ông chưa bao giờ gặp mặt Đức Thầy lần nào và trong ý ông nghĩ rằng có lẽ đây là Đức Thầy mà mình đang hằng mong gặp mặt.

Hai ông chào hỏi Đức Thầy xong, Ngài nhỏ nhẹ tỏ lời:

– Cám ơn các ông chẳng ngại xa xôi đến viếng Thầy. Vậy về nhà rán thực hành theo những điều mà tôi đã dạy trong Sấm Giảng.

Khi ấy ông Đấu bạch cùng Ngài cho ông được lạy Thầy, vừa nói xong, vừa quì xuống. Đức Thầy nghiêm nét mặt đưa tay chận lại và nói:

– Không!

Ông Đấu vẫn cúi xuống.

Không! Không!

Tiếng Ngài gắt lên, nhưng ông Đấu vẫn cúi lạy xuống.

Liền đó Đức Thầy liền quay bước vào trong tránh cái lạy mà Ngài đã không chấp nhận.

Một lát sau Ngài trở ra trước cái ngại ngùng của ông Đấu, Ngài nói một cách nghiêm nghị và quả quyết:

– Trước mặt tôi những việc làm tôi không cho mà ông còn làm như vậy, khi không có tôi ông hành động bướng bỉnh như thế nào nữa?

Một chập sau Ngài tiếp tục nói, có rất nhiều về những pháp môn hành đạo, chỉ điểm những yếu lý trong giáo lý Phật Đà. Ngài cho biết đời Hạ Nguơn ma quỉ tà thần hay lộng hành á vị, xưng phật, xưng Thần nhiểu hại thế gian.

Qua hàng giờ với lời khuyên bảo cặn kẽ của Đức Thầy, đã làm cho tâm tư hai ông thơ thới như được uống bát nước cam lồ. Ở đó tiếp chuyện với mấy đồng đạo khác, chặp sau hai ông mới trở ra. Lúc ấy Đức Thầy đứng coi mấy anh em đang chùi rửa mấy chiếc xe hơi trước nhà. Bấy giờ ông Đấu và ông Triển đi đến chào Ngài để về, Đức Thầy đứng thẳng người để đáp lễ với cử chỉ như lúc Ngài chào hỏi hai ông ban đầu.

Ông Triển cho biết với phong thái khoan hòa của Đức Thầy đối với hàng tín đồ, từ xưa đến nay ít người sánh kịp. Ông quả quyết không thế nào lầm lạc với những người hiện nay xưng cậu, xưng thầy mà tư cách của họ chẳng đúng vào đâu.

Viết theo lời ông Bùi văn Triển.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đem sự lễ bái mà sùng ngưỡng các bậc siêu nhân Phật Thánh là điều đáng khuyến khích, song ta cũng không nên ngang bướng trước việc làm mà Thầy Tổ đã nhiều lần khuyên giải.

“Chỉ thờ lay Đức Phật, tổ tiên, ông bà cha mẹ lúc còn sống, và các vị anh-hùng cứu-quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy-lục người sống., cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi”. Thế mà hiện giờ còn lắm người tự cho mình là chứng đắc quả vị Phật hầu lòe đời phỉnh gạt thế nhơn. Họ ngang nhiên để thế nhơn lễ bái, phụng sùng, sống phè phỡn bằng mồ hôi nước mắt của những kẻ cuồng tín, trái với câu chuyện trên cho ta thấy đức độ của Đức Giáo Chủ đối vơi tín đồ có giá trị khó lường. Hạnh đức khiêm tốn của Ngài thật vô cùng thánh thiện. Nhưng trong khi thời kỳ nầy nhiều Quỷ Vương xuống thế, bao mối đạo mới mọc lên như cỏ dại, kẻ xưng thầy xưng Phật lộng hành á vị, thì làm sao chúng ta phân biệt được ai tà ai chánh, gút mắt ấy được Đức Giáo Chủ phân giải:

Bây giờ bất luận người nào,

Không dùng của thế sắc màu cũng không.

Nói cho bổn đạo rõ lòng,

Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Bởi vậy giáo lý siêu thượng của Ngài mỗi ngày mỗi lan dần vào quần chúng, mỗi ngày hàng tín đồ càng lúc càng đông. Ấy cũng bởi đức khiêm tốn của Ngài trùm khắp. Lời tiên tri của Ngài tất thể chứng minh.

Mẩu chuyện thứ 46

CHỈ CÓ MỘT NẤC

– Chiều nay anh em đừng đi chơi đâu xa.

Lời nói ấy là khẩu lịnh của Đức Thầy phán dạy trước một số anh em đồng đạo vào chiều ngày 2 tháng 3 Dương lịch 1945, tại căn phố số 150 đường Lefèvre Sài gòn. Anh em đồng đạo mãi thắc mắc trước khẩu lịnh ấy, họ tự cật vấn nơi lòng, có chuyện gì xảy ra trong đêm nay. Ông Lê văn Phán, một đồng đạo hiện có mặt trong thời gian ấy, lòng cũng nghi nan, ông bèn hỏi ông Chủ Cưu:

– Đêm nay bộ có chuyện gì sao mà Đức Thầy không cho đi chơi vậy ông Chủ?

Vẻ trầm ngâm chen lẫn trong sự áy náy làm hiện rõ trên nét mặt ông Chủ trước câu hỏi của người bạn Đạo. Ông đáp:

– Việc nầy Thầy cấm không cho ai biết, đêm nay Nhựt đảo chánh Pháp đó.

Tâm tư ông Phán một vùng trời tự do lóe ra, vừa mừng và cũng vừa lo. Chập sau đèn điện cháy sáng, 7 giờ 40 phút, một phát súng lệnh nổ lên, hàng trăm tiếng khác phụ họa, và rồi liên tiếp tiếng ì ạch.. .đạch đùng.. .tiếng người la ó, hò hét, rên rỉ. Một thứ âm thanh hổn loạn, kỳ hoặc, được dâng lên từ mặt đất lên cao và cao mãi.

Nhựt đảo chánh Pháp, lời nói thì thầm qua cửa miệng của người dân Việt. Quyền hành của thực dân Pháp sau đêm kinh hoàng ấy đã mất tất cả, phải nhường lại cho anh lùn Nhựt Bổn. Sáng ngày 10 tháng 3 Dương lịch 1945 hầu hết anh em đồng đạo cư ngụ bên cạnh Đức Thầy được cơ hội đi viếng đó đây. Ông Lê văn Phán cũng đồng tâm trạng như những đồng đạo khác. Sau khi dạo cảnh xong ông trở về đúng bữa cơm sáng, đang lúc nên ông Phán cũng ăn cơm với anh em, thì Đức Thầy từ trên lầu đi xuống, Ngài hỏi ông:

– Bộ ông mừng lắm hả?

– Dạ thưa Thầy con mừng lắm.

– Đó chỉ là một nấc thôi ông ạ!

Viết theo lời ông Lê văn Phán.

PHẦN NHẬN XÉT:

Khi trí huệ đã mở thì những gì gút mắt bí ẩn của giòng đời, của cơ tạo hóa, các bậc Đại Giác đều biết trước một cách rành rẽ.

Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng thế, trước sự hân hoan nô nức của mọi người, trước niềm tin vào thế cờ của đất nước, sự chuyển hướng qua giai đoạn mới, thì Ngài cho biết đó chẳng qua mới có một nấc. Quả thật sau đó một thời gian thì hai trái bom Nguyên Tử rơi xuống Trường Kỳ (Hiroshima) và Quảng Đảo (Nagasaki), Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện. Pháp trở lại thêm một lần giẫm bừa gót giày xâm lược trên đất Việt, một lần nữa người dân vô tội ôm hận với bạo lực cường quyền.

Thế là lời tiên tri của Ngài đã chứng thực, thảm thê thay, khổ não, khốc hại nào phải có một nấc mà hết đâu.

Đã biết khổ não còn bi thiết hơn trong ngày cơ tận diệt, chúng ta hẳn phải trì chí bền lòng tu tỉnh để đón tiếp một ngày mai huy hoàng.

Mẩu chuyện thứ 47

LÒNG THÀNH CẢM ỨNG

Ông Lê văn Phán và ông Phạm văn Rạng là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ngụ tại xã Kiến An, Chợ Mới, An giang đến thăm Đức Thầy ở Bạc Liêu, vào khoàng tháng 6 năm Tân Tỵ (1941).

Khi đến nơi, cửa ngõ nhà ông Ký Giỏi đã đóng kín. Thấy vậy, hai ông đứng ngoài chờ đợi. Giây lát cô Ký trong nhà bước ra, thấy hai ông cô vui vẻ:

– Chào hai cậu, hai cậu đến đây thăm Thầy? Tốt lắm, song độ nầy Thầy cấm vì lính kín dòm vô theo dõi gây sự khó khăn cho anh em đồng đạo, mong hai cậu thông cảm cho.

Tuy không vào thăm Thầy được, nhưng hai ông vẫn nuôi hy vọng sẽ gặp mặt Thầy, dầu chỉ là gặp mặt. Đêm đến, hôm đó rạp hát ngang cửa nhà ông Ký Giỏi có hát xướng. Người đi xem qua lại xôn xao, nên hai ông lẫn trong số người đó đi qua đi lại mà mắt luôn dòm vào nhà ông Ký Giỏi, lòng vẫn nuôi hy vọng gặp được Đức Thầy. Mỗi bước đi của hai ông là mỗi tiếng niệm Phật, mỗi nhịp thở của hai ông là mỗi lời van vái sao cho thấy được mặt Thầy.

Chặp sau bỗng cánh cửa nhà ông Ký hé mở, Đức Thầy từ trong nhà đi ra, Ngài vói tay lên vặn công tắc điện. Một tiếng cắc khô khan, chiếc đèn bật sáng. Ngài đi qua đi lại trước hành lang ba hiệp, mắt nhìn ra ngõ, rồi sau đó Thầy đưa tay khóa công tắc đèn. Bóng đêm mờ mờ lại về, lúc bấy giờ ở ngoài hai ông lòng chi xiết nỗi hân hoan khi Đức Thầy đã đáp ứng đúng nguyện vọng của mình mong muốn, chỉ thấy mặt Thầy thôi cũng đủ rồi.

Lời hai ông to nhỏ với nhau từ cửa miệng qua tâm tư cởi mở vui mừng.

Viết theo lời ông Lê văn Phán.

PHẦN NHẬN XÉT:

Dở trang Phật sử, ta thấy Chư Tổ, Chư Sư trong khi giáo hóa quần sanh đều tùy duyên hóa độ, các ngài đều cảm thông nguyện vọng chí thành của mỗi chúng sanh mà ứng hiện, hoặc dùng lời nói, hoặc một cái nhìn, hoặc một hành động v..v.. . nhứt nhứt đều đáp ứng những gì thế nhơn mong muốn trong phạm vi chơn chánh

Xuyên qua chuuyện bên Thầy nêu trên, hẳn chúng ta đã thấy nơi Thầy một Tha Tâm Thông của vị Hoạt Phật. Mặc dù chuyện vái thì thầm của người bổn đạo, song đã cảm nhận đến mối từ tâm của Ngài. Cho nên dù hiện giờ Thầy còn ở tha phương, nhưng nếu với lòng thành tin tưởng với số mạng độ đời của Ngài, thì Ngài tất cũng sẽ đến với ta:

Tuy là hữu ảnh vô hình,

Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai.

(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

Có hiểu như vầy, trên đường hành đạo của chúng ta, dầu cho phải chịu ngàn cay đắng, phải trải qua bao khổ khó gian truân, bao sự thử thách lọc lừa cũng không thể lung lay tâm trí, và khi chọn đạo làm hướng Bắc của địa bàn, chúng ta sẽ đạt đến chỗ thành công.

Có thế mới được:

Nấc thang vinh hạnh Thầy riêng cho mình.

Mẩu chuyện thứ 48

ĐỨC HÁO SANH

Thời thơ ấu của Đức Thầy còn đi học tại trường quận Tân Châu, hàng năm hễ đến độ nghỉ hè thì Đức Thầy về nhà, tức tại Thánh Địa Hòa Hảo. Ngài thường ra đồng ngắm cảnh, hay đi vòng theo các đám rẫy bắp, đậu đang trổ cờ, trổ trái, nhứt là Ngài thường đứng nhìn những thửa ruộng xanh non vừa cao vài tất, ngọn quặc cần câu đang lượn mình theo chiều gió. Thỉnh thoảng ngài đừng lại một nơi với trạng thái im lặng như nghĩ ngợi một vấn đề gì đó, không ai hiểu đặng.

Một hôm nọ cũng như thường lệ Ngài lần bước theo xem một số người đang làm cỏ trong một đám đậu. Đức thầy thấy người nào cũng bắt cóc xỏ xâu và cột ở bên lưng. Ngài nhìn theo các xâu cóc thương hại.

Bỗng có một con cóc từ mấy người làm cỏ nhảy hoảng tới ngay mặt Ngài, Ngài mới lẹ làng lấy chơn đè lên mình con cóc để che khuất nó. Bấy giờ số người làm cỏ mới đổ dồn về phía con cóc vừa nhảy. Đức Thầy lại lanh trí hơn, Ngài đưa mắt nhìn về chỗ chòm cỏ cao ở bên trái rồi la lớn:

A! Con cóc!

Ai nấy đều cứ tưởng con cóc nhảy về phía đó thật, liền tìm kiếm hồi lâu không được, họ bèn trở lại tiếp tục làm cỏ. Khi ấy Đức Thầy mới dở chơn lên cho con cóc nhảy đi nơi khác, thế là Ngài cứu thoát được con cóc khỏi vô xâu của số người làm cỏ.

Câu chuyện nầy kể theo lời ông Nguyễn Hữu Truyền.

PHẦN NHẬN XÉT:

Xưa nay người có lòng nhơn lúc nào cũng muốn thấy sự sống vui chứ không muốn thấy sự chết khổ, “kiến kỳ sanh bất kiến kỳ tử”. Huống hồ chi các đấng giác ngộ tâm tư của các Ngài đã xông ướp khói từ bi từ lũy kiếp cho nên các Ngài đâu nỡ ngồi yên nhìn cảnh chúng sanh đang đau khổ mà chẳng ra tay cứu vớt. Chính vì điều ấy, nên Đức Thầy đã thốt:

… Vì thể lòng từ-bi bác-ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh …

Đọc câu chuyện trên chúng ta hồi tưởng lúc Thái tử Sĩ Đạt Ta còn niên thiếu, một hôm Ngài theo Vua cha tức Tịnh Phạn Vương dự lễ Hạ Điền, theo tục lệ xứ Ấn Độ thời ấy khi làm lễ xong Vua phải xuống ruộng cày trước ba vòng, sau đó dân chúng mới bắt đầu làm mùa.

Lúc Vua cày đất bật lên, các loài dế, trùng bày ra, liền đó các loài chim đáp xuống tranh nhau mổ những côn trùng ấy mà ăn. Thái Tử đứng nhìn cảnh bi đát than rằng: “Thế thì tất cả chúng sanh trong cõi Ta bà chỉ biết ỷ mạnh hiếp yếu, ăn thịt lẫn nhau vậy sao?”.

Ngài thấy mình có bổn phận tìm ra cách giải khổ chúng sanh. Khi vua cha cày đất xong bước lên xe giá về thành mà Thái Tử vẫn còn đứng im tại chỗ, suy tư mãi. Đó là cái cơ duyên ung đúc một ngày kia: Thái tử

Lìa cha già vợ đẹp con cưng,

Thân chẳng sá xông pha bờ bụi.

Ngài thuở ấy nên mười chín tuổi,

Tâm đại hùng cương quyết tu trì.

(Khuyến Thiện)

Và cho đến lúc:

Ấy mới vừa đắc đạo hoàn toàn,

Và lần bước phô trương độ chúng.

(Khuyến Thiện)

Còn Đức Thầy của chúng ta hiện nay cũng thế, cũng chứng kiến cảnh chết khổ của chúng sanh, cũng tâm từ bi và ý chí đó Ngài mới lâm phàm:

Lòng yêu sanh chúng luân chuyển kiếp,

Dạ ái dương trần đổi xác thân.

Thuyền từ bi thẳng cánh lướt sang,

Qua Đông Độ vớt người hữu đức.

Cho nên lúc lâm phàm dầu gặp hoàn cảnh chua cay thử thách Ngài chẳng hề nao núng:

Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,

Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng

(Giác Mê Tâm Kệ)

Ngài còn cho biết:

Thân ta dù lắm đoạn trường,

Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn loài.

Vả lại quả vị Chánh đẳng chánh giác tức là quả bồ đề do cây từ bi mà thành, mà cây từ bi thì phải phát xuất hạt giống lòng nhơn, thương người mến vật, kẻ học Phật phải đúc kết từ điểm nhỏ lòng nhân mới đạt được kết quả to lớn là bồ đề. Cho nên đối với một loài vật nhỏ bé như một loại cóc, Đức Thầy cũng xúc động từ tâm cứu độ.

Ấy cũng là gương cho tín đồ noi theo:

“Muôn loài đều có đạo, Chớ sát hại loài nào.”

Ngài thường dạy rằng:

Thế nên ta hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các loại gia súc: Trâu, bò, ngựa, chó, mèo chẳng khá sát hại vì chúng đã giúp ích cho ta trong sinh hoạt hàng ngày. Tóm lại không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt hãy cữ hẳn.

Đức Thầy còn đưa tầm nhận thức cho mọi người sâu hơn chút nữa:

Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên.

Đây là nói đến sự trả vay của luật nhơn quả lúc nào cũng nghiêm minh.

Luật nhơn quả thật là cao viễn,

Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.

Hễ loài người sát sanh nhiều, tức chịu quả chiến tranh nhiều, làm cho người và vật đau khổ nhiều thì chính mình phải chịu đau khổ nhiều, không thể nào sai chạy được. Vì thế ta có thể quả quyết rằng. Ai muốn khỏi sự chiến tranh đau khổ, muốn giải thoát sanh tử luân hồi, cần phải tu tập trước hết đức háo sanh như câu chuyện vừa kể.

Mẩu chuyện thứ 49

“THÀNH LÒNG NƯỚC LÃ NÊN HỒ”

Chuyện nầy chúng tôi ghi lại theo lời thuật của anh Huỳnh ăn Góp, cháu đích tôn của cụ Huỳnh Ngọc Kha (tự Sáu Khá).

Ông Huỳnh Ngọc Kha là Bác Sĩ tốt nghiệp tại Pháp, đồng thời cũng là Đông Y Sĩ thuộc gia truyền vào hệ thứ Bảy của tộc họ.

Vào thuở đó, năm 1939 ông được 40 tuổi, ngụ tại làng Tân Long, quận Châu Phú, tỉnh An giang, ông có kiến thức rất uyên bác về ngôn ngữ, ngoài 7 ngôn ngữ của khối Âu và Mỹ châu, ông còn nói thông thạo 17 thổ ngữ của khối Đông Dương.

Ông gia nhập vào đoàn thể trí thức yêu nước, bị Pháp bắt bỏ tù ở khám lớn năm 1940, cùng chung phòng với cụ Trần văn Hương (Sau nầy là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa). Nhân khi bàn quốc sự với các vị trong tù, các vị nầy có đề cập đến nhân vật trẻ vừa mới xuất hiện, có tầm vóc lớn lao trong công cuộc quang phục đất nước, đó là Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Do đó, ông Sáu có cảm tình với Ngài.

Năm 1945, Đức Thầy có đến giảng đạo tại làng Khánh Bình, ở gần làng ông Sáu đang ngụ.

Vì có sự quen biết trước, nay ông có dịp tiếp xúc với 5 nhà sư đến từ Miên quốc. Năm vị sư nầy trình bày với ông là họ đi tìm Phật, bởi Đức Phật đã ra đời tại đất nước Việt Nam, nay đến để nghe Đức Phật giảng Đạo.

Ông Sáu Khá biết rõ ràng như vậy mà ông không cũng đi với các vị sư kia đến để nghe Đức Thầy giảng Đạo, nguyên cũng bởi sự dè dặt của những người trí thức đã trở thành căn bịnh. Tuy không đến tận nơi, nhưng khi ở tại nhà, ông cho lập bàn hương án ngoài trời, bông hoa, nhang đèn và ba chung nước lã để cầu nguyện. Ông có phát đại nguyện là:

– Nếu Thầy Tư quả thật là Phật, xin cho tôi uống 3 chung nước lã nầy mà giải được ghiền á phiện của tôi, thì tôi nguyện thân tứ đại nầy cúng dường cho Phật.

Quả nhiên qua ngày hôm sau cơn ghiền nó không còn đến với ông Sáu nữa, mà chuuyện hết sức đặc biệt là hễ khi nào ngửi mùi á phiện là ông Sáu buồn nôn ói mữa. Bởi vậy ông tức tốc cho dẹp bàn đèn (thuở đó ông có mâm đèn hút á phiện tại nhà).

Không còn nghi ngờ gì nữa, ông sáu chuẩn bị sẵn sàng đến để thọ giáo quy y với Đức Thầy. Tuy vậy chớ ông cũng còn vướng mắc vào cái ngã của những người trí thức thời đại. Thâm tâm ông khi gặp Đức Thầy, ông sẽ dùng ngoại ngữ để tiếp chuyện với Ngài. Từ nhà ông đến Hòa Hảo cũng phải mất trên sáu mươi lăm cây số và ông tháp tùng vào đoàn người đến qui y càng lúc càng đông

Với tư cách của một người trí thức, ông đâu thể nào chen lấn với người khác, bởi thế chờ đợi cho đến buổi chiều ông Sáu mới tiến được gần Đức Thầy. Như vậy ông Sáu có dịp chuẩn bị không biết bao nhiêu câu nói khi được tiếp xúc cùng Ngài. Nhưng khi sắp được đến gần, từ xa Đức Thầy nhìn ngay ông và gọi:

– Ông Sáu! Ông đã đại nguyện qui y với Phật rồi! Nay sao còn đến quy y nữa!

Không biết có phải vì Phật lực của Đức Thầy, hay bởi tại Tha Tâm Thông mà Ngài biết ông Sáu. Mặc dù chỉ lần đầu tiên tiếp xúc mà Ngài biết rõ ông Sáu đã âm thầm lập bàn hương án phát nguyện quy y. Cái xúc động lớn lao đó làm cho ông Sáu ngẩn ngơ, đứng chết trân tại chỗ, tiếng Việt ông còn chưa nói được nên lời hà huống chi là tiếng ngoại quốc. Cả khi ông quì xuống cúi lạy Đức Thầy ông cũng còn làm chưa được, mãi khi Thầy đến cầm tay ông nâng lên; ông mới sực mình như vừa thoát qua cơn mộng.

PHẦN NHẬN XÉT:

Từ xưa đến nay, những bậc Đại Giác đều hiểu thấu tâm trạng của chúng sanh. Tuy rằng trong bao la vạn hữu, nhưng mỗi khi tâm chúng sanh thành kính hướng về các Ngài đều được đáp ứng trọn vẹn, tùy cơ duyên, cơ cảm của mọi người mà hóa độ. Cho nên trường hợp của ông Sáu là điều chúng ta cần phải suy gẫm.

Ông Sáu là một Bác sĩ Tây y lẫn Đông y Sĩ, tuy cả hai mặt Tây và Đông về y học, nhưng ông đành bó tay trước căn bịnh của ông đã lâm phạm, mặc dù ông Sáu chưa lần nào diện kiến Đức Thầy, nhưng với người trí thức thuở đó cũng như ông Sáu chắc đã ít nhiều có nghiên cứu Giáo Lý và Giớiù luật của Ngài. Do đó, ông Sáu mới lập bàn hương án tại nhà, nguyện xin Đức Thầy giải cho ông nạn ghiền á phiện. Ông Sáu là người đã có túc duyên với Phật Pháp, nên ông đã được Đức Thầy cảm ứng chứng tri tấm lòng thành của ông mà hóa độ cho ông.

Nhưng dù sao tâm bịnh của chúng sanh, ông Sáu không thể nào tránh khỏi. Tâm bịnh nầy thường xảy ra cho người trí thức đã hấp thụ nền văn minh của Âu Tây, nhứt là ông Sáu đã hấp thụ trên đà tiến bộ của khoa học thì cái ngã chấp ít nhiều cũng phải có.

Cũng bởi đã rõ căn bịnh của chúng sanh, nên Đức Thầy cùng một lúc chữa lành cho ông Sáu cả hai căn bệnh.

Thành lòng nước lã nên hồ,

Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban.

(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

Bởi có túc duyên nên ông Sáu dễ dàng chuyển hóa tâm của ông hướng về Đức Phật trọn lòng thành nên từ ba chung nước lã của ông Sáu tự múc lấy đã trở thành ba chung nước Cam lồ của Đức Thầy ban cho ông, cứu được cơn bịnh ngặc nghèo của ông và còn giải được cho ông cái tâm trần để ông hướng trọn vẹn về nẻo Đạo. Bởi có hướng về nẻo Đạo thì ông Sáu mới thoát được sanh tử luân hồi mà người tu hầu hết ai cũng mong được như vậy.

Nếu như ai cố chí làm lành,

Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật quốc.

Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,

Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh.

Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành,

Được cứu cánh về nơi an dưỡng.

Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng,

Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.

(Khuyến Thiện)

Mẩu chuyện thứ 50 : MUỐN TÌM PHẬT

Vào khoảng mùa Đông năm Giáp Thân 1944 lúc Đức Thầy đang cư trú tại Sai gòn, thì có ông Xã Bộ từ tỉnh Châu Đốc đến viếng Đức Thầy, qua công tác giáo sự. Trong thời gian ông còn lưu lại mấy ngày, nhân một buổi sáng đẹp trời Đức Thầy kêu ông Bộ bảo:

– Ông Bộ hôm nay đi dạo phố với tôi.

Được lịnh Đức Thầy cho phép, ông Bộ hết sức mừng rỡ. Ông thay đổi y phục rồi theo Đức Thầy. Hai thầy trò đi bộ rẽ sang nhiều ngã đường, khi đến cổng của một ngôi chùa thì ghé vào. Nhà sư trụ trì bước ra tiếp rước hết sức ân cần niềm nỡ. Khi bước vào khách đường thấy một ông khách đang ngồi sẵn ở đó. Sư mời Đức Thầy và ông Bộ ngồi lại cùng bàn, rồi nhà Sư vừa rót nước mời uống và vừa giới thiệu ông khách với Đức Thầy và ông Xã Bộ.

– Thưa hai vị, ông khách đây là người Tây Tạng vừa mới đến Việt Nam ta mấy hôm rày. Ông cũng là một Phật tử, nên có viếng qua ít cảnh chùa nơi đô thành và còn lưu ngụ lại đây mấy hôm. Tôi thiết nghĩ cuộc hạnh ngộ của chúng ta hôm nay, ắt có duyên tiền định.

Qua sự bắt tay chào mừng, ông Xã Bộ liền hỏi ông khách:

– Từ xa ông đến nước Việt Nam chúng tôi có việc chi quan trọng chăng? Hay là chỉ viếng qua danh lam thắng cảnh, có thể nào cho chúng tôi biết được thêm lý do.

Lúc đó, với vẻ mặt vui tươi ông khách Tây Tạng đáp:

– Tôi sang đây với ý định để tìm Phật, vì ở bên tôi có một chân sư cho biết hiện giờ tại xứ Việt Nam có vị Phật vừa giáng sinh khai Đạo.

Lúc đó ông Bộ hỏi tiếp:

– Làm sao ông biết ai là Phật mà nhìn.

Ông khách nói:

– Biết chớ, ông Phật thì luôn luôn nơi cổ có ba ngấn, theo nhà sư ở bên tôi dặn dò tôi như vậy.

Ông Xã Bộ liền nói:

– Nếu hiện giờ có người ba ngấn cổ, ông dám nhìn không?

Ông khách trả lời:

– Tôi nhìn liền, vì người thường không một ai có được tướng hảo như vậy.

Lúc ấy Đức Thầy biết ông Bộ muốn ám chỉ Ngài, nên Ngài dùng ngón chân cái ấn mạnh lên bàn chân của ông Bộ. Ông liền hội ý biết Đức Thầy không cho mình chỉ ra, nên lái câu chuyện sang vấn đề khác. Đoạn rồi ông nhìn lại Đức Thầy, mới sực nhớ ra lúc mới vào cổng chùa Ngài đã dùng khăn bàn quấn kín cổ lại và giữ tư thế ấy cho đến bây giờ. Thì ra Ngài biết trước và có dụng ý trong việc nầy. Hết câu chuyên tìm Phật sang câu chuyện đạo lý, Đức Thầy luôn để cho ông Bộ đàm thoại với hai người kia, còn Ngài vẫn im lặng cho đến khi từ giã ra về.

Câu chuyện nầy thuật theo lời ông Xã Bộ.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thông bệnh của người học Phật thường trải qua nhiều giai đoạn dò dẫm như mù rờ voi, phải nắm được chơn lý. Đầu tiên họ ngỡ là muốn tìm Phật phải vào am, chùa, liêu, cốc hay núi cao rừng thẳm mới gặp. Tiến thêm một bước họ tưởng tượng ông Phật phải có những gì linh diệu thần thông, hoặc có tướng trạng khác với người thường như có ba mươi hai tướng tốt, tám chục vẻ đẹp chẳng hạn.

Trường hợp ông Phật tử Tây Tạng nói trên, cũng chưa thoát khỏi thông bệnh ấy. Đành rằng các tướng trạng tốt đẹp là do người tu thiện nghiệp mà được, song hành giả còn chấp nê sự tướng thì không dễ gì gặp được ông Phật thật của chính mình. Kinh Kim Cang từng nói: “Phàm hữu sở tướng giai thị hư vọng” Chúng ta thử ôn lại lời vấn đáp của Đức Phật và ông A Nan, đại khái như vầy:

Đức Phật kêu ông A Nan hỏi:

– Tất cả trong giáo pháp của ta, ông nhận thấy cái gì mà xuất gia tu hành?

A Nan bạch:

– Con thấy ba mươi hai tướng hảo của Phật trang nghiêm rực rỡ mà tu.

Phật liền bác:

– Ông nhân như vậy cũng tạm được, song các thứ ấy chỉ là ngọn ngành là vọng tưởng, huyễn thuật chứ chưa phải là căn bản, vì vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng có ba mươi hai tướng hảo và Ma Vương cũng có thể giả hình Phật được.

Ở đây ông Phật tử Tậy Tạng tuy có nhiệt tâm tìm Phật, nhưng chưa phá được cái vỏ hữu vi, nên ông tu hành đã lâu năm và gặp được chơn sư mà vẫn chưa có ngộ được chơn lý. Thảo nào Đức Lục Tổ khi xưa chẳng bảo:

“Người đang đội nón mà đi tìm nón, kẻ đã cỡi trâu lại cứ đi tìm trâu”.

Thưa quí vị: Sở dĩ vị chơn sư của ông khách Tây Tạng dạy ông cần phải qua Việt Nam tìm Phật với tướng trạng nơi cổ có ba ngấn là sự dụng ý khi kiến diện với Đức Thầy Hòa Hảo may ra ông Phật tử nầy sẽ tìm được lối vào Phật tâm, “Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm”. Thế là vị chơn sư đã biết Đức Giáo Chủ Phật giáo Hòa Hảo đang khai hóa vô vi chánh đạo, nhưng khi ông Phật Tử đối diện với Đức Thầy, Ngài lại dùng thật tướng vô vi, không cho thấy tướng trạng và tuyệt đối ngôn ngữ tức là im lặng. Khiến ông Phật tử ôm thất vọng trở về bổn quốc, chớ tìm đâu ra được người cổ có ba ngấn. Nếu ông ấy cứ tu như thế, tìm Phật như thế, dẫu cho ông có tu suốt kiếp nầy qua kiếp khác, hay tìm khắp nơi cũng không hề gặp Phật.

Xét ra Đức Thầy đối với ông khách Tây Tạng có thái độ như vậy chẳng phải Ngài thiếu lòng từ bi mà Ngài có tác dụng đặc biệt. Nếu Ngài cho ông khách Tây Tạng thấy tướng mạo và được nghe lời giáo lý thì sự việc đó nhà sư ở bên Tây Tạng đã dùng với ông quá nhiều rồi, mà ông vẫn chưa thấy đạo. Đây là một điều tâm Phật với tâm phàm, dẫu cách xa vạn dậm vẫn cảm thông nhau, nên Đức Thầy phải dùng phương cách khác để cảm hóa ông ấy, nghĩa là sau thời gian ông tìm theo hình tướng, văn tự mà không thấy được Phật, tức nhiên ông phải xét lại mà quay về tìm tâm vô vi thật tướng:

Phật tại tâm chớ có đâu xa,

Mà tầm kiếm ở trên non núi.

Hãy bền lòng tìm Phật trong tâm.

Hoặc giả ông khách trở về tìm thầy cũ của ông. Bấy giờ nhà sư mới đủ dữ kiện chỉ cho ông thấy được Phật lòng tức là tỏ ngộ được bản tâm.

Xưa lúc Thái Tử Sĩ Đạt Ta mới xuất gia, Ngài cũng tìm các thầy tu vấn đạo, khi nhận pháp tu của các vị ấy không được giải thoát rốt ráo. Ngài đến Khổ Hạnh Lâm tu lối ép xác hành khổ suốt sáu năm vẫn chưa chứng đạo. Sau cùng, Ngài đến ngồi dưới cội Bồ Đề dùng tâm quán tâm bốn mươi chín ngày mới đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác. Cho nên Ngài hằng cảnh giác chư Phật tử:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhân hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai”

(Nếu dùng sắc mà ra mắt ta. Lấy âm thinh cầu ta. Thật người hành tà đạo. Không hề thấy được Như Lai).

Thưa quí vị. Thêm một gương hạnh nữa: Thần Tú tu sát bên Ngũ Tổ bao chục năm trời vẫn chưa thấy tánh, vì Thần Tú chỉ tu theo văn tự hình tướng. Còn Huệ Năng tu không đầy một năm mà tỏ ngộ, được Ngũ Tổ trao truyền tâm ấn cho làm Tổ thứ Sáu, là vì Huệ Năng biết trực nhận nhân tâm kiến tánh thành Phật. Thời nay Đức Thầy cũng muốn ông Phật tử Tây Tạng noi theo gương hạnh đó, cho nên Ngài chẳng nói gì, chớ thật ra Ngài đã nói với ông Phật tử Tây Tạng rất nhiều rồi đó. Cũng như lúc Ngài Tu Bồ Đề đang trầm tư trong hang đá bỗng nhiên Chư Thiên rải hoa trời tán thán, Ngài Tu Bồ Đề liền hỏi:

– Những người rải hoa tán thán là ai vậy? Chư Thiên liền nói:

– Chúng tôi là Chư Thiên ở Thượng Giới.

Tu Bồ Đề bảo:

– Chư Thiên đang tán thán gì vậy?

Chư Thiên thưa:

– Chúng tôi tán thán Ngài đang giảng thuyết Bát Nhã Ba La Mật.

Ông Tu Bồ Đề liền nói:

– Ta chưa hề thốt một lời giảng thuyết Ba la Mật và chẳng có gì để các ngươi tán thán. Nhưng Chư Thiên quả quyết:

– Ngài không giảng gì hết, cái được nói là không, cái được nghe cũng không và chính đây mới thật Bát Nhã Ba La Mật. Cũng trùng hợp như vậy, Đức Thầy hằng khuyên dạy tín đồ:

Nhàn thanh tầm kiếm kiếm nơi tâm,

Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm.

Vịnh theo ý nầy, ông Thanh Sĩ một đệ tử Đức Thầy có luận:

“Rằng nước vốn nguồn sâu ban bủa,

Phật do tâm mà có danh ngôn.

Thấy tâm thấy được Thế Tôn

Bỏ tâm tìm Phật luống công tu hành.”

Thưa quí vị. Riêng phần ông Xã Bộ là khi tiếp chuyện với ông khách Tây Tạng, ông đinh ninh rồi đây ông sẽ giới thiệu Đức Thầy có ba ngấn cổ với khách và khách sẽ rất sung sướng mà nhận Ngài là Phật và cũng sẽ được nghe Ngài giảng dạy đạo lý. Nhưng bất ngờ Đức Thầy lại không nói rõ ra, khiến sau đó ông phải suy nghĩ mấy ngày. Khi nhờ Đức Thầy gợi ý ông mới hiểu ra. Còn phần nhà sư trụ trì hẳn nhiên ông được nghe nhiều về Đức Thầy, nên khi gặp Ngài và ông Bộ đến Sư mới ân cần niềm nỡ và giới thiệu.

Tóm lại tác dụng của Đức Thầy đối với ông khách Tây Tạng làm cho ba người trong cuộc học được bài học vô giá:

Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.

Hãy tìm kiếm cái không mới có.

Thiết nghĩ không riêng gì ba vị ấy mà còn là bài học chung cho tất cả những ai muốn tìm Phật và tu học.

Mẩu chuyện thứ 51

TÀ HAY CHÁNH

Chuyện nầy xảy ra năm Canh Thìn, tức năm 1940.

Lúc đó người Pháp vừa vời Đức Thầy xuống Sa Đéc, rồi ra lịnh cấm không cho Ngài truyền đạo ở các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc.

Thế là Ngài phải lưu trú đến nhà ông Hương bộ Võ Mậu Thạnh tại Xà No, làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ.

Thời gian Ngài ở đây ít lâu, có ông Hương quản Diệp ở xã Hòa Hảo và ông Út Trác ở Mỹ Hội Đông đến viếng.

Sau khi tỏ lời thăm hỏi và được nghe Đức Thầy thuyết giảng đạo đức, hai ông liền trình hỏi thêm một việc:

– Bạch Thầy, hiện giờ ở trên Long Xuyên có ông Đạo mới ra đời, họ trị bịnh cũng na ná như Thầy. Người ta tới lui rất đông đảo, nhưng không biết ông ấy tà hay chánh, nhờ Thầy phân giải giùm để anh em tín đồ khỏi lầm lạc.

Đức Thầy không trả lời ngay ông đạo đó tà hay chánh, mà Ngài chỉ cầm viết, viết ra mấy giòng chữ như sau (lúc đó Ngài kêu hai ông đứng lại coi):

– Từ đây sắp tới, bất luận ai ra đời độ thế, nếu còn ăn tiền bạc là tà.

– Còn dùng màu sắc là tà.

– Còn lên xuống xưng hô Thần Thánh là tà.

– Còn bỏ tóc xả để đầu đanh là tà.

Thưa quí vị, câu chuyện nầy do ông Út Trác ở Mỹ Hội Đông thuật lại.

PHẦN NHẬN XÉT:

Xưa nay hễ có Phật ra đời khai hóa nhân sinh, thì luôn có tà ma theo dõi để phá rối người tu Phật.

Phật ma ma Phật mới ra vở tuồng.

Hay nói cách khác là thời nào tà ma ngoại đạo lọng hành để gạt người mê tín và nhiểu hại lê dân, thì Phật Tiên cũng lâm phàm khai thông chánh đạo, dẹp tan tà thuyết để giác tỉnh chúng sanh trở về con đường chánh tín:

… Bởi đời nầy pháp-môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma-Vương khuấy rối. Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế nhân dân; …

Hoặc là:

Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

Trời mở cửa Qủi Vương xuống thế.

Nên Ta mới ra tay cứu tế,

Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Trong số ma qủi, hoặc tả đạo theo phá quấy Phật Giáo Hòa Hảo hiện nay, cũng như thời Đức Thích Ca ra đời, có Lục Sư ngoại đạo và ma Ba Tuần theo chống báng và phá hoại đạo Phật.

Khi Phật Giáo Hòa Hảo gặp cơn pháp nạn liền có nhiều người ra đời cũng thuyết đạo trị bịnh na ná như Đức Thầy, làm cho người tu phân vân, không biết đâu tà đâu chánh.

Do đó, ông Diệp và ông Trác mới đến Nhơn Nghĩa để hỏi Đức Thầy:

– Có ông đạo ở Long Xuyên mới ra đời trị bịnh cũng giống như Ngài, chẳng biết ông ấy tà hay chánh?

Sở dĩ Ngài không phân biệt ngay ngày hôm đó, mà nói chung tất cả, vì Ngài biết chẳng phải một người đó, mà còn nhiều người khác, ở nhiều nơi khác nữa, nên Ngài chỉ cho toàn thể một ý thức căn bản để nhận rõ đâu tà, đâu chánh và có tin nghe theo Ngài cũng phải là chánh tín, chớ đừng tu mê tín.

Điểm thứ nhứt Ngài nói: “Còn ăn tiền bạc là tà”.

Nếu nhìn về hình thức bên ngoài của hai ông đạo tà và chánh đều giống nhau khó mà phân biệt, nhưng bên trong của phái tà lợi dụng tiền bạc, còn phía chánh thì thật tâm độ đời bất vụ lợi.

Cũng như hai ông quan, hình thức và chức vụ giống nhau, nhưng một ông ăn hối lộ, còn một ông là không, rất dễ hiểu ở chỗ đó.

Để sáng tỏ hơn ta thử đọc lại một đoạn giảng của Đức Thầy:

Bây giờ bất luận người nào,

Không dùng của thế sắc màu cũng không.

Nói cho bổn đạo rõ lòng,

Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Qua điều thứ hai:

“Còn dùng màu sắc là tà”, màu sắc ở đây phân ra làm hai loại:

Một là loại có màu sắc đỏ, xanh, vàng chỉ cho hạng người đồng bóng, lên xác cô năm, cô mười, họ thích mặc lụa hàng, lãnh nhiễu màu sắc sặc sỡ. Khi lên xác làm bịnh thì đội khăn nhiễu màu dài năm thước, buộc người ta phải cung ứng các thứ đó.

Còn loại có hình tướng thì đối với vô tướng, vô vi. Đây chỉ cho các ông đạo tu hành, chủ trương theo hình tướng, tức là hữu vi, tức còn chạy theo âm thinh sắc tướng, như các thầy dưng bông, đi làm đám, tụng kinh mướn, không đúng chơn lý của đạo Phật.

Kinh xưa đã bảo:

“Sắc tướng âm thinh chư ngoại giáo,

Chơn truyền phụ thất đạo năng hành.”

Nếu thấy nhà tu nào còn dùng hai màu sắc như trên, đều là không chơn chánh.

Thứ hai là loại sắc đẹp của người nam hoặc nữ, đây chỉ các ông đạo còn lợi dụng hoặc đắm mê nữ sắc.

Điểm thứ ba là “Còn lên xuống xưng hô là tà”. Đây chỉ hạng thượng xác cỡi đồng, tức là những người lên sắc tướng, các cô đồng, bà bóng, thầy pháp, thầy phù thủy, làm bịnh bằng cách có vô xác, ra xác, coi bói, coi căn, cầu hồn, đoán số mạng hoặc bùa chú, trù ếm và sát sanh cúng tế Quỷ Thần. Đức Thầy từng bảo:

Bàn- môn tài phép nào tường,

Kêu Trời giậm Đất cũng thì dạ rân.

Nói cho trần-thế liệu toan,

Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn.

Nó làm nhiều phép nhiều môn,

Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng-sanh.

Thành binh sái đậu cũng rành,

Nếu tin thì mắc tan tành về sau.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Dương-gian làm huyễn nói càng,

Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.

Hò reo giục trống nhiều câu,

Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.

Ta khuyên hết thảy các người,

Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.

Đừng hò đừng réo làm chi,

Nghinh-ngang kêu múa có khi hại mình.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Qua điểm thứ tư, Đức Thầy bảo: “Còn bỏ tóc xả để đầu đanh là tà”.

Tức chỉ những thầy tu hay làm ra vẻ đạo mạo khác thường để lừa dối bá tánh. Họ lo trang điểm những tướng đạo bên ngoài, như bỏ tóc xã dài không bới, hoặc không chải gở lâu ngày tóc đanh lại, giống hình cái mão, hoặc chơn đi không mang dép, bước nối gót đi chữ đinh, không ngó qua ngó lại. Họ thường tự xưng là đã tu luyện lâu năm, từ non nầy động nọ, vừa xuống núi để cứu thế độ dân, khiến bá tánh tưởng lầm các ông đạo ấy khổ hạnh cao, công phu luyện đạo không ai bằng, liền chạy theo rần rộ. Chẳng ngờ trong thâm tâm của các ông ấy vẫn còn ô nhiễm danh, lợi, tình như hàng thế tục.

Hạng người nầy thường tu lệch đạo Tiên, vọng tưởng quá độ mà ra, và cũng một trong Lục Sư ngoại đạo từ trước còn truyền lại.

Thưa quí vị, để mọi người khỏi lầm lạc theo tà sư ngoại đạo, Đức Thầy dặn dò cặn kẻ:

Cho được tránh những điều ấy, trước khi thờ, học Đạo nào, hay theo ông thầy nào, ta hãy suy-gẫm phán đoán kỹ-càng; chừng hiểu biết rõ-ràng ta sẽ theo Đạo ấy, Thầy ấy. Chẳng được như vậy, dầu mình theo Đạo rất chánh đáng, ông Thầy rất thông minh cũng chẳng có ích chi cho mình cả … (Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ)

Tóm lại qua bốn điểm mà Đức Thầy dạy ông Diệp và ông Trác trên đây là một quy định tất yếu cho tín đồ sau nầy lọc lừa tà chánh.

Mẩu chuyện thứ 52

LỜI KHÉO KHỎI TAI NẠN

Câu chuyện nầy vào lúc Đức Thầy mới khai Đạo, tức là năm 1939. Ở chợ Mới có ông Phủ Nẵm, làm Quận Trưởng, lãnh trách nhiệm của nhà cầm quyền Pháp, cho người theo dõi Đức Thầy. Hắn mật báo với Chánh tham Biện tỉnh Long Xuyên là Đức Thầy mưu toan quốc sự. Mặt khác, hắn luồn bắt những người truyền bá kinh giảng Phật Giáo Hòa Hảo và ra lịnh cho Ban Hội tề các xã trong quận Chợ Mới hãy biên tên những ai đã quy y với Đức Thầy, nạp hết danh sách lên để hắn căn cứ vào đó mà lừa lọc, rồi cho lính bắt đánh đập, tù đày.

Lúc bấy giờ tại xã Long Điền có hai ông Năm Cống và Nguyễn văn Sóc, thấy tình thế như vậy liền bơi xuồng lên Hòa Hảo để gặp Đức Thầy (vì sợ lộ chuyện nên không dám đi bộ). Khi hai ông bước vô Tổ Đình vừa kỉnh lễ xong, thì quay ra chào Đức Thầy. Ngài liền hỏi:

– Có gì không? Ở dưới họ biên tên những người theo Đạo và bắt bớ phải không?

Hai ông Năm Cống và Nguyễn văn Sóc bạch với Thầy rằng:

– Thật đúng vậy, chúng tôi sợ quá không biết phải làm sao.

Đức Thầy ôn tồn bảo:

– Hai ông về yên tâm, nếu họ có đến hỏi thì cứ nói: Tôi theo Đạo Ông Tư Hòa Hảo, ông dạy tôi ăn chay, làm lành, lánh dữ, sưu đi, thuế đóng.

Hai ông lấy viết ghi lời của Đức Thầy dạy xong xuôi thì Thầy liền đứng dậy. Mặt Ngài bừng đỏ và nghiêm trang đưa cánh tay ra và xòe bàn tay nghiêng vừa dằn xuống, vừa nói:

– Không chỉ sưu đi thuế đóng như vầy thôi đâu.

Ngài lập lại câu nói ây ba lần. Nghe xong ông Cống và ông Sóc kỉnh lễ rồi chào xá Đức Thầy từ gĩa ra về.

Qua hôm sau thì có làng lính đến hỏi, ghi tên vào danh sách. Hai ông đều trả lời đúng theo câu Đức Thầy đã dạy, họ chép y văn, báo lên quận, nên hai ông khỏi bị bắt trong đợt đó.

Câu chuyện này thuật theo lời của ông Nguyễn văn Sóc.

PHẦN NHẬN XÉT:

Người xưa thường bảo: “Một lời nói có thể làm cho nước thạnh nhà an, và cũng vì một lời nói mà làm cho tan nước” (Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang). Thật vậy, lời nói nó có hiệu năng tạo ra muôn hình vạn trạng khác nhau, có khi hòa ái khi trở thành thù nghịch, từ thù chia rẽ trở nên hòa nhã yên vui. Cho nên người đời cẩn trọng trước khi sử dụng lời nói, phải tùy thời, tùy chỗ mà áp dụng chớ không cố định. Có lúc lời nói phải cương cường, nhưng có lúc phải nhu hòa mềm dẽo, miễn làm sao đem lại sự kết quả tốt đẹp là được.

Cổ Đức răn dạy: “Trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần”. Người đời vì không biết thận trọng lời nói nên thường chuốc lấy tai hại, như vua Tề thời chiến quốc, ỷ ngôn khinh ngạo Trường Vạn trong cuộc đánh cờ, nên bị Trường Vạn đập cho một bàn cờ chết tốt. Còn người biết cẩn ngôn cẩn hạnh sử dụng lời nói đúng thời đúng cảnh, thì dù ở trong hang hùm bẫy rập, cũng có thể yên thân. Như trường hợp ba anh em Lưu Bị lúc thất thời còn ở đậu với Tào Tháo, tấm thân như cá nằm trên thớt, Lưu Bị chỉ có suốt ngày lo trồng rau cải, ai thấy cũng cho là kẻ tầm thường. Một hôm Tháo mời Lưu Bị dự tiệc và hỏi?

– Đương thời với chúng ta ai là kẻ anh hùng?

Lưu Bị chỉ quanh quẩn nào là Vương Thực, Vương Thiệu, v.v… Tháo bác hết, cho kẻ ấy đều là hạng tầm thường, rồi nói:

– Chì có Lưu Sứ Quân với Tháo đây mới là kẻ anh hùng!

Lưu Bị giựt mình buông rơi chiếc đũa, may lúc đó có tiếng sấm sét. Bị liền giả vờ xin lỗi với Tháo:

– Vì tiếng sét bất ngờ làm tôi giựt mình rơi đũa!

Nhờ thế từ đó Tào Tháo coi thường Lưu Bị, nên ba anh em mới thoát thân và sau làm nên sự nghiệp. Nếu Lưu Bị không có lời khôn khéo chưa chắc gì thoát chết dưới tay Tào Tháo.

Thưa quí vị, ở đây dưới thời Pháp thuộc họ muốn tiêu diệt những người cốt cán của Đạo Phật Giáo Hòa Hảo nên hai ông Năm Cống và Nguyễn văn Sóc làm sao chẳng lo sợ, song để trấn an và giải cứu tín đồ, Đức Thầy dạy hai ông câu nói: “Hai ông an tâm, nếu họ đến hỏi thì cứ nói. Tôi theo Đạo ông Tư Hòa Hảo, Ông dạy tôi ăn chay, làm lành, lánh dữ, sưu đi thuế đóng”.

Một câu nói tuy thấy thông thường nhưng vô cùng khéo léo. Trong lúc có người vì quá sợ không dám nhận mình là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo để khỏi bị bắt. Đức Thầy dạy hai ông trả lời trong vế đầu của câu nói tỏ ra cứng rắn không mất chí khí. “Tôi theo Đạo Ông Tư Hòa Hảo”, qua vế sau của câu nói tỏ ra mềm dẽo nhẫn nại. “Ông dạy tôi ăn chay, làm lành, lánh dữ, sưu đi thuế đóng”. Làm cho bọn làng lính và người Pháp hiểu rằng người theo Đạo Phật Giáo Hòa Hảo rất hiền lành dễ trị, nên họ có giảm bớt phần nào về việc ám hại người theo đạo. Do đó, hai ông đều khỏi bị bắt.

Thưa quí vị sở dĩ Đức Thầy dạy tín đồ ẩn nhẫn như thế là vì chưa phải lúc cho ta chống cự với người Pháp.

Rán nhẫn trăm phần dù khó nhẫn,

Dạ thưa quan chức phận làm dân.

Còn điểm chót Đức Thầy nhấn mạnh ba lần.

– Không phải sưu đi thuế đóng như vầy thôi đâu.

Ý Ngài muốn tiên tri cho tín đồ biết sau nầy sẽ còn nhiều hơn nữa, thật đúng như vậy. Từ ấy đến nay qua mấy thời kỳ, nạn sưu cao thuế nặng mỗi lúc mỗi tăng, mà dân chúng phải gánh chịu. Đức Thầy đầy lòng thương xót bá gia nên thường nhắc đến.

Hết đây rồi tới dị kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.

Hoặc là:

Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,

Thấy dân mang sưu thuế mà thương.

Mẩu chuyện thứ 53

TÙY BỊNH CHO THUỐC

Mẩu chuyện nầy xảy ra cuối năm Kỷ Mão 1939. Lúc bấy giờ anh em đồng đạo thường tới Tổ Đình Thánh Địa Hòa Hảo để nghe Đức Thầy thuyết pháp và chép kinh giảng, trong đó có ông Đặng Thành Tựu, người ở xã Kiến An, quận Chợ Mới.

Một sáng hôm nọ ông Tựu thấy có một đồng đạo ở xa đến viếng Đức Thầy. Bắt đầu câu chuyện Đức Thầy hỏi thăm về tình hình địa phương và giảng dạy một ít lời đạo lý. Sau hết Ngài khuyên đồng đạo ấy:

– Ông muốn tu hành phải bớt làm ăn một chút chớ! Công việc đa đoan quá làm sao tu được.

Thế rồi trưa lại cũng có người khác đến viếng, vừa giáp mặt chào hỏi thì Đức Thầy vỗ vai người ấy bảo:

– Ông muốn tu hành phải lo làm ăn chớ, nếu không làm ăn lấy gì bảo vệ đời sống và đâu có dư tiền của để bố thí giúp đời.

Thưa quí vị, ông Tựu thấy một ngày mà Đức Thầy dạy hai vị đồng đạo với hai ý khác nhau. Ông bèn suy nghĩ, chắc có cơ duyên nào đây, ông bèn lại gần hai vị đồng đạo ấy gợi chuyện hỏi thăm từng người, thì vị đồng đạo mà Đức Thầy khuyên bớt làm ăn lại một chút, thì được ông đó cho biết:

“Ở nhà tôi làm ruộng không giờ nghỉ, có khi làm thâm tới ban đêm nữa, bỏ cả giờ lễ bái, vì tôi nghĩ mình lo làm ăn cho có tiền thật nhiều rồi sẽ ở không ăn mà tu. Nay được lịnh Đức Thầy kêu nên mới bỏ công việc làm ăn đến đây”.

Còn người được Đức Thầy khuyên tu hành, cần phải lo làm ăn, thì nói với ông Tựu rằng:

“Từ ngày tôi xem kinh giảng và quy y với Đức Thầy thì tôi liền bán cả bò ruộng. Chỉ ở không mà lo tu thôi, vì tôi nghĩ đời sắp tới một bên, ở đó lo làm ăn hoài rồi tu sao kịp, và nếu còn lo làm ăn, còn bận rộn tâm trí mãi, làm sao an tâm được mà tu”.

Nghe hai đồng đạo kể rõ hoàn cảnh của mỗi người thì ông Đặng Thành Tựu mới hiểu ra Đức Thầy tùy theo cơ duyên của mỗi tín đồ mà giáo hóa.

Câu chuyện nầy thuật theo lời của ông Đặng Thành Tựu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Xưa nay về việc mưu cầu cho sự sống, trong giới tu hành có nhiều quan niệm khác nhau, như có người cho rằng hễ tu thì phải buông bỏ hết công việc làm ăn, hễ còn làm ăn là còn bận rộn với trí lực và còn gây nghiệp tội, không thể tu giải thoát được. Lại có số người khác thì quan niệm rằng hễ tu thì có lòng vị tha giúp đời, nên cần làm cho có tiền của, để vừa đủ cung ứng cho đời sống và vừa trợ tế cho xã hội và đời sống gia đình đầy đủ không bị thiếu hụt, thì tâm trí mới an nhiên mà hành đạo.

Câu chuyện của hai đồng đạo kể trên cho chúng ta thấy rằng, tuy cùng theo một đạo học, chung một thầy, nhưng quan niệm đời sống không đồng nhất, là vì chưa nhận rõ tôn chỉ của nền đạo mình đã hướng theo.

Đức Thầy thấu suốt tâm trạng và hoàn cảnh của mỗi tín đồ, nên khi gặp hai đồng đạo ấy, Ngài liền tùy nghi mà chỉ dạy, cũng như vị lương y tùy bịnh mà cho thuốc.

Thứ nhất là vị đồng dạo nghĩ rằng cần lo làm ăn cho có tiền của thật nhiều, rồi mới ở không mà tu, ý nghĩ nầy có nhiều lệch lạc. Cái lầm thứ nhứt là nếu còn muốn tiền của thật đầy đủ, thì biết bao giờ mới đầy đủ. Bởi nó không có con số cùng, hễ có được số chục thì muốn số trăm, mà hễ có số trăm thì muốn thêm có số ngàn rồi số muôn, ức, triệu v.v. . . Khó dừng lại được chính đó là nguyên nhân tạo cho mình có một ý tham, biết sao đầy được túi tham, không ngăn, không đáy. Thế thì đồng đạo nầy có khi suốt kiếp không tu được vì phải lo làm ăn hoài, nên ông chưa chịu biết đủ.

Cũng như anh cày ruộng xưa kia sinh một thời với Đức Phật còn trụ thế, khi anh thấy Đức Phật và môn đồ đi ngang qua cánh đồng, anh muốn buông cày để quy y, nhưng anh nghĩ để cày xong vạc cày rồi đến qui y cũng chưa muộn. Phật biết rõ tâm cơ của anh ấy, Ngài liền kêu các đệ tử bảo:

– “Các ông có thấy chăng, thấy anh cày ruộng kia chưa? Đã trải qua chín mươi mốt kiếp và gặp bảy vị Phật ra đời, mà anh ấy vẫn còn cày ruộng, chưa tu được. Mỗi lần anh gặp Phật thì anh cũng muốn tu, lúc nào cũng nghĩ như thế, nghĩa là đợi cày hết vạc cày sẽ tu. Rồi mãi cho đến kiếp nầy và trong tâm anh hiện giờ cũng nghĩ như vậy.”

Nghe được lời Phật nói, anh cày ruộng giựt mình, liền buông cày, chạy đến trước Phật quỳ xuống và xin được quy y tu niệm.

Đức Thầy của chúng ta hiện nay cũng vậy, hằng thức tỉnh tín đồ:

Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.

Để sau đến việc tả tơi,

Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.

Cho nên để đối lại các bệnh lầm của đồng đạo nói trên, Đức Thầy khuyên ông ấy “Bớt lo làm một chút”, bớt làm chớ chẳng phải là không làm, nghĩa là hành giả phải biết tri túc thường lạc, vừa tu, vừa làm.

Cái lầm thứ hai là đồng đạo ấy chẳng chịu tu ngay.

Đời còn tu gấp kịp thì.

Mà còn lần lựa không xét nghĩ số vô thường đến bất ngờ, chẳng ai đoán trước được, tử thần gõ cửa không từ một ai, dù vua quan hay dân giả, nó không đợi tuổi già, từ mới chào đời cho đến răng long tóc bạc, hạng nào cũng có người chết, không một ai trì huởn được. Như câu chuyện của ông Trương Tố Lưu. Một nhà sư khuyên Lưu nên làm lành niệm Phật. Lưu hẹn lại khi làm xong ba việc:

– Một là quan tài của ông thân còn quàn tại nhà mồ chưa chôn.

– Hai là đứa con trai chưa cưới vợ.

– Ba là cô gái út chưa gã chồng.

Chờ ba việc ấy xong rồi tôi sẽ vưng lời. Mấy tháng sau ông Lưu phát bịnh nặng rồi chết, nhà sư đến cầu siêu và điếu ông Lưu bài thơ:

“Bạn tôi tên là Trương Tố Lưu,

Khuyên ông niệm Phật hẹn ba điều.

Ba điều chưa vẹn Vô Thường bắt,

Đáng trách Diêm Vương chẳng nể nhau.”

Thưa quí vị, với đồng đạo thứ hai thì quan niệm rằng: Còn làm ăn thì tu không kịp và bận rộn tâm trí không yên mà tu. Cái lầm thứ nhứt của đồng đạo nầy là: Thiên về thời cơ, không theo chơn lý, mà nếu chưa tu học giáo pháp để nắm vững chơn lý thì đoán thời cơ đâu đúng, cũng như người chưa nghe giảng phương pháp làm toán đố thì đâu biết cách làm. Hơn nữa Đức Thầy dạy:

Thiên cơ đạo lý để lòng mà thôi.

Theo đây thiên cơ và đạo lý phải hiểu song đôi và để lòng chớ không nên bàn rộng ra, vì bàn trật có tội, mà bàn trúng cũng có lỗi.

Thứ nhì ông tưởng đâu sự tu tấn mau thành, chớ không ngờ phải tu suốt kiếp.

Mãn kiếp Hồng trần sanh Lạc quốc.

Số tiền của ông dự trữ chắc gì đủ dùng đến trọn đời, hễ ngồi không mà ăn, chẳng chịu làm thêm, thì dầu của tiền như núi cũng hết “Tọa thực sơn băng”. Bằng lo gom góp của tiền dành để xài riêng không biết giúp ai, thì lối tu vị kỷ ấy quá thấp kém, chẳng đúng theo tôn chỉ của Phật Giáo Hòa Hảo, cho nên trong điều răn cấm thứ nhì Đức Thầy dạy:

Điều thứ nhì: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm sốt sắng lo làm ăn, và lo tu hiền chơn chất …

Thứ ba là đồng đạo ấy quan niệm còn lo làm ăn thì còn bận rộn trí lực, không yên mà tu. Thế lại càng lầm xa hơn nữa. Tổ Bách Trượng đã nêu một phương châm trong thiền viện của Ngài để các môn đồ hành theo: “nhứt nhựt bất tác nhứt nhựt bất thực” (một ngày không làm một ngày không ăn). Đức Lục Tổ Huệ Năng thì giã gạo cho đồ chúng ăn suốt ngày mà vẫn kiến tánh thành Phật.

Theo tôn chỉ Phật Giáo Hòa Hảo hiện nay, Đức Thầy dạy tín đồ trong chỗ tu, ăn ở, nói làm, nói năng xử sự miễn làm sao giữ cho tư tưởng, ngôn ngữ thuần chánh là được.

Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp

Sớm tối đi nằm y chánh pháp.

Ông Ba Thới cũng bảo:

“Chẳng thấy ai cấm việc lo làm

Lòng Trời lòng Phật lòng Phàm khác nhau.”

Do đó Đức Thầy mới khuyên vị đồng đạo thứ hai: “Ông muốn tu hành phải lo làm ăn chớ”. Tóm lại theo Phật Giáo Hòa Hảo dạy người tu phải đi đúng theo con đường Trung Đạo, bồn chồn cũng không được, lần lựa, không nên làm việc nhiều quá, không được ở không, chẳng làm gì hết cũng không xong, mà phải vừa làm vừa tu, nên sấp xếp công việc cho vừa chừng để có thì giờ công phu bái sám và học đọc kinh giảng, mở mang trí huệ, siêng năng làm theo chánh nghiệp để không gây nên tội “Nhứt Lục Nghi Giới” và biết tiết kiệm để còn dư tiền bố thí giúp đời “Nhứt Thiện Nghiệp Giới”, ấy là Phước Huệ song tu và đủ phương tiện nhiếp hóa chúng sanh lần trên con đường giải thoát “Nhiêu Ích Hữu Tình Giới”. Đó là hạnh tu Đại Thừa của chư Bồ Tát trong Tam Tụ Giới. Tam Tụ Giới nầy là ở trong Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới, do Đức Phật Thuyết Giáo từ nghìn xưa, nay Đức Thầy “Nối theo chí Thích Ca ngày trước” mà khai hóa nhân sinh, tức dạy lại chúng ta.

Mẩu chuyện thứ 54

CÁI DŨNG CỦA THÁNH NHÂN

Mẩu chuyện nầy phát xuất từ năm 1946. Lúc đó là lúc Đức Thầy đang lưu trú tại chiến khu miền Đông. Bấy giờ ông Lê Trường Sanh làm tổ trưởng tiểu đội tình báo, thường ở sát theo Đức Thầy.

Hôm đó Đức Thầy hội nghị suốt buổi chưa về. Ở nhà tới bữa cơm chiều, anh em chừa riêng cho Ngài phần cơm, đựng trong cái thau nhỏ và một con khô sặc rằn.

Vị trí đóng quân cập theo bờ kinh nhỏ, xuồng đậu sát mé, tối lại, anh chiến sĩ có trách nhiệm đi chung xuồng với Đức Thầy, để thau cơm ấy xuống khoang. Tuy ở trên đã có vạc sạp, nhưng anh còn kéo thêm tấm ván lót xuồng, vừa dài, vừa nặng, dằn một đầu lên tấm sạp, vì sợ chuột ăn thau cơm. Còn anh thì lật nóp ngủ đàng sau lái xuồng, chiếc xuồng đậu ghim mũi vào bờ, số anh em khác nằm dọc theo bờ kinh. Ông Lê Trường Sanh thì nằm gần xuồng của Đức Thầy hơn hết.

Đêm ấy trời rất trong, trăng tỏ sáng choang, vào lối 11 giờ đêm, thì Đức Thầy đi hội nghị mới về. Anh chiến sĩ gác giờ đó, lơ đễnh hay là ngủ gục, nên Đức Thầy về tới mũi xuồng mà anh không hay. Nhưng ông Lê Trường Sanh mới nằm mơ màng, ông nghe tiếng người đi, bèn hé mí nóp dòm thử, thì thấy Đức Thầy đã ngồi xuống mũi xuồng.

Sự việc đã lỡ, ông Lê Trường Sanh nằm, giả vờ không hay, song cặp mắt của ông thì luôn luôn theo dõi từ cử động của Ngài. Ông Lê Trường Sanh thấy Đức Thầy ngồi tại mũi xuồng, hai tay nắm vào đầu tấm ván, bưng để lên trên bờ kinh coi nhẹ nhàng như là để cây dầm, đoạn rồi Ngài dỡ vạc lấy thau cơm. Ngài dùng cơm như thường lệ, nhưng chỉ ăn nửa con khô sặc mà thôi. Còn lại nửa con thì Ngài gở xương sạch sẽ rồi úp xuống dĩa, đậy cái chén lên, để cái thau cơm xuống khoang xuồng, lót vạc sạp lại và hai tay bưng tấm ván để xuống như cũ, rồi Ngài rút cái nóp lên bờ nằm ngủ. Mọi cử động của Đức Thầy thật là hết sức nhẹ nhàng, đến đỗi anh chiến sĩ ngủ sau lái xuồng cũng không hay. Có lẽ Đức Thầy sợ làm động mất giấc ngủ của anh em binh sĩ.

Sáng lại trước khi đi hội nghị, Đức Thầy kêu ông Lê Trường sanh nói:

– Hồi hôm tôi cố ý làm cho anh gác không hay, chớ không phải tại anh gác ngủ quên đâu.

Đó rồi Ngài mới đi hội.

Đức Thầy đi rồi ông Trường Sanh mới tập trung anh em hết lại, kêu anh gác giờ đó mà cảnh cáo. Rồi bảo mỗi anh em bưng thử tấm ván như động tác của Đức Thầy hồi hôm coi nổi không? Mỗi người đều thử sức, nhưng không ai bưng nổi cả, cho đến hai người hiệp lại cũng không sao cất lên. Bởi tấm ván ngựa ấy dài 2 thước năm, bề ngang 5 tất và dầy 5 phân, một người đứng ngay chính giữa cặp nách lên mới nổi, chớ ở một đầu thì không sức nào cất lên được.

Đoạn rồi ông Sanh thuật rõ Đức Thầy dùng cơm cho anh em nghe. Nhứt là bữa ăn của Ngài, vừa kỹ lưỡng nhẹ nhàng, vừa tiết kiệm, còn sức khỏe thì như thế đó.

Câu chuyện nầy thuật theo lời của ông Lê Trường Sanh.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thời nào người đứng ra lãnh tụ khối quần chúng, hẳn nhiên phải có đủ tài đức và gương mẩu, người ta mới đặt niềm tin và thực hành theo.

Câu chuyện trên, qua đức độ và sức khỏe của Đức Thầy mà ông Lê Trường Sanh đã chứng kiến, chúng ta có thể rút ra những bài học đáng kể:

Thứ nhứt là từ vị trí họp trở về, Ngài không muốn làm mất giấc ngủ của anh em binh sĩ, nên mọi cử động của Ngài rất nhẹ nhàng, đến đỗi làm cho anh gác giờ đó không hay, thật là tình phụ tử chi binh.

Điểm thứ hai là Đức Thầy biết rõ là lúc về tới xuồng anh gác không hay, mà ông Lê Trường Sanh còn thức, thì sáng lại anh gác thế nào cũng bị phạt nặng, vì kỷ luật của quân sự rất nghiêm khắc. Cho nên sáng ra trước khi đi họp, Đức Thầy kêu ông Trường Sanh nói: “Hồi hôm tôi cố tình làm cho anh gác không hay, chớ chẳng phải anh ta ngủ quên”. Thật là chu đáo làm sao, vừa làm cho ông Sanh biết rằng hồi hôm ông còn thức, mà giả vờ ngủ. Đức Thầy thông hiểu và làm cho anh gác chỉ bị cảnh cáo chớ không bị phạt nặng.

Điểm thứ ba là sự ăn của Đức Thầy, ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn, đành rằng chế độ ăn của mỗi người trong thời ấy, chỉ một con khô sặc, cấp chỉ huy cũng thế, nhưng Ngài rất tiết kiệm, chỉ ăn với nửa con khô mà thôi, phân nửa còn lại, Ngài gở xương kỹ lưỡng. Tuy việc nhỏ nhưng gương hạnh cho mọi người noi theo.

Điểm thứ tư là về sức mạnh của Đức Thầy như trong cậu chuyện vừa kể, ở đây thay vì bình luận, chúng tôi xin kể thêm một chuyện khác do một chiến sĩ trong quân đội thời ấy kể lại:

Hôm nọ trong vị trí đóng binh, cũng ở miền Đông khoảng 5 giờ sáng, bộ đội chưa kịp cơm nước, bỗng được tin quân Pháp bao vây bằng phi cơ và bộ binh. Chúng đông gấp 5 lần quân ta, thế là liền trong giờ đó quân ta phải rút ra khỏi vòng vây.

Được lịnh, ai nấy đều lo ba lô súng đạn lên vai, khởi hành. Riêng Đức Thầy chỉ vác một bao gạo khoảng 60 ký lô. Nhiều người ngạc nhiên, tự hỏi sao Ngài không vác gì quý hơn bao gạo, nặng quá, đoạn đường khá xa, đoàn quân phải vượt qua khoảng sình lầy, ai cũng bước từng bước, nhảy cho đúng lên góc lúa Trời, nếu trịch một chút bị sa xuống lầy lún sâu tới vế, khó bườn lên đặng.

Đoàn người phải vất vả lắm mới được đến ẩn trú trong cụm rừng tràm. Bấy giờ ai nấy đều đói và mệt lả, kẻ thì ngồi dựa gốc tràm, người thì nằm dài ra thở. Còn Đức Thầy để bao gạo xuống xem vẻ tự nhiên, không mệt nhọc gì hết, gương mặt tươi cười đi khắp vòng quân, thăm hỏi anh em, đoạn Ngài phân phát số gạo cho từng tiểu đội nấu cháo đỡ lòng.

Lúc anh em binh sĩ vừa húp chén cháo nóng, vừa tán thán. Nếu không có cái thấy biết chu đáo và sức khỏe của Đức Thầy thì tụi mình bị chết đói liệt ở đây, chớ ai tiếp tế kịp.

Quân Pháp lùng bố tới hai giờ chiều mới rút, đoàn quân liền trở về vị trí an toàn.

Qua mẩu chuyện chúng tôi vừa kể và có một vài nhận xét, mong rằng anh chị em đồng đạo chúng ta bình tĩnh lắng nghe từ cốt chuyện, từ lời nói. Tuy rằng trong mỗi chuyện có vài câu nói ngắn, một lời dạy dỗ vắn tắt của Đức Thầy, nhưng trong đó hàm chứa bao nhiêu ý nghĩa, nói lên bao nhiêu lời khuyến khích dạy dỗ nhân sinh, nhứt là toàn thể anh em đồng đạo. Chúng ta biết rằng trong quyển Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ của Ngài có biết bao nhiêu lời lẽ, biết bao nhiêu giáo lý pháp môn để chúng ta thực hành theo. Tuy nhiên qua những lời dạy ngắn gọn mà Đức Thầy còn nói riêng cho những anh em đồng đạo có dịp gần gũi bên Ngài, rồi được họ thuật lại và sau khi nghe những câu chuyện ấy, chúng ta nên suy nghĩ câu nào đúng chơn lý, câu nào đúng theo lẽ phải, thì chúng ta cố gắng kinh nghiệm thêm để áp dụng đời sống tu hành của mình. Chúng tôi thiết nghĩ cũng không kém bổ ích.

Mẩu chuyện thứ 55

ĐẠO KHÔNG THỂ MẤT

Năm Kỷ Mão 1939 nhà nhà đều rộn rịp đón xuân, các chậu hoa thọ, hoa cúc được đặc chung quanh bàn Thông Thiên hoặc trước nhà. Những chiếc lục bình trên bàn thờ, bàn khách được cắm nhiều cành hoa tươi, hoa giấy, đủ màu sắc sặc sỡ. Rồi cờ xí đèn lồng, đèn giấy cũng được treo bày mời cửa ngõ, cho đến đường sá giậu phên đều được hớt sửa, quét dọn. Nhìn đâu đâu cũng thấy mát dịu, thật vui tươi.

Bấy giờ ông Ngô Thành Bá và ông Hương Quản Diệp, trong chiều hôm đó đi xe đạp đến Tổ Đình để nghe Đức Thầy thuyết giảng Đạo Pháp. Cũng như thường lệ, khoảng bảy giờ tối, đồng đạo kẻ mới người cũ đều tề tụ chật nức. Từ nhà khách đến ngoài sân, ai nấy đều yên lặng chờ nghe lời giảng khuyên của Đức Thầy.

Ngài thuyết giảng đến chín giờ tối, thì dừng lại. Phần đông tản mác ra về, chỉ còn lại vài người. Lúc đó Đức Thầy mới kêu ông Biện Đài và ông Hương Quản Diệp biểu nhắc ghế ra sân ngồi. Khi mọi người đều ngồi, Đức Thầy cũng ngồi lại môt cái ghế. Bấy giờ trời thật trong, sao tỏ, mùi thơm các loại hoa hòa với khói trầm hương ngào ngạt, khiến ai nấy nghe lòng thanh thoát như phủi hết bụi trần.

Đức thầy bàn luận đạo lý thêm một hồi, đoạn Ngài chỉ cho ông Diệp và ông Biện Đài, cùng tất cả mọi người ngồi đó xem một điềm trời vừa xuất hiện, đó là sao Tử Vi.

Hình như Đức Thầy thấu rõ tâm niệm cho nên Ngài nhìn ngay ông Diệp và ông Biện Đài nói:

– Độ nầy các ông sợ lắm phải không? Thời kỳ Thầy chuyển Pháp độ đời, dẫu cho thế lực dân Pháp và bọn tay sai có ác độc đến đâu, cũng không thể nào làm hại Đạo được. Chừng nào hào quang trên mặt trăng không còn chiếu xuống đất, thì Đạo Thầy mới mất. Bằng ánh sáng mặt trăng còn chiếu thì Đạo Thầy vẫn còn cứu đời và lan rộng mãi mãi.

Đức Thầy còn cho biết thêm:

– Tất cả uy quyền hay thế lực đàn áp, chỉ là vun phân tưới nước cho Đạo tốt thêm, các ông cứ an tâm hành Đạo, đừng lo sợ gì hết.

Lời nầy của ông Nguyễn Chi Diệp thuật lại.

PHẦN NHẬN XÉT:

Qua dòng lịch sử, ai cũng thấy từ những bậc được người đời xưng tụng là Phật, Thánh, Triết nhân hay Dị nhân v.v. . . cho đến những sự nghiệp vẻ vang và vĩ đại được liên tiếp lưu tiến nghìn thu, tất cả đều thành công trong gian khổ, nhứt là Đạo Phật.

Bởi Đạo Phật vạch một lối đi ngược dòng luân lưu của nhân loại để đưa họ ra khỏi bờ sanh tử, nên thảo nào người đời chẳng ngăn, chẳng chận, đàn áp. Vì họ xem đó là một chướng ngại lớn đối với họ. Họ đâu có ngờ, trong lòng từ bi của vị khai sáng Đạo Phật thật vị nhân sinh và những người kế tiếp đối với chúng sanh thật bao la vô bờ bến. Dầu phải đương đầu với chông gai khổ khó:

Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,

Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng.

Dầu cho gặp lắm hùm beo,

Từ- bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng.

Đâu nản chí mà ngừng việc phải,

Cuộc tan thương biến cải cảnh trần.

(Thu Đã Cuối)

Đó là một trong trăm ngàn lần mà Đức Thầy đã thốt, để giác tánh tín đồ vững lòng đương đầu với những cơn pháp nạn.

Câu chuyện nói trên, tuy Đức Thầy ngắn gọn nhưng rất hiệu năng cho những tín đồ ngoan đạo đủ niềm tin và kiên trì trên đường hành đạo và truyền đạo. Về việc điềm trời xuất hiện như Ngài đã nói:

Điềm trời xuất hiện Tử Vi,

Quang minh sáng suốt vậy thì dân ôi.

Ở đây chúng tôi xin miễn bàn mà chỉ đề cập tới ánh sáng của mặt trăng lúc nào cũng tràn đầy và chiếu khắp trái đất.

Sở dĩ trăng có lúc tròn lúc khuyết và lúc sáng nhiều, lúc sáng ít hoặc có hai đêm đầu và cuối tháng vắng bặt, là do sự xoay chuyển của quả địa cầu. Hễ bên nầy sáng nhiều, thì bên kia sáng ít và ngược lại cũng thế, chớ ánh sáng mặt trăng không bao giờ bị mất.

Cái Đạo cũng vậy, nó rộng lớn bao trùm cả vũ trụ vạn hữu và lúc nào cũng như lúc nào, vẫn lào lào sáng tỏ. Nó chan hòa vào lòng người, tất cả chúng sanh vạn vật, không nơi nào mà chẳng có. Dầu là một vật rất vi tế nhưng nó lại không có hình tướng, sắc màu và ngôn ngữ đối đãi:

“Đạo khả Đạo phi thường Đạo,

Danh khả danh phi thường danh.”

Nên gọi nó là chơn không, nhưng không mà chẳng không, nên gọi nó là diệu hữu. Khi nào muốn cứu đời thì cái Đạo ứng dụng ra muôn ngàn phương diện, nên gọi là chơn không diệu hữu.

Song khi Đạo ứng dụng vào đời cứu độ chúng sanh “Quyết cứu đời dùng đạo phổ thông” thì nó phải đi theo luật thăng trầm, suy thạnh do nghiệp quả của chúng sanh mà ra.

Cũng như mặt trăng có mờ, có tỏ, có tròn, có khuyết là do sự xoay chuyển chớ không phải tại ánh sáng của mặt trăng có tròn khuyết mờ tỏ.

Ở đâu Phật Giáo Hòa Hảo sắp đương đầu pháp nạn, là bị quân Pháp theo dõi và họ quyết dập tắt trong khi Đạo vừa khai mở. Đức Thầy mới dùng lý lẽ trên để trấn tĩnh tín đồ. Ngài không cho đây là một dịp rủi trọn vẹn, mà còn có dịp may.

Ta còn thương thương trò liệu điệu.

Chớ cũng mừng được dịp phổ thông.

Càng đi càng biết nhiều nơi,

Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.

Đức Thầy cũng tiên đoán chẳng những một lần pháp nạn nầy thôi mà còn chịu qua mấy lần nữa, nên Ngài nói thêm:

– Tất cả uy quyền thế lực đàn áp chỉ là vun phân tưới nước cho Đạo tốt thêm.

Thật là một lời dặn dò son sắt, còn hơn liều thuốc trường sanh, nó làm cho toàn thể tín đồ giữ vững niềm tin ghi nhớ mãi mãi.

Đạo Phật vi diệu thậm thâm,

Dầu mà tận thế ngàn năm vẫn còn.

Nghe dứt câu chuyện, tôi ngồi bưng ly nước hớp từ ngụm nhỏ, nghe lòng cảm xúc, nhớ lại quãng đời hành đạo của mình trải năm lần thoát nạn. Bây giờ đây, vẫn được an toàn ngồi nghe kể chuyện bên Thầy đượm đầy đạo vị. Và nghĩ rằng việc đã qua chỉ là cơ thử thách người tu vậy.

Lúc trồng rẫy rủi nhiều sâu bọ,

Rồi ngẩn ngơ bỏ giống hay sao?

Nấu lọc ranh mới biết vàng thao,

Ai thật tánh, ai người giả Đạo.

Và ấy cũng là định luật bi quan ly hiệp.

Đời cùng Đạo bi quan ly hiệp,

Tấm lòng thành gian truân chớ thiết.

Đức Từ Bi tiếp dẫn linh hồn,

Tóm lại, trăng có khi tròn, khi khuyết, đạo có lúc thạnh lúc suy, gặp thời thịnh hưng thì đạo phô bày hình thức và áp dụng mọi phương tiện với đời để độ chúng. Còn gặp lúc nghịch cảnh suy di, thì đạo hòa ẩn trong lòng của mỗi người, mọi giới, để hoài tàng đạo đức, “Ẩn nhẫn hoài chờ đợi vận hanh thông”. Cho nên chúng ta có thể khẳng định rằng: Hễ loài người còn tức đạo còn, mà đạo còn tất sẽ còn người truyền đạo mãi mãi.

Do đó, người hữu tâm hữu chí quả quyết Đạo không thể mất, và:

Bại rồi thành lại nên tuồng,

Vạn dân hưởng được nước nguồn Ma Ha.

Mẩu chuyện thứ 56

Y KINH DIỄN NGHĨA

Câu chuyện nầy xảy ra vào khoảng cuối năm Canh Thìn 1940, Đức Thầy đang lưu trú tại nhà ông Hương Bộ Võ Mậu Thạnh ở tại Kinh Xáng Xà No, làng Nhơn Nghĩa, Cần Thơ. Nguyên nhân nhà cầm quyền Pháp bắt Đức Thầy đem qua Châu Đốc rồi họ đưa luôn đi Sa Đéc. Ở đây qua một cuộc điều tra cật vấn, họ tuyên bố lưu xứ Ngài, tức cấm không cho Đức Thầy cư ngụ và truyền Đạo trong các tỉnh như: Châu Đốc, Sa Đéc, Long Xuyên. Ngoài ra, Ngài muốn đi đâu tùy ý. Họ tưởng làm như vậy là chận đứng được sự truyền giáo của Ngài, chẳng ngờ khi Đức Thầy đến làng Nhơn Nghĩa thì dân chúng kéo đến nghe Pháp và nhờ trị bịnh càng lúc càng đông, cũng như lúc ở Tổ Đình Hòa Hảo vậy.

Sáng hôm nọ Đức Thầy trị bịnh và thuyết giảng đạo lý đến 11 giờ trưa Ngài mới dùng cơm. Xong, Ngài vào phòng riêng an nghỉ. Bỗng có ba ông khách đến. Ông Bộ Thạnh, tức chủ nhà có trách nhiệm tiếp rước mời khách dùng trà nước và hỏi thăm nơi ở và lý do, thì được ba ông khách cho biết:

– Chúng tôi đều là người ở Cần Thơ, hôm nay đến đây xin được gặp Đức Thầy để hỏi chút việc.

Ông Bộ đáp:

– Các ông hãy đợi chừng một tiếng đồng hồ nữa vì Đức Thầy mới vào phòng nghỉ. Lúc đó thấy ba người khách có hơi nôn nóng, ông Thạnh liền nói tiếp:

– Nếu có việc chi cần gấp, các ông cứ trình bày, nếu thấy được tôi sẽ giải quyết, bằng không thì phải đợi Đức Thầy, chớ tôi không thể báo tin liền bây giờ được, vì Đức Thầy mới vào nghỉ.

Lúc đó một trong ba ông khách đại diện nói:

– Không có chuyện gì quan trọng lắm. Chúng tôi đã quy y với Đức Thầy hôm Ngài mới đến đây, nhưng vì chúng tôi có xem chút ít Kinh Phật và đọc qua bốn quyển sấm giảng của Đức Thầy, thấy rằng muốn giải thoát sanh tử mà còn sát sanh cung ứng cho khẩu dục mỗi ngày, tức là còn ăn chay kỳ mỗi tháng bốn ngày, như thế thì trong hai mươi sáu ngày kia còn ăn mặn, tức nhiên phải còn sát sanh, ắt khó mong được ý nguyện. Nên hôm nay đến đây định xin Đức Thầy cho phép chúng tôi ăn chay trường luôn.

Nghe ba ông khách nói xong, ông Thạnh vội vàng đáp:

– Vấn đề gì chớ việc ăn chay trường Ngài không cho rồi!

Ông Thạnh vừa nói tới đó thì Đức Thầy cũng vừa mở cửa phòng bước ra đi ngay lại bàn khách. Ông Thạnh vì ngồi xoay lưng lại cửa phòng nên không thấy Ngài, còn ba người kia vì ngồi đối diện nên cùng đứng dậy cúi đầu chào Đức Thầy, khiến ông Thạnh giựt mình quay lại.

Đức Thầy liền nói:

– Tôi không cho tín đồ ăn chay trường hồi nào mà ông Bộ nói vậy?

Lúc đó ông Bộ miệng mấp máy muốn biện lẽ, Đức Thầy biết ý nên tiếp:

– Cách mấy hôm rày, vợ chồng ông Sáu bên sông có qua đây hỏi xin ăn chay trường. Sở dĩ tôi không chấp nhận mà bảo ông bà nên ăn chay kỳ lần lần rồi sẽ tiến lên, là vì trình độ hoàn cảnh của ông bà ấy chưa ăn chay trường được ngay bây giờ. Còn cơ duyên của ba người nầy thì ăn chay trường được. Vậy ba anh về thực hành đi! Thầy sẽ chứng cho.

Ngài vừa nói vừa xoay qua ngó ba người ấy. Đến đây ông Bộ mới vỡ lẽ.

Thưa quí vị, câu chuyện nầy chúng tôi thuật theo ông Trương Minh Ký lúc đó có mặt tại nhà ông Bộ Thạnh.

PHẦN NHẬN XÉT:

Chủ yếu của Đạo Phật là đưa chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử. Cho nên người Phật tử khi đặt chân vào cửa Đạo phải giữ hạnh trai giới, bởi sự trì chay giữ giới là phương tiện thoát ly luân hồi, Đức Thầy thường dạy:

Đồ lao muốn lánh sớm nghe Ta,

Bố thí trì chay giữ giới mà.

(Ai Người Tri Kỷ)

Do đó nhà tu rất quan tâm đến sự ăn chay. Tuy nó là hình thức bên ngoài, song muốn thực hiện cũng không phải dễ dàng, vì những vị ngon thịt béo của sinh vật, con người đã ô nhiễm từ lũy kiếp. Thế nên trong qui luật của Đạo Phật, có phân định từ ăn chay kỳ, đến chay trường, để cho tín đồ dễ bề tu tập, ấy là tùy theo cơ duyên và trình độ của mỗi hành giả mà áp dụng.

Thế mà cũng có nhiều người chưa nhận xét tinh tường nên còn thiên chấp chê khen hoặc áp dụng không đúng tiết, như có người đọc đến hai câu giảng:

Chay bốn bữa ấy là quy tắc,

Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Thì cho rằng ăn chay mỗi tháng bốn ngày là quá thấp, cũng có người khác khi thấy ai ăn chay vượt lên hơn bốn ngày liền cho đó là sai quy tắc giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo.

Sự nhận xét của hai hạng người nói trên đều là phiếm diện đáng tiếc. Nếu ai chịu nhìn toàn diện giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo và suy cứu sự dụng ý của Đức Thầy một cách chính xác ắt họ không còn bị lầm lẫn nữa.

Đạo Phật rất cao sâu và thực tế, ấy là chơn lý xác thật, song khi áp dụng cứu đời thì nó hòa hợp cơ duyên của mỗi chúng sanh. Nói cách khác vừa khế lý và vừa khế cơ, nếu không đủ hai dữ kiện ấy là mất hết thực chất của Đạo Phật, cho nên người xưa đã bảo: “Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan. Ly kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết”. Có nghĩa là: Nói Đạo mà không hợp căn cơ của người nghe thì mắc phải cái lầm là nói oan cho Phật ba đời. Bằng nói Đạo mà không đúng chân lý thì lạc vào Ma thuyết.

Trường hợp ông Hương Bộ Thạnh nghe Đức Thầy khuyên vợ chồng ông Sáu không nên ăn chay trường, chỉ nên ăn chay kỳ lần lần. Khi gặp ba người khách ông Thạnh cũng nói y như vậy, ấy là ông kẹt ở chỗ y kinh diễn nghĩa là nói oan cho Phật, nên ông Thạnh bị Đức Thầy rầy:

– Tôi không cho tín đồ ăn chay trường hồi nào mà ông Bộ nói vậy?

Nếu bảo mỗi người mới tu phải ăn chay trường thì không khế cơ, bằng bảo tất cả Phật tử không được phép ăn chay trường lại là không khế lý. Vậy chúng ta hãy đào sâu vấn đề, tại sao lúc mới khai Đạo, Đức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo dạy tín đồ:

Chay bốn bữa ấy là quy tắc,

Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Và chính Ngài cũng vẫn ăn chay kỳ, bởi có hai lý do:

Lý do thứ nhứt: Sự ăn chay đối với người chưa tu hoặc mới tu đâu phải chuyện dễ dàng, vì chưa quen và lòng từ bi giác ngộ chưa cao. Nếu Đức Thầy ra quy tắc mỗi tín đồ phải ăn chay trường thì dù họ muốn tu cũng ngán không dám vào Đạo vì sợ ăn chay theo không nổi. Thế thì hột giống lành của họ chưa có cơ nẩy nở.

Điểm thứ hai nếu Đức Thầy ăn chay trường thì tín đồ thấy vậy bắt chước ăn theo, trong lúc họ chưa hiểu được chính xác lý do gì mình phải ăn chay trường, thì họ chỉ ăn thời gian rồi thối chuyển, hoặc giả người mới tu thường có cao vọng mau thành và hiểu lầm rằng ăn chay sẽ được thành Phật. Hạng người nầy chỉ tu được thời gian, khi gặp nghịch cảnh thử thách liền bỏ đạo thôi tu, đành rằng hễ tu thì phải ăn chay, hoặc nhiều hoặc ít.

Trong bá gia nhiều ít lòng chay.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Chữ Nam mô trì giái giữ chay

(Sa Đéc)

Nhưng hành giả phải nhận cho rõ:

Chay được tánh tâm chay mới quí

(Sa Đéc)

Vì mục đích của sự ăn chay là để tăng trưởng lòng nhơn, nuôi dưỡng đức tánh từ bi và diệt lòng tham sát để khỏi luân hồi quả báo. Cho nên ăn chay muốn được kết quả, tâm phải cần thanh tịnh, chớ chẳng phải ăn chay ngoài cửa miệng hay bằng hình thức suông.

Tu hành nào luận mặn chay,

Miễn tâm thanh tịnh gặp ngày an cư.

Để cho hầu hết nhân sinh dễ bề tu tập, Đức Thầy tùy cơ duyên của mỗi người mà giáo huấn. Bắt đầu từ quy tắc, người mới vào đạo phải ăn chay mỗi tháng 4 ngày, tức là năm 1939, nhưng đến năm 1942 – 1945 Ngài bảo tín đồ ăn lên mỗi tháng là 6 ngày. Ngoài ra còn có những tín đồ ăn lên 10 ngày mỗi tháng, hoặc ăn chay trường. Ngài cũng tùy theo trình độ mà mặc nhận, song có điều Ngài quyết định toàn thể tín đồ phải tuân thủ là tu đúng theo con đường Trung Đạo, chớ không được tu theo lối ép xác hành khổ và trong đó Ngài có viết một đoạn:

“… Vậy Phật chẳng buộc ai ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn của mình …”

Theo ý của đoạn văn trên, qua mặt văn phạm ta thử tìm hai từ ngữ chẳng “xúi” và chẳng “ép”: Thấy rằng chữ chẳng xúi là ý Thầy tín đồ làm việc gì đó, nhưng tại họ muốn làm, hoặc chừa bỏ chưa được, còn chữ chẳng ép là ý muốn bảo tín đồ làm những gì họ còn yếu sức, hoặc kém giác ngộ nên chưa thực hiện được, chờ khi trình độ và lòng nhơn của họ tiến bộ lên, tất sẽ thi hành được.

Tóm lại diệu dụng của Phật Pháp đối với chúng sanh bao giờ cũng khế cơ và khế lý. Vậy nhà tu nên nhận xét cho thấu đáo mới khỏi bị hiểu lầm lời chỉ giáo của Tổ Thầy trong việc hành đạo và truyền đạo của mình.

Coi rồi phải nhận cho hiểu lý

Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Mẩu chuyện thứ 57

PHÉP THẦN THÔNG

Mẩu chuyện nầy phát xuất từ năm Giáp Thân 1944, người Pháp cố tình chận đứng, không cho Đạo Phật Giáo Hòa Hảo bành trướng, chúng lùng bắt những người đang hoạt động cho Đạo. Họ bắt giam vào khám tù ở các tỉnh, hoặc đày đi Côn Đảo. Bấy giờ Đức Thầy đang cư trú tại Sai gòn, Ngài kêu gọi những anh em đồng đạo cùng lên ở với Ngài để ẩn lánh một thời gian. Trong đó, có ông Giáo Khương là người ở tỉnh Châu Đốc.

Một hôm nọ ông Khương đang ngồi lo nghĩ, chẳng biết hiện tình trong tỉnh nhà ra sao? Ông liền khởi lòng mong ước, phải chi mình có được phép thần thông để mình nghe thấy hết mọi việc khắp nơi coi như thế nào. Lúc đó Đức Thầy vừa đi ngang chỗ đó, chừng như Ngài đã rõ tâm ý của một đệ tử, Ngài bèn tươi cười hỏi:

– Bộ ông Giáo muốn có thần thông lắm sao?

Ông giáo nghe Đức Thầy hỏi giựt mình và cười thẹn chứ không đáp được, còn dức Thầy hỏi rồi Ngài bỏ đi luôn.

Lúc đó ông Khương ngồi suy nghĩ, mình mới tu mà nhiều cao vọng quá. Sau đó vài phút ông Khương thấy rõ ràng: Bà xã Bộ và ba đồng đạo chèo một chiếc ghe chở đầy thực phẩm từ Châu Đốc tiếp tế lên Saigòn, ghe đi đến đâu và mọi người trong ghe nói chuyện hay là tắm giặt, dùng cơm ra sao thì ông Khương nhìn thấy, nghe hết không sót điều nào. Bấy giờ ông rất mừng rỡ, nhưng không dấu kín được trong lòng, nên đem thố lộ cho hai người bạn nghe. Ông nói:

– Ghe tiếp tế của bà Xã Bộ lên gần tới.

Lúc đó hai người ấy cùng hỏi:

– Anh ở trên nầy có ai báo tin trước mà anh biết chuyện ấy?

Ông Khương nói:

– Không ai cho tin, nhưng tôi biết có như vậy, chắc khoản 10 giờ ghe sẽ đến đây.

Hai người bạn không tin cho rằng ông Khương nhớ nhà rồi đặt chuyện nói láo cho vui, bèn rủ ông đánh cá.

– Nếu y như vậy thì chúng tôi thua anh hai tô hủ tíu và hai ly café, còn bằng không có việc đó thì anh phải bao chúng tôi đủ số như vậy, anh chịu không?

Ba người bằng lòng trong cuộc ăn cá với nhau, nhưng không dám nói lớn vì sợ Đức Thầy hay mà quở trách.

Qua hôm sau ba người cùng ngồi chung một bàn, đàm thoại và chờ xem kết quả. Đợi tới 9.30 cũng chưa thấy gì hết, hai anh bạn kêu ông Khương nói:

– Giờ nầy anh Giáo lấy tiền cùng hai đứa tôi ra tiệm hủ tíu là vừa.

Ông Khương đáp:

– Chưa đâu, đúng 10 giờ đồng hồ gõ mới biết ăn thua chớ.

Hai người bạn với nụ cười đắc thắng nói:

– Đợi tới đó cũng được.

Lúc đó đồng hồ gõ 10 giờ, bỗng thấy người gác cửa bước vào trình với Đức Thầy:

– Bạch Thầy, có ghe tiếp tế của bà Xã Bộ ở Châu Đốc lên tới.

Hai người bạn đồng ca ngợi ông Khương rồi trọn ba người dắt nhau ra tiệm hủ tíu ăn uống. Xong, họ trở về an toàn, và yên trí rằng không ai hay biết. Nhưng sau đó ít phút, Đức Thầy từ trên gát đi xuống, Ngài nhìn ngay ông Khương:

– Ông Giáo vừa được ăn hủ tíu và uống café rồi là phải, nghe thấy bao nhiêu đó thôi nghe ông!

Từ giờ phút ấy về sau ông Khương không còn được nghe thấy như lúc trước nữa.

Mẩu chuyện nầy thuật theo lời ông Giáo Khương.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thường tình khi gặp cảnh nghèo khổ, hoặc bị đàn áp buộc ràng, thì người ta mới nẩy sinh những cái ước muốn làm sao cho mình được vượt qua. Từ đó xã hội loài người xảy ra những cuộc ghét thương hiềm khích và đấu tranh gây gổ cho nhau. Ông Khương lại không biết thận trọng, để lại phải vương vấp những điều sai lầm như sau:

Điểm thứ nhứt: Giữ kín nhưng sự mầu nhiệm trong lòng không được, lại đem khoe với hai người bạn. Điều nầy đối với người tu gần chứng đắc rất là cấm kỵ. Bởi Bồ Tát còn thấy mình chứng đắc, chưa phải là Bồ Tát, đã thấy mình có được sở đắc, hoặc có chút vui mừng cũng chưa được, huống hồ là đem khoe với mọi người.

Điểm thứ hai: Lợi dụng sự thấy nghe rõ ràng, nắm phần chắc ăn trong tay, ông Khươ~g đem đánh cá với hai người bạn để được ăn cuộc. Tuy đây là cuộc mua vui nhỏ nhặc, nhưng trong đó cũng có dụng ý ăn thua, điều mà hầu hết nhà tu phải tránh hẳn.

Điểm thứ ba: Đã biết điều mình đánh cá với hai người bạn là sai, vì Đức Thầy hay được sẽ khiển trách, nhưng ông Khương cũng cố giấu, quên rằng sức tu của mình chưa chứng được phép thần thông nầy, mà phải nhờ đến tha lực và người ban cho tha lực ấy là Đức Thầy, chớ còn ai nữa mà hòng che giấu Ngài. Do đó, ông Khương và hai người bạn từ tiệm nước trở về, tưởng đâu an toàn. Không ngờ Đức Thầy rõ hết sự tình, nên Ngài nhìn ngay ông Khương và nói:

– Ông Giáo vừa được ăn hủ tíu và uống café rồi là phải, nghe thấy bấy nhiêu đó thôi nghe ông!

Thế là sau giờ phút ấy ông Khương bị mất hết thần thông và lúc bấy giờ ông mới nhận được các điều sai sót của mình.

Đọc câu chuyện trên, chúng ta không nên vội chê trách ông Khương, mà vướng thêm cái bịnh lo thấy lỗi của người khác. Vậy người mới vào Đạo lâm vào hoàn cảnh ấy, chưa chắc mấy ai khỏi lầm. Vậy điều cần thiết là chúng ta nên rút bài học kinh nghiệm cho đường tu của chính mình là hơn.

Mẩu chuyện thứ 58

CHẾT KHÔNG MẤT

Đây là nhắc đến chuyện của ông Dương văn Xoàn, thường gọi là ông Hai Xoàn, nhà ở Vàm Nao, Mỹ Hội Đông, quận Chợ Mới, Tỉnh Angiang. Bình nhựt ông có lòng hào hiệp, hay giúp đỡ người cô thế. Đến lúc quy y với Đức Thầy thì ông Hai rất nhiệt tình lo cho Đạo

Ông thường mang Sấm Kinh đến nơi nào chưa có thì ấn tống và khuyến khích người tu hiền. Thuở ấy từ năm 1940 tới năm 1944 nhà cầm quyền Pháp tại quận Chợ Mới ruồng bắt những người hoạt động cho Đạo, tra tấn và đày đi Côn Đảo. Dầu vậy ông Hai chẳng hề lùi bước.

Hôm nọ ông Hai thấy có bốn người bị trói đang ngồi trên chiếc xe lôi đang đậu ở phía trên Mỹ Hội Đông, ông động lòng nghĩa hiệp, liền bước đến hỏi thăm duyên cớ làm sao, thì các người ấy trả lời

– Chúng tôi vì gia đình nghèo quá ông Hai, không đủ tiền đóng thuế thân nên bị lính bắt giải lên quận.

Ông Hai liền hỏi;

– Vậy lính đi đâu hết rồi? Các anh em đó trả lời:

– Họ và anh chạy xe đang uống nước ở tiệm nước đàng kia.

Nhanh như cắt, ông Hai liền nhảy lại mở hết giây trói và bảo bốn người trốn lẹ đi. Bốn anh y lời chạy thoát hết, còn ông Hai lập tức trở về ga đình soạn quần áo và gói 200 quyển Sám Giảng. Ông đi luôn vô vùng Rạch Giá phát giảng khuyên người tu. Hai tháng sau ông mới trở về Mặc Cần Dưng cư ngụ.

Khi bọn lính uống nước xong trở ra, thấy bốn người đi đâu mất, chúng chia nhau lục soát, nhưng không tìm được. Sau đó họ điều tra, biết là ông Hai mở trói thả tội nhân, những người lính cấp báo về quận. Quận đã có dự tính bắt ông Hai, vì ông hoạt động Đạo đức. Nay được thêm tin nói trên, họ liền ra lịnh bắt ông Hai.

Bọn lính tới nhà ông bao bắt mấy phen, nhưng không gặp. Sau rốt chúng biết nơi ẩn trú của ông, liền đến bao vây và bắt được ông. Chúng đánh đập tra tấn một cách tàn nhẩn. Cuối cùng chúng đày ông ra Côn Đảo một lượt với ông Xã Hay ở Kiến An. Sau ông Hai chết luôn ở tại đây. Hôm ngày 29 tháng 9.

Đến tháng 6 năm Ất Dậu 1945, Đức Thầy đi Khuyến Nông về tới xã Mỹ Hội Đông. Trước khi lên diễn đàn, Đức Thầy đến tận gia đình ông Hai để thăm. Ngài kêu hết vợ con của ông Hai ra hỏi:

– Từ ngày ông Hai bị dày đi Côn Đảo và mất tới giờ, sự sanh sống ra sao?

Người con gái thứ Hai đứng ra đại diện gia đình trả lời:

– Bạch Thầy, chúng con làm ăn có khi đủ cũng có khi thiếu!

Đức Thầy ngỏ lời an ủi và khuyến tấn:

– Ông Hai chết không mất đâu, các cô đừng buồn, hãy rán lo tu hành, làm lành, làm phải. Thầy sẽ hộ cho từ đây làm ăn khá giả và tới ngày lập hội được gặp lại ông Hai.

Thật đúng như lời, từ độ ấy đến nay, bốn người con của ông Hai người nào cũng làm ăn giàu có hết.

Câu chuyện nầy thuật theo lời của Ban Trị Sự xã Mỹ Hội Đông.

PHẦN NHẬN XÉT:

Nghe câu chuyện kể trên chắc ai cũng bùi ngùi cảm động, giữa lúc người Pháp dùng chính sách bạo tàn chèn ép đạo giáo, nhứt là Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng ông Hai vẫn cương quyết làm tròn bổn phận của người tín đồ đối với Tam Bảo, thật là một tấm gương đáng kính. Lại nữa sống dưới thời Pháp thuộc, mỗi năm công dân từ 18 tuổi trở lên đều phải đóng thuế thân, tức là thuế người, là bốn đồng sáu. So với giá lúa thời bấy giờ là 3 cắc một giạ thì phải tốn trên 15 gịa lúa cho mỗi đầu người. Những gia đình nghèo, vợ con nheo nhóc, lo chạy hàng bữa, làm sao có đủ tiền để đóng thuế. Vậy mà những kẻ thân Pháp chẳng rũ lòng thương xót, họ nỡ bắt trói đồng bào mình hành hạ đủ cách. Vì hận bọn xăm lăng, nghĩa đồng bào cốt nhục, nên ông Hai giải tỏa cho bốn người ấy.

Với một người vì Đạo, vì dân, xem gia đình và thể xác là thường như ông Hai, nên Đức Thầy đến tận nơi thăm viếng và an ủi gia đình:

Ông Hai chết không mất đâu và đến ngày lập hội được gặp lại ông Hai.

Một câu nói vừa xoa dịu vết thương lòng vừa vững niềm tin trên bước đường tu học cho gia đình ông Hai

Tam giáo đều công nhận trong mỗi người có hai phần: Xác thể và linh hồn. Khi chết, xác thể bị mất, nhưng linh hồn vẫn còn mãi mãi.

Xác tuy mất hồn thiêng chẳng mất.

Ví như cái nhà và ông chủ nhà, cái nhà nầy hư thì ông chủ nhà đi ra cất lo cất lại cái nhà khác, rồi cái khác nữa. Trường hợp ông Hai đây lại là đặc biệt, tuy xác thịt ông bị mất, song danh nghĩa của ông vẫn sống muôn đời và linh hồn được dự hội Long Hoa:

Dõi gót theo Thầy nương Phật cảnh,

Vui vầy xem hội hội Long Hoa.

Điều nầy có lần Đức Thầy khuyên ông Tham Tá Ngà:

Kìa hỡi ai giữ phận cho tròn,

Sau huynh đệ có ngày hòa hiệp.

(Cho Ông Tham Tá Ngà)

Và Ngài cũng dạy cô Hai Gương:

Đến hội trăm quan còn hiện được,

Thì ra xác thịt có cần đâu.

Khuyên con nghĩ cạn đừng ưu lự,

Mượn chước huyền cơ giải mạch sầu.

(Cho Cô Hai Gương Cần Thơ)

Riêng về vợ con ông Hai, Đức Thầy khéo dẫn từ đức tin tới nhân quả “Các cô đừng buồn, hãy lo tu hành, làm lành, làm phải Thầy sẽ hộ cho từ đây làm ăn khá giả”. Lời an ủi của Đức Thầy tuy đơn giản song có hiệu lực làm cho gia đình ông Hai tan hết sự ưu sầu lo lắng và đặt trọn niềm tin vào nơi Tam Bảo, vừa sốt sắng lo làm ăn, vừa lo tu hiền chơn chất. Nhờ đó các con ông Hai giờ được phước báu trở nên giàu có. Bền chí tu hành, hễ nhân toàn thiện thì quả do đó mà được toàn thiện vậy. Còn việc sum họp gia đình tại hội Long Hoa, phải đợi thời gian và sự tu tiến của các người con.

Mẩu chuyện thứ 59

GÌN GIỚI LUẬT

Vốn có sẵn lòng từ bi và trách nhiệm cứu nguy dân tộc, Đức Thầy không thể lặng nhìn đồng bào Miền Bắc đang bị giặc đói hoành hành, nên Ngài đứng ra cổ võ đồng bào Miền Nam chung sức gạo tiền để chở ra cứu trợ miền Bắc. Mặt khác Ngài kêu gọi toàn dân nổ lực tăng gia sản xuất. Bởi:

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,

No dạ dày là chước đầu tiên.

Cuộc hành trình nầy mệnh danh là Khuyến Nông kéo dài từ mồng một tháng 5 đến cuối tháng 6 năm Ất Dậu 1945. Đức Thầy khởi hành từ Sai gòn rồi đi khắp châu thổ sông Cửu Long và đăng đàn thuyết pháp 107 nơi. Mỗi nơi đều có số dự nghe ngoài sức tưởng tượng. Vào ngày mùng 6 tháng 6 Ngài thuyết giảng tại sân vận động Mỹ Hội Đông. Từ lúc được tin ấy, ai ai cũng chuẩn bị. Chỉ để một người coi nhà còn bao nhiêu đều đi dự hết. Có nhiều gia đình đóng cửa bỏ đó, người nhà đồng kéo đi hết, nhưng khi trở về, chẳng nhà nào bị mất đồ đạt. Trong số, có gia đình cô Ba Tuội.

Số dự thính nơi đây, ngoài những tín đồ đã quy y với Đức Thầy từ năm Kỷ Mão 1939 còn có đủ mặt đồng bào các giới.

Hôm đó, ngoài việc khuyến nông Đức Thầy còn khuyến tu và đề cập đến giới luật thật nhiều. Ngài giảng giải rành về Tám Điều Răn Cấm và đọc đi đọc lại ba lượt. Mỗi lần đọc dứt Tám Điều Răn Cấm thì Ngài kêu hỏi:

– Tất cả bổn đạo và bà con có mặt hôm nay, nếu ai bằng lòng gìn giữ theo đây, hãy đưa tay lên.

Bấy giờ mọi người đồng đưa tay, qua ba lần như vậy, Ngài dừng lại một phút rồi nói tiếp:

– Sau nầy Thầy sẽ vắng mặt một thời gian, rồi Thầy trở về với nguyên xác cũ, tất cả bổn đạo hãy nhìn Thầy cho kỹ kẻo sau nầy bị lầm kẻ giả trá.

Thưa quí vị, câu chuyện nầy chúng tôi thuật lại theo lời của cô Ba Phạm thị Tuội ở xã Nhơn Mỹ.

PHẦN NHẬN XÉT:

Nếu xưa Cổ Đức đã bảo: “Tam thế Phật pháp giới nghi căn bản, bản chi bất tu đạo diễn hồ tai”. Thì nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng dạy: “Điều cần nhứt là giữ giới luật hàng ngày”. Giới luật là điều căn bản của các hạng tu hành, không luận kẻ xuất gia hay cư sĩ, thiện tín hay tăng ni. Tuy có kẻ giữ giới nhiều, người thọ giới ít, chung qui mỗi người đều phải giữ giới, chính đó là hàng rào để ngăn chận các điều tội lỗi.

Một nhà tu nếu không giữ giới luật thì khó mong hết lỗi, mà tội lỗi chưa hết, thử hỏi đường đạo đi đến đâu. Cho nên tại vị trí nói trên Đức Thầy giảng đi giảng lại Tám Điều Răn Cấm ba lần, đó là Ngài muốn cho mỗi tín đồ nhận định chính xác để gắng công trì giới. Ngài xét biết đối với làn sóng văn vật hiện nay, người tu rất dễ vi phạm giới luật, mà nếu vi phạm giới luật thì công phu tu hành khó mong thành đạt, lại còn uổng phí một kiếp tu hành khó mong gặp lại cơ hội:

Kỳ xả tội nay còn một lúc,

Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Phương chi yếu điểm của nhà tu là cần đạt huệ, mà muốn có trí huệ trước tiên phải giữ giới, nhân giới mới sanh định và nhân định mới sanh huệ. Tức là nhờ Giới Định Huệ tam học mới trừ được Tham Sân Si là tam độc để chứng thành Phật quả. Trong Sấm Kinh Đức Thầy chỉ dạy:

Nếu ai mà biết chữ tu trì,

Tâm bình tịnh được thì phát huệ.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Hoặc

Gìn giới cấm sửa tâm ô tạp

Niệm Phật thì phải diệt lòng tà.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

Đồ lao muốn lánh sớm nghe ta,

Bố thí trì chay giữ giới mà.

Phật Đạo trau giồi tâm tánh lại,

Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.

Còn việc Đức Thầy tiên tri sau nầy Ngài sẽ vắng mặt một thời gian rồi Thầy trở về nguyên xác cũ. Trường hợp nầy Ngài cũng có nói với ông Ngô Thành Bá trong dịp đi viếng núi Tà Lơn:

“Ngày sau Thầy phải xa cách bổn đạo một thời gian, trong thời gian ấy tín đồ phải chịu đau khổ, và không một ai biết Thầy ở nơi nào.”

Từ độ ấy đến nay, qua những lần pháp nạn, đủ chứng minh một cách rõ ràng cho lời tiên tri nói trên.

Vậy trên đường tu dầu gặp nhiều đau khổ, ta không nên bi quan chùn bước vì đây chỉ là định luật:

Đời cùng đạo bi quan ly hiệp.

Thế gian hiếm kẻ thánh tài,

Ra đời phải chịu ít ngày gian nan.

Cổ kim nghiệm biết đừng than,

Để cho Trời Phật lo toan việc nầy.

Chỉ e nhiều người thiếu đức tin và lòng kiên nhẫn rồi chùn chân thối bước. Vậy mỗi tín đồ nên lo tròn bổn phận, chứ đừng lo ngại Đức Thầy không trở lại và nhiệm vụ chẳng thành công như Ngài đã thốt:

Mãn sợ sông Ngân cầu lỗi nhịp,

Lo chi Ô Thước chẳng xong cầu.

Và Ngài còn hứa hẹn với các tín đồ:

Ít lâu Ta cũng trở về,

Khuyên trong bổn đạo chớ hề lãng xao.

Trì lòng chớ có núng nao,

Từ đây nhơn vật mòn hao lần lần.

Còn điểm chót hết Đức Thầy căn dặn:

“Rồi Thầy trở về nguyên xác cũ, tất cả bổn đạo hãy nhìn Thầy cho kỹ, kẻo sau nầy bị lầm kẻ giả trá.”

Câu nầy Đức Thầy cũng có nói với nhiều người. Như cô Cò ở Sài gòn và ông Nguyễn Phước Còn ở Long Kiến. Bởi đoán biết sau nầy có ba ngàn sáu trăm mối tà đạo ra đời “Tam thiên lục ba khắp tràn hại dân”. Thừa lúc Đức Thầy vắng mặt, bọn chúng giả xưng là Ngài mượn xác, hoặc là bày ra mưu nầy chước nọ gạt gẫm các tín đồ nhẹ dạ thiếu trí mê tín làm điều xằn bậy mà hư hỏng cuộc đời. “Lòng tà đạo nhân hư bất dục”. Nên Ngài hằng khuyên:

Đừng bạ đâu tin bướng nghe càng,

Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp.

Và để tăng lòng tin mọi người, Ngài hứa hẹn một cách chắc chắn:

Can qua dân chúng chớ buồn lo,

Tích đức chờ ta chốn hẹn hò.

Tiên cảnh Phật đài xem rực rỡ,

Hoàn cầu đến đó ấm cùng no.

Cùng no bốn biển một cha thôi,

Bỏ dứt thói hư với tật tồi.

Trên có Phật Trời soi việc thế,

Dưới đầy cơm áo lão về ngôi.

Mẩu chuyện thứ 60

MUỐN DIỆT MÊ SI

Đức Thầy có nói:

Diệt mê si phải nương thuyền giác,

Muôn việc làm chính trực khôn ngoan.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Trời càng về Đông tiết càng thêm lạnh, nhưng lòng người chẳng thấy lạnh, phải chăng vì nôn nóng việc đạo đức. Bởi Phật Pháp rộng sâu như rừng như bể mà người học Đạo khi bước vào ngưỡng cửa thì còn biết bao cái chưa hiểu, bao nhiêu cái nghi ngờ thắc mắc cần phải tìm tòi nghe học.

Do đó, lúc Đức Thầy mới khai Đạo tại Tổ Đình Hòa Hảo, hằng ngày người ta thường tới lui tấp nập, hoặc nhờ khi trị bịnh, xin thuốc, thỉnh giấy vàng, hoặc để nghe Ngài thuyết giảng đạo lý hay chép kinh giảng về nhà tu học. Cũng đồng một tâm trạng nói trên, ông Đặng Thành Tựu người ở xã Kiến An, Chợ Mới An giang, khi đã quy y với Đức Thầy, ông để tâm suy tầm đạo lý, thấy có nhiều điều tự mình không thể giải nghi, nên hôm nọ vào cuối mùa Đông năm Kỷ Mão 1939, ông Tựu có đến Tổ Đình, đợi lúc vắng khách, ông mới bước gần lại Đức Thầy thưa hỏi:

– Bạch Đức Thầy, trong kinh Phật có dạy Tam Độc: Tham, sân, si. Theo trí cạn hẹp của tôi hiểu là muốn trừ tánh tham thì tôi đừng ham muốn vật nào hết là được, cũng như muốn trừ sân thì tôi đừng nóng giận chút nào nữa dù việc nghịch lý ấy lớn hay nhỏ. Còn cái mê si nầy tôi không biết làm sao diệt được nó, nhờ Đức Thầy từ bi chỉ dạy cho.

Đức Thầy tươi cười bảo:

– Muốn diệt mê si tâm mình phải giác.

Nghe vậy ông Tựu muốn hỏi thêm, nhưng lúc nầy có các bịnh nhân đau nặng, người nhà vừa chở đến, Đức Thầy liền sang qua chữa bịnh cho họ, nên ông không hỏi được.

Câu chuyện nầy thuật theo lời của ông Đặng Thành Tựu.

PHẦN NHẬN XÉT:

“Muốn diệt mê si tâm mình phải giác” Câu Đức Thầy giải đáp cho ông Đặng Thành Tựu, xét ra nó bao hàm một ý nghĩa vừa sâu, vừa rộng. Bởi mê si là chúng sanh là nguồn gốc sanh tử, còn giác là Phật quả, mục đích giải thoát. Song con đường từ chúng sanh đi đến Phật quả chẳng phải dễ dàng được, vì cái tâm mê mờ tức là vô minh, không nhận rõ chơn lý đã sẵn có của mỗi người từ vô thỉ.

Ác thứ mười đoạn chót mê si,

Nguyên tăm tối từ hồi vô thỉ.

Màn vô minh che mờ căn trí,

Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.

Lo huyễn thân vật chất kém hơn,

Chẳng tìm biết tinh thần đạo đức.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Từ đó chúng sanh cứ dệt thêm nhiều lớp mê, tạo thêm nhiều nghiệp tội, rồi sanh tử, tử sanh mãi trong sáu cõi phàm chưa bao giờ dừng lại. Giờ đây muốn chận đứng sự luân hồi thống khổ ấy nhà tu cần diệt ngay cái gốc mê si, mà muốn trừ được nó hãy bỏ mê về giác. Tức là phải có lòng tự giác, cho nên Đức Thầy mới dạy ông Tựu: “Muốn diệt mê si tâm mình phải giác”. Vậy làm sao cho ta có lòng tự giác đây? Y cứ vào Kinh Giảng của Đức Phật và Đức Thầy, có thể phân làm hai phương cách để thay đổi lòng mê si trở thành tâm giác ngộ.

Thứ nhứt là với bậc hạ căn thiểu trí, trước nhứt hành giả phải qui thuận theo tinh thần đạo đức và phải nương thuyền giác, tức là phải nương về Giáo lý, Kệ Kinh, Sấm giảng của Đức Thầy, bởi Giáo lý là ánh sáng của ngọn đèn chơn lý, ví như ngón tay để chỉ mặt trăng, như chiếc thuyền để đưa người đến bên kia bờ giác.

Nhờ có tu học giáo lý và kiên trì giới luật, thân tâm hành giả lần lần thanh tịnh, huệ nhựt hiện bày, thấy biết mọi việc, mọi cảnh một cách sáng tỏ đúng với chơn lý. Ấy là tự giác, từ đó sẽ tiến lần đến chỗ hoàn toàn giác ngộ, là Phật quả.

Thứ hai với bậc thượng căn, thượng trí, tức là hạng tiến hóa đã tu học giáo lý từ nhiều kiếp trước, hành giả tự mình tỉnh ngộ xét biết những hành động ngôn ngữ tư tưởng tà quấy sai lầm, mê mờ ô nhiễm mà diệt trừ tức khắc gọi là Giác Sác và khi trừ sạch các điều ấy gọi là Giác Liễu. Được trọn vẹn hai phần đó gọi là Tự Giác, song có tự giác không chưa đủ. Vì đây mới được vào hàng Thinh Văn mà thôi, nên cần tiến đến Giác Tha, nghĩa là phải làm cho nhiều người khác được Tỉnh Ngộ, thấy biết không lầm như mình để bước lên hàng Duyên Giác Bồ Tát rồi cứ thế mà thi hành mãi cho đến khi Giác Hạnh Viên Mãn, tức là hạnh nguyện tròn đầy. Tới đây hành giả đạt đến mục đích tối thượng nhứt thừa cũng gọi là Phật quả hay Như lai. Đại khái chỉ có tám chữ: “Muốn diệt mê si tâm mình phải giác”. Thật nó diệu mầu vô hạng dầu có bao nhiêu văn từ lý lẽ cũng không sao luận bàn cho hết được.

Mẩu chuyện thứ 61

Y THEO TÔN CHỈ

Đạo là vốn thiệt cái đàng.

Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.

Đó là lời của Đức Thầy.

Vào ngày 6 tháng Giêng năm Canh Thìn 1940, Đức Thầy có dắt ông Ngô Thành Bá, tức là ông Biện Đài đi viếng núi Tà Lơn, một ngọn núi vừa cao vừa rộng nằm trên địa phận Cam Bốt, tỉnh Cần Giọt.

Trên đường về, thầy trò không trở lại lối cũ, Đức Thầy lại dắt ông Bá đi đường rừng, tức là đến những nơi ít có một ai đi tới được. Do đó, đường sá rất hiểm trở thật khó đi, có chỗ phải khòm lưng, có nơi phải bò mới qua được. Lắm lúc phải theo đường của voi đi. Khi vượt lên đỉnh, lúc thì đổ xuống triền. Hết núi nầy, sang núi nọ. Một hôm Đức Thầy dẫn ông Bá lên ngọn núi cao hơn hết, trên chót đảnh mặt bằng phẳng ít cây mọc. Đây là một cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, có suối nước chảy chầm chậm và trong như mắt mèo, dưới đáy có cát trắng, mực nước sâu chừng một thước. Đức Thầy đi trước lội ngang qua, ông Bá đi sau, thấy có cây ngả nằm vắt ngang qua suối, nên ông đi trên thân cây mà qua. Đức Thầy nhìn lại thấy liền kêu ông Bá mà rầy:

– Sao không lội nước theo Thầy!

Ông Bá thưa.

– Bạch Thầy cây ngả ngang đi sướng quá, lội làm chi cho ướt mình.

Đức Thầy nghiêm nghị bảo:

– Thầy đi đàng nào, trò đi đàng nấy, cấm trò từ đây không được đi như vậy nữa!

Với lời răn dạy trên đây, thời gian sau ông Bá mới hội ý được là Đức Thầy muốn dạy ông một cách gián tiếp. Hễ quy y là phải làm y, nghĩa là nếu Thầy phải chịu gian nan cực khổ để giải thoát giống nòi và nhân loại thì đệ tử cũng phải chịu cực khổ gian lao vì mục đích ấy, chớ không được tìm nơi sung sướng an nhàn mà học đạo.

Đây là theo lời thuật của ông Ngô Thành Bá.

PHẦN NHẬN XÉT:

Chúng ta thấy thời xưa lúc Đức Thích Ca chưa thành Đạo, Ngài đã chuyển kiếp từ vô lượng lần và tu học vô lượng pháp môn cho đến khi chứng quả Như lai.

Ấy mới vừa đắc Đạo hoàn toàn,

Và lần bước phô trương độ chúng.

(Quyển 5 Khuyến Thiện.)

Đức Phật nêu lên mục đích giải thoát và khai sáng một lối đi, tôn chỉ với nhiều phương tiện cho Phật tử y cứ vào đó mà tiến hành, hầu được kết quả như Ngài. Thời nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng thế, trước khi khai hóa nhân sinh, Ngài cũng chuyển kiếp qua nhiều nước trong thế giới, sau khi “… thu thập những điều đạo học, kinh nghiệm huyền thâm …” và tu hành giác ngộ, Ngài mới vưng lịnh Đức Phật lâm phàm khai sáng Phật Giáo Hòa Hảo.

Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn,

Khắp hạ giái truyền khai Đạo Pháp.

(Diệu Pháp Quang Minh)

Ngài cũng:

Tùy phong hóa dân sinh phù hạp.

(Diệu Pháp Quang Minh)

Mà khai dọn con đường, tức tôn chỉ Học Phật Tu Nhân để đưa nhân loại đến bờ giải thoát. Trong Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo Đức Thầy cho áp dụng nhiều phương tiện, ví như người đi đường có các loại xe và người đi sông có các loại thuyền. Nhưng, dùng phương tiện nào cũng phải tiến hành theo một lối đi đúng mới đạt mục đích, nếu đi trúng con đường thì sống, bước trật tất chết. Điều nầy Ngài đã ghi rõ trong tôn chỉ hành Đạo. Song vì Ngài biết sau nầy sẽ có tín đồ hành đạo sai lệch tôn chỉ, nên không ngớt khuyên nhắc, mà câu chuyện Ngài dạy ông Bá trên đây là một.

Điểm thứ nhứt: Thấy rằng lúc viếng núi Tà Lơn, Đức Thầy không hướng dẫn ông Bá trở về đường cũ, mà lại dắt ông đi trên con đường mới đầy gai chông hiểm trở. Đó là để ông Bà hiểu ý rằng, từ đây ông không còn đi xuôi theo con đường luân hồi như bao chúng sanh khác, mà phải đi theo con đường mới tức là con đường giải thoát của Phật Thánh đã và đang tiến hành. Song bước hành đạo còn phải trải qua nhiều khó khăn thử thách. “Đường gai gốc thiên sơn vạn ải”, đòi hỏi hành giả cần phải có đủ đức tin và bền lòng kiên chí mới đạt thành ý nguyện:

Tín nữ thiện nam gìn mối Đạo,

Dầu cho lăn lóc rán kiên trinh.

Điểm thừ nhì: Khi Đức Thầy dắt ông Bá đến mé suối, chẳng phải Ngài không thấy cây ngã vắt ngang qua suối và Ngài cũng đoán biết ông Bá đi sau sẽ đi trên thân cây đó mà qua. Ngài muốn mượn cảnh ấy để dạy tín đồ một bài học làm cho ông Bá phải ghi nhớ mãi mãi, nên Ngài lội nước qua trước, chờ khi ông Bá đi trên thân cây, Ngài mới quay lại rầy ông:

“Thầy đi đàng nào trò phải đi đàng nấy, cấm trò từ đây không được đi như vậy nữa.”

Đây là Ngài dẫn sự để bày lý, người sau như chúng ta càng nghĩ càng thắm thía, một nhà tu như Đức Thầy đã đạt đến chỗ toàn giác toàn minh, trở lại hướng dẫn tín đồ:

Đạo là vốn thiệt cái đàng.

Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.

(Sám Giảng, Quyển 3)

Nếu như chúng sanh chẳng đi đúng theo con đường của Ngài đã vạch thì trông gì gặp lại Ngài, đừng nói chi đến kết quả:

Ai mà ta dạy chẳng gìn,

Thì sau đừng trách mất tình yêu thương.

(Sám Giảng Quyển 3)

Con đường Ngài đã vạch ấy chính là tôn chỉ học Phật tu Nhân mà mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đều phải thiệt thi trọn vẹn cả hai mặt.

Một là mặt tu nhân như Ngài đã dạy:

Hồng trần biển khổ thấy rồi,

Rán tu nhân đạo cho tròn mới hay.

Thân hành đạo đắng cay phải chịu,

Phận làm người phải liệu cho xong.

Cần chi gạn hỏi viễn vong,

Làm người chưa vẹn khó hòng thảnh thơi.

Bởi có tu Nhân mới trả xong nợ thế, xử trọn nghĩa ân, kết quả vô lượng phước đức và có học Phật mới có dứt mê bày giác, trí huệ phát khai và giải thoát luân hồi sanh tử.

Điểm thứ hai: Học Phật tức là tu Phật thì Đức Thầy dạy toàn thể tín đồ hằng nguyện:

Nay con nguyện cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, qui y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.

Hay là:

Thờ Phật Đạo tỉnh cơn ác mộng,

Thoát mê đồ thường phóng quang minh.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Để tiến đến Niết Bàn là đường tịch tịnh vô sanh.

Hay là:

Về Cực Lạc thảnh thơi an dưỡng,

Ấy là ngày ban thưởng công tu.

(Cho Ông Cò Tàu Hảo)

Song muốn đạt đến địa vị ấy, hành giả phải lập thân cõi trần, tức là phải tu thân, như Đức Thầy hằng dạy:

Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân,

Muốn về cõi Phật lập thân cõi trần.

(Thu Đã Cuối)

Hoặc là:

Tu đền nợ thế cho rồi,

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Tóm lại mỗi tín đồ Phật Giáo Hào Hảo có tiến hành theo tôn chỉ học Phật tu nhân của Đức Thầy đã khai dọn, tức là hai phương diện Đạo Nhân và Đạo Phật đã thực hành một lượt thì sau nầy mới mong được kiến diện Ngài và chứng thành đạo quả như Ngài thường căn dặn:

Chúng sanh rán nhớ thì gần cùng ta.

Giảng kinh đọc tụng chiều mai,

Làm theo lời chỉ ngày rày gặp Ta.

Ngược lại, nếu ai không tiến hành đúng theo tôn chỉ của Đức Thầy đã vạch và con đường của Ngài đã đi “Thầy đi đàng nào trò phải đi đàng nấy” thì chẳng những luốn công tu hành trong một kiếp mà còn lạc lối theo ngoại đạo, mong gì gặp mặt Tổ Thầy mà được đắc quả.

Mẩu chuyện thứ 62

TU CÁCH NÀO MỚI CHÁNH

Mẩu chuyện dưới đây là do anh út Trát ở Mỹ Hội Đông kể cho chúng tôi nghe:

Chuyện của anh Huỳnh văn Chấn là một giáo chức ở quận Tân Châu, thời Pháp thuộc. Nguyên khởi anh Chấn theo chủ nghĩa Cộng sản. Trên con đường hoạt động chống Pháp anh phải chịu nhiều gian khổ, rày đây, mai đó và anh vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần, nên anh chán nãn, anh muốn tìm sư học Đạo. Một hôm anh đi vùng Hà Tiên, Rạch Giá và gặp được một nhà Sư với đạo hiệu Pha Kia. Ông Sư nói rằng:

“Nếu ai chịu theo tôi, tôi sẽ dạy cho phương pháp nhập thất, niệm Phật trong vòng một trăm ngày, tôi hộ cho sẽ được thấy Phật.” Nghe nói tu mau thành, anh Chấn bằng lòng theo ông Sư.

Thế là anh phải bỏ tiền ra để anh bạn cất cho anh một cái cốc và nấu cơm hộ thất cho anh, cùng lúc phải nuôi ông Sư ở trong nhà để dạy anh cách thức niệm Phật. Bắt đầu anh nhập thất niệm Phật cũng gần đủ một trăm ngày, vì sự lo lắng cho nên đang niệm Phật mà lòng bị chao động, anh nghĩ rằng ông thầy dặn mình niệm một trăm ngày sẽ thấy Phật, nhưng mình niệm tới đây cũng gần rồi mà không thấy gì hết. Bỗng nhiên anh thấy một hình Phật hiện ra trước mắt, rồi phút chốc mất đi, bèn liền hăng hái lên, anh nghĩ chắc là mình niệm đúng một trăm ngày sẽ thấy. Đúng một trăm ngày anh Chấn ra thất.

Đã không thấy Phật mà còn được anh bạn cho hay là ông Sư từ giã bỏ đi ba hôm trước. Lúc bấy giờ thì anh Chấn mới hiểu ngay, ông sư lợi dụng mình nuôi ông ta một trăm ngày, chớ không phải dạy cách thức tu để thấy Phật. Anh thua buồn về Tân Châu làm đơn xin dạy học. Đến năm 1939, Đức Thầy khai sáng nền Đạo tại Hòa Hảo. Anh Chấn đang dạy học, nghe những người đi Hòa Hảo về, họ nói Đức Thầy là một vị Phật sống ra đời cứu độ nhân sinh. Anh Chấn lại có tâm muốn tầm đạo, nghe thì anh muốn đi, nhưng lúc đó mắc bận dạy học ngày hai buổi, bận việc quá anh không đi được. Mãi đến mùa Hè năm 1940, khi Đức Thầy bị người Pháp lưu đày xuống Rạch Xà No ở tại nhà ông Hương Bộ Thạnh, thì anh Chấn mới sắp xếp việc để đến viếng Ngài..

Trong cuộc đi nầy anh Chấn mặc Âu phục để tỏ ra mình là người trí thức. Vào khoảng hơn 11 giờ trưa tại nhà ông Bộ Thạnh, ba gian cửa đều mở trống, Đức Thầy bảo người nhà đều ở hết phía sau, chỉ một mình Đức Thầy Đức Thầy ngồi ở bàn và đang cúi xuống viết. Anh Chấn nhìn thấy tướng mạo thì độ chừng là Đức Thầy, nhưng đứng chờ một hồi lâu không thấy Đức Thầy ngước lên. Bấy giờ anh mới để giày nón, bước lên thềm gạch đi thẳng vào và chân ấn mạnh xuống, ý làm cho Đức Thầy hay có khách đến, nhưng Ngài vẫn điềm nhiên, không ngó lên. Anh liền quay ra sân, lòng thầm trách:

– Người ta nói ông nầy là Phật, nhưng tại sao ông có vẻ khi người.

Qua một giây suy nghĩ, anh đã bước xuống nhà khách, anh tự bắt lỗi mình, hay là tại mình vô phép nên người ta không tiếp chớ gì? Nghĩ thế, anh Chấn liền lột nón, gở kiếng và cởi giày để lại rồi bước thật nhẹ trở vào. Bấy giờ Đức Thầy mới đứng dậy nghiêm trang chào khách và hỏi:

– Ông biết tôi là ai không?

Anh Chấn chưa biết phải trả lời ra sao, trong người anh bắt run lên như bị bịnh rét.

Thấy anh Chấn không trả lời được bấy giờ Đức Thầy mới nói tiếp, ngón tay Ngài vừa chỉ vừa nói:

– Chúa trùm Cộng sản là tôi đây!

Nói xong Ngài ngồi xuống ghế, còn anh Chấn đứng, cả mình và tay chân đều run hết, anh cố kềm và suy nghĩ:

“Mình đã từng tiếp xúc với hàng trí thức, lên quan, xuống huyện, với các nhà Sư, nhưng chưa bao giờ mình biết sợ môt ai, mà hôm nay sao mình chỉ gặp ông nầy mới nói với mình có mấy tiếng mà mình khiếp sợ như thế nầy. Thật là điều kỳ lạ quá, chắc ông nầy không phải là bực tầm thường”. Lòng anh Chấn nghĩ đến đó, tự nhiên trong người bớt run, anh mới chấp tay lại:

– Thưa ông Tư! Trước kia tôi có gặp một nhà Sư, sư dạy cho cách vào thất niệm Phật trong vòng một trăm ngày, sư sẽ hộ cho được thấy Phật. Chẳng biết tu như thế là chánh hay không chánh? Nhờ ông Tư chỉ dạy cho biết.

Đức Thầy vui vẻ đáp:

– Đó là Ma Ba Tuần nó hiện ra cảnh ấy, chớ Phật đâu đó mà chánh.

Anh Chấn nghe Đức Thầy nói thế, anh liền hỏi thêm:

– Vậy phải tu làm sao mới chánh?

Bấy giờ Đức Thầy lấy bàn tay thoa vào ngực ba vòng và nói:

– Tu làm sao hàng phục được lòng tà quấy của mình mới chánh.

Anh Chấn nghe được câu giải đáp của Đức Thầy, anh nhận thức được chân lý tu hành cho nên anh hết sức vui mừng khâm phục, bèn quì xuống nhờ Đức Thầy cho qui y thọ giáo.

PHẦN NHẬN XÉT:

Một đấng cứu thế bao giờ cũng thấu rõ tâm trạng của chúng sanh, để tùy cơ cảm hóa, còn người đời có tánh tự cao mà cũng dễ nghe tức là mê tín.

Anh Chấn cũng là một con người thì bảo làm sao chẳng có chứng tật ấy.

Câu chuyện kể trên giúp chúng ta những bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhứt: Là anh Chấn muốn thử Đức Thầy, nhưng Ngài biết trước nên sắp sẵn cảnh trí, chẳng cần nói một lời cũng đủ dẹp được lòng tự đắc và sự vô lễ của anh. Lại nữa, khi đối diện với Đức Thầy, anh Chấn chạm phải tư cách đứng đắn và lời hỏi của Ngài, làm cho anh khiếp phục và hướng về lẽ phải, cộng thêm câu nói:

“Tôi là chúa trùm Cộng sản đây”. Anh Chấn lại càng khâm phục hơn nữa, vì Ngài đã thấu suốt tâm trạng của anh. Ấy là ý Ngài muốn cho anh biết: Cái tâm bao trùm cả vũ trụ vạn hữu không có một việc nào, dù nhỏ, dù lớn, hữu hình hay vô hình hoặc một chủ thuyết hay một tư tưởng nào mà Ngài chẳng thông đạt, chính Ngài là một nhà đại cách mạng Phật Giáo: “Nối theo chí Thích Ca ngày trước”. Nay Ngài có sứ mạng vừa giác tỉnh những người hữu căn lên bờ giải thoát vừa đem lại sự tự do bình đẳng hạnh phúc cho cả nhân loài bằng chủ nghĩa Đại Đồng của nhà Phật:

Đem nguồn sống mới cho nhơn loại,

Để tiến tiến lên cõi đại đồng.

(Tết Ở Chiến Khu)

Điểm thứ hai: Vốn sẵn óc dễ tin nên khi gặp nhà sư khoe tài, anh Chấn vội vã tin theo không kịp suy nghĩ khiến cho đường tu của anh bị lỡ dở, điều nầy Đức Thầy đã cảnh tỉnh: “Trước khi thờ học đạo nào hay theo ông thầy nào ta phải suy gẫm phán đoán kỹ càng, chừng hiểu biết rõ ràng ta sẽ hành theo đạo ấy, thầy ấy, chẳng được như vậy dầu mình theo đạo rất chánh đáng, ông thầy rất thông minh, chẳng ích chi cho mình cả.”

Và Ngài luôn nhắc nhở việc ngừa tránh các tà thuyết:

Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,

Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.

Chúng nó xuống khuyên răn nhiều chỗ,

Dùng phép mầu lòe mắt chúng sanh.

Ai ham linh theo nó tập tành,

Sa cạm bẫy khó mong sống sót.

(Giác Mê Tâm Kệ Quyển tư)

Hoặc là:

Ra đi dặn lại ít lời,

Khuyên trong bổn đạo vậy thời rán nghe.

Dầu ai tài phép bày khoe,

Ham linh ham nghiệm sợ e mang nghèo.

Lựa cho phải cột phải kèo,

Phải vai phải vế mà theo kẻo lầm.

Ngọc kia ẩn dạng khó tầm.

Chọn nơi chơn chánh khỏi lâm khổ hình.

Qua điểm thứ ba: Lòng ô nhiễm trần mê của mỗi chúng sanh đã huân tập từ lũy kiếp, nay hành giả muốn trở về thấy Phật, cần phải nhứt tâm niệm Phật và tiêu trừ các chướng nghiệp ấy:

Niệm chữ Di Đà tan chướng nghiệp.

Trái lại anh Chấn chỉ vào thất niệm Phật một trăm ngày, thêm dụng tâm của anh là muốn mau thành quả, tức là vọng đắc, thì làm sao tâm hồn được giao cảm với chư Phật, hơn nữa Phật trong tâm không tìm, anh Chấn lại nghe lời tà sư mong tìm Phật bên ngoài, thảo nào chẳng bị Ma Ba Tuần ám ảnh, lường gạt. Điều nầy, không riêng anh Chấn mà số người tu hiện nay bị lầm không ít. Thế nên sau câu hỏi của anh: Vậy phải tu làm sao mới chánh, thì Đức Thầy xoa tay vào ngực mà trả lời:

“Tu làm sao hàng phục được lòng tà quấy của mình mới chánh”. Bởi Phật và chúng sanh chỉ có một tâm mà thôi, hễ tâm còn ô nhiễm tà quấy là chúng sanh, bằng hết ô nhiễm tà quấy là Phật, cũng như sóng và nước chỉ có một, hễ có gió là nổi sóng, còn hết gió thì sóng lặng, chỉ còn lại một chất nước trong, tức là phản bổn huờn nguyên. Kinh xưa thường bảo: “Phiền não là Bồ Đề. Tâm tức Phật” cũng không ngoài ý trên. Đức Thầy nay không ngớt khuyên nhắc:

Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.

Và:

Hãy bền lòng tìm Phật trong tâm.

Hoặc giả:

Nhàn thanh tầm kiếm kiếm nơi tâm,

Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm.

Còn muốn niệm Phật có kết quả thì Ngài cũng dạy phương pháp niệm Phật là để trừ cái vọng niệm của chúng sanh và cứ niệm như thế cho đến khi nhứt tâm bất loạn, tức tâm được thanh tịnh và Phật tánh hiện bày, tự tánh Di Đà vi tâm tịnh độ, bởi tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Ngược lại, nếu ai niệm Phật mà lòng mãi ước mong,tức là vọng đắc, cho thấy Phật bên ngoài, tất là bị lầm lạc, không bao giờ thành công.

Mẩu chuyện thứ 63

HIỂU LẦM PHẬT DẪN ĐỘ.

Câu chuyện nầy do anh út Trát ở Mỹ Hội Đông kể lại cho chúng tôi nghe:

Một buổi sáng sớm mùa Đông năm Kỷ Mão 1939, sương lạnh còn phủ trùm đường đi, cây cỏ thì ông Út Trát từ Mỹ Hội Đông đã đến xã Hòa Hảo, với ý định thăm Đức Thầy và chờ nghe thuyết pháp. Đến nơi vào lúc 7 giờ, ông thấy người ở các xã lân cận cũng lần lượt đi tới khá đông, kẻ thì nhờ trị bịnh, người thì chờ nghe giảng Đạo. Lúc đó Đức Thầy chữa trị cho các bịnh nhân vừa xong thì Ngài thuyết giảng Đạo Pháp trên một tiếng đồng hồ. Ngài nói không dừng. Bấy giờ có một ông lão trạc độ 70 tuổi ngồi cách Đức Thầy không xa, đang tán thán việc Đức Thầy thuyết pháp và trị bịnh. Đức Thầy liền ngó ngay ông lão nói:

– Bấy giờ đâu có mấy ông, sau nầy sẽ có nhiều người xuất hiện, họ dùng tà thuyết còn linh giỏi hơn tôi nữa ông à!

Ông lão liền đứng lên chấp tay lại:

– Thưa cậu Tư, cậu nói như vậy, rồi nữa sau chúng tôi không biết, bị lầm người ta rồi làm sao?

Đức Thầy liền đáp:

– Nếu họ giả ra hình dáng giống Thầy quí ông không biết, tưởng thiệt mà lầm thì Phật và Thầy có thể cứu độ được. Còn như thấy ai không giống Phật, Thầy và không có y theo lời dạy tôn chỉ của Thầy thì các ông đừng tin, bằng nếu có số người đã biết ông thầy ấy không giống, không chánh mà vẫn tín ngưỡng thì Phật và Thầy không thể cứu độ được.

PHẦN NHẬN XÉT:

Cái không biết và biết của người sơ tâm tầm đạo, có cao thấp, sâu cạn khác nhau, chỉ có cái biết của các đấng hoàn toàn giác ngộ mới thông suốt đến chỗ vô cùng tận như nhau. Cho nên câu không biết tưởng thiệt mà lầm, ở đây chỉ cho hạng người có tâm mà thiếu trí, nghĩa là họ rất có lòng nhiệt thành tầm đạo, nhưng thiếu sự suy xét chu đáo nên dễ bị lầm lạc theo tà sư. Tuy nhiên, Đức Phật và Đức Thầy có thể cứu độ được là vì họ có sẵn hột giống Đạo, tức là có sẵn căn lành, nên khi nguồn mưa Pháp của Phật Thầy ban đến thì họ lập tức quay về với ánh sáng chân lý.

Cũng như ông Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, trước kia các ông cũng theo ngoại đạo, ông Vô Não theo tà giáo, nhưng khi được gặp Đức Phật giác lĩnh thì các ông trở về với chánh Đạo. Và thời nay có trường hợp của anh Huỳnh văn Chấn trong câu chuyện vừa kể qua. Còn câu bằng ai biết họ không chánh mà vẫn tin thì Phật và Thầy không thể nào cứu độ được, là chỉ cho hạng có trí mà vô tâm. Bởi cái biết của số người nầy còn trong vòng thế trí chớ chưa phải là trí huệ, nên dù họ có hiểu được ông thầy và mối đạo không chánh song họ vẫn tin theo để a tùng lợi dụng tiền bạc hoặc nhờ ông ấy ban cho bùa phép hay tước quyền chi đó, vì thế Phật, Thầy không thể nào cứu độ cho họ được.

Sở dĩ Đức Thầy nói với ông lão câu : “Sẽ có nhiều người linh giỏi hơn tôi nữa ông à !” là vì Ngài đã đoán biết lúc Ngài xa vắng sẽ có số người bị lầm theo tà đạo.

Để tránh tai hại nói trên, Đức Thầy nhắc nhở: “Người có tâm nếu không tập suy gẫm cho mở trí, thì hay dễ bị lường gạt, người có trí mà vô tâm thì hay xảo trá, nên trí và tâm, người học Đạo cần nên tìm cách cho nó phát triển cả hai để lấy tâm làm chủ trì mọi việc, lấy trí mà phán xét mọi việc trước khi ta đưa cho tâm làm chủ trì. Được thế chắc chắn ta học đạo mau thành công đắc quả.”

Mẩu chuyện thứ 64

CÂU CHUYỆN THIÊN CƠ.

Câu chuyện nầy do ông Hương chủ Lâm Thơ Cưu kể. Ông ở làng Mỹ Hội Đông, quận Chợ Mới, tỉnh An giang, gia đình khá giả, có danh tiếng nhứt trong vùng. Sau khi thọ giáo với Đức Thầy, ông Chủ phế hết quyền lợi, thường lui tới Tổ Đình để nghe Pháp.

Khoảng thời gian Đức Thầy bị người Pháp dời đi từ Châu Đốc đến Sa Đéc, Cần Thơ, nhà thương Chợ Quán, rồi Bạc Liêu, Saigòn, ông Chủ Cưu đều theo sát bên Đức Thầy. Đến đầu mùa xuân năm Ất Dậu 1945, người Pháp theo dõi ruồng bắt những tín đồ có trách nhiệm trong Đạo ở các địa phương, cho nên các vị ấy cũng như ông Chủ Cưu đều lên ở chung với Đức Thầy tại văn phòng Sai gòn.

Sáng hôm nọ mọi người đều ở từng dưới chỉ một mình Đức Thầy và ông Chủ Cưu ở trên lầu. Trong câu chuyện vui vẻ, ông Chủ mới nói:

– Rồi đây tôi sẽ kiện Đức Thầy cho mà coi.

Đức Thầy liền cười và hỏi:

– Tại sao ông Chủ kiện tôi?

Ông Chủ nói:

– Tôi vì nghe lời Thầy mà gia đình và sự nghiệp đều bỏ hết, tới chức Cai Tổng mới đây tôi cũng bỏ luôn, không ra tranh cử.

Đức Thầy liền nói:

– Ông Chủ kiện tôi tới Decoux hay De Latre gì đây và kiện bởi nghe lời lý do gì mới được chớ!

Ông Chủ nói:

– Tôi kiện Thầy lên tới Đức Ngọc Hoàng vì Thầy nói: “Đến Thân Dậu Thánh Thần náo động, Thảm cho trần nhà trống ruộng hoang” mà tới bây giờ chưa có chuyện gì xảy ra hết.

Nói tới đây, bỗng có ông Hương Hào Phỉ dưới lầu đi lên. Đức Thầy nhìn sang ông Phỉ vừa cười vừa nói:

– Hương Hào nghĩ coi, tôi mở Đạo để khuyên người ta tu hành, mà có người đòi kiện tôi đây nè !

Ông Hương Hào mới lanh trí thưa:

– Tôi nghe Thầy nói: “Tu không tu cũng không mời thỉnh” chớ đâu có rủ ren hay nài ép ai mà người ta đòi kiện. Vậy mà ai đòi kiện Đức Thầy vậy chớ?

Đức Thầy nhìn qua ông Chủ vừa nói:

– Thì ông Chủ đây chớ ai !

Đoạn Ngài thuật lại câu chuyện nãy giờ cho ông Phỉ nghe, rồi Ngài nói qua chuyện khác.

Ít hôm sau công việc cũng bình thường, bỗng có tiếng còi báo động khắp độ thành, mọi người đều xuống hầm núp, Đức Thầy cũng xuống theo. Ai nấy đều ngạc nhiên, tự hỏi mấy lần trước đây còi báo động như thế nào, Đức Thầy cũng không xuống, nhưng hôm nay tại sao Đức Thầy lại xuống theo với mình. Qua mấy phút im lặng, bỗng một tiếng súng đại bác nổ thật lớn, rồi cứ liên tiếp nổ rền rĩ khắp nơi, mỗi lần tiếng súng nổ vừa dứt, Đức Thầy kêu ông Chủ hỏi:

– Có không ông Chủ !

Đức Thầy hỏi luôn ba lần như vậy. Lúc ấy ông Chủ vừa run sợ, vừa tủi thẹn cho lời nói đòi kiện Đức Thầy của mình hôm trước thật quá thất lễ. Ông liền van xin Đức Thầy với giọng nói run run:

– Thầy ôi! Bao nhiêu cũng đủ rồi Thầy.

Câu chuyện nầy thuật theo lời của ông Hương Hào Phỉ.

PHẦN NHẬN XÉT:

Nghe câu chuyện vừa qua, chúng ta thấy có những điểm cần lưu ý:

Điểm thứ nhứt: Vì ỷ lại vào bà con, nên trong lúc trò chuyện với Đức Thầy, ông Chủ thốt ra những lời hình như thiếu e dè và kính nể.

Điểm thứ hai: Vì quá chú trọng về thời cuộc, ông Chủ chưa trọn niềm tin nơi Đức Thầy mới hoài nghi, khiến lòng ông phân vân do dự. Nhớ mình đã bỏ nhiều cơ hội tốt cho gia đình và sự nghiệp, nên ông mới có những lời nghe như thống trách và tiếc uổng. Đức Thầy rất biết rõ tâm niệm của tín đồ, song vì thiên cơ bất khả lậu, nên Ngài chỉ hé mở đôi chút cho mọi người tự tìm hiểu. Do đó, trước lời thống trách của ông Chủ, Ngài chỉ nói nửa đùa nửa thật vậy thôi.

Điểm thứ ba: Bởi biết trước mọi việc sắp xảy ra, nên khi còi báo động, Đức Thầy theo mọi người xuống hầm núp, mà từ trước tới giờ Ngài chưa bao giờ xuống.

Ấy là Ngài biết đã đến lúc cần giác tỉnh ông chủ Cưu. Riêng về ông Chủ, khi nghe tiếng súng nổ rang rền và liên tiếp, khiến ông khiếp sợ. Nhưng lúc nghe Đức Thầy hỏi: “Có không ông Chủ?” thì ông rất ăn năn cho lời nói và ý nghĩ nghi ngờ vừa qua của mình.

Mẩu chuyện thứ 65

ĐỨC LÀ ĐẠO CẢ

Chuyện nầy nhắc lại chuyện của ông Cai Tổng Nguyễn Trung Chánh ở xã Bình Đức Xuân, Cù Lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (An Giang). Ông Chánh là một nhà Nho học và giàu sang nhất trong vùng. Tuy theo Nho giáo chớ ông rất sùng kính Đạo Phật. Từ lâu ông cai tổng Chánh cũng đã nghe tiếng Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo độ đời tại xã Hòa Hảo, lòng ông rất ngưỡng mộ, song chưa có dịp nào lên diện kiến Ngài.

Hôm nay khoảng tháng 6 năm Ất Dậu 1945, được tin Đức Thầy đi Khuyến Nông sắp về đến Long Xuyên, nên ông Chánh mừng rỡ quá, liền chuẩn bị viết sẵn một bài thơ tứ tuyệt, đem sửa đi sửa lại nhiều lần, rồi đến Long Xuyên chờ đón trước. Giờ may mắn đã đến, ông Chánh được nghe suốt lời thuyết giảng Đạo lý của Ngài, lòng không ngớt thán phục.

Ông theo Đức Thầy về đến chỗ nghỉ, song vì Ngài giải quyết công tác giáo sự, nên phải chờ đợi đến lúc Đức Thầy dùng cơm, ông Chánh mới được đưa bài thi ra trình hỏi Ngài. Mặc dù đang dùng bữa, Đức Thầy cũng vui vẻ tiếp lấy và đưa lên xem. Xem xong Ngài lập tức đáp họa bài thơ ấy, bằng cách ứng khẩu ngâm lên cho một tín đồ chép lại, rồi Ngài tiếp tục dùng bữa như thường. Đây là bài thi của ông Cai Tổng Chánh:

“Giữ Đạo từ lâu kín nhẹm mầu,

Để lòng tầm Đạo biết nơi đâu.

Ngửa mong Bác Ái Từ Bi hóa,

Rộng lượng ơn Thầy chỉ Đạo sâu.”

Dưới đây là bài thi đáp họa của Đức Thầy:

Kín nhẹm lòng nhơn ấy mới mầu,

Đức là Đạo cả chớ ở đâu.

Duyên lành sẵn có ơn trên hóa,

Bồi đấp nền nhơn đức lại sâu.

Đây là theo lời của Ban Tri Sự tỉnh Long Xuyên thuật lại.

PHẦN NHẬN XÉT:

Sẵn dịp chúng ta cũng nên tìm hiểu ý nghĩa qua hai bài thi, bài hỏi của ông Chánh và bài đáp của Đức Thầy.

Đây là bài hỏi của ông Chánh, câu thứ nhứt: “Giữ đạo từ lâu kín nhẹm mầu”. Câu nầy ý ông Chánh nói rằng: Nhận thấy lòng ông đã sùng ngưỡng Đạo Phật đã từ lâu, nhưng chỉ gìn giữ và dấu nhẹm trong tâm chớ chưa bày tỏ cùng ai.

Đức Thầy đáp lại câu đó. “Kín nhẹm lòng nhơn ấy mới mầu”. Đức Thầy cho ông Chánh biết bước đầu của người tầm đạo là phải khởi lòng nhơn đối với vạn loại chúng sanh, lòng nhơn ấy cần xuất phát từ tâm chơn thật không hề ẩn ý mong cầu tiếng khen hay phước báu.

Qua câu hai ông Chánh nói: “Để lòng tầm Đạo biết nơi đâu”. Có nghĩa là: Tuy ông Chánh đã dốc tâm suy tìm Đạo lý, nhưng chưa thấu đạt đâu là yếu lý của Đạo.

Đức Thầy đáp: “Đức là Đạo cả chớ ở đâu”. Ý Ngài dạy rằng: Muốn thấu triệt chánh đạo, tức là đạo cả, cần phải tu đức, bởi Đạo rất rộng lớn bao trùm cả vũ trụ vạn hữu, nhưng không ngoài bản tâm thanh tịnh. Còn đức chẳng phải ngoài tâm mà có được. “Trong Đạo Phật quá nên huyền bí, Chỗ tâm thần tọa vị nơi thân”. Song muốn tu đức phải có lòng từ bi, bình đẳng, không vị ngã tham lam, không câu chấp, thiên lệch, lìa cái có không động tịnh, đối với vạn cảnh, vạn pháp, lòng vẫn như như bất động. Bấy giờ hành giả mới đạt được vô vi chánh đạo “Vô vi chánh đạo hỡi người ơi”.

Ông Chánh hỏi câu thứ ba. “Ngửa mong Bác Ái Từ Bi hóa”. Có ý nghĩa: nay ông đã nhận nơi Đức Thầy là bậc Từ Bi giác ngộ nên xin Ngài mở lòng bác ái khai hóa cho.

Đức Thầy đáp lại: “Duyên lành sẵn có ơn trên hóa”. Đức Thầy nói rõ cho ông Chánh biết: Nhờ sẵn duyên lành với đạo pháp từ trước nên nay ông mới được Phật Thầy khai hóa cho.

Câu thứ tư của ông Chánh. “Rộng lượng ơn Thầy chỉ Đạo sâu”. Thêm một lần nữa, ông Chánh tha thiết mong cầu Đức Thầy chỉ dạy cho nghĩa lý thâm sâu trong đạo pháp.

Đức Thầy liền đáp: “Bồi đắp nền nhơn đức lại sâu”. Có nghĩa là Ngài nhắc nhở ông Chánh nếu muốn cho sự tu hành được kết quả như ý thì bắt nguồn từ lòng nhơn ấy lo tu bồi thêm lên mãi mãi cho công đức lành luôn luôn tươi nhuần tăng trưởng, làm cho muôn loài vạn vật đều được gội nhuần ơn huệ, ấy là được chứng đạt cái chơn lý thâm huyền của đạo đức.

Xuyên qua lời hỏi của ông Chánh và lời đáp họa của Đức Thầy, chúng ta phải công nhận đây là bài học quí giá không riêng ông Chánh, mà Đức Thầy còn có ý dạy chung cho tất cả những ai tu hành muốn đạt đến nơi cứu cánh của Đạo Phật.

Mẩu chuyện thứ 66

BÀI TOÁN ĐỐ

Khoảng đầu mùa xuân năm Ất Dậu 1945, tức sau khi chấm dứt cuộc Khuyến Nông, Đức Thầy trở về văn phòng tại đường Miche, Sài Gòn. Khi đó ông xã Bộ ở Châu Đốc đến viếng Đức Thầy, và ông lưu lại một thời gian ở đây. Một hôm nọ vào khoảng 10 giờ sáng ông Bộ đang tiếp rước ba người khách có vẻ là người học thức và cũng có đọc Giảng của Đức Thầy rồi. Lúc đó cũng có mặt một số tín hữu tại phòng khách. Trong câu chuyện đàm đạo, quí ông có đưa ra hai câu giảng:

Lời truyền sấm như bài toán đố,

Ai biết tầm thì được hưởng nhờ.

Để tìm hiểu ý nghĩa, lúc đang bàn luận, bỗng Đức Thầy từ trên lầu đi xuống và hỏi:

– Các ông bàn luận gì đó?

Ông xã Bộ liền đứng dậy thưa:

– Chúng tôi đang tìm hiểu ý nghĩa hai câu giảng:

Lời truyền sấm như bài toán đố,

Ai biết tầm thì được hưởng nhờ.

Mà Đức Thầy đã viết ra trong Giác Mê Tâm Kệ.

Được vậy tốt lắm. Đó là lời Đức Thầy nói.

– Sẵn dịp nầy tôi đố các ông hai lần hai là mấy?

Ông xã Bộ bèn đứng lên:

– Bạch Thầy hai lần hai là bốn.

Đức Thầy nói:

– Không phải vậy, đó là các ông tính theo cữu chương, em học trò tính cũng được. Ở đây là toán đố mà! Các ông hãy tính kỹ lại đi.

Nói xong Đức Thầy bước thẳng ra các chậu kiểng phía trước, còn ông Bộ và ba người khách bóp trán tính, bàn tính mãi cũng không ra được đáp số. Độ năm phút sau Đức Thầy trở lại hỏi:

– Sao! Các ông tính được chưa?

Mấy người đồng nói:

– Bạch Thầy chúng tôi tính chưa được.

Đức Thầy liền nói:

– Như vậy để tôi ra thai cho, hai lần hai là ba đó. Nhớ là ba chớ không phải là bốn nghen. Đây là bài toán đố chớ không tính theo cữu chương, các ông hãy tính nữa đi.

Nói rồi Đức Thầy đi luôn lên lầu. Mọi người đều ngồi lặng thinh tiếp tục suy tính. Ít phút sau, Đức Thầy trở xuống hỏi:

– Sao! Nãy giờ các ông tính ra chưa?

Bốn người đều đứng lên đồng nói:

– Thưa Thầy! Chúng tôi suy tính mãi không ra, nhờ Thầy giải giùm.

Đức thầy vui vẻ bảo:

– Có gì khó đâu. Đây, các ông nhìn theo tôi. Đoạn Ngài cầm một miếng giấy nhỏ đưa lên, vừa xé hai, Ngài vừa nói:

– Một lần hai. Rồi Ngài để một nửa mảnh giấy xuống bàn, còn lại nửa mảnh Ngài đưa lên vừa xé vừa nói:

– Hai lần hai là ba. Rồi để hết hai mảnh giấy xuống bàn Ngài nói tiếp:

– Đó, các ông xem kỹ coi có phải hai lần hai là ba không? Chớ đâu phải là bốn. Tôi đố mẹo mà!

Mọi người có mặt đều reo cười tán thán.

Câu chuyện nầy chúng tôi thuật theo lời ông xã Bộ kể lại.

Thêm một lần nữa năm 1946 Đức Thầy ở Miền Đông. Hôm ấy nhằm lúc rảnh việc, các tín hữu cùng một nhóm anh em Bình Xuyên, họp nhau tại văn phòng để bàn luận về sấm kinh. Câu chuyện đạo đức đang thấm nhuần vào tâm trí của mỗi người thì có một anh đưa ra hai câu giảng:

“Lời truyền sấm như bài toán đố,

Ai biết tầm thì được hưởng nhờ.”

(Giác Mê Tâm Kệ)

Rồi anh em nói:

– Chúng ta thử bàn xem bài toán đố Đức Thầy đề cập trong hai câu giảng nầy ra sao?

Tất cả đều đồng ý mỗi người bắt đầu suy tới tính lui trên mười phút đồng hồ, kẻ bàn thế nầy, người luận thế khác, nhưng chẳng có ý nào được toàn thể công nhận. Cuộc biện giải đang xôn xao, may đâu Đức Thầy vừa đi tới, Ngài liền hỏi:

– Các anh em bàn luận gì mà nghe sôi nổi thế?

– Bạch Thầy! Chúng tôi đang suy luận bàn tán về cái bài toán đố trong hai câu giảng: “Lời truyền sấm như bài toán đố, Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ”. Đó là bài toán gì?

Đức Thầy liền hỏi:

– Vậy các anh em có tìm được chưa?

Trong đó có một người đứng lên thưa:

– Bạch Thầy! Chưa, và nhờ Thầy giải thích giùm.

Lúc đó Đức Thầy cười vui và nói:

– Tôi cho các anh em biết một phần rồi mỗi người tự sắp mà làm nghen! Đây là một bài toán cộng chớ không có gì hết, gồm có tám con số tám, anh em sắp làm sao cộng cho được một ngàn là đúng.

Nói xong Ngài bước sang phòng khác, nghe qua nhiều người chạy đi lấy viết, có người bẻ cây ngồi vẽ trên mặt đất cho mau. Ai nấy đều sắp số và tính lia lịa. Thời gian trên hai mươi phút, hết sắp chiều nầy rồi sắp qua chiều khác, lộn tới lộn lui, đủ cách hết, nhưng chẳng người nào cộng đủ số một ngàn. Bấy giờ kẻ ngồi cắn bút, người thì đi tới đi lui suy nghĩ. Sau đó Đức Thầy từ phòng bên kia bước trở lại hỏi:

– Nãy giờ có ai tính được thử trình bày xem.

Mọi người đồng nói:

– Thưa Thầy! Sắp cách nào cũng cộng không trúng, chúng tôi xin chịu thua, nhờ Thầy sắp hộ cho.

Đức Thầy liền đi lại tấm bảng đen, tay cầm cục phấn để sẵn tại góc phòng, tất cả đều im lặng và hướng mắt theo. Ngài cầm phấn viết nhanh lên bảng bài toán cộng như sau: Thầy viết hàng trên ba con số 8 tức là 888. Kế đó, Đức Thầy viết hai con số 8 tức 88 ngay hàng chục và hàng lẻ. Còn lại dư ba con số 8 Đức Thầy sắp theo hàng lẻ, bắt đầu Đức Thầy cộng xuống. Liền đó một tràng pháo tay vang vội hòa với tiếng cười, tiếng ca ngợi cả phút đồng hồ. Đức Thầy đợi cho các tiếng ấy chấm dứt, Ngài mới giải thích:

– Đây mới phần sự của bài toán thôi, còn phần lý của nó trong Tôn Chỉ Hành Đạo Tôi có viết Tám Điều Răn Cấm, nếu tín đồ nào gìn giữ được kỹ lưỡng, không hề quấy phạm, dầu việc rất nhỏ, tất được một ngàn việc phước nhân, một ngàn việc phước nhân nầy nó có hiệu năng đưa mình đến dự Hội Long Hoa và sống với đời Thượng Nguơn Thánh Đức.

Nghe xong những người có mặt trong hội trường đều yên lặng, phản tỉnh tâm tư, hầu để ghi nhớ lời giáo huấn ấy. Thấy không còn ai hỏi gì nữa, Đức Thầy ung dung trở lại thơ phòng.

Bài toán đố sau là kể theo lời của ông Trần văn Tươi.

PHẦN NHẬN XÉT:

Chúng ta nghe qua một cốt truyện mà hai trường hợp vừa kể trên, chúng ta có thể rút một ít bài học kinh nghiệm như sau:

Điểm thứ nhứt: Toán đố là một phép đố mẹo, học trò muốn làm được, ít ra phải có thầy giáo chỉ dạy phương thức rành mạch và người học cũng cần lĩnh hội chính xác. Học toán đố còn khó như vậy, còn học Kinh Sấm của Đức Huỳnh Giáo Chủ lại càng khó khăn hơn gấp bội. Nếu người tu không quan tâm và cố gắng thì mong gì thấu đạt.

Điểm thứ hai: Câu giảng “Lời truyền sấm như bài toán đố” là Đức Thầy ví dụ sự học hiểu lời truyền sấm khó khăn cũng như học làm toán đố mà các ông ấy đã hiểu lầm cứ lo tìm bài toán đố chớ không chịu tìm hiểu Kinh Sấm. Tuy nhiên Đức Thầy cũng chìu theo tánh hiếu kỳ của các ông ấy, Ngài mới dùng phương tiện đưa ra hai bài toán đố. Khi mọi người làm không được, Ngài mới hướng họ trở về điểm thiết yếu là am hiểu sấm kinh và giữ gìn giới luật, bởi người tu có “Chuyên chú nghĩ suy từ nét dấu”, có tìm hiểu nghĩa và làm theo mới đắc đạo.

Điểm thứ ba: Là vấn đề trì giới là điểm tối quan trọng của nhà tu nên Đức Thầy khéo áp dụng phương tiện đưa ra bài toán cộng có tám con số 8 để ám chỉ cho Tám Điều Răn Cấm gồm có sự lẫn lý, khiến cho tín đồ tăng trưởng đức tin nơi sự trì giới như Ngài đã từng dạy, cần nhứt là ở chỗ giữ Giới Luật hàng ngày. Giới Luật ví như hai bờ lề trên con lộ, nếu người lái xe chạy vượt khỏi bờ lề thì xe bị lật chết, nhà tu nếu không trì hành Giới Luật tai hại cũng như thế.

Tám Điều Răn Cấm trong Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo, tuy thấy đơn giản nhưng nó gồm nhiếp Tam Tụ Giới trong kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới. Nếu ai giữ gìn trọn vẹn Tám Điều Răn Cấm đó, tất được trọn lành, trọn sáng mà thành Đạo vậy. Tại thế gian, hoặc vãng sanh Cực Lạc, hai quả vị giải thoát ấy đã thành đạt thì sự có mặt ở Hội Long Hoa và sống đời Thượng Nguơn sẽ thừa sức bảo đãm. Đức Phật xưa há chẳng dạy: “Giới minh như nhựt nguyệt, diệc như Anh Lạc Châu vi trần Bồ Tát chúng do thị thành chánh giác” (Nghĩa là giới sáng như mặt nhựt, mặt nguyệt và cũng như hột châu Anh Lạc chư Bồ Tát đông như số vi trần đều nhờ sự Trì giới mà thành bậc Chánh Giác.

Mẩu chuyện thứ 67

MỘT BUỔI KHUYẾN NÔNG

Vào năm 1944-1945 cuộc chiến trở nên ác liệt giữa hai phe Đồng minh và Phát xít. Bấy giờ nước ta bị phong tỏa, hàng hóa không nhập cảng được, trở nên khan hiếm đắt đỏ. Ngược lại thì lúa gạo không xuất cảng đặng, nên bị mất giá. Trong lúc đồng bào Miền Bắc chịu cảnh đói khổ thì ở Sài Gòn tức là miền Nam chúng ta, người Pháp dùng lúa thế cho than chụm các nhà máy điện. Vì thế lúa quá rẽ, nông dân bắt đầu bỏ ruộng hoang tìm nghề khác sanh sống. Nguyên nhân:

Cũng là vì Tây di bày kế,

Phá hoại nền kinh tế nước ta.

Làm cho điên đảo san hà,

Làm cho điêu đứng con nhà Lạc Long.

Để cứu vãn tình thế, người Nhựt yêu cầu Đức Thầy đi Khuyến Nông khắp vùng châu thổ sông Cửu Long, bởi họ biết Đức Thầy có ảnh hưởng lớn đối với đồng bào ở trong các tỉnh Miền Tây. Vì có nhiệm vụ thiêng liêng đối với dân tộc, Đức Thầy nhân cơ hội ấy nhận lời đi Khuyến Nông, để vừa khuyến khích nhân dân nổ lực cày cấy và vừa củng cố hàng ngũ Phật Giáo Hòa Hảo.

Cuộc Khuyến Nông nầy kéo dài suốt hai tháng từ ngày mồng Một tháng 5 đến 30 tháng 6 năm Ất Dậu 1945 gồm có 107 vị trí, mỗi vị trí số người dự nghe hàng năm bảy ngàn, nên phần nhiều các nơi thường tổ chức ở sân vận động.

Vào ngày mùng 4 tháng 6 năm Ất Dậu, Đức Thầy thuyết giảng ở sân vận động xã Mỹ Luông, Chợ Mới, Long Xuyên. Hai giờ chiều hôm ấy tôi có mặt tại vị trí. Lòng nôn nao trông ngóng vì bấy lâu nay chưa gặp Đức Thầy lần nào, mặc dù tôi đã qui y từ bốn năm trước. Nay là ngày tôi thỏa mãn nhứt vì được trực tiếp nghe lời thuyết giáo của Ngài.

Khoảng 3 giờ chiều trời đang nóng nực, mây đen phủ tới, ai ai cũng tản mác tìm nhà ẩn trú, rồi một đám mưa thật lớn như cầm thùng đổ. Qua bốn giờ, mưa tạnh, màn trời trở nên trong lặng, người ta kéo nhau trở lại sân vận động. Từ hai bên đường xuống đến bến tàu, nơi nào cũng đông nghẹt, không thể đếm lường con số được. Dầu vậy, nhưng chẳng hề nghe tiếng động hay tiếng nói chuyện lớn, tất cả đều trong tư thế nghiêm trang chờ đón.

Từ thuyền máy, Đức Thầy vừa đi vừa chào đáp mọi người cho đến khi bước lên diễn đàn Ngài xây mặt bốn phía, chào đồng bào bằng cách hai bàn tay nắm chặt vào nhau, đầu hơi cúi. Đoạn Ngài cất tiếng nói, giọng Ngài nghe thanh ấm như chuông đồng. Tôi ngồi cách rất xa vẫn nghe được rõ ràng, lời lẽ của đấng Từ Bi tuông ra như suối đổ, mà sức nhớ của kẻ phàm phu nầy có hạng, nên nơi đây tôi chỉ sơ lược những gì còn nhớ rõ mà thôi.

Đức Thầy bắt đầu thuật lại cảnh đói Miền Bắc:

“Có nhiều làng dân chúng chết chỉ còn lại thưa thớt, hết lúa khoai rau cỏ và thịt cá, gia súc, người ta hái lá cây mà ăn. Phái đoàn cứu trợ nhìn hai bên đường thấy vườn tược cây cối đều xơ xác còi cọc. Tại một đống rơm trên mười người nằm chết chung quanh, miệng còn ngậm vài cọng rơm. Cũng có nhiều người đi chưa tới đống rơm đã ngã chết dọc đường, thậm chí người ta còn ăn cả da giày da dép, nằm liệt hai bên lộ.

Cảnh rùng rợn hơn tại góc vườn nọ, năm bảy người ngồi chung quanh một cái nồi lớn đang đun sôi bốc hơi nghi ngút, đó không phải nồi cháo rau chi cả, mà chính là thịt người, do các đứa trẻ cha mẹ chết hết, không ai đùm bọc, bị những người ấy bắt làm thịt nấu ăn.

Ngài còn kể lại một thảm trạng bi đát. Là sau hè một cái nhà nhỏ, bà mẹ đem chôn sống một đứa con 6 tuổi, bởi bà thấy mình sắp chết. Nếu để con ở lại, người ta cũng bắt làm thịt mà ăn, nên bà chôn con trước rồi bà chết theo. Song vì sức yếu quá, bà chỉ đào được cái lỗ sâu chừng ba bốn tấc, rồi nhận đứa bé xuống lấp đất lại. Đôi mắt bà đẫm lệ, lòng như đứt từng đoạn ruột, đứa bé biết mẹ chôn sống mình, nên kêu khóc với mẹ:

– Mẹ ơi! Con sống đây, sao mẹ nỡ chôn con!?

Bà mẹ vừa đùa đất xuống vừa khóc:

– Mẹ thương con mẹ mới chôn con!

Đứa bé cố ngoi lên và kêu một lần nữa:

– Mẹ ơi! Con còn sống đây mẹ!

Bà mẹ lập lại mấy tiếng:

– Mẹ thương con mẹ mới chôn con!!

Rồi từ đó người ta chỉ còn nghe hai tiếng đứt quãng … mẹ ơi! … Con ơi! … cho đến khi dứt hẳn, bà mẹ ngã gục bên đứa con! Rồi mẹ con cùng chết!”

Nghe Đức Thầy thuật tới đây tự dưng nước mắt tôi trào ra dù là trong lứa tuổi 19 của hàng nam tử. Từ trước chưa lần nào bị xúc động như thế, tôi liền đưa mắt nhìn chung quanh thấy ai nấy cũng đều gục mặt, lấy khăn chặm nước mắt. Có nhiều bà nhiều cô khóc ra tiếng, bỗng nghe Đức Thầy kêu lớn lên ba tiếng:

– ĐÓI! ĐÓI! ĐÓI!

Mọi người đều giựt mình im lặng và hướng về diễn đàn, Đức Thầy liền cất giọng:

– Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào! Thần chết đã tràn vào Trung Bắc!

Ngài vừa đọc vừa giải thích hết bài. Tiếng Ngài nghe vừa vang rền cao vút, vừa thanh ấm thâm trầm, thật là khó tả, cả mấy ngàn người đều im phăng phắt để lắng nghe từ tiếng.

Ngài vừa đọc vừa thuyết giảng đến hết bài khuyến nông, rồi Ngài kêu gọi đồng bào hãy xây lưng đoàn kết nổ lực cấy cày và nhắc đến câu: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.” Ngài còn khuyến tấn mỗi người trong bổn đạo phải tuyệt đối thi hành hai phương diện: “Phải cần kiệm sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất.” Kế đó, Ngài đọc bài đính chánh để khuyến cáo đồng bào hãy cảnh giác, đừng để lầm lý thuyết vu vơ, những mối manh mê tín không đúng với chân lý của Đạo Phật.

Suốt hai tiếng đồng hồ Đức Thầy nói, tiếng Ngài càng lớn và thanh ấm, lưu loát chẳng hề lạc giọng.

Trên đường về ai nấy đều trầm trồ thán phục và tiếc uổng không làm sao nhớ cho hết lời thuyết giảng của Ngài.

PHẦN NHẬN XÉT:

Quay lại cuốn phim buổi Khuyến Nông của Đức Thầy tại xã Mỹ Luông, các tín hữu từ năm mươi tuổi trở lên chắc ai cũng có tham dự hoặc còn nhớ ít nhiều lời lẽ, một trong những nơi Khuyến Nông khác, tuy câu chuyện cách đây gần 40 năm nhưng với hình dáng giọng điệu và lý lẽ của Đức Thầy hình như đang hiện ra trước mắt kẻ cầm bút.

Đạo Phật phát ra từ dân tộc tín với chủ trương đời đạo liên hoan nhập thế cứu đời. Kẻ hành Đạo đúng theo ý tưởng xác thực của nó là làm thế nào phát hiện những đức tánh cao cả và thực hành trên thực tế bằng mọi biện pháp đem lại cái phúc lợi cho toàn thể chúng sanh, thì đó là thỏa mãn cho đời hành đạo của mình. Do đó, Đức Thầy và hầu hết tín đồ của Ngài đều có trách nhiệm thiêng liêng cứu nguy dân nước. Trước nạn đói khổ miền Bắc, Ngài đứng ra kêu gọi:

Cả kêu điền chủ phu nông,

Đứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.

Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,

No dạ dày là chước đầu tiên.

Nam Kỳ đâu phải sống riêng,

Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.

(Khuyến Nông)

Với các nhà điền chủ, tiền của đầy rương, ruộng vườn muôn mẫu, Ngài giác tỉnh họ:

Điền chủ phải một lần chịu tốn,

Giúp áo quần giúp vốn thêm lên.

Muốn cho dân được lòng bền,

Mua giùm canh cụ là nền khuyếch trương.

(Khuyến Nông)

Với những người nghèo khổ, làm thuê, làm mướn, như người xưa đã bảo: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, thì nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng dạy:

Kẻ phu tá cũng là trọng trách,

Cứu giống nòi quét sạch non sông.

Một phen vác cuốc ra đồng,

Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.

(Khuyến Nông)

Sau cùng, Ngài đem tấm lòng từ ái nhắn gởi các giới đồng bào, hãy xây lưng đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau để xứng là con cháu Tiên Rồng:

Gởi một tấm lòng son nhắn nhủ,

Khuyên đồng bào hãy rủ cho đông.

Nắm tay trở lại cánh đồng,

Cần lao nhẫn nại Lạc Long cổ truyền.

(Khuyến Nông)

Riêng phần tín đồ, Ngài dạy mỗi người cần thể hiện cả hai việc: “Sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất.” Bởi có làm ăn gia đình mới đủ sống và yên tâm tu học, “Có thực mới giựt được Đạo”, lại còn dư ra để bố thí giúp đời và đủ phương tiện đền đáp Tứ Ân. “Tứ Ân đã trả chẳng còn tội căn.” Song sự làm ăn phải đúng theo chánh nghiệp và biết tiết kiệm để tránh sự tiêu xài xa xí mà suốt ngày dồn hết thân tâm phụng sự cho vật chất, không rảnh rỗi tu hành. Và có tu hiền chơn chất, hành giả mới đặng trọn lành trọn sáng để thoát qua tai nạn hãi hùng của cơ tận diệt và vượt khỏi vòng sanh tử luân hồi:

Tội tiêu phước hưởng trường tồn,

Không còn mắc nẻo dại khôn luân hồi.

Cho nên cả hai mặt nói trên, người tu theo Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo không thể thiếu một.

Cũng trong thời gian năm 1945 có bọn tà thuyết tung ra một bài sấm loan truyền ra khắp vùng Hậu Giang nói rằng tháng 8 tới đây sẽ tối trời, tối đất, người chết, nhà tan v. v… Đức Thầy biết đó là điều mị dối có hại chung cho quốc dân:

Hại cho quốc kế dân sanh,

Ruộng đồng tươi đẹp dân đành bỏ ngơ.

Thương thay những kẻ ngu khờ,

Lầm mưu gian trá ngẩn ngơ ưu sầu.

Bọn chúng còn ngầm mưu toa rập với nhau làm mất uy tín của Phật Giáo Hòa Hảo, phao tin là chuyện đó do ông Tư Hòa Hảo truyền ra, nên buộc lòng Đức Thầy phải đính chánh:

Buộc lòng tôi phải đính ngoa,

Cho trong toàn quốc gần xa đều tường.

Chuyện nầy là chuyện hoang đường,

Của bọn phá hoại chủ trương hại mình.

Anh em ta hãy đồng tình,

Nếu gặp “nắm óc” đem trình “Công an”.

Chúng ta giải quyết lẹ làng,

Đừng để chuyện huyễn tràn lan ra nhiều.

(Đính Chánh)

Mẩu chuyện thứ 68

ÔNG HOÀNG THIÊN BẢO

Khoảng năm 1972, anh Hồng văn Chên là anh thứ ba của anh Hồng văn Hoạnh, có thuật lại cho chúng tôi nghe một câu chuyện mà ít người biết:

Vào giữa tháng 3 năm 1947, tức một tháng trước khi biến cố Phú Thành xảy ra (Ngày Đức Thầy ra đi), Đức Thầy sai anh đem ảnh của Ngài mặc áo Xá Xẩu giống như một người Tàu đến công ty du lịch ở Chợ Lớn để nhờ họ xin sổ thông hành đi Hongkong cho Ngài dưới tên là ông HOÀNG THIÊN BẢO. Một tuần sau anh Hồng văn Chên lấy giấy đem về trao cho Đức Thầy.

Chuyện của ông Lê Tấn Bửu, niên lão Phật Giáo Hòa Hảo.

PHẦN NHẬN XÉT:

Sự ra đời của các bậc Thánh Nhân, các nhà Hiền Triết, tất cả đều không do ngẫu nhiên hay có sự trùng hợp nào. Hễ nơi đâu có sự biến loạn, lòng người đảo điên, nhân tâm ly tán, thế nước suy đồi, dưới trên không hòa thuận, thì nơi đó ắt có người hiền, các bậc Thánh Nhân ra đời để sửa sang lại sự hổn loạn.

Còn nguyên nhân lâm phàm của Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo cũng không ra ngoài những thông lệ đó và còn hơn thế đó nữa, như Ngài đã từng xác nhận:

Xưa nay không có mấy khi,

Dương trần có Phật vậy thì xuống đây.

Hiện nay ở cõi Ta bà Ma Vương đã xuất hiện để phá chánh pháp của Đức Thế Tôn, đúng như lời Ma Vương tuyên thệ cùng Ngài. Khi Ma Vương đã ra đời thì lẽ tất nhiên phải có chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiên giáng trần để giữ gìn chánh pháp của Đức Thế Tôn.

Kinh Pháp Hoa chép: “Phật vị nhất đại sự nhân duyên xuất hiện ư thế” (Phật vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện trên đời). Căn cứ điều trên đây thì không còn ai xa lạ gì với sự xuất hiện của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo.

Rõ nghĩa quá cho sự xuất hiện của Ngài, một vị Phật đã đến trong cõi Ta bà nầy, Ngài đang làm hạnh nguyện Bồ Tát. Bởi muốn cứu chúng sanh trong cái buổi Hạ Nguơn nầy, nên Ngài không quản ngại chốn nhuốc nhơ:

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,

Muốn cứu thế sá chi bùn trịnh.

(Giác Mê Tâm Kệ)

Rời chốn Bồng Lai Phật cảnh, không nỡ ngồi yên hưởng quả Bồ Đề bất sanh bất diệt, nên đã bao phen lăn lộn xuống chốn hồng trần, mặc cho đời chê khen. “Kêu Thằng hay gọi bằng Ông”.

Như Ngài đã xác nhận:

Điên nầy vưng lịnh Phương Tây,

Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá gia

Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,

Với lịnh Phật Đường đi xuống giảng dân.

Để tiếp theo hành trạng sự xuất hiện của Đức Thầy, chúng tôi xin trích một đoạn trong bài Sứ Mạng do chính tay Ngài viết:

“… Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc độ nào thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân; vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên nhiều tiền kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh …”

Đức Thầy đã trở lại nơi quốc độ Ngài liễu đạo trước kia mà trợ giúp những linh hồn đã giúp cho Ngài nhiều tiền kiếp nương cậy tu hành, một minh định quá rõ ràng và cũng ứng hiện với sự xuất hiện của Ma Vương. Ma Vương đã ra đời, ẩn hiện lẫn lộn vào làm hàng đệ tử của Đức Phật mà đi ngược lại với giáo lý của Phật Giáo và Phật Đạo. Phật Đạo tức là con đường của Phật đã đi qua:

* Đức Phật từ chỗ CÓ, Ngài phế bỏ tất cả để đi tìm cái KHÔNG.

* Ma Vương thì bắt nguồn từ cái KHÔNG lại đi tìm cái CÓ.

Đức Phật đang từ một ngôi vị tột đỉnh uy quyền, giàu sang bậc nhất, vợ đẹp, con ngoan, mỹ nữ đêm ngày hầu hạ, sống trong nhung lụa ấm êm, trong lúc tuổi còn thanh niên, với lứa tuổi mười chín, nhựa sống đang tràn đầy, đang hăng say trong nhục lạc thế trần mà Ngài còn phế bỏ tất cả để một mình một bóng, dấn thân vào con đường tầm Đạo, phải chịu muôn ngàn khốn khổ. Suốt sáu năm khổ hạnh, cho đến khi đạt thành đạo cả, và suốt bốn mươi chín năm trụ thế tự Ngài ôm bình bát đi xin ăn khắp thôn làng, khi no, khi đói, đồng thời chịu nhiều tiếng thị phi của kẻ ngoại Đạo, thế mà Đức Phật vẫn từ bi đem lời lành phổ truyền khắp muôn loài vạn vật, đưa chúng sanh đến con đường giải thoát sanh tử luân hồi. Hơn 25 thế kỷ, Vô Vi Chánh Pháp của Ngài càng rạng tỏ khắp nơi nơi.

Còn Ma Vương thì núp trong hàng ngũ đệ tử của Đức Phật, nếu ta chịu khó chú ý sẽ nhận diện ra bọn chúng thật dễ dàng, bởi họ luôn luôn đi ngược lại con đường của Đức Phật.

Giai đoạn nầy Đức Huỳnh Giáo Chủ đã nhắc nhở từ năm 1939:

Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,

Với tín nữ thiện nam Phật Giáo.

Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,

Hiệp cùng nhau truyền bá Kinh lành.

Làm cho đời hiểu rõ thinh danh,

Công đức Phật từ bi vô lượng.

Đồng dẹp bớt âm thinh sắc tướng,

Lo chấn hưng phật Pháp mới là.

Nói cho đời hiểu Phật Thích Ca,

Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Dần dần sự phát triển của Ma Vương càng mạnh, tạo sự hổn loạn trong tăng chúng, trên dưới không hòa không thuận, tị hiềm ganh ghét, vụn vặt nhỏ nhoi, tranh danh đoạt lợi trong chốn thiền môn, thay vì kinh kệ hôm sớm trong chốn già lam. Lúc đó thì bánh xe Chánh Pháp của Đức Thế Tôn sẽ ngưng quay. Quả thật điều nầy xảy ra thì ứng với lời Đức Thích Ca đã nói cách nay hơn 25 thế kỷ: Ngài cho biết là bánh xe Chánh Pháp của Ngài có lúc sẽ ngừng quay, đến chừng đó sẽ có một vị Phật hiệu là Di Lặc ra đời ở cõi Ta ba nầy lập Hội Long Hoa độ chúng sanh trong buổi Hạ Nguơn mạt Pháp để tiến lên Thượng Nguơn Thánh Đức.(Sự việc nầy được ghi trong Kinh Trụ Thế)

Còn trên phương diện đời sống xã hội thì Ma Vương len lỏi vào nắm quyền hành của thế gian. Chúng tạo chủ thuyết mới mê hoặc lòng người, đưa nhơn loại vào con đường chiến tranh giết chóc bởi danh vị, lợi quyền, thế lực.

Từ đó, chúng ta không ai còn xa lạ gì với sự giáng trần của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo. Ngài đã đưa nhân loại vào đường Học Phật tu Nhân, xiễn dương Vô Vi Chánh Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, và hoằng truyền khai mối Đạo của Ngài.

Trước thế lực và thời hưng tịnh của Ma Vương, Đức Thầy đã thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ cho chúng sanh. Trong bảy năm, tuy thời gian quá ít, nhưng Ngài đã đánh tiếng chuông cảnh tỉnh và báo cho nhân loại hay biết sự xuất hiện của Ma Vương.

Trong Kinh Kệ, Sấm Thi, Đức Thầy đã chỉ rõ:

Ao sen báu Tây Phương đua nở,

Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm

Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,

Được tâm phát Bồ Đề vững chắc.

Giữ đừng cho Ma Vương dẫn dắt,

Thường nhớ câu Đại Lực, Đại Hùng.

Thắng Thất Tình giữ vẹn Đạo Trung,

Trừ Lục Dục chớ cho ô nhiễm.

Thập tam Ma diệt bằng trí kiếm,

Rứt xong rồi vô sự thảnh thơi.

(Quyển 5 Khuyến Thiện)

Trên đây chúng tôi chỉ trích một đoạn ngắn trong một bài kinh, thật quá ít so với toàn bài, mong làm sáng nghĩa trong câu chuyện, còn lời khuyên dạy của Đức Thầy thì không một vi tế nào mà Ngài không nhắc nhở khuyên lơn.

Ai mà ta dạy chẳng gìn,

Thì sau đừng trách mất tình yêu thương.

(Quyển 3 Sám Giảng)

Đức Thầy khuyên dạy quá đầy đủ qua Kinh Sấm, Kệ Thi của Ngài, như Đại Chu Thoàn thừa sức chuyên chở con người qua bên kia bờ giác. Nếu ta chịu khó trì tụng kinh hành thì lo chi không đến được con đường giải thoát sanh tử luân hồi.

Đức Thích Ca Mâu Ni xưa kia từng bảo: “Hãy nhìn ánh sáng của mặt trăng chớ đừng nhìn ngón tay của Ngài chỉ mặt trăng”, thì hôm nay Đức Thầy cũng thường khuyên:

Nhìn Phật Giáo mà tìm cái lý,

Coi tại sao ta phải tu hành.

Như vậy sự hiện hữu của Đức Thầy chỉ làm cho chúng ta chểnh mảng trong việc tu tập, vì ta sẽ ỷ lại là lúc nào cũng có Thầy mình bao bọc chở che.

Vì hiểu quá rõ ố tật của tín đồ, nên Ngài chọn sự xa vắng để:

Để cho Thầy đi dạo Ta Bà

Đặng dạy kẻ đường xa chưa rõ.

(Sa Đéc)

Và cũng để thử thách những người nhẹ dạ non lòng.

Ngài đã tiên liệu việc xa vắng. Ngoài ra, ngày Đức Thầy trở lại, thì có nhiều ở những Mẩu Chuyện Bên Thầy!

Mẩu chuyện thứ 69

TOKYO NHẬT BẢN

Câu chuyện được kể đúng vào thời điểm của cuộc biến cố năm 1975, khi số lượng mấy mươi người bị giam trong một phòng giam nhỏ hẹp của Ty Cảnh Sát. Tất cả được tập trung từ các nơi gởi về vào ngày 25 tháng 5 năm 1975.

Một đêm nọ trong tuần đầu, qua sự giới thiệu của anh Trưởng Chi Thông Tin Hà Tiên, chúng tôi tiếp xúc với người cháu của y cũng đang bị giam chung trong phòng. Người ta không còn rõ tên họ của người cháu nầy, mà chỉ gọi là Cậu Sáu, là danh từ gọi để tôn trọng những người tu hành. Được biết Cậu Sáu tu nhiều năm trên núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn). Lúc đó Cậu độ khoản 25 hay 26 tuổi, bằng cách nói lưu loát đạo hạnh của Cậu làm cho nhiều người phải chú ý. Trong đó có tôi (Lê Tấn Bửu).

Cậu thuật nhiều chuyện nghe khá ly kỳ, trong đó có mẫu chuyện làm tôi chú ý nhứt: Trước năm 1975, khi đang ngồi thiền trong thạch thất nơi Thiên Cẩm Sơn, Cậu nghe văng vẳng bên tai lệnh của Sơn Thần bảo cậu phải đi Tokyo để nhận lãnh sứ mạng. Cậu lập tức lên Sài Gòn nhờ Đại Tá Nguyễn Quang Sanh lúc ấy làm việc trong cơ quan Giám Sát Viện, vốn là đệ tử của Cậu, lo cho cậu thủ tục xuất ngoại, đồng thời, Đại Tá Sanh hướng dẫn cậu đi Tokyo. Đại Tá Sanh lúc đầu từ khước vì không đủ tiền mua vé phi cơ khứ hồi cho cả hai người. Nhưng dường như được sự trợ giúp của chư Thần, liền theo đó có người Hoa Kiều đến nhờ xin giùm thông hành đi Hongkong, Đại Tá Sanh liền hỏi xin ông nầy tiền để mua hai vé phi cơ Sài Gòn đi Tokyo khứ hồi.

Thế là sau đó hai thầy trò đáp phi cơ đi Tokyo. Tiếng người tiếp viên báo cho biết là sắp đến nơi. Đại Tá Sanh hỏi:

– Không biết rồi đây có ai đón chúng mình không?

Cậu Sáu bảo:

– Đừng lo.

Quả nhiên vừa ra khỏi cửa thì thấy có một người Nhật đến chào hỏi rồi hướng dẫn cả hai làm thủ tục nhập cảnh Quan thuế. Khi ra tới bãi đậu xe liền được một vị hơi lớn tuổi, ngồi băng sau, nói tiếng Việt, mời hai thầy trò ngồi chung.

Xe chạy đến thành phố Tokyo, rồi vào thẳng cổng thành, tường thành cao và đen. Sau khi tiếp tục chạy thẳng tắp tới ngôi biệt thự tọa lạc ở trong sâu thì xe ngừng lại. Vị chủ xe mời hai thầy trò vào trong ngơi nghỉ, hẹn sáng hôm sau gặp lại.

Mọi việc ăn ở đều có kẻ phục dịch chu đáo. Sáng ngày hai thầy trò được mời đến văn phòng và được tiếp chuyện với vị chủ xe lúc ấy đã ngồi vào bàn giấy. Đang lúc nói chuyện, Cậu để ý thấy có một vài người Nhật trịnh trọng đến xá chào vị chủ nhà, nói một vài câu tiếng Nhật rồi lễ phép cúi chào đi ra. Cậu thầm nghĩ vị chủ nhà nầy ắt có nhiều uy quyền mới được trọng vọng như thế.

Chúng tôi hỏi Cậu Sáu sứ mạng cậu nhận lãnh của vị ấy như thế nào? Có liên quan gì đến đất nước của mình không? Cậu đã cho biết là không thể tiết lộ vì đã tuyên hứa rồi.

Tuy nhiên có một điểm quan trọng mà cậu sẵn sàng cho chúng tôi biết là vị chủ nhà có tướng trạng đặc biệt là CỔ CÓ BA NGẤN, mà xưa nay chưa ai có được tướng hảo như thế.

Khi về lại Việt Nam, trên đường đi qua tỉnh lộ, Cậu mới có sự chú ý đặc biệt và hết sức sửng sốt khi nhìn lại những bức chơn dung trên Độc Giảng Đường của Phật Giáo Hòa Hảo, được xây dựng hai bên lộ xe, thì quả đúng là hình của Đức Huỳnh Giáo chủ và người chủ ngôi biệt thự bên Nhật chỉ là một.

Cuối cùng Cậu xác nhận với chúng tôi là Cậu được tiếp xúc với vị chủ nhà bên Nhật là Đức Huỳnh Giáo Chủ bằng xương bằng thịt.

Về sau, khi bị đày ra Bắc, tại trại Nam Hà đầu năm 1979, chúng tôi có dip may gặp được anh Nguyễn Quang Sanh. Không bỏ qua cơ hội tốt, chúng tôi liền hỏi về Cậu Sáu ở núi Cấm. Được anh xác nhận là Thầy của anh, anh có hướng dẫn Cậu Sáu đi Tokyo trước năm 1975. Anh cùng Thầy của anh có tiếp xúc với vị ẩn danh tại ngôi biệt thự. Thầy của anh có nhận lịnh với vị chủ ngôi biệt thự nầy, nhưng anh không được phép tiết lộ câu chuyện. Sự bí mật hoàn toàn bí mật, càng làm cho chúng tôi thêm thắc mắc. Sau năm 1988, khi được trả tự do về Sài Gòn, chúng tôi được tin của Cậu Sáu đã qua đời dù tuổi chưa đầy bốn mươi.

Chuyện của ông Lê Tấn Bửu, Niên Lão Phật Giáo Hòa Hảo.

Mẩu chuyện thứ 70

ĐỆ TAM THẾ CHIẾN

Sau Đệ nhị Thế chiến Nhựt, Đức, Ý bị đồng minh đánh bại, Nhựt bị 2 quả bom nguyên tử, Nhựt Hoàng đầu hàng vô điều kiện.

Một hôm Đức Thầy đang tiếp chuyện với hai vị khách quí thuộc hàng trí thức. Hôm nay nhằm ngày trực của ông giáo Khương. Ông Khương vừa bưng nước trà đến phòng khách, nghe một vị khách hỏi Thầy:

– Thưa Ông Tư, sau Đệ nhị Thế chiến chấm dứt, Ông Tư có thể đoán trận giặc thứ ba sẽ xảy ra không? Nếu có thì vào năm nào, và ở đâu?

Đức Thầy đáp:

– Trận giặc thứ ba sẽ có, nhưng tôi không thể định chắc vào năm nào. Vì còn do sự gieo nhân của nhân của nhơn loại, nếu họ gây tạo nhân ác nhiều thì sớm; bằng ít sẽ muộn hơn, nhưng cũng trong chu kỳ Hạ nguơn nầy. Còn ngòi chiến tranh thứ ba bùng nổ chắc chắn sẽ khởi từ vùng Trung Đông. Khi cuộc chiến ở Trung Đông tạm ngưng sẽ đến vùng Á Đông.

Thuật theo lời ông giáo Khương

PHẦN NHẬN XÉT:

Đọc chuyện trên, ta thấy trước đây nửa thế kỷ thuở mà nền văn minh khoa học chưa được phát triển mạnh, nên dù là hàng thức giả cũng không dự đoán được Đệ Tam Thế Chiến có hay không, và nếu có sẽ khởi thỉ từ đâu.

Thật ra, đối với Đức Giáo Chủ điều nầy Ngài nói rất nhiều ở Sấm Thi. Có lần thuyết pháp tại Tổ Đình, Ngài còn ung dung cho biết Đệ Nhị Thế Chiến chỉ là tiểu chiến tranh mà thôi. Còn Đệ Tam Thế Chiến mới là đại chiến tranh! Và đó là lần tận diệt của cơ Thiên định.

Ở đây Ngài cho các thức giả biết cuộc chiến thứ ba bùng nổ mau hay chậm cũng tùy ở nhân của chúng sanh mà hái quả, nhưng không ngoài chu kỳ Nguơn hạ nầy. Thế nên Ngài đã cho biết:

Vì thời cơ đã đến, lý Thiên đình hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan. Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên … (Bài Thay Lời Tựa)

Thế là các thứ nạn khổ là do tội ác của chúng sanh quá nặng, mới lãnh lấy tai họa hãi hùng!

Đọc lại thánh phẩm của Ngài qua điệu thơ liên ngâm (bài Ai Người Tri Kỷ), ta mới thấy rõ ý nghĩa này:

Lầm than khói lửa với binh đao,

Âu Á lung tung nhuộm máo đào.

Bá tánh say sưa mùi phú quí,

Sau này sẽ vướng cảnh đồ lao.

Và Ngài còn chỉ cho ta cách vượt khổ như là:

Đồ lao muốn lánh sớm nghe ta,

Bố thí trì chay giữ giới mà.

Phật đạo trau dồi tâm tánh lại,

Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.

***

Can qua dân chúng chớ buồn lo,

Tích đức chờ ta chốn hẹn hò.

Tiên cảnh Phật đài xem rực rỡ,

Hoàn cầu đến đó ấm cùng no.

(Ai Người Tri Kỷ)

Tóm lại, nếu nhơn loại không nghe lời chỉ dạy của đấng cứu thế mà chứa đức hành thiện, thì dù tài trí tới đâu cũng tránh không khỏi thảm họa hãi hùng của cơ tận diệt. Nếu chúng sanh giác ngộ, lo tròn đạo lý nghĩa nhân, thì ngày ấy sẽ được Tiên Phật cứu vớt đến chỗ tột vui mà an hưởng. Vì Ngài đã cho biết:

Chờ con đầy đủ nghĩa nhân,

Ra tay tế độ dắt lần về ngôi.

(Bài Bóng Hồng)

Có điều ta nên nhớ là Ngài ra đời với mục đích là cứu khổ cho chúng sanh, mới khuyên dạy chúng ta tu nhân hành thiện để khỏi khổ được vui, bởi vì:

Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,

Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.

(Sấm Giảng Quyển 2)

Tuy Phật thương chúng sanh như mẹ thương con, nhưng nếu chúng sanh tội ác quá nhiều mà không ăn năn sám hối, cứ gây nhân bất thiện thì dù Phật có quảng đại thần thông cũng không sửa luật nhân quả cho mình được.

Mẩu chuyện thứ 71

LÀM Y THEO GIÁO LÝ

Năm Ất Dậu 1945 Đức Thầy ngụ tại đường Miche, Sài Gòn, lúc ấy có đông anh em tín đồ ở Miền Tây đi lên thăm Đức Thầy, được Đức Thầy cầm ở lại chơi vài hôm. Anh em này quá mừng, đồng bàn với nhau: Chẳng mấy khi mình gần gũi Đức Thầy, mình rình coi Đức Thầy cúng lạy theo nghi thức thế nào để về mình làm theo cho đúng.

Chiều hôm ấy, khi Đức Thầy cúng lạy xong, Đức Thầy kêu anh em lại nói rằng:

– Bà con ra đây coi tôi cúng lạy, đặng về cúng lạy cho trúng để thành Phật, phải không? Còn những người khác không thấy tôi cúng lạy mà tu hành chơn chánh rồi không được đắc đạo hay sao?

Khi mọi người nghe Đức Thầy rầy, nói trúng tâm ý của mình, anh em này hết sức sợ, van xin Đức Thầy tha lỗi.

Qua hôm sau Đức Thầy cúng lạy, anh em cũng liếc xem như bữa trước. Đức Thầy cúng xong kêu anh em lại cho Thầy bảo. Mấy anh em lén xem lúc nãy lo sợ nét mặt tái mét, cúm rúm đến bên Thầy khoanh tay chờ nghe phán dạy. Đức Thầy đốt hương phát cho mỗi người một cây. Đức Thầy nói:

Thôi, bà con muốn làm y theo tôi, đứng xếp hàng đây, coi tôi làm sao thì làm y như vậy. Tôi nguyện sao thì cũng nguyện y như vậy.

Dặn xong, Đức Thầy cầm hương xá ba xá, kế Đức Thầy quì xuống chấp tay lên trán. Anh em cũng xá và quì theo. Đức Thầy đọc lớn tiếng: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”.

Lúc bấy giờ anh em đồng đạo ngơ ngác, nhìn qua lại với nhau, làm thinh không đọc theo. Đức Thầy xoay lại dòm anh em đang quì, Thầy hỏi “Sao bà con không đọc theo tôi?” Anh em đồng đạo nghe Đức Thầy hỏi, sợ Thầy rầy, liền đọc theo một rặp “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”. Đức Thầy mĩm cười đứng lên nhìn anh em hỏi:

– Bà con biết tôi đọc bài gì không?

Các anh em đồng đạo thưa:

– Bạch Thầy, chúng con không biết.

Đức Thầy nói tiếp:

– Ủa, không biết sao đọc theo? Tôi đọc bài nguyện bên đạo Cao Đài mà bà con cũng đọc theo. Như vậy đâu có làm y theo tôi đâu?

Anh em nghe Đức Thầy rầy, sợ quá, liền thưa:

– Bạch Thầy, Thầy dạy chúng con Thầy làm sao thì làm y như vậy, nên chúng con không dám cải.

Với nét mặt nghiêm nghị, Đức Thầy nói:

– Tôi bảo làm y là làm y theo giáo lý của tôi dạy, chớ nào bảo làm theo tôi. Nếu Đức Phật Thích Ca hiện xuống bảo các người làm sai chân lý, các người có làm không?

Anh em đồng thưa:

– Bạch Thầy, không.

Đức Thầy dịu giọng:

– Ừ, vậy đó. Nếu sau nầy có ai giống tôi và xưng là tôi bảo bà con làm gì, bà con cũng đừng vội tin, hãy xét kỹ lại lời nói ấy có đúng theo chơn lý hay không, được như vậy mới gọi là làm y, và không bị gọi là mê tín.

Thuật theo lời ông Lê văn Phú tự Tho.

PHẦN NHẬN XÉT:

Suốt thời gian hoằng Đạo, Đức Giáo Chủ đã tay bút sắt, tay gậy kim cang dìu nhơn loại lên đường thoát khổ. Ngài tiên tri là mình sẽ xa cách tín đồ một thời gian khá dài, thời gian đó, nếu ai không bền chí kiên trinh, dễ tin thiếu trí, chắc phải bị lầm lạc nẽo tà, hoặc lợi danh cám dỗ. Còn tín đồ nào sáng suốt hành y theo giáo lý của Ngài, thì dù có xa cách nghìn dặm cũng vẫn ngoan đạo tiến tu. Trái lại, người có tâm mà thiếu trí thì lúc nào cũng muốn trực kiến với Thầy để lãnh giáo, bởi quá tôn kính Thầy, mà không đủ trí tín, nên cứ nhắm mắt làm càn, thì dù có sống bên cạnh Thầy cũng vẫn làm sai tôn chỉ, và khi Đức Thầy xa vắng có ai xưng Thầy trở lại thì họ sẽ tin theo.

Thế nên muốn ý thức cho tín đồ nương theo giáo lý của Ngài, vì đó là chơn lý, mà chơn thì không bao giờ bị hoại diệt. Nếu không bám sát chơn lý mà chỉ nương vào hình tướng và sự linh ứng, hoặc đi tìm Thầy Tổ qua hình thức bên ngoài thì dễ bị rơi vào tà đạo.

Xưa có ông trưởng giả rất keo kiết, bình sanh ông không hề bố thí cho ai. Một hôm Đức Phật hiện đến, với thân 32 tướng tốt, rất trang nghiêm. Khi diện kiến Đức Phật ông sanh tâm kính mộ, liền tiếp rước Đức Ngài vào Pháp tòa và thỉnh Pháp. Đức Phật dạy: “Ông nên phát tâm làm 5 đại bố thí được không?”. Ông Trưởng giả liền bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, đối với con một tiểu bố thí cũng không làm được, huống gì là 5 đại bố thí”. Đức Phật bảo: “Ta không bảo ông đem của tiền bố thí mà bảo ông nên giữ 5 giới cấm. Đó là ngũ đại bố thí”. Trưởng giả bạch: “Bạch Ngài, năm đại bố thí ấy như thế nào, và lợi ích ra sao?” Đức Phật bảo: “Một là không sát sanh, vì sát sanh là vay nợ mạng, bởi cướp mạng sống của loài vật nên làm mất đi hột giống từ bi, tương lai phải đầu sanh mà đền mạng, đền ác quả.”

Tiếp theo đó, Phật thuyết luôn cả giới trộm cắp, tà dâm, ẩm tửu, vọng ngữ. Đức Phật giải thích từng giới và nói rõ tai hại của người phạm giới, lợi ích của người giữ giới v.v… Trưởng giả nghe xong rất vui mừng, xin phát tâm giữ 5 điều giới cấm.

Ít hôm sau Ma Vương hóa hiện ra Phật, hiện đến nhà trưởng giả. Trưởng giả mừng rỡ ra nghinh tiếp. Ma vương giả Phật nói: Hôm trước ta bảo ông giữ giới, đó là huyền pháp vậy thôi; nay mới là chánh pháp, tức là ông nên phá giới làm ngược lại với lời nói của ta ngày trước. Trưởng giả suy nghĩ: Lời nói hôm nay là tà thuyết, ta không thể nghe theo. Ma vương mấy phen lung lạc. Trưởng giả khăng khắng một lòng, quyết gìn giới cấm không chịu xả bỏ. Thấy không thể thuyết phục được, Ma vương liền hiện lại nguyên hình và ca ngợi trí tín của vị trưởng giả, tuy mới phát tâm mà rất sáng suốt vậy.

Chúng ta hôm nay cũng thế, tuy Thầy Tổ đã vắng bóng nhưng kho tàng bảo pháp vẫn còn đây, ta cứ nương theo đó mà trì hành, không nên vội vã tìm Thầy, mà phải cố gắng làm y theo lời thánh huấn của Ngài, chắc sẽ được Ngài tìm ta mà ban thưởng ở tương lai, như câu: “Làm theo lời chỉ ngày rày gặp ta!”

Mẩu chuyện thứ 72

TÔI SẮM CÂY DÙ

Lúc Đức Thầy an trí tại Bạc Liêu, một buổi chiều đẹp trời, Đức Thầy đang hóng mát nơi thanh vắng, nét mặt Ngài lộ sắc buồn, hướng mắt về Phương Tây. Anh Nguyễn Thành Nhân, một tín đồ động lòng, vì thấy Thầy phải đương đầu với mọi nỗi khó khăn; nào thực dân Pháp kềm kẹp chúng bắt Ngài phải đi trình báo mỗi tháng 4 lần; nào ngăn cấm không cho tín đồ đến thăm và nghe pháp. . .vv. Vì muốn chia sớt nỗi buồn của Thầy mình và được nghe lời chỉ giáo, nên anh Nhân đến bạch Ngài:

– Bạch Thầy, mới như vầy mà mình chịu chưa nỗi mà Thầy còn nói: “Khổ với thảm ngày nay có mấy, Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.”

Đức Thầy nhìn anh Nhân và nói hơi mạnh:

– Tôi sắm cây dù, tôi không thể che kèo cán nó hay sao.

Nói xong Ngài nhìn lại phía trước và dịu giọng tiếp:

– Tuy nhiên kèo cán ấy phải ở trong cây dù.

Thuật theo lời ông Nguyễn Thành Nhân.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đức Thầy ra đời với sứ mạng thiêng liêng cao cả là “Đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc.” Nhưng nhơn loại hiện nay đang sống trong lúc cuối của buổi tận nguơn, đang và sẽ đương đầu với mọi điều khốn khổ, mà Đức Thầy dám xông vào gở cái ách xích xiềng thế tục, thì sao khỏi đương đầu với mọi nỗi khó khăn. Tuy nhiên đã là một đấng giác ngộ hoàn toàn thì bao giờ cũng giác tha tự tại. Thế nên Ngài mới thí dụ như Ngài đã sắm cây dù, thì tất nhiên Ngài phải che được kèo cán của nó, chỉ trừ kèo cán ấy sút ra khỏi dù.

Thật vậy, tuy ngày tận diệt của buổi Hạ nguơn có muôn ngàn thứ nạn khổ, nhưng may mắn cho chúng ta Đức Tôn Sư ra đời đem đại Đạo để giáo truyền và che chở cho ta. Nếu người tín đồ biết tuân thủ giới qui của Ngài, như kèo cán của cây dù, thì có lo gì mưa chan nắng táp. Muốn cho tín đồ đặt vững niềm tin nên Ngài đã từ bi phán dạy:

Ra kệ nầy hai chữ bảo an,

Cho trần thế được tâm thanh tịnh.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Bảo là bảo bọc chở che. An là an toàn mọi sự.

Còn nếu ai chẳng bền chí kiên trinh, qui y mà làm sái, và vi phạm điều Răn Cấm của Ngài thì khác nào kèo cán bị sút hư, thì làm sao mà an toàn cho được, đến khi gặp khổ mới hối tiếc, khóc than, thì đã quá muộn màng! Thế nên Ngài đã báo cho ta biết trước:

Để sau đến việc tả tơi,

Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.

Ngày nay chim đã gặp cành,

Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.

(Sấm Giảng Quyển 3)

Tóm lại, Đức Thầy có đủ công năng để cứu độ, và bảo bọc che chở cho ta, nếu ta chịu tuân thủ giới qui, bền tâm tu tiến. Trái lại, nếu ta qui y mà chẳng làm y, miệng tu mà tâm không sửa, cứ sám hối gian lừa, làm điều xằn bậy, dù Phật còn trụ thế hay là ở cạnh bên Thầy cũng phải nhận lấy cái luật công bằng của Nhân Quả, như lời ông Ba Thới * đã cho biết: “Kẻ ác tiêu xác tiêu hồn, Người hiền còn lại tích tồn hậu lai” (Kim Cổ Kỳ Quan). Còn người thiệt tâm tu sửa, dù có gặp ít nhiều nạn khổ, đó chỉ là:

Ông nhồi quả cho người hành Đạo,

Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng.

(Bài Sa Đéc)

Thế nhất định Thầy ta và các đấng siêu hình không bỏ rơi ta bao giờ. Ta hãy đọc lại lời thánh giáo của Ngài để đặt vững niềm tin. “Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà Phật. Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng hộ.” Vậy ta nên xét coi mình có rán sức thi hành được y theo tôn ý của Ngài không, các điều thiện mình có làm được ít nhiều chưa, nếu chưa thì hãy cố gắng thiệt thi, kẻo muộn!

* Ông Ba Thới tức ông Nguyễn văn Thới (1866-1927): Nguyên quán ở Cao Lãnh, Sa Đéc, là một cao đồ đắc pháp Bửu Sơn Kỳ Hương, viết nên Kim Cổ Kỳ Quan một đại tác phẩm nổi tiếng trong thiền phái.

Mẩu chuyện thứ 73

MUỐN CÓ HUỆ THÌ PHẢI BẮT SÂU

Vào năm 1939 lúc Đức Thầy mở Đạo tại Hòa Hảo, người ta lũ lượt đến viềng Ngài mỗi lúc mỗi đông, kẻ nghe pháp qui y, người nhờ Ngài phát phù trị bịnh.

Lúc bấy giờ có bà phán Nguyễn thị Ngọ, vợ thông phán tòa án Châu Đốc, là một Phật tử tại gia cũng đến nghe pháp và tìm hiểu coi Ngài như thế nào. Trước đa số thính chúng, bà phán hỏi:

– Bạch Thầy, xin Thầy hoan hỉ cho con biết con tu có huệ hay không?

Đức Thầy tươi cười đáp:

– Bà muốn có huệ thì phải bắt sâu.

Câu đáp ngắn gọn của Ngài khiến bà phán vô cùng kính phục và rất hài lòng.

Thuật theo Đuốc Từ Bi

PHẦN NHẬN XÉT:

Câu nói của Đức Thầy tuy ngắn gọn mà hàm súc một ý nghĩa rất sâu xa. Thay vì phải nói đến huệ tâm hay trí bát nhã thì Ngài lại dùng hoa huệ để ám chỉ trí huệ hay huệ tâm. Đó là Ngài diễn sự để bày lý.

Thật vậy, người tín đồ hay tăng đồ nhà Phật ai lại không muốn mình có được huệ tâm, nhưng muốn có huệ mà tâm không dọn sạch ma trược phiền não, chẳng đốn sạch gốc vô minh, thì có khác nào đem hột lúa sạ trong đám đế sậy thì làm sao chúng phát triển được tốt đẹp theo ý muốn của mình. Cũng như người trồng bông huệ, nếu không vun phân tưới nước bắt sâu thì hoa sẽ bị lụn tàn hư hoại. Thế nên Ngài bảo: “Muốn có huệ thì phải bắt sâu.” Đại ý là người tu muốn được phát huệ phải tận trừ tánh xấu, như người trồng bông huệ phải bắt sâu. Nếu dọn mình trong sạch rồi thì tâm được bình tịnh sẽ được kết quả như Ngài đã cho biết.

Nếu ai mà biết chữ tu trì,

Tâm bình tịnh được thì phát huệ.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Chúng ta là người học Đạo, muốn vượt bể trầm luân, lên đại chu thoàn để qua bờ giác, hãy rán tìm cho kỹ “các loại sâu” còn ẩn núp nơi tâm mình để bắt hết nó ra thì mới được “Huệ tâm khai ngử chuyển huyền thông”. Nếu chẳng được vậy thì uổng công tu niệm!

Mẩu chuyện thứ 74

TỪ BI

Năm Giáp Thân 1944, khi Đức Thầy còn tạm trú căn phố đường Nguyễn Công Trứ, một chiều nọ có một nữ tín đồ ở Phú Thuận, Châu Đốc xin vào viếng Ngài. Người tín đồ nầy có mang theo một gói được bao phong cẩn thận bên ngoài bằng giấy nhựt trình. Khi diện kiến Đức Thầy, người tín đồ ấy trịnh trọng dâng gói lên và bạch rằng:

– Bạch Thầy, Con xin phép được viếng Thầy, sau đó dâng Thầy một bộ đồ hàng Long Khánh, Tân Châu để Thầy thay đổi. Vì con thấy Thầy chỉ mặc toàn đồ trắng hay vải nhuộm dà mà thôi.

Đức Thầy tươi cười nhận tặng vật và thốt lời cám ơn. Đồng thời Ngài bảo một nữ tín đồ trong nhà cất đi, nhưng dặn đừng mở gói.

Sau đó ba ngày, có một nam tín đồ giã từ, Ngài bảo người tín đồ ở trong nhà lấy gói quần áo hôm nọ ra, rồi tự tay đưa biếu cho người nam tín đồ ấy. Người nữ tín đồ lộ vẻ ngạc nhiên có ẩn sự tiếc rẽ bộ đồ nên bạch rằng:

– Bạch Thầy, bộ đồ mới của chị Hai dâng cho Thầy mà chưa mặc lần nào sao Thầy cho ông Ba?

Đức Thầy nghiêm trang đáp:

– Cô biết bộ đồ hàng nầy đã làm hết bao nhiêu con tằm không?

Rồi Ngài trầm ngâm suy nghĩ!

Thuật theo Khổng Tước Nguyên.

PHẦN NHẬN XÉT:

Ai đã đọc hết sấm thi và tìm hiểu kỹ nhiều mẩu chuyện bên Thầy, phải đều nhận nơi lòng từ vô hạn của Ngài đối với chúng sanh. Câu chuyện nầy cũng như nhiều câu chuyện khác.

Thật vậy, bởi tam giáo đều chủ trương tế nhân lợi vật. Qua câu: “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” của nhà Phật cũng đủ cho ta biết giữa ta và các loài vật dù lớn nhỏ cũng đều có bản tính Phật đồng nhau. Thế thì mỗi chúng hữu tình cũng đều tiến hóa đến quả vị Phật, Tiên, nên khi giết hại chúng tức là ta làm mất đi hạt giống từ bi và vay nợ mạng với loài sinh vật. Theo luật Nhân Quả thì sát sanh phải đền mạng mà giới răn của nhà Phật tội sát sanh đứng ở hàng đầu. Đức Giáo Chủ là một bậc đại giác đại từ nên lúc nào cũng ban vui cứu khổ cho chúng sanh nên Ngài đã từng phán dạy:

Hãy vì chúng sanh còn lao lý,

Nguyện uống cho đời chén thuốc cay.

Ở một đoạn khác Ngài dạy:

– Sinh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống như nhơn loại vậy. Thế nên hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng. (Bài Luận Về Tam Nghiệp, Sát sanh)

Tóm lại, bởi thể hiện từ bi nên Ngài dùng bộ đồ đắc giá đó điển hình thí dụ để cho tín đồ biết người tu không nên trang sức những loại hàng đắt giá làm mất đức kiệm, trong khi xã hội nầy còn biết bao kẻ rách rưới cơ hàn. Nhứt là trong bộ đồ đó, người ta dệt bằng chỉ tơ mà tơ là do biết bao nhiêu nghìn triệu con tằm đã móc ruột làm tơ và phải chết. Thế nên lời phán dạy đầy từ bi nhơn ái phát ra từ kim khẩu của Ngài: “Cô biết bộ đồ hàng nầy đã làm chết bao nhiêu con tằm không?” Đây là ngọc ngữ đáng cho ta ghi khắc để học hành đức độ cao cả mà “Dĩ đức hiếu sinh”, tương lai sẽ được hưởng quả trọn lành và an lạc.

Mẩu chuyện thứ 75

ÔNG THẦN KHÔNG TU ÔNG THẦN CŨNG CHẾT

Một hôm ông Nguyễn Giác Ngộ (*1) được lịnh Đức Thầy đòi đến Miền Đông dạy việc, khi ông mới vừa bước vào phòng khách, nghe Đức Thầy rầy ông Trần văn Soái tục gọi là Năm Lửa. Ông Năm Lửa đang ngồi dòm xuống, còn Đức Thầy đi tới đi lui trong phòng khách nói:

– Ai cho lịnh để chiến sĩ Ông làm bậy gây thiệt hại cho đồng bào ở Miền Tây?

Đức Thầy ngưng lại một lúc rồi nói tiếp:

– Tôi nói cho Ông biết ông Thần không tu ông Thần cũng chết, đừng nói người phàm. Đạo của tôi dạy chia làm sáu hạng mà không được hạng thứ sáu là tệ lắm!

Đồng thời Đức Thầy đếm trên đầu ngón tay:

– Phật, Thánh, Tiên, Thần, Tướng, Dân.

Thuật theo lời của ông Nguyễn Giác Ngộ

PHẦN NHẬN XÉT:

Hướng nhắm rốt ráo của đạo Phật là cắt đứt nẽo phiền trược khổ đau, đi đến nơi yên vui thoát khổ. Tuy nhiên, “Qui nguyên bổn vô nhị, phương tiện hữu đa môn”, thế nên sự khai minh chính giáo của Ngài tuy mục đích là đưa nhơn sanh đến chỗ cứu cánh giải thoát, nhưng với trình độ của chúng sanh trong thế kỷ 20 nầy bởi nghiệp chướng quá nặng nề nên Ngài tùy cơ hóa độ, mới chia ra nhiều hạng khác nhau. Đó là diệu dụng của bậc giác tha hóa chúng. Ngài đã từng phán dạy:

Sá chi kẻ ngu si khinh ngạo,

Vì trên đời nhiều hạng khác nhau.

(Bài Diệu Pháp Quang Minh)

Tuy có khác nhau về trình độ căn cơ nhưng Phật tính vẫn đồng, nên Ngài không nỡ bỏ rơi hạng người tình dầy nghiệp nặng. Cũng như bà mẹ đối với con, chẳng những bà mẹ ban tình thương cho đứa con khôn ngoan sáng suốt, mà cũng luôn thương yêu đứa xấu xí ngu đần. Nếu có bị tật nguyền thì mẹ cũng chẳng hề vì thế mà từ bỏ con mình, trái lại còn phải thương lo nhiều hơn đứa khôn ngoan giàu có.

Lòng từ của Đức Thầy đối với chúng ta cũng thế, nên Ngài mới chia ra nhiều bậc, nếu ai không đủ điều kiện tu tiến đến chỗ thành Tiên, đắc Phật thì họ cũng được sống đời Thượng Cổ (Thượng Nguơn) (*2) để giúp nước phò vua, hay là làm Dân Phật Quốc, rồi lần lần họ tiến lên đến mức giải thoát an vui.

Nhưng dù cho hạng thứ nhứt hay thứ chót cũng thế, tuy sự công dụng có khác nhưng các điều căn bản của đường lối Học Phật Tu Nhân, họ phải triệt để tuân hành, nghĩa là phải giữ tròn cấm giới, nói trọn điều lành, làm trọn việc chánh. Như anh tài xế lái xe trên quốc lộ, dù đi xa hay đi gần cũng phải giữ bên thuận, và nhắm thẳng theo quốc lộ mà chạy. Chớ không phải ỷ chạy đường gần rồi bỏ luật giao thông thì khó an toàn tánh mạng.

Tóm lại, bởi ông Năm Lửa là một chỉ huy của quân đội mà kỷ luật chẳng nghiêm minh nên mới bị Thầy rầy quở, và cho biết Đạo Ngài có sáu hạng, mà tu hạn chót tức là dân đời Thượng Cổ không được là dở! Lời minh huấn trên đây là một bài pháp lý tuyệt vời, đáng cho ta ghi nhớ mà hành y sẽ được phần thưởng xứng đáng vậy!

*1- Tướng Nguyễn Giác Ngộ lúc đó đang là chỉ huy trưởng Liên đội Nguyễn Trung Trực quân đội PGHH; còn tướng Trần văn Soái thì chỉ huy Chi đội lưu động đang đóng quân tại Hậu Giang. Cả hai là thuộc hạ tín cẩn, sát cạnh Đức Thầy, và cùng là tín đồ cao cấp trong Đạo.

*2- Nhân sinh quan của Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giaó Hòa Hảo: vũ trụ tuần hoàn theo Tam Nguơn, gồm Thượng Nguơn, Trung Nguơn, và Hạ Nguơn. Nay thuộc thời Hạ nguơn và sẽ lập lại Thượng nguơn. Đời Thượng nguơn sắp đến tốt đẹp như thời Thượng Cổ Nghiêu Thuấn thuở xưa. [xin đọc: Hạ nguơn nay đã hết đời. Thượng nguơn hồi phục là ngày an cư (Bài Thiên Lý Ca); Những mơ ước hồi qui Thượng cổ, Ta điên thuở Tam hoàng Thượng cổ (Bài Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ); Thuở xưa thời buổi Thuấn Nghiêu, Thái bình thịnh trị mến yêu khắng tình, Chớ đâu đồ thán sanh linh! (Bài Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)].

Mẩu chuyện thứ 76

HẾT ĐỜI HẠ NGUƠN

Vào cuối năm 1946, trong thời kỳ chống Pháp. Bấy giờ anh em chiến sĩ Miền Đông đến 6 giờ chiều mới dám ngồi lại nói chuyện cho khuây khỏa việc nhớ nhà. Lúc đó, Đức Thầy cũng vừa đi đến và ngồi chung với các anh em chiến sĩ. Anh Tâm hỏi Thầy:

– Bạch Thầy, trong Quyển (giảng ) thứ nhứt Thầy nói: “Hạ Nguơn nay đã hết đời”, vậy khi hết đời có những hiện tượng gì, xin Thầy dạy cho chúng con được biết?

Đức Thầy vui vẻ đáp:

– Thầy nói hết đời là hết đời bợn nhơ. Chừng hết đời bợn nhơ ấy, nó có những hiện tượng báo trước cho nhơn loại thấy, như bão lụt, động đất, chiến tranh, bịnh tật, đau đói làm cho nhơn loại trên quả địa cầu nầy chết chốc rất thê thảm không sao kể xiết! Đó là dấu hiệu hết đời Hạ Nguơn.

Đồng thời với tai họa khủng khiếp này nền văn minh khoa học cũng phát minh tột đỉnh để rồi bế tắc, như ngọn lửa phát cháy mạnh rồi tàn.

Ngưng một lúc Đức Thầy tiếp:

– Vậy ngoài bổn phận chống xâm lăng bảo vệ đất nước, các ông còn phải rán lo tu hành theo lời Thầy đã khuyên dạy. Vì có Tu mới được sống đời Thượng Nguơn Thánh Đức.

Thuật theo lời anh Tâm, một chiến sĩ kháng Pháp Miền Đông.

PHẦN NHẬN XÉT:

Lời tiên tri của Thầy quả thật không sai. Đọc qua Sấm giảng của Ngài viết vào năm 1939, khởi đầu của Quyển thứ nhứt Ngài đã tiên báo cho biết Hạ Nguơn nay đã hết đời, Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang. Nếu ai có để tâm theo dõi thì đều nhận ở sự biến chuyển bởi mở màn của Đệ nhị Thế chiến, nào giặc giã chết chóc, đói khổ, bịnh tật lạ kỳ, đổi dời gia cang vì chiến nạn v.v… Thế mà Ngài còn tiên tri là Đệ Tam Thế Chiến còn diễn ra thê thảm gắp mấy lần hơn của Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là điềm báo tận diệt của Lý Tam Nguơn. Thế nên, hiện nay từ quốc nội cho đến hải ngoại những bản tin động đất, bão lụt, bịnh tật, đói khổ không sao kể xiết. Đồng thời, các nhà văn minh khoa học phát minh tiến bộ một cách tuyệt đỉnh, và họ sáng chế ra nhiều thứ vũ khí tối tân đủ sức tiêu diệt loài người. Đó là điềm báo nhân loại đến thời kỳ trả quả.

Những lời tiên tri của Ngài giờ đây đã hiển bày tỏ rõ, đủ chứng minh là điềm báo sự tiêu diệt của buổi Hạ Nguơn. Nhưng rất may mắn cho ta là được Ngài lâm phàm dạy Đạo, chọn người chơn tu được trực vãng Tây Phương, hoặc sống còn ở Nguơn Thánh Đức. Thế nên, Ngài đã từ bi phán dạy:

Cầu cho già trẻ gái trai,

Rủ nhau niệm Phật liên đài ắt lên.

Thế gian ngay thảo đáp đền,

Ngày sau sẽ được chăn mền thơm tho.

(Bài Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)

Tóm lại những hiện tượng Ngài báo trước, nay đã có rõ ràng. Ta nên cố gắng tu, chớ có chần chờ e có ngày hối tiếc!

Mẩu chuyện thứ 77

QUA NĂM DÊ

Vào khoảng mùa Xuân năm Tân Tỵ 1941 Đức Thầy bị người Pháp an trí tại nhà thương Chợ Quán, Sài Gòn. Họ kiểm soát quá gắt gao, không cho tín đồ lui tới viếng thăm Ngài. Duy có Đức Ông, Hương chủ Cưu và một vài tín đồ khác, cứ mỗi tuần vào chiều thứ bảy mới được vào thăm trong vòng vài tiếng đồng hồ mà thôi.

Sau đó một thời gian, Đức Thầy cảm hóa được Bác Sĩ Trần văn Tâm, vị cai quản bịnh viện nầy, và thu phục được anh gác cửa bằng cách là dùng chai nước lạnh để trị bịnh mù mắt cho mẹ anh được sáng lại. Nhờ vậy, mà từ đó anh em tín đồ đến thăm Đức Thầy mới được dễ dàng.

Một hôm ông chủ Cưu (*3) đang tiếp chuyện với một ít đồng đạo tại cửa, còn Đức Thầy thì nằm nghỉ nơi gian phòng phía trong. Bấy giờ quí vị ấy cùng ông chủ Cưu bàn qua việc tu hành, lần lượt họ đưa ra hai câu giảng:

Qua năm Dê đến lúc mùa hè,

Trong bá tánh biết ai hữu chí.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Rồi họ hỏi ông chủ hai câu ấy ý nghĩa như thế nào. Ông chủ Cưu giải thích cho quí vị ấy nghe và nói hơi lớn tiếng: “Nếu đến mùa hè năm Dê mà không có chuyện gì hết thì tôi không tu nữa”. Bỗng Đức Thầy bước đến lưng ông Cưu, vỗ vai ông mà nói:

– Sao ông Cưu nói kỳ vậy, tu là tu, thời cuộc là thời cuộc. Chớ đâu phải vì thời cuộc mà mình mới tu.

Tiếng chuông cảnh tỉnh ấy làm ông chủ giật mình và hối tiếc vì lời mình đã nói ra.

Viết theo lời ông Lâm Thơ Cưu.

PHẦN NHẬN XÉT:

Mục đích của người tu Phật là cắt đứt sự sanh tử phiền trược khổ đau để đến nơi an vui thoát khổ. Thế nên hành giả phải trau tâm sửa tánh, chỉ ác dương thiện, (*4) diệt sạch lòng tà, chuyên tâm niệm Phật, như câu:

Trau tâm luyện tánh cho minh,

Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.

(Khuyến Thiện)

Và sự đầu tiên của người hành đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đổ những tư tưởng xấu xa, đem thay vào tư tưởng ôn hòa đạo đức. Nhưng vì chúng sanh bị vô minh che kín chơn tâm, nên nhận giả làm thiệt, cứ để cho lợi danh tình ái làm mờ đục tánh giác ngộ của mình. Thế nên, muốn phá lớp mây mù ấy, Ngài phải hé lộ chút cơ huyền cho chúng sanh thấy biết được cơ tận diệt gần kề, màn Hạ nguơn sắp sửa mãn để quay về với thực tế mà dứt đi cái giả ảo, để rồi:

Sớm về cõi Phật an thân,

Kẻo kiếp phong trần dày gió dạn sương.

(Khuyến Thiện)

Thế mà chúng sanh cứ chấp tới đời mới tu, nên ông chủ Cưu đã hai lần được Đức Thầy thức tỉnh.

Chẳng những riêng ông chủ Cưu mà cũng có nhiều người cứ chấp đời tới mới là tu. Thật ra, nếu tu mà cứ chú trọng về thời cuộc thì khó mà bền vững sự tu hành. Bởi thiên cơ là máy trời, theo lời Đức Giáo Chủ cho biết nó đến mau hay chậm là do ở nhân nghiệp của chúng sanh, nhưng dù sớm hay chầy thì ta cũng nên nhớ là tử thần cũng không dung vị cho bất cứ một ai, và luật nhân quả rất công bình không thiên lệch. Như vậy, nếu không tu tức là ta đã gieo nhiều nhân tội ác và phải lấy cái quả bất lành ở mai hậu.

Kinh Phật có dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Mà có được thân người và gặp được Phật pháp là cơ hội ngàn năm một thuở. Thế nên Đức Thầy dạy ông chủ Cưu mà cũng là dạy chung cho tất cả tín đồ qua mấy câu ngọc ngữ nầy. Ngài bảo:

“Sao ông Cưu nói kỳ vậy, tu là tu, thời cuộc là thời cuộc. Chớ đâu phải vì thời cuộc mà mình mới tu.”

Câu kim ngôn trên đây có một giá trị tuyệt đối, nhắc ta hãy sáng suốt mà tu vì chơn lý, chớ không nên tu vì thời cuộc, để khỏi phải hối tiếc về sau. Chớ nếu cứ chờ đợi thời cuộc mà mình không đủ đức hạnh thì cũng lãnh lấy cái đại khổ cho ta, chớ có ích gì.

*3- Chủ Cưu: Gọi tắt tên Ông Hương chủ Lâm Thơ Cưu.

Hương Chủ là hương chức thứ hai trong Ban hội tề (gồm Hương Cả, Hương Chủ, Hương Thân, Hương Hào. . ) ở làng xã nước ta vào thời Pháp thuộc.

*4- Có ý nói: Thôi, dừng lại, không làm việc ác nữa và việc song hành đó là dung dưỡng điều thiện. Tức “Bỏ ác hành thiện”.

Mẩu chuyện thứ 78

KHÔNG DÈ

Năm Quí Mùi 1943, một hôm Đức Thầy hỏi chư tín đồ câu nầy:

– Phải tu như con rùa hay tu như con cua đinh?

Ai nấy đều nói: Phải tu như con rùa! Vì xưa nay người ta vẫn cho rằng con rùa biết tu, chớ không (nghe) ai nói con cua đinh biết tu.

Nhưng Ngài nói:

Phải tu như con cua đinh vì nó có vè, chớ con rùa không có vè (*5)

Ý Ngài muốn nói người tu phải có sự “dè dặt”, và không nên không dè (dặt) đối với mọi người mọi việc.

Lúc Đức Thầy ở Sai gòn gần sở hiến binh Nhựt có vài tín đồ ỷ lại vào sự che chở của quân Phù tang, nên dường như không dè dặt trong mọi hành động. Đức Thầy nói:

– Hễ ỷ thì ướt; ỷ lại thì mang tai!

Thuật theo Thất Sơn mầu nhiệm

PHẦN NHẬN XÉT:

Hai chữ “không dè” tuy ngắn gọn, nhưng xưa nay không biết bao người phải thảm khổ đảo điên, nước mắt họ chảy ra để khóc cho mình, cho người thân, không sao kể xiết bởi họ không có được “cái dè”.

Đối với Đức Thầy thì Ngài đã quán thông mọi lẽ, thấu triệt huyền cơ, nên mới mượn câu chuyện của con rùa và cua đinh. Chuyện nầy mới nghe qua như nửa đùa nửa thật, nhưng đó quả là lời thuyết pháp của Đấng cha lành, có một giá trị tuyệt đối. Bởi thời nay người Nhựt đang có mặt tại Việt Nam họ hết lòng quí trọng Đức Thầy và ưu đãi tín đồ của Ngài. Thế nên, có nhiều người cứ ngỡ là thời thế không đổi thay, nên không dè dặt. Riêng đối với Đức Thầy thì Ngài đã biết trước là người Nhựt không thể tồn tại trên mãnh đất Việt Nam nên Ngài muốn cho tín đồ phải dè dặt trên phương diện đối ngoại, đừng ỷ lại vào sự che chở của quân đội Phù tang. Đồng thời, phải dè dặt mọi vấn đề để khỏi rước lấy tai họa do sự hối tiếc về sau. Về điểm nầy Ngài đã dạy:

Tất cả các hành động trong Đạo hay ngoài đời, trước khi làm điều gì phải tính toán một cách cẩn thận, đừng làm chuyện ngông cuồng vô ý thức. Một đừng ỷ lại vào kẻ mạnh; hai đừng ỷ lại vào sự cứu vớt của Thần Thánh; ba đừng ỷ lại sự binh vực của Thầy mình. Luôn luôn lúc nào cũng phải nhớ câu Nhân Quả của Phật dạy, nếu Nhân toàn thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy. Kẻ nào hành động ngông cuồng, không suy xét cẩn thận để đến đỗi thất bại đem đến sự khó khăn, khổ não, rồi trách cứ kẻ mạnh sao không cứu mình, Thầy sao không giúp mình, Trời Phật sao không độ mình, thì sự lầm lạc ấy rất đáng thương hại.

(Cách thờ phượng, hành lễ, và ăn ở của một người tín đồ PGHH)

Chẳng những dè dặt về sự người Nhựt có mặt trên bán đảo Đông Dương, mà còn phải dè dặt mọi vấn đề trên phương diện xử thế tiếp vật. Chẳng những phải dè dặt mà còn phải nắm chặt giáo lý của Tổ Thầy, nhứt là phải dè dặt để khỏi bị lầm lạc tà Đạo:

Trí linh mẫn nhìn xem các chuyện,

Phải đừng cho lầm lạc nẻo tà.

Dầu việc người hay việc của ta,

Nên phán đoán cho tường cho tận.

Tội với phước xét coi nhiều bận,

Mới khỏi lầm tà kiến đem vào.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Nếu ta không lấy trí sáng suốt mà nhận định tinh tường sau nầy ta sẽ hối tiếc bởi không dè. Không dè Thầy ta là Phật, nên khi Ngài xa vắng ai rủ rồi cũng theo. Bởi sự vắng mặt quá lâu của Ngài nên có người ngỡ là Ngài không trở lại, rồi mặc tình lung lăng theo sở dục,. Đến khi gặp khổ thì mới hối tiếc bởi “không dè”. Vậy ta nên nhớ muôn sự thất bại cũng tại “không dè”. Thế nên ở đời có vô số cái “không dè” nên phải rước lấy khổ đau.

Lúc ở Sài Gòn, có lần Thầy nói với ông Cả Hốt sau nầy Thầy sẽ có một diệu pháp để thử lòng đệ tử. Diệu pháp đó chắc chắn là Ngài áp dụng lúc nầy. Điểm nầy Thầy đã có nhiều lần thố lộ cho ta biết. Thế mà có nhiều người lại không dè sự thử lòng đó, lại để cho danh-lợi-tình lôi cuốn vào bể khổ thật đáng tiếc vô cùng!

*5- Vè trong “có vè” và Dè trong “dè dặt” là hai chữ đồng âm (phát âm theo người Miền Nam) dị tự. Sử dụng phép “đồng âm dị tự” là một nghệ thuật ngôn ngữ “mượn Sự để diễn Lý”.

Mẩu chuyện thứ 79

ĐỨC THẦY ĐỘ THẦY KIỆN DẬU (*6)

Năm Canh Thìn 1940, lúc người Pháp dời Thầy về làng Nhơn Nghĩa Cần Thơ lưu trú tại nhà ông Hương bộ Võ Mậu Thạnh ở rạch So Đũa. Nơi đây, xưa kia là một vùng dân cư còn thưa thớt thì nay lại đông đúc. Ghe xuồng đổ xô lại nhà ông Hương bộ. Lúc nào người ta cũng lại tấp nập, kẻ nhờ Ngài cho thuốc cho bùa để trị bịnh, người đến nghe thuyết pháp và phát nguyện qui y.

Lúc ấy cô giáo Sang, vợ ông thầy kiện Dậu, đang mắc bịnh phổi khá nặng, đã chạy chữa khắp nơi mà không thuyên giảm chút nào. Về thấy bịnh vợ quá nặng, nên ông luật sư Mai văn Dậu mới chở bà qua Pháp để chữa bịnh. Nhưng ông lại thất vọng, vì 6 ông bác sĩ ở Pháp cũng không trị được hết bịnh của vợ ông. Lúc bấy giờ bà mới bàn với chồng: “Thôi ông đem tôi về nước đi. Bịnh tôi chắc phải chết, chớ không thể sống được. Thà về chết tại nhà để cho có đủ thân bằng quyến thuộc. Chớ tôi không thể nào mạnh nổi đâu ông à!”

Thế là ông thầy kiện Dậu đưa vợ về nhà. Bấy giờ bà con lối xóm đến thăm, thấy bịnh bà quá nặng. Có người chỉ ở nhà ông Bộ Thạnh ở Xà No có ông Đạo linh lắm. Từ khi xuống đây tới giờ, Ông Tư đã cứu biết bao nhiêu người được khỏi chết. Có nhiều bịnh bác sĩ Đông Tây đều bó tay, nhưng đem đến Ông Tư thì khỏi bịnh một cách dễ dàng. Ban đầu cô giáo Sang chưa tin, nhưng rồi cô được nhiều người điềm chỉ quá, nên cô quyết đến để nhờ Thầy trị bịnh. Nhưng biết ý chồng mình không bao giờ tin tưởng và đồng ý cho mình đi đến mấy ông Đạo mà trị bịnh bao giờ. Vì theo ông thì chỉ tin theo khoa học là tuyệt đối, còn về thần quyền thì ông không thể tin có được.

Thế nên thừa lúc ông đi vắng, bà mới kêu gia nhơn đưa bà đi Xà No để gặp Đức Thầy.

Đi đến nơi. Họ bồng bà lên đặt tại bộ ván, bà chỉ còn một hơi thở yếu ớt. Người ta nhờ Thầy trị bịnh. Thầy bảo:

– Ở Pháp 6 ông bác sĩ đã chạy rồi, bây giờ tôi đâu có thuốc gì mà nhờ tôi trị.

Nói thế nhưng Ngài cũng từ bi vào trong múc một ly nước lạnh đem trao cho cô giáo Sang và bảo:

– Cô hãy uống 1/4 ly nước nầy đi, còn bao nhiêu đem về uống thêm thì hết, chớ không sao đâu.

Cô giáo Sang tiếp ly nước, uống xong cô thấy trong người khỏe mạnh rất nhiều. Cô mừng rỡ tạ ơn Thầy, rồi tự đi xuống thuyền, chớ không phải bồng ẫm như khi nãy.

Khi được mạnh hẳn, bà mới kể lại chuyện nầy cho ông thầy kiện nghe. Chẳng những ông không tin mà còn bài bác nữa. Mẹ ông nói: “Ông Tư hòa Hảo là vị Phật lâm phàm để cứu dân độ thế, con không nên bài bác mà có lỗi với bề trên, hãy nghe lời mẹ đến đó để tạ ơn Ngài, vì Ngài đã cứu tử cho vợ của con.”

Để tỏ ra người biết phải trái nghĩa nhân, ông thầy kiện không dám cãi mẹ. Hôm sau cho người chèo thuyền đưa ông đi đến gặp Đức Thầy. Đúng ý của ông thầy kiện là ngoài chuyện vừa lòng mẹ mình ông muốn biết rõ coi ông Đạo nầy đức độ ra sao mà người người đến tấp nập để qui y và không tiếc lời ca tụng.

Trước khi đi, ông đã viết sẵn một bài thơ để bài bác Đức Thầy, khi xuống ghe ông đọc đi đọc lại cho thuộc lòng, rồi bật hột quẹt đốt bài thơ ấy, vói ra cửa bỏ tàn xuống sông.

Khi đến nơi, Thầy nhìn ông thầy kiện cười và nói rằng:

– Trước khi đi đến đây ông có viết bài thi cho tôi.

Vừa nói Ngài vừa đưa bài thi cho ông thầy kiện xem và hỏi:

– Ông nhìn coi có phải là bài thi của ông không?

Ông Dậu tái mặt, vì bài thi đó ông đã đốt và bỏ xuống sông khi nãy, mà nay bài thi nầy trong tay của Thầy. Quả thật không sai, chính dòng chữ và lời văn của mình. Vì quá kính phục Đức Thầy, nên sau khi nghe pháp ông thầy kiện Dậu liền phát nguyện qui y.

Viết theo lời ông Trần Minh Quang.

PHẦN NHẬN XÉT:

Chẳng những một cô giáo Sang được Đức Thầy cứu khỏi bịnh ngặt mà cả hàng ngàn hàng vạn người được Ngài cứu khỏi mà phát nguyện qui y. Bởi căn cơ của chúng sanh, sanh ở vào thời Hạ nguơn nầy phần nhiều là kẻ nghiệp nặng tình sâu, thế nên phương tiện của Ngài phải tùy cơ mà hóa độ.Tuy có phải dùng “Tam độ Nhứt như”, nhưng mục đích chánh của Ngài là:

Dìu nhơn sanh khỏi chốn mê lầm,

Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới.

Ông thầy kiện Dậu cũng như những học giả khác, bởi ỷ vào sự học rộng hiểu nhiều của mình nên cái tự ngã quá nặng. Dưới mắt của ông là không ai có thể hơn mình. Nên dù vợ ông đã được Ngài cứu khỏi bịnh nan y, thế mà, thay vì sự biết ơn ông lại còn làm thi để tỏ ra kiêu ngạo. Trường hợp này, nếu Đức Thầy không cho ông thấy được lẽ diệu huyền của Phật pháp thì khó diệt được tánh kiêu ngạo của ông Dậu. Thật Ngài quả là một bậc đại giác nên rất tự tại trên phương diện hóa chúng độ tha.

Câu chuyện trên cho ta thấy tài phương tiện khéo léo của Đấng cha lành đã từ bi tế độ hết các bậc, dù sang hèn, ngu trí, nếu chịu hồi tâm thì được Ngài dìu đến bờ an lạc.

*6- Thầy Kiện Dậu: Tức ông Luật Sư Mai văn Dậu, người quê Long Xuyên, du học Pháp đỗ bằng Cử nhân luật, 1940 qui y theo PGHH, theo hoạt động với Đức Thầy và được cử làm Chánh văn phòng. Năm 1947 đại diện PGHH trong Ban Hòa giải “xô xát” giữa PGHH với Việt minh ở Miền Tây. Ông có mặt tại Đốc vàng ngày 16-4-1947 khi Đức Thầy bị Bửu Vinh (VM) ám hại tại đây. Về già, ông về Ô Môn cất am chuyên lo tu hành cho đến chết.

Mẩu chuyện thứ 80

KHÔNG BIẾT THÌ KHÔNG DÙNG

Năm Bính Tuất 1946, tôi Lâm Thành Tư tức Tư Thuốc được lịnh của ông Trần văn Soái, chỉ huy Vệ Quốc Đoàn Bộ đội Nguyễn Trung Trực số 1, bảo phải đích thân ra chiến khu Miền Đông để yết kiến Đức Thầy và dâng nhiều thư từ báo cáo về tình hình chiến sự Miền Tây cho Ngài.

Đến nơi, Sau khi làm bổn phận một trưởng ban dọ thám, nhiệm vụ của tôi đứng nép một bên kính cẩn chờ Thầy xem qua giấy tờ. Khi xem tờ giấy phúc trình của ông trần văn Soái, thấy có đoạn đề nghị ông Nguyễn Khoan Dùng tục gọi là cậu hai Dùng, làm chức thanh tra quân đội Nguyễn Trung Trực, Ngài nghiêm túc nói:

– Trong hàng tín đồ của tôi không có ông cậu và ông đạo. Ông Hai Dùng không hiểu quân sự, không dùng được!

Tôi cúi đầu vâng lịnh và tâm niệm từng lời để rồi khi trở về khu chiến Miền Tây nói rõ cho ông Trần văn Soái nghe.

Thuật theo lời ông Lâm Thành Tư.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đọc chuyện trên, ta thấy Đức Thầy khéo dạy ông Năm Lửa không biết rõ thì chẳng nên dùng. Bởi vì, người trí lúc nào cũng phải sáng suốt, chánh kiến, nhận định mọi việc rõ ràng để khỏi phải chuốc lấy hậu quả khốc hại về sau.

Điểm thừ hai là Ngài dạy: Đạo của ngài không có ông cậu và ông đạo! Thật vậy, danh từ ông cậu hay ông đạo là để dành cho những người tu theo lối mê tín, dị đoan, như thượng xác cỡi đồng, để lừa bịp những người nhẹ dạ non lòng. Đức Tôn Sư của chúng ta biết rõ sau này sẽ có rất nhiều người tự xưng mình là Hòa Hảo, đệ tử sớ 1, số 2,. . .vv rồi vịnh vào giáo lý của Đức Thầy mà viết ra thi bài cho là giảng kệ. Khiến cho những người có tâm mà thiếu trí chạy theo mà tôn ti cho là Bồ tát lâm phàm hay là người tu đã chứng đắc. Bởi quá tin tưởng nên không cần tìm hiểu giả chơn, có khi họ nói trái lại chơn lý rồi cho là phá chấp hay vô tướng. Rồi lại có người ở phương xa gởi sách vở hoặc băng mà nói rằng: “Không cần tu, không cần hành, đến khi lâm chung niệm đến danh hiệu người đó thì sẽ được người đó cứu độ”. Thế mà cũng có người tin theo. Chớ thật ra mình ăn mình mới no, mình tu mình mới đắc!

Lại có người có tâm nhưng thiếu trí nên thấy ai viết văn thơ thi bài thì chạy theo học hỏi, rồi còn khuyến dụ nhiều người non dạ chạy theo mình nữa. Thật là như kẻ cùng tử trong chéo áo có hạt ngọc mà không hay để đi xin của người cho cực khổ. Trong nhà có gỗ quí mà không biết xài, đem vứt bỏ đàng sau để chạy bôn ba tìm kiếm, để gặp khúc gòn sơn bóng rồi cho là gỗ quí. Thật là lầm thay! Thật là tiếc thay!

Vậy chúng ta ai là người trí, ngoan, và sáng thì chúng ta hãy rán học hỏi cho kỹ, nghĩ cho sâu, và hành đạo đúng theo giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Cũng như chúng ta vượt đại dương mà lúc nào cũng phải trông vào hải bàn để khỏi bị lạc hướng, do đó chúng ta phải luôn nhớ đến lời Đức Thầy chỉ dạy:

Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,

Đừng để lầm thợ khéo sơn da.

Thì sau nầy đến lúc phong ba,

Dông gió lớn cột kèo khỏi gẫy.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Hay là:

Làm theo lời chỉ ngày rày gặp Ta.

(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

Để chúng ta có đủ cơ duyên, phước đức và công đức mà diện kiến Đức Tôn Sư trong ngày Long Hoa Đại Hội.

Mẩu chuyện thứ 81

PHẬT CHỈ DỤNG LÒNG

Vào một buổi sáng đẹp trời tại thôn Mỹ An Hưng, nhiều chiếc bàn hương án được đặt trước sân nhà. Ngoài đường người người đều khăn áo chỉnh tề, họ lũ lượt kéo đến sân vận động Mỹ An Hưng để tiếp rước Đức Thầy và nghe Ngài thuyết pháp.

Diễn đàn được dựng lộ thiên, có nhiều biểu ngữ tung hô chào đón. Tại diễn đàn được trang trí bằng những loại hoa tươi đẹp ngát hương. Hôm nay người ta chuẩn bị cuộc lễ tiếp rước Đức Huỳnh Giáo Chủ để thuyết pháp. Quần chúng mỗi lúc mỗi đông, họ khao khát được diện kiến Đức Tôn Sư cho thỏa lòng mong đợi và được nghe lời vàng ngọc để lãnh giáo mà tu hành.

Lúc đó cũng có ông Xiếu ở Đất Sét, anh nầy nghèo nàn, nhưng rất chí hiếu với cha mẹ và có nhiều đức tánh hiền hòa phúc hậu. Bởi phận nghèo phải đạp xe lôi mà độ nhựt.

Sáng nay, anh cũng chạy đi kiếm bông để cúng dường trong pháp hội hôm nay. Nhưng gặp phải mùa nắng gắt, cây cối khô cằn, nên anh chạy mãi không có bông gì khác hơn. Anh Xiếu chỉ thỉnh được một nắm bông điệp nên hối hả chạy tới nơi thì bông đã héo. Anh lập tức dâng lên cho ban khánh tiết. Các anh em thấy bó hoa đơn sơ nên họ ngắm nghía rồi đút dưới diễn đàn; bởi bình hoa của ban khánh tiết đã cắm toàn là hoa thơm đắt giá, xinh đẹp lạ thường, nên quí ông không muốn cắm bông điệp của anh Xiếu vào, sợ làm mất đi vẻ thẩm mỹ.

Chập sau một chiếc xe màu dà đưa Đức Thầy đến, mọi người đều nghiêm nghị cúi chào, được Ngài từ bi đáp lễ. Bước lên diễn đàn thuyết pháp với giọng nói thanh ấm dịu dàng hấp dẫn, và lời lẽ ôn hòa lưu loát, khiến thính giả các giới đều được tiếp thu lãnh hội mà giác ngộ tu hành. Với biệt tài thuyết pháp của Đức Thầy dù là học giả, văn gia, cũng phải nhận Ngài là bậc bác cổ thông kim, kỳ tài hy hữu.

Thuyết xong, Ngài cúi chào thính giả sắp sửa xuống diễn đàn, bỗng như nhớ một điều gì. Ngài quay lại, vói tay xuống dưới diễn đàn lấy nắm bông điệp đã héo, đưa cao lên và nói lớn:

– Nắm bông nầy tuy đơn sơ nhưng rất quí!

Rồi Ngài cầm luôn nắm bông ấy lên xe đi thẳng về nhà ông Huỳnh Chánh Đại là nơi Ngài tạm trú hôm ấy. Còn mọi người thì xôn xao bàn tán, họ tìm hiểu coi người dâng bông ấy là ai mà được diễm phúc như thế nầy. Riêng các đồng đạo trách nhiệm ban khánh tiết thì rất hối hận, bởi mình chỉ nhìn mọi vật với hình thức bên ngoài chớ không ngờ Phật chỉ dụng lòng mà thôi.

Thuật theo lời ông Huỳnh Thiện Nhã.

PHẦN NHẬN XÉT:

Chúng sanh và Phật đều có Phật tính như nhau, nhưng sở dĩ Phật được chúng sanh sùng bái là bởi Phật đã hoàn toàn giác ngộ nên tâm luôn được thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh, bình đẳng mới thấy biết được sự thật của vũ trụ vạn hữu mà nhận định không sai.. Còn chúng sanh bởi vô minh che lấp nên cứ nhận giả làm chơn, rồi ôm lấy sự sai lầm cho là sự thật.

Đức Thầy chúng ta là Phật lâm phàm nên suốt thông mọi lẽ. Trường hợp anh Xiếu là một người con rất chí hiếu với mẹ, lại là con người có bản tính chất phát hiền lương, nên đối với người chung quanh anh được rất nhiều người yêu mến.

Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là một Đạo nhập thế, lấy Tứ Ân làm nồng cốt. Mà Tứ Ân thì Ân Tổ tiên cha mẹ lại được đặt ở hàng đầu. Thế nên, người có hiếu chẳng những được Đức Phật ngợi khen, Thánh nhân ca tụng, mà nay Thầy ta cũng không ngớt lời dạy ta lấy hiếu hạnh làm đầu. Ngài viết:

Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên”.

Và:

Phải gìn chữ hiếu phục tùng song thân.

Hay là:

Ở cho biết nhượng biết tùy,

Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.

Thế thì anh Xiếu đã được đứng hàng đầu của Đạo nhân luân!

Chẳng thế mà anh lại có một tấm lòng thành kính thiết tha với Đạo Phật. Tuy thân phận nghèo phải vất vả với cuộc sống, đem mồ hôi đổi lấy manh áo bát cơm. Thế mà vì lòng quá kính mộ Phật pháp nên phải chạy tất tả đi kiếm bông về cúng dường cho Phật. Đối với lòng thành của một người hiếu hiền và thành tâm trọng pháp nên được Đức Thầy chứng cho anh. Một nắm bông héo tuy không quí nhưng quí ở tấm lòng thành. Ngài đã không cần lễ vật chi chi mà chỉ ở chỗ tín thành của đệ tử. Điểm nầy Ngài đã từng phán dạy:

Đến với Ta chớ đem đồ cúng,

Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.

Chẳng có cần trà quả hương nồng,

Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Câu chuyện Ngài chứng nắm bông của anh Xiếu, cũng như ngày xưa Đức Thế Tôn đã từ bi chứng và thọ ký cho một bà lão ăn xin có lòng thành mua một ít dầu cúng Phật. Với câu chuyện của Đàn Nị Già cúng chăn, và cụ lão nghèo chỉ cúng Phật có 7 hạt đậu, thế mà đều được Đức Phật chứng và thọ ký. Bởi vì:

Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,

Chớ nào dụng hương đăng trà quả.

(Sấm Giảng Quyển 4)

Và Ngài còn từ bi phán dạy ta rất rạch ròi, như là:

“Ta hãy đem đức tin trong sạch mà thờ kính Phật và hãy đem lòng lành mà hành động theo lời phán dạy của Phật.” (Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ)

Tóm lại, hiếu thảo và lòng thành là quí hơn tất cả. Dù ta có cúng dường chư Phật bằng trân châu báu ngọc cũng không bằng đem lòng thành mà hành y theo lời từ huấn của Đức Tôn Sư. Chúng ta là người học Đạo rán giữ cho được lòng thành.

Mẩu chuyện thứ 82

KHÔNG HỌC MÀ THÔNG

Năm Kỷ Mão 1939. Một hôm Đức Giáo Chủ thuyết pháp bỗng có hai ông khách vào nhà, dáng điệu trí thức, cử chỉ lịch thiệp nhanh nhẹ. Sau khi nói xong thời pháp, Đức Thầy ôn tồn hỏi:

– Xin hai ông cho biết phương danh và đến với tôi có việc chi?

Một trong hai ông khách đáp:

– Chúng tôi là người mộ đạo, chuyên nghiên cứu về các đạo trên thế giới, nên đến đây xin được hỏi nhờ ông cho biết ông tu theo đạo nào?

Đức Giáo Chủ đáp:

– Tôi đạo Phật.

Ông khách tiếp:

– Thầy thọ giáo với ai và học những kinh nào trong Tam Tạng Giáo điển, và tài học của thầy đến bậc nào?

Đức Thầy trả lời:

– Tôi không thọ giáo với ai, cũng không học kinh luật nào, còn sức học ngoài đời tôi chỉ học đến bậc tiểu học.

Ông khách hỏi thêm;

– Thầy không thọ giáo với ai, không học kinh luật nào, tài học cũng không cao, làm sao thầy truyền giáo phổ thông đạo đức được?

Đức Thầy đáp:

– Tôi hàng tiến hóa, Tôi đây có tâm Phật.

Nói đến đây Đức Thầy để bàn tay trên ngực, đoạn đưa ra, rồi tiếp:

– Toàn thể chúng sanh đều có Phật tánh; sáng suốt là Phật; mê muội là chúng sanh.

Nói xong Đức Giáo Chủ hỏi lại hai ông khách:

– Hai ông hỏi tôi học kinh luật nào, xin ông cho biết Đức Thích Ca Mâu Ni xưa học với ai? Nếu không phải là bậc tiến hóa sáng suốt tự tìm đạo để hiến cho trần thế?

Thính giả đến mỗi lúc mỗi đông. Tất cả lắng lặng theo dõi cuộc đối đáp. Ông khách thứ hai nãy giờ ngồi yên, bây giờ hỏi:

– Thầy truyền đạo dạy dỗ chúng sanh, nếu chúng sanh không nghe theo mà còn làm điều tội lỗi thì thầy có làm như Đức Chúa Giê Su không? Dạy mà chúng sanh không nghe, cứ làm điều tội lỗi nên phải chịu gia hình nơi Thánh giá để chuộc tội cho chúng sanh?

Đức Giáo Chủ hỏi vặn lại:

– Đức Giê Su ở ngôi vị cấp bậc nào?

Ông khách đáp:

– Ngài sáng lập tôn giáo độc thần: Chủ trương có bậc chí tôn là Chúa Trời do Giê Su khởi xướng.

Đức Giáo Chủ hỏi:

– Nếu Ngài là chí tôn, tha tội cho chúng sanh cũng bởi Ngài, thì Ngài chịu gia hình nơi Thánh giá thế tội cho chúng sanh, là tội với ai?

Hai ông khách không đáp, còn Đức Giáo Chủ tiếp tục giảng kinh!

Thuật theo tài liệu của ông Trần văn Tiên.

PHẦN NHẬN XÉT:

Thế thường người ta chuyên việc làm nào thì rành rẽ về việc đó. Sự học cũng thế, nếu để tâm nghiên cứu về sự học môn nào thì thông rành môn ấy. Thế nên ông khách hỏi Ngài học kinh luật nào và trình độ học vấn của trường đời đến đâu. Qua câu trả lời gãy gọn của Ngài làm ông khách không thỏa mãn. Bởi theo ông, là người đứng ra lãnh đạo một tôn giáo như Ngài, ít nhứt phải tài học hơn người và thông rành ba tạng giáo điển.

Thật ra, đó là ông khách hiểu theo lẽ thường của kẻ thế trí biện thông. Bởi hạng nầy có học mới có biết, còn trường hợp của Ngài thì “Bất học nhi tri” quán thông mọi lẽ, thấu triệt cơ huyền; tức là bậc toàn giác toàn năng thì đâu thể đem cái sở học tầm thường của hàng hữu học mà so bì cho được! Đành thế, Ngài vẫn khiêm nhường, chớ không tự khoe khoan, nên ôn tồn đáp: “Tôi là hàng đã tiến hóa” và nhờ khách cho biết là “Đức Thích Ca học với ai?”, khiến ông khách không thể trả lời được. Bởi, nếu căn cứ vào sự học mới có biết thì Đức Thế Tôn có học với ai đâu!

Đến ông khách thứ hai, hỏi về sự dạy đời không được có chịu khổ thế cho chúng sanh như Đức Chúa không: Ngài hỏi vặn lại để làm sáng tỏ vấn đề. Bởi khách cho rằng, Chúa giăng tay trên Thánh giá là chịu thế tội cho chúng sanh. Nhưng Ngài là độc thần giáo: Chúa Trời là đấng chí tôn thì Ngài chịu tội với ai? Và nếu chịu hết tội sao chúng sanh vẫn còn khổ?

Thật ra, thuyết ấy chỉ là huyền thuyết về Chúa mà thôi. Bởi căn cứ theo luật nhân quả thì chưởng hoa huờn đắc hoa; chưởng đậu huờn đắc đậu, và “Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy” thì dù cha mẹ cũng không chịu thế tội được cho con. Nếu thế được, thì chư Phật, chư Bồ Tát, đâu để cho chúng sanh chịu khổ bao giờ, vì bản nguyện của các Ngài là “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận, viên chứng Bồ đề” kia mà! Như Ngài Địa Tạng dù quá thương chúng sanh phải chịu khổ nhọc nơi địa ngục, ngài phải đành trụ ở địa ngục để độ sanh, nhưng cũng chỉ thuyết pháp cho họ nghe để họ giác ngộ mà sám hối mới ra khỏi địa ngục; chớ cũng không hề chịu tội thế cho một ai bao giờ.

Thế nên, các câu hỏi của hai ông khách đưa ra đó, chỉ là một sự nhận định của kẻ phàm tình, thì dù có đa văn quảng kiến đến đâu cũng không thấu triệt được ý nghĩa thanh cao của người đã hoàn toàn thoát tục.

Đọc câu chuyện trên, ta nên lấy đó làm kinh nghiệm: Mỗi khi muốn biện bác một việc gì ta cũng nên chánh kiến và khách quan mà nhận định, không nên dựa vào sở học của mình mà nhận xét một cách qua loa, không tế nhị, để phải khuất lý như hai ông khách đã nêu trên.

Mẩu chuyện thứ 83

CHÍ THANH CAO

Tại Sài Gòn đêm mùng 4 tháng 8 năm Aát Dậu 1945 (Tức 9-9-45 dl), bọn độc tài ra lịnh cho thuộc hạ đến bao vây văn phòng Đức Thầy lúc đó đặt tại số 8 đường Sohier. Để cho được chu đáo trong âm mưu vây bắt Đức Thầy, chúng đã gọi điện thoại nói chuyện với Ngài, để biết chắc Ngài còn ở đó. Chúng còn sai thuộc hạ, một nhân viên thân tín chỉ huy cuộc bao vây này. Bấy giờ sau bữa cơm tối hơn một giờ. Họ chia thành nhiều toán, bao vây khắp từ ngoài đến trong, nhưng khi họ lục soát thì không thấy Đức Thầy đâu cả. Những anh em phòng vệ đều bị bắt, chung quanh văn phòng Đức Thầy thì không còn nẻo nào thoát được. Còn phía sau nhà thì tường cao chắn bít, và là nhà ở của kẻ không quen.

Bữa sau, tên thuộc hạ đến lục soát ngôi nhà của một tín đồ PGHH ở cách đó một con đường, vì nghe Đức Thầy thoát thân đến trọ, nhưng không thấy gì.

Bữa sau nữa. Chúng được tin Đức Thầy cải trang thành một phụ nữ sang trọng, ngồi trên xe du lịch đi trên công lộ Sài Gòn, Họ tích cực gạn xét trên các trục lộ giao thông, nhưng cũng không tìm thấy Đức Thầy đâu cả! Khác nào cánh chim bạt gió, biết đâu mà tìm!

Trong lúc bọn chúng tung ra những luận điệu xuyên tạc tuyên truyền phao vu cho Đức Thầy để giam cầm sát hại tín đồ của Ngài, thì Đức Thầy từ Sài Gòn đi Gia Định, rồi đến lánh nạn ở Biên hòa. Sau đó Ngài di chuyển đến Long Thành, vào trú trong một vườn trà quế giữa rừng, Ngài than:

Gió hiu hắt bên rừng quạnh quẽ,

Nhìn non sông đượm vẻ tang thương.

Mối tình chủng loại vấn vương!

(Bài Tự Thán)

Tại đây, bọn thanh niên Tiền phong địa phương tình nghi cho Đức Thầy và những tùy tùng là Việt gian. Họ toan làm khó dễ những anh em hộ vệ của Thầy, nên Ngài di chuyển đến Cỏ May thuộc Bà Rịa, rồi rút sâu vào rừng Chà Là. Ngài tức cảnh sanh tình:

Từ ấy lao mình vượt khổn nguy,

Băng rừng lội suối giả man di.

(Bài Tiếng Súng Bên Lầu)

Tuy sống cảnh bên rừng tạm gởi thân cô quạnh, nhưng lúc nào Đức Thầy cũng tỏ ra bình tĩnh và cương quyết theo đuổi chí hướng của mình.

Một lần anh đại đội Thoại, người hộ vệ bên cạnh Ngài, múc nước suối rửa chân Đức Thầy để tìm thấy mấy cây gai đâm vào chân Ngài. Vì gai đâm mấy ngày qua nên đã làm mủ chung quanh những chấm đen, anh Thoại lể gai và nhẹ tay nặn mủ nơi chân Ngài. Mỗi lần những chiếc gai và mủ thi nhau vọt ra là mỗi lần tim anh quặn thắt. Bất giác anh Thoại khóc lên thành tiếng. Đức Thầy ôn tồn nói với anh Thoại:

Thanh niên sao mà nhát vậy! Mới thấy gai đâm mà đã khóc! Chúng ta còn phải gặp nhiều chuyện nguy nan hơn nữa, phải bình tĩnh và cương quyết để có đủ khả năng ứng phó kịp thời.

Anh Thoại nghẹn ngào nói:

– Bạch Thầy, làm thân chiến sĩ con tự biết mình dấn thân vào cái chết, có sợ gì đâu! Nhưng nhìn thấy cái khổ của Thầy, lòng con không sao chịu được.

Đức Thầy vuốt tóc anh Thoại tỏ ý cám ơn, rồi cười nói:

– Hãy niệm Phật cho vững tâm đại hùng đại lực.

Cho đến năm Ất Dậu 1945, quân lực Pháp đã chiếm đóng tràn lan, còn bọn độc tài (CS) thì tìm đường trốn chạy. Trong cơ hội đó Đức Thầy trở về Chợ Lớn. Và sau Tết Nguyên Đán Bính Tuất các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo mới bắt đầu nối liên lạc với Ngài.

Thuật theo Năm Cuộc Đối Thoại PGHH.

PHẦN NHẬN XÉT:

Đức Giáo Chủ ra đời dạy Đạo trước Đệ nhị thế chiến.. Vì thấy chúng sanh sắp rước nhiều tai họa hãi hùng nên động mối từ tâm Ngài mới lâm phàm cứu tế. Nhưng đối với chúng sanh ở thời kỳ Hạ nguơn này, bởi nghiệp nặng tình dày nên họ luôn chứa nhiều tội ác. Thế nên, nếu có ai tài trí hơn họ thì họ sẽ không ngần ngại mà triệt hạ, dù rằng việc làm này chứa đầy mưu mô gian ác.

Bởi Đức Thầy lúc ấy là một thanh niên tài trí hơn người, đức độ cao siêu, uy tín có thừa, vị tha vô hạn, khiến mọi người đều kính mến phục tùng. Thế thì bảo sao kẻ tiểu nhơn không sanh tâm ám hại Ngài để tranh giành ảnh hưởng. Nhưng thật ra, Ngài có tranh luận với ai đâu. Ngài đã cho biết sứ mạng của Ngài là: “Chọn những đấng tu hành cao công quả, để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền Đại Đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc hòa bình cho vạn quốc chư bang”, chớ đâu phải đi tranh giành cái giả ảo như kẻ phàm tình. Ngài đã hoan hỉ chấp nhận mọi cảnh khó khăn bởi quá thương xót chúng sanh. Ta hãy nghe lời đầy từ bi hỉ xả của Ngài qua câu:

Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.

Cơn giông tố mịt mù bụi cát,

Chẳng nao lòng của Đấng Từ bi.

(Bài Sa Đéc)

Vì cảm lòng vị tha cao thượng của Thầy mình mà anh Thoại không dằn được cơn xúc động; hiểu ý đệ tử nên Thầy vuốt tóc anh và khuyên niệm Phật. Bởi có niệm Phật, tâm mình mới được bình tĩnh sáng suốt mà nhận thấy cái giả của xác thân để hầu có buông xả muôn duyên không để sự khổ vui làm rối loạn. Có niệm Phật mới có công đức để thắng phục điều chướng ngại đến với mình.

Tóm lại, Thầy ta vì sanh chúng mà phải nhận lấy mọi nỗi khổ. Chẳng những không nãn chí nao lòng mà Ngài còn ung dung cho biết:

Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu.

Soi từ đài các xá lều,

Cho người trụy lạc biết điều nghĩa nhân.

(Bài Tự Thán)

Thế nên chúng sanh còn khổ thì chư Phật và chư Bồ Tát vẫn còn khổ bởi chúng sanh. Vậy ta rán học gương hạnh cao cả của Ngài cho xứng đáng là một tín đồ ngoan Đạo.

Mẩu chuyện thứ 84

DÕI GÓT THEO THẦY

Mẩu chuyện này thuật lại chuyến hành hương trên núi TÀ-LƠN của ông Ngô Thành Bá tức Đài được ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ dắt đi. Mẩu chuyện này được chính tác giả (Ngô Thành Bá) viết và ông Dật Sĩ Trần văn Nhựt soạn lại, được in thành tập sách mỏng, nay chúng tôi xin được phép đánh máy nguyên văn vào trong những MẨU CHUYỆN BÊN THẦY hầu tránh sự thất lạc sau này.

LỜI NÓI ĐẦU

Mẩu chuyện “Dõi Gót Theo Thầy” đã được viết năm 1946, và nay được tái bản là do ý muốn của chư quý đồng đạo bốn phương. Riêng tôi, những ngày qua, mỗi khi nghĩ đến, lòng tôi chua xót vô cùng! Vì đây là một câu chuyện ngàn năm một thuở, mà tôi là một thí sinh đầu tiên phải dở dang trong cuộc thử lòng.

Giờ đây, câu chuyện này lần lượt đến với anh em đồng đạo là việc chìu theo ý muốn, chớ lòng tôi rất tiếc, nên không còn nghĩ đến thân danh, rất mong anh em đừng ngộ nhận tôi còn muốn cao vọng.

Tôi ước mong ai đọc qua nên suy nghiệm kỹ càng, vì đây là một tài liệu lịch sử xác thực có nhiều ẩn ý của Đức Thầy đã dạy tôi. Nếu nó được một chất liệu xông ướp tân hương cho chư quý đồng đạo sớm triển khai Phật chủng thì tôi cũng được đền ơn muôn một cho Tổ Thầy.

Để đóng góp vào công việc hoằng dương Phật pháp, và đáp ứng sự đợi chờ của đồng đạo, nên tôi cho tái bản quyển sách này.

Xin thành thật đốt nén hương lòng, nhờ hồng ân chư Phật hộ trì cho chư quý đồng đạo vững lòng tin Đức Thầy là Đấng Cứu Thế, rán lo tu hành để khỏi phụ công Thầy dạy dỗ; cũng được như lời Đức Thầy mong đợi.

Dõi gót theo Thầy nương Phật cảnh,

Vui vầy xem hội, Hội Long Hoa.

Nếu anh em đồng đạo tin câu chuyện nầy, thì anh em đồng đạo đã được đi như tôi trên miền sơn lãnh linh thiêng. Được vậy, tôi rất mãn nguyện.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Ngô Thành Bá, tức Đài

NGUYỆN ƯỚC ĐI NON

Mùa Thu năm Kỷ Mão (1939), Đức Huỳnh Giáo Chủ dẫn Đức Ông (thân sinh Đức Thầy) đi núi Tà Lơn để đảnh lễ chư liệt vị Thánh Tiên trên miền sơn lãnh linh thiêng này, đã cho Đức Ông biết linh cảm huyền diệu của chư sơn liệt vị.

Sau khi Đức Ông và Đức Thầy trở về làng Hòa Hảo, đồng đạo kẻ xa người gần tới viếng thăm và được nghe những sự kỳ diệu trên non.

Ai ai cũng ao ước được Đức Thầy dắt đi non một lần, vì Ngài cho biết ngài còn đi một lần nữa. Tôi muốn đi lắm, nhưng khốn nỗi không dám bạch với Đức Thầy. Tôi có cảm nghĩ nếu anh em đi được, thì có lẽ tôi xin Đức Thầy cũng cho. Lòng hoài vọng hằng mong đợi, nhưng còn giữ kín.

ĐẮC THÀNH SỞ NGUYỆN

Đến ngày 29 tháng Chạp năm Kỷ Mão (1939), tôi đến Tổ đình nghe Đức Thầy thuyết pháp. Đêm ấy, tôi được Đức Thầy bảo ở lại. Đến 9 giờ, Đức Thầy bảo tôi nhắc ghế ra sân. Đức Thầy ngồi nơi ghế, còn Hương Quản Diệp và tôi ngồi trên nấc thang gạch, trước nhà Đức Ông. Sau khi giảng giải đạo đức một hồi, Đức Thầy chỉ cho chúng tôi xem một điềm Trời xuất hiện (đó là sao Tử Vi).

Đức Thầy còn đoán biết sự lo lắng của tôi. Vì trong thời kỳ Đức Thầy chuyển pháp độ đời, thì bọn tay sai thực dân Pháp đang theo dõi để sát hại. Đức Thầy bảo tôi: “Đừng sợ”, và Đức Thầy còn nói thêm rằng: “Chừng nào hào quang trên cung trăng không còn chiếu xuống mặt đất, thì đạo của Thầy mới tan. Quyền uy thế lực chỉ vun phân tưới nước cho Đạo càng tốt thêm”.

Sau đó Đức Thầy hỏi tôi: “Mầy muốn đi non không?”.

– Bạch Thầy, tôi đáp lại, nếu Thầy xét thấy con đi được, xin nhờ ơn Thầy chiếu cố.

– Vậy thì hãy sửa soạn hành lý đặng ngày mùng sáu tháng Giêng (Canh Thìn) lên đường.

Ôi mừng nầy có mừng nào hơn! Có bút mực nào mà tả cho xiết sự hân hoan của tôi lúc ấy!

Đức Thầy vào nhà. Tôi lần gót theo sau. Ngài lên ghế bố nằm nghỉ và anh em đồng đạo nài nĩ xin Đức Thầy “Ca Tiên”. Đức Thầy vì lòng thương nên chìu theo ý muốn.

Tiếng ca rất u buồn não nuột, khiến nhiều anh em phải sa lệ. Ngài giác tỉnh những tâm hồn còn say mê trong danh, lợi, tình, hãy sớm quay về cửa Phật, nương nhờ phước lớn từ quang. Ngài trưng bày lý lẽ với nhiều chuyện ly kỳ biến đổi, cho biết tuồng đời sắp hạ, và ngày tàn hạ thế gian gần đây, chẳng kể sao cho xiết. Cuộc đời khốc hại đau thương sắp đến!…

Ôi, giọng điệu du dương khi trầm lúc bổng, khúc nhặc khúc khoan của Ngài đã làm cõi lòng tôi thổn thức rung động lạ thường! Thật Đức Thầy là một bậc kỳ tài trong thiên hạ, vì xưa nay tôi chưa thấy một nghệ sĩ nào có giọng hát lảnh lót, trong trẻo, và êm dịu như thế.

Chỉ với giọng nói ấy mà Ngài đã ban rải một nguồn ân vô tận, một bể ái vô cùng, để cảm hóa chúng sanh sớm hấp thụ những giáo lý cao siêu vô thượng.

Sáng ra, Đức Thầy cho anh em tín đồ biết, tôi được theo Thầy đi non. Nhiều người cùng xin đi, nhưng Đức Thầy trả lời không đặng.

KHỞI CUỘC HÀNH TRÌNH

Lật đật đến mùng sáu tháng giêng năm Canh Thìn (1940), Thầy tớ nhờ sự chở đi bằng xe đạp đến Vàm Cái Đầm. Sau khi đó cặp bến nhà máy Năng Gù (thôn Bình Mỹ), Thầy trò ở bên cạnh đường chờ xe. Một chập lâu có xe hơi chạy ngang qua, và ngừng lại. Thầy trò lên xe đi một mạch tới Châu Đốc. Đến tỉnh lỵ, phải sang một chiếc xe khác mới đi tới Tịnh Biên vào khoảng 3 giờ chiều, không còn xe đi Cần Giọt (Campot). Tôi nhớ lại có một người cô mua bán đồ cũ tại chợ này. Đức Thầy và tôi đến đó nghỉ nhờ một đêm. Người nhà đã từng nghe danh Đức Thầy, nhưng chưa có dịp thấy Ngài thuyết đạo. Nay tình cờ được gặp Ngài, ai cũng hết sức niềm nỡ đón tiếp. Kẻ gần người xa truyền tin nhau đến viếng Đức Thầy rất đông. Ngài đem triết lý cao siêu của nhà Phật ra giảng giải một hồi, và truyền thọ tam quy, ngũ giới cho mấy người. Tất cả mọi người đều tỏ lòng ái mộ sùng kính Đức Thầy. Tôi phải chép ra một loạt hơn 20 bài nguyện trao cho anh em đó.

Sau khi dùng cơm chiều, Đức Thầy khuyên anh em tín đồ ai về nhà nấy và rán xem kệ giảng để trau tâm sửa tánh, thực hành những lời Thầy dạy, không nên ở đêm tại đó đông đảo vì: “Đời Lang Sa thống trị phép nước nghiêm hình, Dân chúng nếu yêu thương sẽ có lắm điều hiềm khích”, và như vậy e sẽ có sự khó dễ cho Ngài và chủ nhà. Mọi người đều bái tạ ra về.

Trời chiều mát mẻ, Đức Thầy gọi tôi đi hứng gió. Thầy trước trò sau đi lần về hướng con đường Nhà Bàng độ gần cây số ngàn. Đến một nơi không nhà cửa, Thầy trò dừng chân trên một cái cầu sắt lót ván, tay vịn lan can cầu, mắt đăm đăm trông về núi Cấm. Đức Thầy không nói chuyện gì, dường như Ngài mật niệm (thời cúng chiều). Nửa giờ sau, Đức Thầy lấy ra từ trong túi tám đồng xu cho tôi. Tôi lẹ tay lãnh lấy mà không nghĩ ngợi gì cả. Thật là kẻ ngu khờ nầy theo Đức Thầy trên nửa năm rồi mà vẫn còn quá dốt nát về đường đạo, không hiểu rõ cơ huyền trong cử chỉ này và cũng không biết trong vật kỷ niệm (luôn luôn là quý báu) của Tôn Sư!

Ánh thái dương lần lần biến mất trong một góc trời xa vô tận. Ánh sáng lần lần nhường chỗ cho dạ thần. Đức Thầy và tôi trở lại nơi trọ hồi chiều để nghỉ ngơi.

MỘT ĐÊM THUYẾT PHÁP TẠI TỊNH BIÊN

Khi về đến nơi, có trên mười người tín đồ cũ ở Tịnh Biên đến chực sẵn trên lầu chờ Đức Thầy về đặng đảnh lễ Ngài. Không biết trong số mấy anh em tín đồ ấy, người nào đứng ra tổ chức sắp đặt mà có đủ nào bánh mứt, trái cây và rượu ngọt ê hề trên bàn. Bị một loạt khiển trách của Đức Thầy về sự xa xí này, các anh em ấy có vẻ cóm róm, sợ sệt. Vài phút sau, Ngài cất giọng thuyết pháp như chuông đồng ngân tiếng đại từ. Lời nói đầy sự yêu thương bác ái của Ngài ban rải ra như đám mưa ngâu làm vụt tắt những ngọn lửa lòng của người trần thế. Người chủ nhà (ông và bà chủ nhà với năm bảy đứa con) chen chút ngồi xung quanh để nghe chơn truyền chánh pháp. Đêm ấy, Đức Thầy nhiệt liệt đánh đổ những tà thuyết cùng những tập tục dị đoan do các manh sư bày vẽ. Sau rốt, Đức Thầy dùng ngọn đèn chơn lý đánh tan mùi tục lụy của các vị phú hào bấy lâu lặn lội trong bể lợi tình. Lối mười giờ khuya, Đức Thầy bảo các anh em về nghỉ. Ông chủ nhà sắp đặt cho Đức Thầy và tôi một chỗ sạch sẽ mát mẻ. Sáng ra là ngày mùng bảy tháng giêng năm Canh Thìn. Sau khi Đức Thầy dùng điểm tâm xong rồi, ông chủ nhà cho hay là xe Nam Vang vô tới.

ĐẾN MIỀN CẦN GIỌT

Đức Thầy từ giã chủ gia, tôi mang hành lý lên xe.

Xe qua bắc Tịnh Biên. Đến Gò Tà Lập (ranh giới Cao Miên), hành khách bị giữ lại để kiểm tra giấy thông hành; mười giờ trưa tới Sóc Mẹt (Tuc Méak) xe dừng lại để hành khách dùng cơm. Từ Sóc Mẹt đến Vung Trạch (Kompong Trach), xe phải trải qua nhiều khúc đường gồ ghề núi non chớn chở, với nhiều vườn tiêu mênh mông. Đến châu thành này, xe đậu nghỉ nãy giờ. Đức Thầy bảo tôi đưa cho Ngài ba cuốn Sấm Giảng (quyển 1, 2 và 3). Ngài đi chừng 15 phút. Khi Ngài trở lại, tôi hỏi Thầy đi đâu, thì Ngài trả lời: “Đem Giảng cho một người ở gần đây”.

Lối ba giờ chiều, xe đến Cần Giọt (Kampot), Đức Thầy và tôi vào quán dùng cơm, rồi sau đó đi quanh quẩn trong châu thành độ 15 phút để xem các sắc dân. Khách buôn là người Triều Châu và người Thổ. Phố phường chật hẹp, dơ bẩn. Tôi bạch cùng Thầy đặng mua bánh mì. Đức Thầy không cho. Ngài bảo tôi đi kiếm người quen. Thầy trước trò sau, lần theo các lộ đá đi qua cầu sắt bắt ngang con sông nhỏ mà bề rộng không quá 50 thước tây, do nguồn suối Tà Lơn đổ xuống. Qua khỏi cầu, theo con đàng ấy tiến về phía chơn núi, tôi để mắt nhìn xem và thấy có lắm Việt kiều lên đây lập cơ sở làm ăn.

GẶP NGƯỜI ĐỒNG ĐẠO

Khi qua khỏi ba gian lò gạch, cách đó hơn bốn cây số ngàn, Đức Thầy dẫn tôi vào một căn nhà cột săn lợp tranh, kiểu xưa và hơi thấp. Vô trong nhà, tôi thấy có một ông lão người Việt độ 70 tuổi, tóc bạc như bông bưởi. Đức Thầy xin ông lão cho tá túc một đêm. Ông chủ nhà vui lòng nhận lời. Lúc bấy giờ độ năm giờ chiều. Ông chủ nhà người nho nhã, dáng điệu hiền lương, lại ăn nói khoan thai, chậm rãi. Tuổi chừng ấy mà sức ông vẫn còn tráng kiện, đi thẳng lưng khỏi cần cầm gậy. Ông góa vợ đã từ lâu, và chỉ có một con gái ngoài 40 tuổi chưa có đôi bạn lần nào vì tấm lòng mộ đạo ham tu theo giáo lý nhà Phật. Bữa ấy, cô con gái của ông lão chủ nhà đã đưa người đi non đã ba hôm rồi. Đức Thầy nằm nghỉ. Tôi có ý tò mò vào cái am phía trước. Tôi thấy cách thờ phượng trang nghiêm và chỗ cúng kiếng có vẻ lộng lẫy, tinh khiết; mỗi bàn đều có trần điều xem chóa mắt. Thật là cảnh chùa nho nhỏ vậy. Tôi lấy làm ngạc nhiên lắm, vì Đức Thầy xưa nay chưa quen với ông lão này lần nào mà sao lại ghé đây “trúng tủ” một “phe” với mình. Tôi ước đoán có lẽ ông lão này theo tông phái Phật Thầy Tây An.

Tối lại ông lão công phu bái sám, tôi xin vào đảnh lễ Phật. Giờ lễ Phật đã mãn. Sau khi trà nước xong, ông lão khoan thai hỏi: “Hai chú có đi Tà Lơn lần nào chưa?”

– Không, nhưng đường này tôi có đi rồi trong tiền kiếp, Đức Thầy đáp lại.

Nghe vậy hình như ông lão bất bình. Vì làm sao ông lão lãnh hội được lời nói sâu xa của Đức Thầy! Ông làm thinh.

Đức Thầy dùng triết lý luận giải sơ lược về sự khai mở trực giác cho ông nghe. Hồi lâu, mùi đạo diệu phưởng phất thấm nhuần tâm trí, nên ông lão vui lòng nghinh thính. Lần hồi những người kế cận đến chơi, chừng năm sáu người; họ ngồi trên bộ ngựa bên cạnh, im lìm nghe …

ĐỌC GIẢNG ÔNG CỬ ĐA

Đức Thầy nói:

– Tôi có viết ít cuốn giảng, nay xin đọc cho quí ông nghe!

Đức Thầy vừa đọc thuộc lòng cuốn thứ 3 vừa giảng nghĩa. Khi dứt ai ai cũng tấm tắc khen hay chớ đâu dè Đức Thầy là bậc Thánh nhơn lâm phàm, dùng nguồn ân vô tận ban rải cho nhân loại bớt nỗi khổ đau bằng cách ăn ở hiền lành, phá chấp nhơn ngã để kịp bước trên con đường bát nhã, lánh chốn mê tân của đời nguơn hạ, và chờ ngày Long Hoa Đại Hội.

Ôi, cặp mắt phàm phu ở trong cái thân thể uế trược của đời ham mê vật dục làm sao dòm thấu bực liễu đạo siêu nhơn?

Đức Thầy hỏi ông lão:

– Ông có cảm nghĩ gì không về Sấm Giảng tôi đã đọc?

Nghiêm nghị, ông lão nhìn nhận đoạn đầu là của thầy ông, nhưng còn đoạn sau thì ông cho rằng không giống! Và còn trách Đức Thầy sao sửa giảng của Thầy ông?

Đức Thầy trả lời:

– Khi xưa ở sơn lãnh, thời cơ chưa đến nên phải viết như thế. Nay tuồng đời sắp hạ, cuộc trần biến chuyển rất nhiều, nên tôi phải thố lộ cơ Trời cho đời sớm hối cải ăn năn làm lành lánh dữ, sửa tánh răn lòng, mới mong Thiên Đình ân xá bớt tội căn mà được sống còn ở đời Thượng Nguơn Thánh Đức. Hơn nữa, tôi phải tùy theo trình độ và sự tiến hóa của nhân sinh mà canh cải cho thích ứng dân tâm mới đủ phương pháp độ đời thoát chốn mê tân vượt miền khổ hải.

Nghe qua, ông lão hơi phật ý, lặng thinh không nói. Đức Thầy phải dẫn giải những chỗ nhiệm mầu về đạo lý cho ông nghe. Một hồi mùi đạo vị tưới thấm lòng ông, nên ông vui vẻ trở lại, và kính nễ Đức Thầy nhiều hơn trước.

ÍT NHIỀU THÚ VỊ VỀ SỰ ÔNG HAI LƯƠNG TẦM SƯ HỌC ĐẠO

Ông lão chỉ mấy người và nói rằng: “Đây là con của các đại đệ tử của thầy tôi thuở xưa, mấy ông ấy đã theo Phật, nay chỉ còn một mình tôi.”

Ông lão vui vẻ thuật lại sự tầm sư học đạo của huynh trưởng ông là ông Hai Lương (1). Ông Hai Lương là đệ tử thứ nhứt của ông Cử, quê quán ở tỉnh Bến Tre. Thuở 20 tuổi, ông Hai là một nhà túc nho. Vì phát bồ đề tâm rất sớm, nên ông Hai từ giã cha mẹ anh em đi tu. Ông ra đi suốt 20 năm trời, bặt tin nhàn cá. Người nhà không biết ông tu ở non nào, động nào, còn sống hay đã chết, nên vẫn phải nhớ nhung thương tiếc. Nhưng còn chút may mắn, có một người ở trong tỉnh Mỹ Tho ghé nhà cho biết ông Hai vẫn còn sống và theo ông Cử ở Tà Lơn. Người mách tin này bằng lòng dẫn ông lão đi cho huynh đệ tương ngộ.

Ông lão tình nguyện đi đến nơi. Thế là huynh đệ hội hiệp, chi xiết vui mừng. Ông Hai thuật lại những nỗi khổ lao khi ông đi tầm sư học đạo. Từ “Bảy Núi” vượt đường qua Giang Thiền, lên Cần Giọt không còn tiền bạc trong mình, ông Hai phải làm thuê ở Cần Giọt trót tháng để kiếm tiền, mua thực phẩm rồi lần theo suối Cam Chại, tìm nơi thanh tịnh tu dưỡng hơn một năm trường. Ông Hai tự nghĩ: “Mình đã hy sinh tầm đạo, nếu không được minh sư khai sáng căn trí thì khó bề giải thoát.”

Ông Hai nguyện cùng các Đấng Thiêng Liêng dìu dắt ông gặp chơn sư để thọ giáo. Ông mới vượt non nầy qua đảnh nọ, đói ăn cơm khô, khát uống nước suối. Lúc bấy giờ quần áo rách tả tơi, đầu cổ u xù, ông lần theo kẹt suối, và thấy xa xa có một ông già xuống suối xách nước. Ông Hai tìm vào động đảnh lễ cầu đạo. Ông già ấy trả lời: “Tôi cũng tu trì như chú chớ không hiểu mấy về con đường giải thoát”. Ông Hai hết lòng cầu khẩn, nhưng ông già một mực từ chối. Ông Hai xin ở lại nấu nước và đỡ tay chơn cho ông trong những công việc nhọc nhằn. Ông già thấy ông Hai một dạ thành khẩn mới bằng lòng cho ở. Ở đây, hàng ngày ông Hai cuốc đất trồng khoai, tối lại công phu bái sám. Ông không thối chí ngả lòng, đặt trọn đức tin vào ông già ấy mà ông Hai cho là bậc siêu nhân mới có thể tu niệm lâu năm trên nầy. Ngót một tháng trường, chẳng thấy ông già chỉ dạy điều chi. Rồi sau đó, vào một đêm, ông già ấy kêu ông Hai lại gần, thuật rõ lý lịch của ông, chừng đó ông Hai mới biết ông già ấy là ông Cử Đa.. Từ đó ông Cử nhận ông Hai làm đệ tử và lần lược đem giáo pháp của Ngài đã sưu tầm mà chỉ dạy cho ông Hai. (Đây là tôi kể sơ lược chớ chuyện nầy còn dài lắm)

Ông Hai khuyên em ông tu. Ông nầy bằng lòng quy y và ở lại chơi ngót tháng mới về nhà đem vợ con ông lên non. Ông Cử nói: “Con có vợ ở tu trên non không được”. Ngài chỉ chỗ cho ông lão (em ông Hai) cất nhà gần chân núi. Sau ông Cử đăng Tiên thì chỗ ấy heo rừng phá rẫy, làm ăn không được. Ông lão bèn dời nhà về gần châu thành cho dễ bề sanh sống.

Đêm khuya gà gáy canh đầu, người người từ giã ra về. Đức Thầy và tôi nghỉ đây một đêm. Trời vừa rạng sáng, Thầy trò từ giã lên đường. Đức Thầy khuyên ông lão hãy bền chí trên con đường đạo hạnh, ngày sau sẽ gặp nhau một lần nữa, và sẽ được lắm điều vinh hạnh vui tươi.

(1) Theo quyển Thất Sơn Mầu Nhiệm: Ông Hai Lương tức ông Trần Bá Lương.

ĐỂ BƯỚC LÊN NON

Sau khi từ giã chủ nhà, hai Thầy trò xông bước dậm đường, đến tám giờ đến chơn núi, phía trong máng nước. Đức Thầy và tôi xuống suối tắm rửa, thay đổi quần áo, mặc lại bộ đồ dà. Đức Thầy dắt tôi theo con đường Cam Chại (đường đi non). Đường nầy thuở xưa khó đi lắm, sau nhờ cậu Hai Đống (Chủ chùa Điện Năm Căn, núi Xuân Tô) mướn người tu bổ nên có hơi dễ đi.

Đức Thầy và tôi đi trên một giờ đồng hồ. Đoạn Đức Thầy hỏi tôi:

Phía trước kia con đường này sẽ quẹo vào phía nào?

Tôi bạch không biết. Đức Thầy nói:

– Phía trước con đường này sẽ quẹo về tay mặt.

Tôi để ý coi trúng hay không, thì quả thật đúng như lời Thầy nói.

Trông về phía trước có hai người, Đức Thầy bảo tôi đi riết kịp họ đặng vầy đoàn đi cho có bạn. Tôi đi nhanh chơn theo kịp hai người nầy. Họ là người đi non thường nên đi chậm rải, không nôn nả như phần đông người ở dưới thế trần. Tôi nghe trong mình đã mệt vì buổi sáng không có dùng cơm, phần hai vai mang gói hành lý nặng lối 6 kí lô. Mỗi giờ dường như gánh nặng thêm vài kí lô nữa. Mình tôi mồ hôi chảy ra như tắm. Thấy vậy, Đức Thầy hỏi tôi:

– Bộ mệt lắm sao?

– Bạch Thầy vì đường dốc ngược, lại chẳng quen nên đi mệt quá! Tôi đáp lại.

Hai người bạn đồng hành bèn kêu Thầy và tôi lên tảng đá phía trước ngồi nghỉ cho khỏe rồi sẽ đi. Nghỉ được mười phút, Đức Thầy bảo tôi chia hành lý cho Ngài mang tiếp. Tôi chia cho Đức Thầy mang một cái mền và hai bộ đồ. Xong, ai nấy lên đường.

KHI ĐẾN TRUNG TÒA

Đúng giờ trưa đến Trung Tòa (có người gọi là Long Tuyền), hai Thầy trò dừng chơn để cho hai người bạn đồng hành đi trước. Tại đậy có hai kiểng chùa nho nhỏ, người tu đông đảo. Đức Thầy ngồi trên tảng đá gần bàn thông Thiên, tay chống càm, mắt ngó ngay vào chùa. Một vài nhà sư với gương mặt xanh men mét, đang dộng chuông gõ mõ thời trưa. Khi mãn thời cúng, các ông khoát áo tràng đã lần lượt đến chắp tay xá Đức Thầy và nói: “Xin chào hai huynh đi viếng non và cầu chúc hai huynh mạnh giỏi” Một nhà sư tuổi ngoài 50, râu dài đậm đuột, hỏi: “Hai huynh có đi non nầy lần nào chưa? Và có ai dẫn dắt không?”

– Chưa.

Đức Thầy đáp lại.

– Nhưng đây là kiểng cũ quê xưa của Bần đạo, nay tôi dẫn đệ tử tôi về viếng thăm.

Tôi để ý xem thì thấy lúc ấy gương mặt Đức Thầy đỏ hồng hồng. Đức Thầy bảo tôi làm lễ chư Phật, tôi vâng lời làm y. Đoạn Đức Thầy bảo tôi lấy ba cuốn Giảng (quyển 1, 2, 3) đưa cho nhà sư nầy, rồi từ giã ra đi. Khi chúng tôi đi xa chừng hơn trăm thước thì có một đạo đồng theo bảo dừng chơn lại.

Đức Thầy đứng lại. Chú tiểu nói: “Thưa hai huynh, Thầy tôi mời hai huynh trở về chùa nghỉ, đợi ít ngày huynh Hai đưa người đi non về sẽ đi cùng hai huynh, chớ nay hai huynh không biết đường sá, đi trên non này lải thì nguy lắm” (Lải là Lạc đường, người đi núi có tục không dùng chữ Lạc mà lại dùng chữ Lải). Đức Thầy bảo:

– Nhờ em trở lại nói với Thầy em rằng: Thầy trò ta cầu cho lạc chết bỏ xương trên núi nầy thì càng quí vô cùng.

Chú tiểu kia trở về. Thầy và tôi theo kịp hai bạn đồng hành hồi sớm.

LÊN ĐIỆN CÔ NHỨT … CAO VÂN

Đến đây con đường chia ra làm hai ngả: Một ngả về Minh Châu Điện, một về Cô Nhứt Điện; đường về Minh Châu đi vòng theo sườn non dễ đi; còn đường về Cô Nhứt gần hơn một phần ba đường đi Minh Châu, tôi cứ theo con đường của Đức Thầy chỉ mà tiến lên đỉnh núi. Thật là đầy đá gập ghình, bước đi muốn sụt lùi, mệt lả con người, mồ hôi như tắm. . .

Vào lối ba giờ chiều, Thầy và tôi đến điện Cô Nhứt. Thầy trò ngồi xuống nghỉ. Điện nầy nhỏ, không người tu chỉ có một lư hương.

Nghỉ khỏe rồi, Thầy trò lên đường. Từ đây đàng sá quanh co, nhưng bằng phẳng. Dọc đàng tiếng chim kêu “bắt trâu kéo cột”, nghe không dứt. Nhờ đàng dễ đi, nên năm giờ chiều, Thầy trò trổ ra lộ lớn (đường này người Pháp khai mở bề ngang trên bốn thước).

Tôi thấy một trại tù lợp thiếc, có năm bảy người lính, ít chục tù nhơn. Trại tù này dành để cho những tù nhơn vài ba tháng mãn hạn lên đây bứt mây. Đây là chốn cao nguyên bình địa, một khoảng đất mênh mông ngó mút con mắt, cây thưa, cỏ lông tượng mọc cao trên đầu gối, cát trắng phít …

Đoàn lữ hành từ giã ra đi. Quẹo về phía trái, theo lộ đá độ năm trăm thước, Thầy và tôi đến Cao Vân. Mọi người đều xem nước chảy và lấy cơm khô ra ăn, rồi thay đồ xuống suối tắm. Đoạn, tôi lên đèn đảnh lễ chư sơn liệt vị. Hai bạn đồng hành và Thầy trò chúng tôi lên đường. Theo lộ đá đi đến tối mò, chúng tôi cùng nhau leo lên một tảng đá cao khỏi đầu, mặt bằng vuông vứt cỡ bộ ván ngựa.

Đêm nay trăng rọi sáng gần như ban ngày. Trong cảnh màn trời chiếu đá ấy, chúng tôi chuyện vãn mật thiết lắm. Hai anh em đồng hành khui bầu tâm sự chứa đựng trên hai mươi năm. Hai anh ấy đã thất kỳ sở vọng, vì xuất gia hồi còn trẻ và kết bạn tu tại hòn Phú Tron hơn hai mươi năm rồi mà không được ấn chứng của chư Phật.

Nghe người ta đồn trên núi Tà Lơn một miền sơn lãnh tịch mịch, có nhiều đấng siêu nhân cao cả, nên họ chí dốc tầm sư học đạo. Hai anh nguyện lên non tầm cho gặp Phật, bằng không thì thề bỏ xương trên núi nầy chớ không trở xuống thế, dầu cọp beo có ăn cũng được.

Gương đại hùng đại lực hy sinh vì đạo của hai anh bạn nầy làm cho tôi vô cùng thán phục. Mấy anh nầy có hỏi Đức Thầy, Ngài không cho biết gì cả, chỉ nói đi non viếng điện.

ĐẾN CẢNH NGƯỜI XƯA

Lan thiên một cõi xa chơi,

Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi lạnh lùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cõi, hữu danh chữ đề …

Sáng ngày mùng chín tháng giêng năm Canh Thìn, Thầy trò vẫn còn đi theo hai con đường nầy, đến “Ruộng Năm Giây” là mười giờ trưa, có con đường mòn đi tắt qua Bà Ngự nơi ông Cử được điểm đạo. Đến đây không còn đường mòn nữa. Đá đen như sắt, tòng bá lộn xen, cực kỳ xinh đẹp, quanh tới lộn lui kiếm không ra ngõ. Mười phút sau, hai người bạn đồng hành lạc đâu mất. Đức Thầy bảo tôi xuống suối nằm trên tảng đá nghỉ. Tôi quá thương hại hai anh bạn vô phúc kia, nên thỏ thẻ cùng Đức thầy: “Bạch Thầy, tội nghiệp cho hai anh ấy, xả thân tầm đạo mà nay bị lạc nơi này, ắt phải chết hết!”. Đức Thầy nói:

– Không sao đâu, chư vị Thánh Thần luôn luôn ủng hộ những bực nhiệt thành, kiên tâm lập chí trên đường giải thoát.

Đức Thầy dắt tôi đi xuống suối. Ngồi dưới bóng tùng mát mẻ, Thầy trò ăn bánh uống nước. Đức Thầy nói với tôi:

– Ngày sau Thầy phải xa bổn đạo một thời gian, trong thời gian ấy tín đồ phải chịu đau khổ và không một ai biết Thầy ở nơi nào. (Đức Thầy còn nói nhiều nữa, nhưng tôi không dám thuật lại hết vì sợ trái ý Ngài, vì Ngài có cấm, xin anh chị miễn lỗi cho.)

Đức Thầy nói tiếp:

– Bây giờ Thầy đi đàng rừng mầy có sợ không?

– Bạch Thầy, bây giờ Thầy đi ngả nào con đi ngả đó! Tôi đáp lại.

Khi băng qua suối, Thầy trò trổ ra đường mòn. Đức Thầy nói:

– Thử lòng mầy, chớ đường ở trong bàn tay Thầy.

Thầy trò nói nói cười cười, chẳng bao lâu đi đến một nơi gọi là “Châu Thiên”. Đây là một cảnh thiên nhiên cực kỳ xinh lịch, dành cho khách mộ đạo ham tu khi quá bước vào cảnh nầy thì có thể phủi sạch tâm phàm, vui say mùi đạo. Thật là một cảnh “Tiểu Bồng Lai Tiên Cảnh” vậy. Leo lên vồ đá dòm lại chơn trời chỉ thấy đá đen như sắt, guộn nổi những dòng tòng bá lộn xen, không cao không thấp, gốc đơm bông nước, bông dài như bông cà, có nắp dở ra, nước dùng ngon ngọt. . .

Từ trên vồ đá, dòm lại chân trời, chỉ thấy mỗi cõi xa xăm vô cùng vô tận! Những hòn đá lớn nhỏ ngổn ngang giống như bàn ghế người trần chưng dọn. Đây là hòn thấp, đó lại hòn cao, tròn vuông đủ cỡ. Trên mỗi hòn mặt bằng, có năm bảy hòn đá nhỏ như ghế ngồi. Tôi nói chỗ nầy có lẽ dành cho chư Tiên hội họp “ăn yến”. Đức Thầy tức cười. Tôi rắn mắc leo lên vồ cao, bị Đức Thầy rầy không cho.

Xem phong cảnh nầy độ nửa giờ, Thầy trò ra đi. Đến Tứ Gia Điện, mặt trời vừa chen lặn. Khi còn cách điện này lối trăm thước, Đức Thầy dừng chơn bảo tôi đừng nói chuyện. Tôi không hiểu vì sao. Nhẹ chơn vào điện, không thấy bóng người, chỉ thấy nào chén bát, tương cho nằm lểnh nghểnh trên bàn.

Đói quá, tôi bạch với Đức Thầy nấu cơm ăn. Sẵn có nồi nước, tôi hốt cơm khô để vào nồi, đun lửa nấu cơm. Cơm chín, tôi ngắt đọt lang luộc một dĩa lớn.

Thú thật tôi dùng cơm tại đây, ngon vô cùng, vì đã hai ngày rồi không có một hột cơm nào trong bao tử. Bữa cơm ấy tuy đơn sơ, nhưng thú vị trăm lần bữa tiệc dưới trần.

Điện nầy có bốn tảng đá, mỗi tảng dài không dưới 15 thước giao khích lại thành hình chữ thập, nên gọi là Tứ Giao Điện. Trong điện rộng rãi, hang hóc quanh co, có rất nhiều bàn án để thờ phượng. Tôi tò mò quyết kiếm cho được người tu chỗ nầy, nên rọi đèn sáp đi vào kẹt hóc, nhưng chẳng gặp một ai.

Đêm ấy Đức Thầy dẫn tôi lên nóc điện, bảo lên hương đèn cầu nguyện. Đức Thầy cũng cúng lạy, xong Ngài nói với tôi:

– Thầy đây chỉ lạy Phật Tổ thôi, kỳ dư các bậc khác Thầy được miễn.

Khi xuống điện, Thầy trò nằm trên tấm sạp bằng cau rừng, Thầy nói:

– Trên Trước dạy Thầy đem mầy lên non một tháng. Từ đây lên Lan Thiên, Trường Sanh, qua Nhị Hoàng, lên núi Tổ mới trở về.

Tôi thuở ấy quá khờ khạo và thiếu kém về mặc đạo đức, tánh còn nhiễm trược rất nhiều, ham sống sợ chết, không kiên tâm trì chí trước những khổ hạnh gian lao, lại còn bị lợi danh xô đẩy trong cảnh đời vật chất, ít thấy hẹp nghe, nên thốt ra những lời than này với Đức Thầy mà sau tôi cho là mình vô ý thức: “Bạch Thầy, đàng xa diệu vợi, còn phải giam mình trong chốn ma thiêng nước độc cực khổ vô ngần, thực phẩm kém khuyết, ăn không thể đủ mà đi đúng một tháng thì chắc đói chết, xin Thầy đi gần”.

Tôi để ý xem cảnh nầy là một cảnh thanh tịnh im lìm, không có một tiếng chim kêu vượn hú, thật là một cảnh hạp cho người muốn tham thiền nhập định để luyện khí dưỡng thần …

TRÊN ĐƯỜNG VỀ

Sáng ra là ngày mùng mười tháng giêng năm Canh Thìn, Đức Thầy bảo sửa soạn đặng trở về. Tôi hỏi Đức Thầy sao không đi nữa, thì Ngài trả lời:

– Ở nhà có việc lộn xộn.

Ấy là vụ Đạo Quốc, cầm đầu phong trào Đạo Trưởng chém người tế cờ ở chùa Long Châu gần Tân Châu.

Chúng tôi theo dõi con đường cũ trở về. Khi đi được hơn 600 thước, Đức Thầy nói:

Bây giờ Thầy trở về bằng đường rừng, mầy có sợ không?

Tôi đáp: Bạch Thầy, con ham lắm!

Đức Thầy chỉ cho tôi một vực sâu chừng mười thước và bảo tôi đi xuống. Tôi đang suy nghĩ vì bực đá hẳm lắm, làm sao xuống được. Bỗng thấy một cành cây đại thọ nhành lá sum sê, nhánh gie ra sát đá, tôi liền vịn nhánh chuyền vô cây tuột xuống được, lòng mừng khấp khởi, dòm lên bạch với Đức Thầy liệng đồ xuống cho tôi và mời Đức Thầy cùng xuống. Đức Thầy dẫn tôi vào một điện rộng lớn, ăn sâu vô đá, có hơi bẩn thỉu. Đức Thầy nói:

– Đây là nơi của quan Ngự Sử thuở cựu trào, sau Pháp thôn tính xứ Việt Nam, Ngài bất phục nên vào ở ẩn non nầy tu đến đắc đạo.

Đức Thầy bảo tôi lên hương đèn đảnh lễ, lúc ấy Đức Thầy nói một thứ tiếng bí mật với Ngài Ngự Sử.

NGƯỜI ĐÂU CHẲNG THẤY

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”

Xong, Đức Thầy cầm một khúc cây đi trước dọn đường, tôi lần bước theo sau. Khi đi theo triền lúc vượt lên đảnh núi, đến một nơi gần suối có ba tảng đá hình dạng như táo đất đội một hòn đá to tướng, khoảng trống giữa ba tảng đá rất lớn, đường đi trong đó dễ dàng. Tôi thấy có sạp bằng cau rừng bị lửa cháy tròn trèm, hư hết phân nửa, bên cạnh có một thùng thiếc bể, một giàn su lớn, dưới gốc có nước tưới còn ướt rượt, nhưng người đâu chẳng thấy. Tôi thưa cùng Đức Thầy: “ Bạch Thầy, ông nào tu ở đây chắc nghèo khổ lắm,, xin Thầy cho con kêu về đặng giúp chút ít tiền bạc. Đức Thầy nói:

– Đâu mầy kêu coi có không.

Tôi ra sức kêu thật lớn mà cũng chẳng nghe ai lên tiếng.

Đức Thầy và tôi đi một đổi xa, Ngài nói:

– Trên trước giả cảnh, cho có người ở, để mầy an tâm chớ không có ai tu ở đó cả. Tôi vẫn hoài nghi.

THỬ VÀO HANG CỌP

Thầy trò lần theo một con suối nhỏ vượt lên đỉnh núi khác. Đến một chỗ nọ, ở khoảng giữa núi, tôi thấy có nhiều khoảnh đất trống trải, không có cây cỏ, rộng lối 100 thước vuông, bằng thẳng, cát trắng, hơi sương còn đượm ướt đất. Thầy trò ngồi nghỉ, tôi trông thấy nhẩm dấu cọp đi. Đức Thầy hỏi tôi:

– Mầy muốn coi cọp núi không? Đây, mầy chun vào hang nầy sẽ gặp.

Bề trực kính hang nầy độ 8 tấc. Tôi chống tay xuống đất dòm vô hang. Trong hang tối đen, mùi hôi hám lạ kỳ, hơi phất vào mũi khó chịu lắm! Đức Thầy đứng sau lưng tôi, đẩy tôi vào và nói:

– Mầy chun vô đi!

Tôi sợ quá, dội ngược lại và bạch với Đức Thầy:

– Úy, Thầy ơi, coi kìa nhẳm dấu ÔNG THẦY trong hang tối nầy, “khềnh” con, vô không được đâu.

– Sao mầy nhát quá, Đức Thầy trả lời, cọp kêu cọp, tượng kêu tượng!

Ngồi nghỉ chỗ nầy gần nãy giờ, Đức Thầy bảo tôi chun vô hang cọp mãi, nhưng tôi không dám. Đức Thầy nói:

– Không chun vô thì thôi, ta hãy đi.

CÂU CHUYỆN SIÊU HÌNH

Qua khỏi hòn núi nầy đổ xuống triền, gặp suối khác, Thầy trò lần theo. Đến 10 giờ trổ ra cái suối thật lớn, có chỗ rộng cả trăm thước tây. Đức Thầy và tôi nhảy từ hòn đá nầy, sang tảng đá nọ. Có chỗ bằng thẳng, đi được, nhưng ít lắm. Nơi nầy có rất nhiều cây lớn cả ôm, tróc da còn lõi, ngọn găm xuống kẹt đá, gốc trở ngược lên trời. Tòng bá trốc gốc nằm lễnh khễnh. Có một tấm đá cản ngang suối, nước chảy xoi qua đá, lỗ lớn bằng cái nia. Đi qua suối nầy thường nghe tiếng chim kêu bắt lạnh mình, vượn hú không dứt tiếng.

Đến ba giờ, Đức Thầy dẫn tôi đi dốc ngược lên núi, bên tay trái vào ngay một cảnh điện tốt đẹp, xưa nay tôi chưa từng thấy. Trên điện nầy có tảng đá gie ra (mưa không tạt vào được), hình nấc thang tam cấp, mỗi cấp rộng trên 8 thước tây, đá đen láng, bằng thẳng, mặt đá hình phân tam cấp, ngang đầu đứng thẳng, mỗi cấp đều bằng nhau, rất sạch sẽ, gió thổi lòn vào mát mẻ lắm; cấp dưới có chạm nhiều bài thi chữ nho, tôi có chép đem về, sau làm mất bổn.

Đức thầy nói với tôi rằng những bậc siêu phàm nhập thánh vào ở điện nầy mới được. Ngài bảo tôi lên hương đèn đảnh lễ. Đức Thầy nói tiếng bí mật một lần nữa. Tôi không hiểu nên hỏi:

– Bạch Thầy, Thầy nói tiếng gì lạ vậy?

– Nói chuyện với các bậc Siêu hình. Đức Thầy đáp lại.

Đáng chú ý là đi theo suối nầy, Ngài thường nói mấy câu sau đây:

– Hỡi các vị Thánh Thần hãy theo Thầy xuống núi cứu thế trợ dân! Hôm nay Thầy đã lâm phàm rồi, sao các ông còn ở đây?

Từ giã điện nầy, Thầy trò trở xuống suối. Đi đến tối, Thầy trò lên tảng đá cao nằm ngủ.

GẶP CHÚA SƠN LÂM

Sáng ra ngày 11 tháng giêng năm Canh Thìn, Thầy trò còn theo ngọn suối lớn nầy. Nhiều bực đá cao độ 5, 6 thước, nước đổ xuống ồ ồ. Đức Thầy và tôi thay đồ đứng ngay giọt nước tắm. Trên non nầy có một thứ cá lớn bằng cán mác, hay bằng ngón chân cái thường ở theo chỗ nước đổ xuống. Khi tắm rồi, tôi ngồi buồn, và lấy cây đâm cá. Đức Thầy thấy vậy rầy lắm.

Đến một chỗ nọ, Đức Thầy đi trước tôi cách xa khoảng một công đất. Ngài dừng chơn lại chờ tôi đi tới. Khi vừa đến tôi gặp một con cọp xuống uống nước gần chỗ Đức Thầy đứng. Tôi hoảng hốt thiếu điều mất hồn, mất vía. Đức Thầy kêu tôi:

– Lại đây kiếm cọp, mùi nó bay khét quá!

Tôi nắm tay Đức Thầy và nói:

– Đi lẹ Thầy ôi, con thấy rồi.

– Thấy giống gì? Đức Thầy hỏi lại.

– Bạch Thầy, “ông thầy” xuống uống nước kia kìa, tôi đáp.

– Mầy thật nhát quá! Lên non sợ cọp, xuống núi sợ Thổ!

DỤNG CHÚT PHÉP MẦU

Đi đến mười hai giờ trưa, hai bắp chơn tôi sổ thịt cứng ngắt, nhức đi không nổi, bởi đã “tập thể thao về môn nhảy” gần một ngày rồi. Tôi bạch cùng Đức Thầy:

– Xin Thầy cho con đi tắt, chớ đi ngả nầy con đi hết nổi!

Đức Thầy dẫn tôi leo lên núi. Đi được nửa đường, tôi tối tăm mày mặt và muốn xỉu. Tôi ôm vào gốc cây và kêu:

– Bạch Thầy, con mệt quá! Không thấy đàng đi nữa.

Đức Thầy trở lại vuốt ngực tôi và đọc chú bằng tiếng bí mật. Tôi tỉnh lại. Đức Thầy cầm sẵn trong tay một thứ lá cây (giống như lá từ bi, dài và có chất ngọt), bảo tôi uống. Tôi vâng lời, vài phút sau tôi khỏe lại, thật là lạ thường!

RA SỨC DỌN ĐƯỜNG

Đường gai gốc thiên sơn vạn hải,

Dẹp cho rồi tướng bái đàn đăng.

Từ đây đàng sá hiểm trở, khó đi lắm! Đức Thầy ra sức dẹp đường cầm cây đánh vẹt gai gốc, có chỗ phải bò, có chỗ phải khòm, lắm lúc phải đi đàng tượng. Khi vượt lên đỉnh núi, lúc đổ xuống triền non, khi ở núi nầy, khi qua núi khác, (núi liền chơn). Đức Thầy dẫn tôi lên một ngọn núi cao tột bực, bằng phẳng, ít có cây mọc. Đây là một cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Trên non nầy có suối chảy chậm chậm nước trong như mắt mèo, dưới đáy suối có cát trắng, mực nước sâu chừng một thước tây. Đức Thầy đi trước lội ngang qua, tôi đi sau thấy có cây ngã nằm ngang nên đi trên thân cây nầy qua suối. Đức Thầy xem thấy, rầy tôi sao không lội dưới nước. Tôi trả lời:

– Bạch Thầy, cây ngã đi sướng quá, lội làm chi cho ướt mình! Đức Thầy bảo tôi:

– Thầy đi đàng nào phải đi dàng nấy! Cấm mầy không được đi như vậy nữa.

Sau nầy tôi mới hội ý, thấy rằng Đức Thầy muốn dạy tôi một cách gián tiếp hễ quy y thì phải làm y. Nghĩa là nếu Thầy phải chịu gian lao khổ hạnh để giải thoát giống nòi và nhơn loại thì đệ tử phải chịu cực khổ gian lao vì mục đích ấy chớ không được tìm nơi sung sướng an nhàn mà lo học đạo …

QUA CUỘC THỬ LÒNG

Trên non nầy mây thường phất qua lại, hơi sương lạnh vô cùng! Trong vào sắc da tôi thì thấy nó trắng đỏ. Thầy trò ngồi nghỉ trên một tảng đá. Đức Thầy ngồi hai tay ôm đầu gối, vẻ mặt buồn bã than với tôi rằng:

– Phen nầy chắc chết! Trên Trước dẫn Thầy với mầy đi đến đây rồi bỏ đi đâu mất. Mầy coi kìa! Bốn phía núi trùng trùng điệp điệp, biết ngỏ nào về cho được!? Hôm nay Thầy có chết thì cũng an thân vì không có gia đình sự nghiệp vợ con, chỉ thảm thương cho mầy có vợ con, gia đình sự nghiệp, mà hôm nay nghe lời Khùng Điên đến đây cho tuyệt mạng, gởi xương nơi chốn nước độc rừng sâu, nghĩ đến tức tối đau khổ biết chừng nào!

Tôi nghe nói phát sợ, dòm xem tứ hướng, núi non chớn chở muôn hòn. Nhưng tôi cũng cương quyết lên, bạch với Thầy rằng:

– Trên trước còn ở trong mình Thầy chớ đâu (lúc ấy tôi còn tưởng lầm rằng Thầy thượng xác cỡi đồng).

– Sao mầy biết? Đức Thầy hỏi.

– Vì Thầy mới nói tiếng âm đằng điện, tôi trả lời

– Tại miệng Thầy muốn nói.

– Miệng Thầy muốn nói thì nói được, tại sao con nói không được? Thầy nghĩ coi, núi nầy tuy lớn, nhưng con xét lại cơm khô ăn còn được ba, bốn ngày nữa, xin Thầy đi theo ngọn suối có lẽ một tuần lễ nữa cũng trổ ra. Còn lương thực nếu thiếu thì Thầy trò mình bứt lá cây ăn đỡ đói cũng được đôi ba ngày. Đức Thầy trợn mắt ngó tôi, và hỏi:

– Mầy chết, sao dám nói vậy! Chẳng qua Thầy nói để thử lòng mầy, chớ sự nghiệp của mầy chừng đôi ba ngàn đồng, gia quyến mầy chừng năm bảy chục người chớ bao nhiêu? Còn Thầy đây nếu có mai một đi rồi thì muôn triệu tín đồ trong buổi Hạ Nguơn nầy lấy ai mà dẫn dắt?. . .

Tôi được uống một thang thuốc bổ về tinh thần nên hơi vững lòng đôi chút.

AI DÁM LÊN VOI XUỐNG CỌP

Dù cho gặp lắm hùm beo,

Từ bi vẫn niệm quyết leo khỏi rừng.

Thầy trò lên đường. Tôi vấp đá máu tuông dầm ở đầu ngón chơn cái, đau nhức vô cùng. Đức thầy liền nắm ngón chơn cái tôi và dùng pháp mầu cầm máu liền hết đau nhức khỏi băng bó. Có lúc tôi bị gai đâm, Đức Thầy dùng huyền diệu mà trị hết liền. Đức Thầy nói:

– Thầy trò mình đi mấy ngày đã đuối chơn, để Thầy kêu hai con cọp đặng Thầy trò mình cỡi đi cho khỏe.

– Bạch Thầy, cầu xin “Trên Trước” che chở đi cho được bình yên, cỡi cọp làm chi, con sợ lắm! Tôi đáp lại.

Núi nầy loài tượng rất nhiều, phẩn tượng trây trét lên đất, có chỗ chúng đánh vùng còn mới ràng ràng, có lẽ là chúng mới bỏ đi nên cát còn dính lá cây ướt rượt.

Đức Thầy hỏi tôi:

– Mầy muốn cỡi tượng không? Để Thầy kêu nó lại, đặng Thầy trò mình cỡi, nó đưa đường cho mau.

Tôi cũng bạch như hồi nãy: “Bạch Thầy, cầu xin Trên Trước hộ độ đi cho yên ổn như vầy cũng được, con không dám cỡi tượng đâu! Con chỉ ước ao cho Thầy đem con đi gặp Phật, Tiên. Vì hôm nay đã bốn, năm ngày, đường sá sơn xuyên, cực khổ mà không gặp.”

Đức Thầy đáp:

Bực đế vương giàu sang phú hữu tứ hải và những kẻ có trăm ngàn bạc còn đi không được con đường nầy!

Tôi trả lời:

– Bực đế vương hay kẻ giàu sang có tiền họ đi máy bay, xe hơi ở thị thiềng sung sướng, chớ họ đâu dám hy sinh liều thân vào đây cho bỏ mạng!.

– Mầy có duyên lớn cùng Thầy nên Trên Trước bảo Thầy đem mầy đi non giải căn quả tu hành, mầy đi non với Thầy năm, sáu ngày, sau khỏi sa địa ngục năm, sáu tháng. Đức Thầy đáp

Thầy ôi, tôi đáp, giải căn quả gì mà cực khổ quá, con xin Thầy có giải thì để về dưới thế sẽ giải! (Lời nói của tôi ứng nghiệm thật. Sau khi về nhà, tôi đau từ ngày 20 tháng giêng cho đến mùng 4 tháng 5 năm Canh Thìn, gần chết).

MỘT CHUYỆN TIÊN TRI

Hết đảnh nầy, Thầy trò sang núi nọ, đến tối mò, Đức Thầy và tôi nằm dựa mé suối ngủ. Tôi hết sức buồn bực, âu sầu, lo ngại về đường đi, không biết bao giờ trổ ra khỏi núi. Đêm ấy, tôi đem cả tinh thần ra cầu nguyện “Ơn trên” đưa Đức Thầy và tôi về cho sớm. Nằm thao thức ngủ không được, đến ba giờ khuya, tôi nghe tiếng động rắc rắc (tiếng khua cây). Tôi sợ quá, kêu Thầy: “Bạch Thầy, giống gì đi nghe rắc rắc đàng kia kìa.”

– Đêm nay có Thần Bạch Hổ đến đây ủng hộ Thầy và mầy. Đức Thầy cho tôi biết như thế.

Nghe lời Đức Thầy, tôi yên tâm nằm ngủ được một chút thì có một vị Thần đến nói với tôi rằng mười hai giờ trưa ngày mai sẽ trổ ra lộ. Tôi tỉnh giấc bạch cho Đức Thầy hay. Thầy nói:

– Xế qua mới ra khỏi núi.

Sáng ngày 13 tháng giêng năm Canh Thìn, đường đi vẫn còn cực khổ lắm, phải đi băng ngang một trảng mây, gai dài cả gang tay, tàu lá lớn như tàu cau, nước ở đây lên nửa ống chơn, mặt nước váng thiệt vàng … Chơn nhờ có mang dép cao su, nên tôi dạn bước. Dọc đường gặp rùa núi quá nhiều, có con lớn và nặng cả yến.

Thật là huyền diệu, thật là linh thiêng cho chốn tiên cảnh; kể từ mùng 10 tháng giêng đến khi đi từ đường rừng trổ ra lộ, tôi gặp nhiều dấu vết lạ lùng, vì đi lối chừng một trăm thước thì thấy vài nhánh cây bằng tay cái mới chặt xéo, lá cây tươi xanh. Đức Thầy lượm đưa cho tôi một nhánh cầm coi. Tôi nhìn kỹ lắm. Vì còn nghi là tượng bẻ hay kẻ tu hành đi lâm sơn chặt làm dấu. Đức thầy cho biết:

– Đây là dấu hiệu của Trên Trước dẫn đường, Thầy cùng mầy đi theo sau!

Lúc ấy tôi chưa hoàn toàn tin tưởng như thế; mối hoài nghi vẫn còn đeo đuổi theo tâm trí nên mỗi đêm tôi hằng để ý nghe coi có tiếng chuông mõ chi không. Thì ra, đây là một cảnh thiên nhiên, yên lặng không có người nào để chơn đến được.

Phần tôi thì tôi đặt trọn đức tin vào Đức Thầy; về phần anh chị em tín đồ thì mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng. Tôi xin thệ nguyện cùng chư vị Thánh Thần không bao giờ dám vọng ngữ bày điều huyễn hoặc để đem lại uy tín cho mình.

Đường đi gay go khổ cực (Đường gai gốc thiên sơn vạn hải), và quả thật như lời Đức Thầy đã nói, trời vừa xế qua, Thầy trò mới trổ ra lộ đá cách xa cây số phía trong đường Cam Chại.

Ngay từ lúc ấy, tôi có cảm tưởng Đức Thầy là một bậc siêu phàm, một đấng Cứu thế, tài năng xuất chúng, sáng suốt hơn người. Thật là ngàn năm một thuở, mới có phước duyên theo làm đệ tử của Ngài. Tôi tự nguyện cố gắng dồi mài tâm trí đề mau tiến bước trên đường đạo hạnh.

LẠI NÓI TIẾNG THỔ

Thầy trò lên lộ đi được một đổi xa xa thì gặp một toán tù Thổ đang sửa đường. Một người trong đám tù nầy “chà vá” với Đức Thầy và nói tiếng mẹ đẻ. Đức Thầy trả lời tiếng Thổ lanh lẹ và để tay bóp vào bụng tù nhân ấy.

Đi một đổi xa, tôi hỏi Đức Thầy nói chuyện gì hồi nãy. Đức Thầy đáp:

– Người Thổ đó xin thuốc đau bụng.

Được mục kích chuyện nầy, tôi càng đặt trọn đức tin vào Đức Thầy. Nhớ lại khi còn ở trên non tôi kể chắc phải lạc đường và có bạch với Đức Thầy rằng Thầy trò mình đi xuống núi nếu lạc vào sóc Thổ mà không biết tiếng Thổ thì làm sao hỏi đàng về? Đức Thầy nói:

– Thầy biết tiếng Thổ rành lắm.

Nhờ có dịp may nầy mà tôi mới biết Đức Thầy nói thật và mọi lời của Ngài là Thật.

Thầy trò về đến Cần Giọt là 6 giờ chiều, tôi bạch cùng Đức Thầy là để mướn phòng ngủ, Đức thầy không cho, bảo tôi đi kiếm xe chạy đường Châu Đốc mà gởi hành lý.

Đức Thầy dẫn tôi đi dùng cơm. Khi về đến chỗ xe đậu, anh giữ xe hỏi: “Hai ông phải ỏ Châu Đốc không?” Đức Thầy đáp:

– Phải.

Anh giữ xe hỏi tiếp:

– Hai ông có hay chuyện gì chăng? Tôi lẹ miệng hỏi anh chuyện gì. Anh giữ xe nói:

– Ông Đạo Quốc chém người, lấy đầu tế cờ ở Tân Châu bị Pháp bắn chết và đang bắt hàng ngàn người, hôm nay còn tiếp tục ruồng bắt khắp nơi những người bị tình nghi là tín đồ của ông Quốc.

Nghe qua như vậy, tôi lấy làm lo sợ. Đức Thầy nói với tôi:

– Mầy sợ lắm sao? Chẳng hề gì đâu!

BỬU VẬT CỦA ÔNG ĐÌNH TÂY

Ba giờ chiều ngày 13 tháng giêng năm Canh Thìn, Thầy trò về đến Nhà Bàng. Đức Thầy và tôi xuống xe vào quán cơm. Ông Hương Giáo Tập, người ở chỗ nầy, liền đến mời Đức Thầy về phố dùng cơm. Tối lại, bà nhạc của ông nầy mời Đức Thầy đến nhà cúng dường. Đêm ấy bà lão dâng dưa hấu cúng Phật (bằng cách để trái dưa trong một cái trã mới và dùng củi tinh khiết đốt trái dưa cháy ra tro, các cuộc đều để ngoài trời). Bổn đạo đến thăm Đức thầy rất đông.

Một cụ lão hỏi Đức Thầy:

– Bạch Thầy, xưa kia Phật Thầy Tây An ký cho ông Đình Tây những món gì, và hôm nay còn hay mất? (Nên biết ông Đình Tây là một trong 12 vị đại đệ tử được điểm đạo của Phật thầy Tây An. Sau khi Phật Thầy diệt độ, mấy ông ấy nối chí của Đức Phật Thầy cứu độ quần sanh, nên người người đều cảm mến, nhắc nhở công đức của mấy Ngài, Ông lão trên đây hỏi như thế là muốn thử Đức Thầy vậy).

Đức Thầy cười và đáp:

– Một cây mun và một sợi dây ngũ sắc. Hai món mất một.

Ông lão làm thinh. Một hồi lâu ông hỏi:

– Bạch Thầy tại sao mất vậy? (Lúc ấy tôi ngồi kế cận ông Hai Phổ và hỏi nhỏ ông, mất món nào, Ông nói mất dây chỉ ngũ sắc).

Đức Thầy đáp:

– Bởi kẻ giữ báu vật không biết tôn trọng mà lại hủy hoại nó, nên Phật thâu về.

(Sau lại nhờ ông Hai Phổ giải thích, nên tôi mới biết rằng cháu ông Đình Tây dùng sợi dây nầy đóng mũi bò đua xe, trừ ếm bùa phép của các nhà sư Cao Miên …)

Sợi dây nầy đánh bằng chỉ ngũ sắc cỡ đầu chiếc đũa ăn. Phải chăng đó cũng như “Khổn Tiên Thần” mà các chuyện Tàu thường nói là của học trò Tiên, thường dùng để bắt “yêu đạo” cũng như người ta nói Đức Phật Thầy Tây An ký cho ông Đình Tây để sau nầy bắt ông Năm Chèo.

Cần nói thêm rằng theo lời của anh em ở miền nầy thuật lại thì sợi dây ngũ sắc nói trên là một phép linh kỳ diệu; con cháu trong nhà ông Đình Tây có đau ốm thì người nhà cứ thỉnh dây ấy quấn vào cổ là hết bịnh. . .Nhưng tiếc thay cho kẻ điên rồ, say mê cờ bạc đã dám lợi dụng của Phật để cầu thắng cho cuộc đánh bạc (đua bò).

CÂU CHUYỆN PHÉP LINH

Ai ham linh theo nó tập tành,

Sa cạm bẫy khó mong sống sót.

Hết chuyện nầy đến chuyện khác, mọi người đều chăm chỉ nghe. Có ông bạn lại bạch với Đức Thầy như vầy:

– Bạch Thầy, mấy ông đạo trên núi thường luyện phép để sau nầy phò vua giúp nước; còn Đức Thầy sao không dạy đệ tử luyện phép như Tiên đạo?

Đức Thầy đáp:

– Đạo Phật chỉ dạy con người lo tu tâm sửa tánh cho được trọn lành trọn sáng, còn phù phép thuộc tà giáo. Còn ham phù phép tức còn nuôi óc cạnh tranh và cầu danh lợi, phép linh cũng như cá linh, nước vừa chớm giựt loại cá nầy đua nhau lên trước nên phải chịu chết sớm. Các ông đừng ham linh mà bỏ mình!

Đến 12 giờ khuya Đức Thầy từ giã về phố nghỉ.

ĐI NÚI TRÀ SƯ VÀ NÚI KÉT

Sáng ra là ngày 14 tháng giêng năm Canh Thìn, Đức Thầy dẫn tôi đi núi Trà Sư. Lên chót núi, Đức Thầy chỉ cho tôi một con đường (Nhà Bàng xuống Xà Tón), và nói ngày sau đến thời kỳ hổn loạn thế gian, thì con đường nầy thây phơi chật đất, máu chảy đầy đường. . .

Đến trưa Thầy trở về phố nghỉ.

Lối 4 giờ chiều, Đức Thầy dẫn tôi và anh em nơi đây (sáu, bảy người) đi núi Két. Khi đến sân Tiên, Đức Thầy ngâm cho ông Hương Giáo Tập viết bốn bài thi, và khi về nhà Đức Thầy còn nhớ và lập lại cho anh em chép.

Thi rằng:

Non Tiên gió mát toại lòng thay,

Tức cảnh thi văn nhả một bài.

Cố tưởng ước mong về nhược thủy,

Ngặt vì không cánh, lấy gì bay.

*

Dắt xác phàm phu viếng non đoài,

Hỏi nhờ đá cục ngủ đêm nay.

Chư sơn Bảy Núi đồng quy tụ,

Thầy tớ cảnh Tiên rõ mặt mày.

*

Nhìn xem cây cỏ gió lung lay,

Sáng lại lui chơn trở gót hài.

Vậy hỡi Chư Thần mau nối gót,

Theo Thầy dắt chúng khỏi nồng cay.

*

Lầu đài Núi Cấm lộ nay mai,

Thức tỉnh chúng sanh mới trổ tài.

Khuyên dụ dân tình minh đạo đức,

Tu hành được thấy cảnh Bồng lai.

Sau cuộc thám hiểm hành hương trên núi Tà Lơn và sau mấy năm khói lửa trên đất nước Việt Nam, tôi đinh ninh rằng cuộc đi non nầy là tượng trưng những phút kinh hoàng gian lao mà Đức Thầy và các tín đồ của Ngài phải trải qua trong thời kỳ ly loạn để đến ngày huy hoàng của đất nước.

LỜI PHỤ THÊM

Để cho bạn đọc có một ý niệm về sự giống nhau ở đoạn đầu cuốn Giảng của ông Cử, nhan đề Lan Thiên và cuốn Giảng thứ ba của Đức Thầy nhan đề Sám Giảng (xem lại trang 37). Chúng tôi xin trích đăng dưới đây hai đoạn Giảng ấy:

LAN THIÊN

Lan thiên một cõi chép chơi,

Sơn cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi đậm đùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.

Mùa xuân tới cảnh lầu đài,

Tháng giêng mười chín thi tài hùng anh.

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cõi hữu danh chữ đề.

Kể từ Phú Quốc mới về,

Long thoàn lên ở dựa kề hai năm.

Dạo chơi mấy điện tri âm,

Tỏ lời sau trước mấy năm phản hồi.

Phận mình trong sạch đã rồi,

Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Dương trần còn gọi Cử Đa,

Cõi Tiên chữ đặt hiệu là Ngọc Thanh.

Ngày ra chơi chốn rừng xanh,

Tối về kinh kệ cữi canh mặc người.

SẤM GIẢNG

Ngồi trên đảnh núi Liên đài,

Tu hành tầm đạo một mai cứu đời.

Lan Thiên một cõi xa chơi,

Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi lạnh lùng,

Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.

Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,

Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh.

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,

Bồng lai một cõi hữu danh chữ đề.

Kể từ Tiên cảnh Ta về,

Non bồng Ta ở dựa kề mấy năm.

Dạo chơi tầm bực tri âm,

Nay vì thương chúng trần gian phản hồi.

Nghĩ mình trong sạch đã rồi,

Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Phong trần tâm đã rời xa,

Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh.

Ngày ra chơi chốn rừng xanh,

Tối về kinh kệ cữi canh mặc người.

PHỤ CHÚ:

Sở dĩ trong bản nầy hay bản trước tôi có dùng chữ mà Đức Thầy gọi tôi là MẦY, xin chư qúy đồng đạo cảm thông nơi đây, vì trước kia Đức Thầy đã gọi tôi như thế. Cho đến ngày nay tôi cũng không biết lấy chữ gì mà thay thế vào chữ đó cho nó hợp tình hợp lý.

Chúng tôi vẫn biết Đức Tôn Sư kính mến của chúng ta là đấng trọn lành trọn sáng thì lời lẽ hoàn toàn trong sạch.

Theo sự hiểu biết thiển cận của tôi, là vì ở nhà tôi có bà con với cố Đức Ông. Trước kia tôi kêu cố Đức Ông bằng Bác, Đức Thầy gọi tôi như vậy, tôi không biết có phải như vậy không? Không phải nơi đây mà có tiếng nói đó. Và tôi xin kể một mẩu chuyện sau đây:

Một ngày nọ tôi ngồi viết Giảng để in.

Đức Thầy đứng sau lưng tôi hồi nào không hay, và Thầy nói:

– Viết cho kỹ nó mầy, trật một chữ giảm một kỷ!

Tôi đứng dậy nói:

– Bạch Thầy, cái gì mà dữ vậy?

– Kinh! Đức Thầy nói.

Kính thưa quý vị đồng đạo, tôi cũng hiểu lề lối xưng hô của Đức Thầy rất khiêm tốn, nhưng vì trường hợp của tôi mắc trong cảnh ngộ đó, giờ đây tôi không biết nói làm sao hơn.

Mong toàn thể chư quý đồng đạo lượng thứ cho.

Nam Mô A Di Đà Phật!
----------------------------------------------------------------------------------

Mẩu chuyện thứ 85

CỬ ĂN HAI CON

Sau ngày khai đạo độ đời năm 1939, trong chuyến vân du độ chúng, Đức Huỳnh Giáo Chủ có lần dừng chân nơi xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc, Ngài đến thăm những người thuộc hệ phái Hiếu Nghĩa của Đức Bổn Sư, thế danh Ngô Lợi, mà người đời thường gọi theo thứ tự trong gia đình là Cậu Năm, được biết 30 năm sau khi Đức Bổn Sư tịch diệt, kế đến là Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo độ đời.

Nhiều người tín đồ Hiếu Nghĩa đến nghe Đức Huỳnh Giáo Chủ thuyết giảng Phật pháp, nhân cơ hội đó Ngài trò chuyện thân mật với những người tín đồ của Đức Bổn Sư:

– Mấy bà con ở đây gọi Đức Bổn Sư như thế nào?

– Bạch Ông Tư, chúng tôi gọi là Cậu Năm.

– Gọi Đức Bổn Sư là Cậu Năm thì gọi tôi là Cậu Tư. Rồi Ngài nói tiếp:

– Cậu Năm dạy quý vị hành đạo ra sao?

– Thưa Ông Tư, Thầy chúng tôi dạy tín đồ, ngoài chay bốn bữa của mỗi tháng, còn phải cử ăn những con vật thuộc trong mười hai con giáp , và lạy mỗi hướng mười hai lạy.

– Đức Bổn Sư dạy quý vị thuở đó là lúc Phật Pháp gày then, cách lạy tay đan tréo nhau, sự việc nào cũng đang trong bế tắc, khó mà thành Đạo đặng.

Rồi trong phương tiện nầy Đức Thầy tiết lộ thêm:

– Bàn tay lật ngữa vậy mà, Chớ Đừng lật sấp vì Thầy tái sanh. Bây giờ thì Phật pháp đã mở then rồi. Vậy thì bà con hãy lạy trở lại.

Còn việc ăn uống thì Ngài cũng dạy:

Ăn theo cách nầy thì mau đắc Đạo lắm, hiện nay tôi dạy tín đồ không phải cử nhiều, chỉ cử ăn có hai con: Con gì đẻ trứng đừng ăn, con gì sanh con thì đừng ăn.

Thay vì viết phần nhận xét thì người viết được sự may mắn là người kể chuyện tiếp lời giải thích:

“Về việc ăn uống của người Đạo, tôi có phần nhận xét với các cháu như thế nầy: Nếu như mình đang ăn chay trường cũng vậy, ai có hỏi thì nói tôi cử ăn thị cá vậy thôi chớ cũng đừng nói là mình đang ăn chay trường, và nếu có ai hỏi mình thuộc tôn giáo nào thì mình phải nói rõ họ và tên, nói rõ nguyên chữ, mình là người Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, như vậy mới đúng theo như lời Đức Thầy đã dạy, bởi vì mình tu theo “Đạo Quốc Vương”, tức là có vợ có chồng, còn ăn chay trường là trường chay giữ giới, những nhà sư ở trong chốn Thiền lâm mới làm theo được.

“Tiếp theo câu chuyên Đức Thầy đã bảo những người tín đồ của Đức Bổn Sư hãy gọi Ngài là Cậu Tư cũng giống như khi họ gọi Cậu Năm, trong ý đó thì Cậu Năm hay Cậu Tư nào có khác nhau đâu, Ngài nhắc nhở cho mọi người được biết về sự tái sanh trở lại.

“Thời đó Đức Bổn Sư giữ lại Tứ Ân tức là giữ lại mối Đạo cổ truyền của dân tộc Việt Nam, nếu không giữ gìn con đường của dân tộc, tức nhiên sẽ có lắm người chạy theo ngoại bang vì thuở đó Pháp đang chiếm đóng cai trị Việt Nam. Còn trên phương diện thờ cúng với hình thức, Ngài lập ngôi chùa, trước ngôi chùa là miễu, miễu để thờ những vị anh hùng vị quốc vong thân, còn sau hậu là Long Đình tượng trưng cho sự thờ cúng vua chúa. Sự việc nầy được Đức Huỳnh Giáo Chủ diễn đạt như sau:

Tu biết cách như đươn biết đát,

Đươn đát rành đặng dựa Xe-Loan.

Ai biết nghe thì sớm liệu toan,

Để đến việc như người thất nghiệp.

(Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ)

“Để dễ hiểu thêm sự chuyển kiếp từ một nguồn gốc mà ra, mong sao chúng ta suy gẫm lại một đoạn trong bài nguyện hương dưới đây:

“… Nay con nguyện cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.”

“Và sau hết thì với cách ăn uống của người tu, chỉ cử ăn có hai con vật mà người tu hành sẽ dễ đắc Đạo. Dùng một lời nói mà khi mới nghe qua chúng ta có cảm tưởng là Ngài nói lời khôi hài làm cho mọi người cùng vui cười, nhưng sau khi dứt tiếng cười, thì người ta mới sực mình thức tỉnh, với lời lẽ ngắn, gọn đó mang đầy đủ ý nghĩa thể hiện tình thương yêu đối với tất cả muôn loại chúng sanh.”

Viết theo lời thuật của ông Lê văn Tho 78 tuổi, hiện ngụ tại An Thạnh, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, An giang, vào ngày 19-8-2002 nhằm ngày 11 tháng 7, năm Nhâm Ngọ.

Mẩu chuyện thứ 86

TU CÁCH NÀO

Vào một buổi trưa hè năm Nhâm Ngọ (2002) trên bờ kinh của miệt Cửu Long giang, một căn nhà sàn nhỏ nằm trên sóng nước, trước sân những chậu kiểng được chăm sóc cẩn thận, kê nền khá cao để tránh mùa nước nổi, chính giữa mái hiên nhà là bàn Thông Thiên, bên trong nhà, phòng khách được trang trí ngôi Tam Bảo trên cao, mỗi lần dâng hương là phải leo lên cây cầu thang làm bằng tre khá mỏng manh, phía dưới thấp hơn là bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ.

Cảnh trí tuy đơn sơ nhưng đúng với nghi thức của người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thành thử trở nên trang nghiêm khác thường, trước phòng khách bên cạnh được kê một cái giường bằng gỗ, làm nơi tiếp khách và cũng là nơi nghỉ qua đêm của khách. Cảnh trí như thế làm người viết lâng lâng một niềm cảm xúc tình người xa quê, suốt hơn hai mươi lăm năm mới có dịp sống trong thực cảnh; bằng vào mối tình đồng đạo đượm nét chân thành, lời lẽ chơn thật của những người mà lòng luôn chứa chan mùi đạo vị, lúc nầy thì người viết mới thật sự thưởng thức lời đạo hạnh, quả là: “Mùi đạo vị gỏi nem khó sánh.”

Chú Mười một niên lão trong Đạo, tuổi đã gần 80, mặc bộ bà ba đen, đầu búi tóc. Chú mười tuy tuổi đã cao nhưng dáng người còn quắc thước, cơ thể chú trông gầy nhưng rắn chắc của một người chay lạt lâu năm, chú kể chuyện Đạo cho tôi nghe, với lời lẽ ôn hòa tríu mến, hễ mỗi khi tôi hỏi chú về mẩu chuyện bên Đức Thầy thì giọng của chú cất cao lên, bằng một cử chỉ hân hoan đầy nét tôn kính:

Cháu ơi! Có nhiều chuyện lắm, nhưng làm sao cùng một lúc mà nhớ hết cho đặng, hiện thời thì nhớ tới đâu kể cho cháu nghe tới đó, một câu chuyện mà chú còn nhớ đầy đủ nhất như vừa mới xảy ra. Nguyên khi Đức Thầy đi Khuyến Nông cả thảy 107 vị trí, mỗi nơi số người tham dự thật đông, nên phần nhiều các nơi thường tổ chức ở sân vận động mới đủ sức chứa số người càng lúc càng đông.

Vào ngày mùng 4 tháng 6 năm Ất Dậu (1945), Đức Thầy thuyết giảng ở sân vận động xã Mỹ Luông, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Từ hai bên đường đến bến tàu, nơi nào cũng đông nghẹt, không thể đếm lường con số được. Dầu vậy, nhưng chẳng hề nghe tiếng động hay tiếng nói chuyện lớn, tất cả đều ở trong tư thế nghiêm trang chờ đón.

Từ thuyền máy, Đức Thầy bước lên vừa đi vừa chào đáp mọi người cho đến khi bước lên diễn đàn, Ngài xoay mặt bốn phía, chào đồng bào bằng cách hai tay nắm chặt vào nhau, đầu hơi cúi. Đoạn Ngài cất tiếng nói, giọng Ngài nghe thanh ấm như chuông đồng. Chú ngồi cách xa vẫn nghe được rõ ràng, lời lẽ của Đấng Từ Bi tuôn ra như suối đổ. Một điều cần nhắc thêm để cháu ghi nhớ, thuở đó người ta chưa sữ dụng máy phóng thanh, tuy sân vận động đông nghẹt người mà âm thanh lời nói của Đức Thầy ai cũng đều nghe rõ giống hệt như nhau.

Còn chuyện lạ hơn nữa, sẵn đây chú kể cho cháu nghe. Lúc đó Đức Thầy ngụ tại nhà ông Cả Nãng, nhà của ông Cả tọa lạc xa bờ sông độ gần hai trăm thước, tờ mờ sáng là đồng đạo đã đến đông nghẹt rồi, họ đứng chật hai bên bờ của đường đi, chờ mong Đức Thầy bước ra để họ được gặp mặt, trong lòng mọi người đều hồi họp mong đợi phút giây quí hiếm này.

Mắt mọi người đều chăm chú nhìn vào ngôi nhà, nhưng mọi người đều bàng hoàng khi hay tin Ngài từ bờ sông đi vào, hôm đó Ngài mặc bộ bà ba đen, cổ quấn khăn bàn bố.

Từ trong nhà Ngài đi ra thì không một ai thấy được, chỉ sau khi tắm rửa xong rồi, đến khi Ngài trở lại và được ông Cả Nãng báo tin thì mọi người mới hay. Quả thật phép Phật nhiệm mầu, con người của thế gian không sao hiểu đặng.

Và chính mắt chú thấy, trong phái đoàn đi tuy có rất đông người, nhưng khi nhìn thì thấy Đức Thầy cao hơn mọi người cỡ nửa cái đầu, khi đi Ngài thong thả bước mà mọi người phải lúp xúp chạy theo, còn khi Đức Thầy đứng riêng một mình Ngài, nhìn dáng dấp của Thầy cũng trung bình vậy thôi, cho đến bây giờ, chú cứ nhớ mãi hình ảnh đó mà không sao giải thích cho được.

Chú cũng trong số người đứng đợi Đức Thầy, riêng chú hôm đó mục đích gặp Thầy đặng xin thuốc cho con của người chú thứ Tám, chú ấy mắc bịnh lao phổi hết sức nặng, và nhờ uống năm vị thuốc Nam của Đức Thầy cho mà chú ấy hết bịnh và sống cho đến ngày hôm nay. Khi Đức Thầy từ bờ sông đi vào, gần đến chú thì chú quỳ xuống bên đường, kính bạch với Đức Thầy việc người em bà con bị bịnh, Đức Thầy chỉ cho chú năm loại trong đó có bông và lá cây bảo về tìm hái mà sắc uống.

Chú nhớ dường như lần Khuyến Nông tại đây là lần sau cùng cho tới khi Thầy vắng mặt; chú có đến nhà cô Phí, trước khi Thầy vắng mặt, Thầy có tặng cho Cô tấm giấy vàng, trên có in hai bàn tay của Đức Thầy bằng son, tới nay vẫn còn rõ nét và giấy cũng chưa đổi màu. Cháu ơi! Bàn tay của Đức Thầy thật là đẹp, ngón đều, thon dài như ngòi viết, trong đời chú chưa thấy bàn tay nào đẹp như vậy.

Đến khi buổi Khuyến Nông chấm dứt, Đức Thầy vừa từ khán đài bước xuống, đi đến trước mặt, chú liền quỳ xuống cung kính bạch với Thầy về việc tu hiền:

– Bạch Thầy, như con tu có sống được không Thầy? Đức Thầy trong cử chỉ hòa ái tươi vui, Ngài đưa tay vuốt trên đầu của chú từ trước ra sau rồi vỗ vai bảo:

– Tu thì được sống đó con, tu đâu có chết, mà phải tu như con lươn thì mới sống.

Chú lẹ miệng bạch với Thầy tu như thế nào thì chết. Đức Thầy tươi cười bảo rằng:

– Tu như con cá linh thì chết.

Cháu ơi, trải dài suốt lịch sử Đạo, kể từ thời niên thiếu, cái duyên hạnh được gặp Đấng Tôn Sư và được nghe từ Kim Khẩu của Ngài trao truyền cho chúng sanh lời thuyết giảng bình dị, mới nghe qua thì không ai lại không hiểu tùy theo trình độ của mình vào thuở đó, và nếu chịu áp dụng theo thì cả cuộc đời không thế nào làm hết cho đặng, riêng chú tuổi tuy đã xế chiều nhưng lúc nào chú cũng: “Rán tu đem được Phật vào trong Tâm”. Và còn lại điều mong chờ sau cùng của chú là: “Làm theo lời chỉ ngày rày gặp TA”.

Viết theo lời thuật của ông Lê văn Tho 78 tuổi, hiện ngụ tại An Thạnh, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 19 tháng 8 năm 2002, nhằm ngày 11 tháng 7 năm Nhâm Ngọ.
                                                                                    - CHUNG -

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn